Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 về hợp đồng dịch vụ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Với những quy định chặt chẽ, sát với thực tế thương mại nước ta trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển kinh tế trong nước, tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thành công sau khi gia nhập WTO, thực tiễn áp dụng Luật Thương mại Việt

Nam năm 2005 đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Luật Thương mại đã đảm bảo thể chế hoá đường lối chính sách của đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có xây dựng chính sách pháp luật thương mại tạo điều kiện phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ là trọng tâm. Luật đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho hoạt động của thương nhân, tôn trọng và phát huy quyền tự do hoạt động thương mại của cá nhân, pháp nhân. Đối với lĩnh vực dịch vụ, được sự hỗ trợ về mặt pháp lý trong hơn 3 năm qua khu vực dịch vụ đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Tổng mức doanh thu dịch vụ tiêu dùng phân theo ngành kinh tế liên tục tăng kể từ sau khi luật Thương mại có hiệu lực cho tới nay, cụ thể ngành dịch vụ và du lịch có doanh thu vào năm 2006 là 61748.1 tỷ đồng (tăng hơn 28.6 % so với doanh thu năm 2005 là 47984.8 tỷ đồng); năm 2007 dự kiến đạt 82020.3 tỷ đồng. Bên cạnh những thuận lợi, thông thoáng của các quy định về hợp đồng dịch vụ thì các quy định đó cũng còn một số bất cập gây khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn thương mại nước ta. Chương 2 của Khoá luận sẽ phân tích những vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng hạn chế trong các quy định của Luật Thương mại năm 2005 về hợp đồng dịch vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

I: Vẫn còn nhiều những bất cập trong các quy định về hợp đồng dịch vụ gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn

1. Chưa có quy định về dịch vụ – đối tượng của hợp đồng dịch vụ

Luật Thương mại năm 2005 ra đời và đi vào đời sống đã thu hẹp tương đối khoảng cách giữa các quy định của pháp luật nước ta về  hoạt động thương mại nói chung và cung ứng dịch vụ nói riêng so với pháp luật thương mại các nước, tuy nhiên không phải là không còn những tồn tại và hạn chế cần phải xem xét và khắc phục. Đó là Luật TMVN 2005 chưa đưa ra khái niệm về dịch vu. Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm về dịch vụ, thêm vào đó Luật cũng không đưa ra cách phân loại ngành, phân ngành dịch vụ. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định những dịch vụ do luật điều chỉnh bao gồm những ngành và phân ngành nào. Câu hỏi đặt ra là liệu theo Luật dịch vụ có được chia thành 12 ngành và 155 phân ngành giống như cách phân loại của GATS hay không? Luật không làm rõ khiến cho Luật Thương mại rơi vào tình trạng không rõ ràng. Hạn chế này đã gây ra sai sót trong quá trình thống kê, một ví dụ là Tổng cụ Thống kê đã xếp xây dựng vào cùng với lĩnh vực công nghiệp, nghĩa là ở Việt Nam xây dựng chưa được coi là một ngành dịch vụ, trong khi đó GATS trong hệ thống phân loại của mình đã xếp xây dựng vào ngành dịch vụ  ở vị trí thứ ba – ngành xây dựng và kỹ thuật có liên quan. Cụ thể GATS đưa ra bảng phân loại gồm 12 ngành dịch vụ (xem bảng 6) Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Bảng 5. Mười hai ngành dịch vụ theo GATS

  1. Các dịch vụ kinh doanh. Ví dụ: tư vấn pháp lý, xử lý dữ liệu, nghiên cứu phát triển, nhà đất, cho thuê, quảng cáo,…
  2. Các dịch vụ thông tin liên lạc. Ví dụ: bưu chính, viễn thông, truyền hình,…
  3. Các dịch vụ xây dựng và kỹ thuật liên quan đến xây dựng. Ví dụ: xây dựng, lắp máy,…
  4. Các dịch vụ phân phối. Ví dụ: bán buôn, bán lẻ,…
  5. Các dịch vụ giáo dục.
  6. Các dịch vụ môi trường. Ví dụ: vệ sinh, xử lý chất thải,…
  7. Các dịch vụ tài chính. Ví dụ: ngân hàng, bảo hiểm,…
  8. Các dịch vụ liên quan đến y tế và dịch vụ xã hội.
  9. Các dịch vụ liên quan đến du lịch và lữ hành.
  10. Các dịch vụ giải trí, văn hóa, và thể thao.
  11. Các dịch vụ giao thông vận tải.
  12. Các dịch vụ khác.

2. Những quy định về quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ của thương chưa đầy đủ.

Theo hiệp định tự do về dịch vụ GAST có bốn phương thức cung ứng dịch vụ: Cung ứng qua biên giới; tiêu dùng ở nước ngoài; hiện diện thể nhân, hiện diện thương mại. Tuy nhiên, theo các quy định của Luật Thương mại 2005 mà cụ thể là tại điều 75 (xem bảng 7) chỉ có ba phương thức cung ứng dịch vụ được đề cập tới đó là:

  • Cung ứng qua biên giới, tương ứng với quy định tại điểm d – khoản 1- điều 75: Thương nhân Việt Nam được quyền cung ứng dịch vụ cho người không cư trú ở Việt Nam sử dụng tại nước ngoài hay thương nhân Việt Nam được quyền sử dụng dịch vụ của người không cư trú tại Việt Nam cung ứng ở thị trường nước ngoài.
  • Tiêu dùng ở nước ngoài, Thương nhân Việt Nam có quyền cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam, ví dụ như Sài Gòn tourist cung ứng dịch vụ du lịch cho khách nước ngoài sử dụng tại Việt Nam.
  • Hiện diện thương mại, thương nhân Việt Nam được sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng thông qua các chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Ví dụ như ngân hàng HSBC cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp Việt Nam thông qua chi nhánh của mình tại Việt Nam

Luật Thương mại 2005 chưa có quy định về hiện diện thể nhân trong cung ứng dịch vụ. Điều này một phần nào đó hạn chế quyền cung ứng dịch vụ của thương nhân. Thêm vào đó nhà nước cũng gặp khó khăn trong việc quản lý thu thuế đối với cá nhân nước ngoài, khi mà trên thực tế họ vẫn đến Việt Nam để cung ứng dịch vụ.

Bảng 6: Điều 75. Quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ của thương nhân

1, Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền cung ứng dịch vụ sau đây: Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

  • a)   Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;
  • b)   Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;
  • c)   Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.
  • d)  Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.

2. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước

  • a)   Sử dụng do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;
  • b)   Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài;
  • c)   Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài.

3. Chính phủ quy định cụ thể đối tượng người cư ttrú, người không cư trú để thực hiện các chính sách thuế, quản lý xuất khẩu, nhập khẩu đối với các loại hình dịch vụ”.

3. Chưa cụ thể khái niệm về “ vi phạm cơ bản” 

Do sự phức tạp của quá trình thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ nói riêng đó là thường có vấn đề phát sinh ví dụ như các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong hợp đồng gây ra khó khăn và thiệt hại cho bên kia. Một thực tế là, từ trước khi có Luật Thương mại 2005 ra đời thì việc giải quyết tranh chấp liên quan tới vi phạm hợp đồng thương làm cho các cơ quan xét xử rất lúng túng, các doanh nghiệp thì không biết làm cách nào để bảo về quyền lợi chính đáng quả mình khi có sự vi phạm nghiêm trọng hợp đồng từ phía bên đối tác. Để tháo gỡ khó khăn này, Luật Thương mại đã đưa ra các chế tài cụ thể được áp dụng khi có sự vi phạm hợp đồng từ phía các chủ thể, trong đó có đưa ra điều kiện bắt buộc khi sử dụng một số chế tài. Các chế tài được áp

dụng do vi phạm hợp đồng được chỉ rõ tại điều 292 Luật Thương mại năm 2005, theo đó có 6 chế tài là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng; chế tài phát vi phạm; chế tài buộc bồi thường thiệt hại; chế tài ngừng thực hiện hợp đồng; chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng và chế tài huỷ hợp đồng. Trong sáu chế tài này như đã nói ở trên có ba chế tài mà điều kiện bắt buộc để có thể áp dụng là một trong các chủ thể của hợp đồng đã có sự “vi phạm cơ bản” hợp đồng. Bên cạnh đó Luật Thương mại năm 2005 đưa ra định nghĩa “Vi phạm cơ bản”. Tại  Khoản 13, Điều 3 có định nghĩa: “ Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.

 Luật Thương mại đưa ra khái niệm “ vi phạm cơ bản” có tham khảo quy định của Công ước Viên tại điều 25, theo đó một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu trước được hậu quả đó mà một người minh mẫn cũng sẽ không thể tiên liệu được nếu họ ở trong hoàn cảnh đó. Theo quy định tại điều 25 của Công ước thì dấu hiệu chủ yếu phân biệt vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản không phải dựa trên sự phân biệt điều khoản chủ yếu và điều khoản không chủ yếu và cũng không dựa trên sự phân biệt mức độ thiệt hại do vi phạm gây ra mà được căn cứ vào mức độ ảnh hưởng mục đích mong muỗn cuối cùng của các bên trong hợp đồng. Nếu vi phạm làm thiệt hại xảy ở mức độ tuy đáng kể về mặt số lượng có học nhưng mục đích cuối cùng vẫn đạt được thì sự vi phạm đó không được coi là vi phạm cơ bản. Như vậy có thể thấy khái niệm “vi phạm cơ bản” của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 là tương đối giống với quy định của Công ước Viên 1980. Tuy nhiên, chính sự giống nhau này đã gây ra hạn chế trong quy định về “ vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại 2005. Công ước Viên nêu ra khái niệm “vi phạm cơ bản” mà không có giải thích căn cứ cụ thể để xác định một vi phạm cơ bản khi các bên không đạt được mục đích của hợp đồng (ví dụ trong hợp đồng mua bán thì mục đích của hợp đồng là bán được hàng đối với bên bán, và mua được hàng đối với bên mua hoặc trong hợp đồng cung ứng dịch vụ thì mục đích của bên cung ứng là cung ứng dịch vụ để được thanh toán tiền và đối với bên thuê cung ứng là được sử dụng dịch vụ như mình đã thoả thuận), Luật Thương mại cũng lại đi theo hướng quy định chung chung đó. Theo tác giả hiểu, thì việc xác định khi nào một bên có sự vi phạm cơ bản theo khái niệm “Vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại 2005 phụ thuộc vào bên kia của hợp đồng hoặc phụ thuộc vào quyết định cơ quan giải quyết tranh chấp nếu tranh chấp về hợp đồng được các bên chọn. Điều này vô hình chung đã giao trách nhiệm cho việc xác định vi phạm nào là “vi phạm cơ bản” cho cơ quan giải quyết tranh chấp. Tất nhiên, phán quyết sẽ được đưa ra dựa trên cơ sở là bên bị vi phạm phải đưa ra bằng chứng và những lập luận của mình để chứng minh được đã có sự vi phạm cơ bản, nhưng sẽ không tránh khỏi tính chủ quan trong nhận định của cơ quan giải quyết tranh chấp đó khi mà thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại mới chỉ trải qua hơn 10 năm kinh nghiệm (kể từ khi Luật Thương mại 1997 ra đời). Vì vậy, tất yếu sẽ không có sự thống nhất trong kết quả giải quyết tranh chấp tại các cơ quan giải quyết tranh chấp khác nhau. Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Để đưa ra một quy định về “Vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại 2005 phù hợp và sát với thực tế hơn theo tác giả cần có sự nghiên cứu thực tiễn thương mại của Việt Nam và tham khảo quy định của các nước trên thế giới về vấn đề này, bên cạnh đó cũng có thể tham khảo những điều khoản liên quan được các Luật gia trên thế giới soạn thảo. Một nguồn có thể tham khảo đó là bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC). Khoản 1, điều 7.3.1 của PICC đưa ra khái niệm “việc không thực hiện chủ yếu”, đồng thời chỉ rõ 5 căn cứ đế xác định việc không thực hiện chủ yếu tại khoản 2 điều 7.3.1. Cụ thể Điều 7.3.1. quy định:

  1. Một bên có thể huỷ hợp đồng nếu có trường hợp không thực hiện chủ yếu của bên kia.
  2. Để xác định yếu tố cấu thành việc không thực hiện chủ yếu, đặc biệt căn cứ và những tình tiết sau đây:
  3. Việc không thực hiện làm mất đi chủ yếu những gì người có quyên mong đợi từ hợp đồng, trừ trường hợp bên có nghĩa vụ không dự tính trước được hoặc không thể dự tính trước được một cách hợp lý hậu quả này;
  4. Việc thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ là bản chất của hợp đồng;
  5. Việc không thực hiện là cố ý không tính đến hậu quả;
  6. Việc không thự hiện khiến cho bên có quyền tin rằng không thể tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai;
  7. Trong trường hợp huỷ hợp đồng, bên có nghĩa vụ có thể sẽ phải chịu những tổn thất quá mức do sự chuẩn bị trước hoặc việc thực hiện hợp đồng.

Trong trường hợp chậm trễ, bên có quyền cũng có thể huỷ hợp đồng nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện trong thời hạn được quy định tại điều 7.1.5”. Yếu tố đầu tiên được đề cập trong điểm a khoản 2 là việc không thực hiện chủ yếu (theo tác giả khái niệm “không thực hiện chủ yếu” có nội hàm tương đương với khái niệm “vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại Việt Nam 2005) tước đi một cách chủ yếu mong đợi của bên kia”. Theo quy định này thì vi phạm cơ bản là nguyên nhân dẫn đến bên có quyền bị tước đi một cách cơ bản những gì họ được quyền mong đợi và thời điểm giao kết hợp đồng. Tuy nhiên bên có quyền sẽ không thể chấm dứt hợp đồng nếu bên có nghĩa vụ chứng minh được mình đã không dự tính hay đã không thể dự tính một cách hợp lý rằng việc vi phạm đó là vi phạm cơ bản đối với bên kia.

Điểm b Khoản 2 không lưu ý đến tình trạng thực sự của việc vi phạm nếu bản chất nghĩa vụ hợp đồng mà việc thực hiện nghiêm ngặt hợp đồng có thể là chủ yếu. Trong thực tế thì yêu cầu thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ của hợp đồng không phải là không thường xuyên trong các hợp đồng thương mại, trong đó có hợp đồng dịch vụ, ví dụ trong một giao dịch về tín dụng chứng từ thì bộ hồ sơ phải tuân thủ nghiêm ngặt theo những điều kiện ghi trong thư tín dụng (L/C).

Căn cứ thứ 3 nêu trong khoản 2 để xét xem vi phạm có là vi phạm cơ bản hay không đó là “Không thực hiện là cố ý”. Quy định này điều chỉnh tình huống theo đó việc không thực hiện là có chủ ý hay liều lĩnh của bên vi phạm.

Căn cứ thứ 4 là “ Không có hi vọng về việc thực hiện trong tương lai. Theo quy định này thì việc không thực hiện khiến cho bên kia có quyền tin rằng không thể chờ vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai là quan trọng. Nếu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ nhiều lần, và nếu rõ ràng sai sót trong một số lần thực hiện trước được lặp lại trong tất cả những lần thực hiện hợp đồng, thì bên có quyền có thể huỷ hợp đồng, ngay cả khi bản thân các vi phạm trong lần trước không phải là điều kiện cho phép huỷ hợp đồng. Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Căn cứ cuối cùng mà khoản 2 đưa ra tại điểm e là “ Tổn thất quá mức” điều chỉnh các tình huống trong đó bên không thực hiện nghĩa vụ đã đưa vào hợp đồng và đã chuẩn bị cho việc thực hiện hay đã đề nghị thực hiện. Trong trường hợp này, cần phải tính đến khả năng trong đó bên không thực hiện chịu một tổn thất quá mức nếu việc không thực hiện được coi như chủ yếu.

Tuy rằng đây chỉ là những điều khoản mang tính chất tham khảo và được soạn thảo cho hợp đồng thương mại quốc tế nhưng rõ ràng việc nêu rõ 5 căn cứ này cho thấy đối với các thuật ngữ mà cách hiểu có thể không đồng nhất, việc quy định chi tiết về các tiêu chí hay căn cứ để xác định sẽ làm thuật ngữ trở nên dễ hiểu và dễ áp dụng hơn rất nhiều. Điều này tránh được sự mơ hồ, khó hiểu và giảm bớt các khó khăn cho các bên liên quan và cho cơ quan giải quyết tranh chấp.Vì vậy, Việt Nam nên xem xét vấn đề đưa ra cách xác định vi phạm cơ bản trong Luật Thương mại 2005 đối với hoàn cảnh cụ thể của mình.

4. Vẫn còn có sự chồng chéo với quy định về hợp đồng dịch vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2005.

Xuất phát từ mối quan hệ giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng cũng như sự thống nhất trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng quy định của pháp luật để điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại được thực hiện theo nguyên tắc chung đó là: Những quy định về hợp đồng dân sự là căn cứ chung, mang tính nguyên tắc cho hợp đồng thương mại; những quy định về hợp đồng thương mại ở các văn bản pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trước Bộ luật Dân sự. Như vậy, khi điều chỉnh quan hệ hợp đồng dịch vụ (hợp đồng dịch vụ là một loại của hợp đồng thương mại), trước hết dùng luật chuyên ngành sau đó đến Luật Thương mại năm 2005, trong trường hợp nội dung cần điều chỉnh nào đó mà Luật Thương mại không điều chỉnh thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự. Như vậy Nếu như một quy định nào đó về hợp đồng dịch đã được nêu trong Bộ luật Dân sự, thì không phải quy định trong Luật Thương mại. Luật Thương mại chỉ quy định những vấn đề về hợp đồng dịch vụ chưa được nêu trong Bộ luật dân sự mà thôi. Nhưng thực tế lại khác, các quy định của Luật Thương mại 2005 về hợp đồng dịch vụ hầu như là sao chép lại các quy định trong Bộ luật Dân sự, điều này thật sự không cần thiết, thêm vào đó là dẫn đến khó khăn khi áp dụng vào thực tế. Cụ thể điều 78 của Luật Thương mại 2005, có bốn khoản quy định về nghĩa vụ của bên cung ứng, thì có đến ba điều khoản quy định lại các quy định của điều 522 Bộ luật Dân sự 2005. Có sự khó hiểu là nếu Luật thương mại 2005 quy định lại các quy định đã nêu trong Bộ luật Dân sự thì tại sao cùng là nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ thì Luật Thương mại chỉ sao chép ba khoản trong sáu khoản tại điều 522 của Bộ luật Dân sự và lại bổ sung thêm một điều mới (xem bảng 8).

Bảng 7. Điều 78 Luật Thương mại 2005 và điều 522 Bộ luật Dân sự 2005.

Điều 78. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cung ứng có các nghĩa vụ sau đây:

  • 1, Cung ứng dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ, phù hợp với thoả thuận và theo quy định của Luật này; Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.
  • 2, Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;
  • 3, Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không đảm bảo để hoàn thành công việc;
  • 4, Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 522 Bộ luật Dân sự. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

  • 1, Thực hiện công việc đúng chất lượng, đúng thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;
  • 2, Không được giao cho người khác thực hiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ;
  • 3, Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;
  • 4, Báo ngay cho bên thuê dịch vụ về thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không đảm bảo để hoàn thành công việc;
  • 5, Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
  • 6, Bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ thông tin”.

Với cách quy định này của luật thì một số điều khoản trong điều 522 Bộ luật Dân sự trong mọi trường hợp đều thừa khi mà các hoạt động trong lĩnh vực chịu trước hết sự điều chỉnh của luật chuyên ngành, sau đó nếu luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của Luật Thương mại 2005. Mặc nhiên, ở đây Luật Thương mại đã quy định nghĩa vụ của người cung ứng dịch vụ thì áp dụng quy định của Luật Thương chứ không áp dụng quy định của Bộ Luật Dân sự 2005. Một điều nữa cần lưu ý là, tại điều 78 Luật thương Mại chỉ quy định có bốn điều khoản nghĩa vụ của bên cung ứng, trong khi đó Bộ luật Dân sự lại quy định tới sáu điều khoản về nghĩa vụ của bên cung ứng, khiến trong thực tế có sự so sánh liệu quy định của Luật thương Mại 2005 có quy định thiếu nghĩa vụ của bên cung ứng không? nghĩa là nếu tuân theo quy định của Luật thương mại 2005 sẽ có lợi hơn hay không nếu tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự cho người cung ứng dịch vụ. Và cũng có câu hỏi là liệu bên cung ứng có phải tuân thủ cả nghĩa vụ quy định tại điều 78 Luật Thương mại 2005 và điều 522 Bộ Luật Dân sự 2005 hay không? Sự chồng chéo, chưa thống nhất và rõ ràng ở đây phần nào làm cho khả năng áp dụng các quy định về hợp đồng dịch vụ trong Luật Thương mại 2005 còn hạn chế.

Bên cạnh đó, cách quy định tại điêu 78 Luật Thương Mại 2005 và điều 522 Bộ luật Dân sự 2005 dường như là trái ngược nhau. Theo quy định tại điều 78 Luật Thương mại 2005 thì ý trí tự do thoả thuận được đề cao hơn các quy định của Luật, bên cung ứng chỉ có các nghĩa vụ được nêu trong điều 78 Luật Thương mại năm 2005 nếu hai bên không có thoả thuận nào khác, nghĩa là nếu các bên có thoả thuận khác mà không trái pháp luật thì được ưu tiên áp dụng trước. Tuy nhiên tại điều 522 Bộ luật Dân sự lại không đề cập gì trong trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Như vậy, có thể thấy rõ ràng là cùng một vấn đề có hai văn bản pháp luật điều chỉnh đã tạo sự chồng chéo, thiếu sự thống nhất giữa Luật Thương mại 2005 với Bộ luật Dân sự 2005 trong các quy định về hợp đồng dịch vụ.

II: Thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 vào ký kết các hợp đồng dịch vụ Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

1. Các doanh nghiệp lớn thường đưa ra các hợp đồng mẫu có lợi cho họ

Hợp đồng mẫu đã và đang được sử dụng rất nhiều trong thực tế đặc biệt là sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ, như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng cung cấp điện, hợp đồng vận chuyển hàng hoá. Luật Thương mại 2005 chưa có quy định về việc sử dụng hợp đồng mẫu nên trong thực tế các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lớn thường đưa ra các hợp đồng mẫu có lợi cho họ khi thiết lập quan hệ hợp đồng với khách hàng.

Về nguồn gốc, chức năng của hợp đồng mẫu trong giao dịch dịch vụ đã ra đời từ khá sớm và đã được các luật gia phương Tây mô tả là đứa con đẻ của cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ 19. Với việc xuất hiện khái niệm sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ mang tính hàng loạt và liên tục cho vô số khách hàng, đã đặt ra vấn đề phải “tiêu chuẩn hoá” các điều khoản của hợp đồng. Trong bối cảnh đó, từ giữa thế kỷ trước các doanh nghiệp, trước tiên là các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm, tín dụng sau đó là các công ty trong lĩnh vực khác đều thiết lập cho mình những quy tắc cung cấp dịch vụ thống nhất áp dụng chung cho các giao dịch với khách hàng của mình. Ngày nay, hợp đồng mẫu được áp dụng ở khắp mọi nơi, trên nhiều lĩnh vực trong đó lĩnh vực dịch vụ sử dụng đặc biệt nhiều, và không dừng lại ở việc hợp đồng mẫu áp dụng cho các doanh nghiệp với người tiêu dùng như trước kia mà còn được áp dụng cho các giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau.

Hợp đồng mẫu trong quan hệ cung ứng dịch vụ được hiểu là tất cả các điều khoản trong hợp đồng, quy tắc cung ứng dịch vụ được soạn thảo trước bởi một bên trong quan hệ hợp đồng ( thường là nhà cung cấp) và được sử dụng khi ký kết hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau. Việc thiết lập các điều khoản chung trong hợp đồng mẫu được áp dụng cho mọi khách hàng trước tiên vì mục đích hợp lý hoá việc cung ứng dịch vụ. Điều này có ý nghĩa cho cả hai phía bên cung ứng dịch vụ và khách hàng khi tiết kiệm được thời gian, sức lực trong đàm phán và thoả thuận cũng như ngăn ngừa được các rủi ro do nhận thức của các bên tham gia quan hệ hợp đồng liên quan đến việc giải thích hợp đồng. Riêng đối với nhà cung cấp dịch vụ khi đưa ra hợp đồng mẫu thì đạt được nhiều lợi ích về phần mình hơn và có phần ảnh hưởng tới lợi ích của khách hàng và đôi khi đi ngược lại với lợi ích của khách hàng. Thông qua hợp đồng mẫu nhà cung ứng dịch vụ hình thành được quy tắc riêng của mình trong hợp đồng qua đó hình thành được khả năng, cơ hội và thủ thuật cạnh tranh của mình. Mặc dù các điều khoản trong hợp đồng mẫu mang tính tuỳ nghi, khách hàng có thể thoả thuận lại hay bảo lưu, song điều dễ hiểu là khi thiết kế sự phân chia rủi ro pháp lý nhà cung cấp (tác giả của hợp đồng) bao giờ cũng:

  • Tìm cách hạn chế tính tuỳ nghi của nguyên tắc, chèn ép khách hàng, dồn họ vào thế khó lựa chọn, hạn chế hay vi phạm nguyên tắc tự do khế ước
  • Cố gắng dùng các thủ thuật pháp lý để phân chia rủi ro pháp lý và lợi ích một cách không công bằng hay không chính đáng, bất lợi cho bên thuê dịch vụ hay khách hàng.

Với cách thiết kế và soạn thảo trên thì rõ ràng hợp đồng dịch vụ mẫu luôn đem lại những lợi ích tối đa cho doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

2. Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong việc ký kết hợp đồng dịch vụ chưa được thể hiện rõ. Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Như đã đề cập ở phần trên, trong thực tế thì sử dụng hợp đồng mẫu trong cung ứng dịch vụ là rất phổ biến. Việc các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng mẫu trong cung ứng dịch vụ đã hạn chế phần nào nguyên tắc “tự do khế ước” của hợp đồng. Khách hàng thường phải chấp nhận các quy tắc thương mại do chính nhà cung cấp đặt ra và về nguyên tắc thì những quy tắc này không phải là đối tượng của việc đàm phán. Theo pháp luật, hợp đồng là quan hệ ý chí, là sự thống nhất ý chí thật và tự do, là luật của các bên tham gia hợp đồng. Trên thực tế thì chính hợp đồng mẫu như đã phân tích ở trên đã làm mờ đi quyền tự do hợp đồng của khách hàng. Khách hàng thường ở thế yếu, phải chấp nhận và đôi khi không biết đến quyền bảo lưu.

Luật Thương mại 2005 không đưa ra khái niệm về hợp đồng mẫu, tuy nhiên ta có thể tìm thấy khái niệm về hợp đồng dân sự mẫu tại Điều 407 Bộ luật Dân sự “ Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu như bên được đề nghị trả lời chấp nhận  thì coi như là chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Quy định này khó có thể áp dụng cho cung ứng dịch vụ khi mà các hợp đồng mẫu đều do bên cung cấp dịch vụ đưa ra, và khách hàng có nghĩa vụ chấp nhận các điều khoản trong hợp đồng đó, trong khi đó các điều khoản đơn lẻ của hợp đồng thì hầu như không thể đàm phán lại. Bởi vậy, nguyên tắc tự do hợp đồng theo quan điểm của Bộ luật Dân sự dường như bị vi phạm và trong nhiều trường hợp đã không bảo vệ được người thuê cung ứng dịch vụ.

Bên cạnh quy định về hợp đồng mẫu của Bộ luật Dân sự, nhằm hạn chế việc các doanh nghiệp đưa ra các điều khoản mẫu bất lợi cho khách hàng trong một số lĩnh vực kinh tế có sự độc quyền nhà nước hoặc có nguy cơ dẫn đến độc quyền, pháp luật cũng có một số quy định kiểm soát hợp đồng mẫu thông qua cơ chế phê duyệt hoặc giao cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành ban hành các hợp đồng mẫu để doanh nghiệp áp dụng. Ví vụ, Chính phủ ban hành nghị định 160/ 2004/NĐ – CP ngày 3/9/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính viễn thông, tại điều 15, quy định: “Đối với một số dịch vụ viễn thông phổ cập thiết yếu, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dụng hợp đồng mẫu, trình Bộ Bưu chính viễn thông phê duyệt”. Bằng cơ chế này, ngoài việc kiểm soát hợp đồng mẫu nhằm bảo vệ quyền tự do hợp đồng và lợi ích của bên thế yếu, pháp luật còn quy định giá trị bắt buộc của các điều khoản mẫu của các hợp đồng mẫu đối với các doanh nghiệp dịch vụ nhất là các điều kiện về nghĩa vụ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những quy định trên, việc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với hợp đồng dịch vụ mẫu còn những hạn chế: Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Thứ nhất, so với pháp luật của các nước, pháp luật hợp đồng nói chung và các quy định về hợp đồng dịch vụ trong Luật Thương mại Việt Nam nói riêng còn thiếu những quy định điều chỉnh các hợp đồng mẫu như:

  • Đối tượng, phạm vi, điều kiện có hiệu lực;
  • Giá trị pháp lý của các điều khoản trong hợp đồng mẫu;
  • Các quy định nhằm chống lại việc lạm dụng của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ;
  • Các quy định nhằm bảo về quyền tự do hợp đồng, quyền lợi của khách hàng, bên thế yếu trong hợp đồng mẫu;
  • Các quy định về giám sát, xử lý các trường hợp vi phạm…

Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc tự do hợp đồng, tự do thoả  thuận hợp đồng và bảo vệ lợi ích của các bên, nhất là bên thế yếu, việc ban hành các quy định cụ thể để điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng dịch vụ mẫu là cần thiết.

Thứ hai, cùng với bản chất của hợp đồng mẫu trong thực tiễn hoạt động cung ứng dịch vụ, xuất hiện những trường hợp các doanh nghiệp sử dụng những điều kiện thương mại chung do mình đặt ra như là một phần của hợp đồng. Điều kiện thương mại chung trong hợp đồng dịch vụ là tất cả những điều khoản hợp đồng, quy tắc cung ứng dịch vụ được soạn thảo trước bởi một bên trong quan hợp đồng và được sử dụng để trở thành nội dung của hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành của Việt Nam chỉ có văn bản duy nhất đề cập tới vấn đề này nhưng dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng, đó là Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng. Điều 5 Nghị định 69/2001/ NĐ – CP có quy định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng nêu rõ “Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh không được đưa ra những quy tắc trái pháp luật và chèn ép người tiêu dùng trong cam kết, trong quy ước bán hàng, quy ước phục vụ; không được hoãn hoặc kéo dài việc thực hiện trách nhiệm dân sự. Nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật”.

Như đã nói ở phần trên hiện nay ở nước ta các điều kiện thương mại chung được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, bưu chính viễn thông. Lấy một ví vụ điển hình là các hợp đồng dịch vụ giao kết chuyển phát nhanh EMS giữa khách hàng với Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện. Khi muốn gửi chuyển phát nhanh một bưu phẩm hoặc hàng hoá, khách hàng sẽ được Công ty đưa cho một phiếu gửi E1 (bằng chứng của viêc ký kết hợp đồng dịch vụ chuyển phát nhanh) để điền đầy đủ các thông tin cần thiết gồm: họ tên người gửi, người nhận; loại hàng hoá, khối lượng, cước phí (do khách hàng tự tính theo biểu cước của công ty đưa ra); ngày gửi, giờ gửi; chữ ký của khách hàng; chữ ký của giao dịch viên của Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện. Trên mặt trước của phiếu E1 cũng đưa ra các trường hợp hoàn trả nếu không chuyển phát được. Mặt sau của phiếu E1 ghi các nội dung thông báo về các loại hàng hoá không được phép gửi; quyền và nghĩa vụ của khách hàng; trách nhiệm của Bưu điện. Còn các điều kiện khác như thời gian chuyển phát nhanh, bảng giá, cước phí, mức bồi thường cụ thể trong trường hợp chuyển phát chậm, hoặc hư hỏng mất mát bưu phẩm do lỗi của Công ty thực hiện theo quy định mà Công ty đưa ra. Đây là những điều khoản thương mại chung do công ty đưa ra mà rất ít khách hàng khi giao dịch để ý hoặc có để ý và muốn thay đổi các điều khoản đó thì cũng không được khách hàng chỉ có hai sự lựa chọn hoặc là chấp nhận toàn bộ các điều khoản đó hoặc là không gửi nữa. Nếu chấp nhận những điều khoản đó thì một khi xảy ra tranh chấp về thời gian hay hư hỏng của bưu phẩm chuyển phát nhanh thì khách hàng phải chấp nhận thiệt hại lớn về phần mình. Có thể tham khảo những quy định về trách nhiệm và mức bồi thường của công ty được quy định ở mặt sau phiếu E1. “Bưu gửi EMS bị chậm so với chỉ tiêu thời gian toàn trình, bưu điện bồi hoàn lại cước đã thu khi chậm gửi bưu kiện đó.

Bưu gửi bị hư hỏng, mất một phần nội dung, bưu điện hoàn lại cước phí đã thu khi chấp nhận và bồi thường theo tỷ lệ hư hỏng hay mất mát của bưu gửi theo bảng cước do Công ty chuyển phát nhanh Bưu điện ban hành.

Bưu gửi bị mất toàn bộ nội dung, bưu điện hoàn trả lại cước đã thu khi chấp nhận, số tiền thuê người gửi đã nộp (nếu có) và bồi thường theo bảng cước do Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện đã ban hành.

Mức bồi thường tối đa cho những bưu gửi là:

  • Bưu gửi EMS trong nước: mức cước phí đã thu + 132.000 VNĐ
  • Bưu gửi EMS quốc tế: cước phí đã thu + 167 USD

Bưu điện không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại gián tiếp hoặc những nguồn lợi không thực hiện được do việc chậm, mất, hư hỏng bưu gửi EMS gây nên”. Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Rõ ràng với quy định trên thì Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện đã hạn chế trách nhiệm của mình đối với khách hàng. Quy định này chưa phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, tự do giao kết hợp đồng. Bởi vì, trong hợp đồng dịch vụ chuyển phát nhanh, mục đích của Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện là thu cước phí cao hơn hình thức chuyển phát thông thường đổi lại họ phải bảo đảm thời gian, chất lượng dịch vụ như đã cam kết, mục đích của khách hàng là được cung ứng dịch vụ đúng chất lượng, theo đúng chỉ tiêu thời gian công ty đã cam kết đổi lại họ phải trả mức phí cao hơn hình thức chuyển phát thông thường. Nếu Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện không thực hiện đúng chất lượng dịch cụ đã thoả thuận trong hợp đồng, thì trong trường hợp này có thể đánh giá mục đích của hợp đồng không đạt được và vì vậy có thể coi Công ty chuyển phát nhanh Bưu điện đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng (điều 3 khoản 13 Luật Thương Mại 2005) Công ty phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, giá trị thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và các khoản lợi trực tiếp mà nên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng (theo điều 302 Luật thương mại 2005). Như vậy những quy định trên của Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện đưa ra vấn đề bồi thường cho khách hàng trong trường hợp chuyển phát chậm so với chỉ tiêu thời gian, bưu phẩm bị hỏng hay bị mất như đã nêu trên là điều kiện thương mại chung trái pháp luật. Hiện nay chưa có bất cứ một văn bản nào quy định xử lý việc đưa và hợp đồng những điều khoản thương mại chung trái pháp luật, điều khoản giới hạn trách nhiệm của các doanh nghiệp khi thực hiện hợp đồng dịch vụ như thế nào. Đây chính là “lỗ hổng” pháp luật và cần có sự xem xét và đưa ra quy định cụ thể của pháp luật. Để xây dựng các quy định điều chỉnh vấn đề này tôi cho rằng các nhà làm luật cần làm rõ các vấn đề sau:

  • Nguồn gốc, mục tiêu và chức năng của các điều khoản thương mại chung là gì?
  • Giá trị của các điều khoản thương mại chung đó?
  • Điều khoản thương mại chung có là nguồn của pháp luật về hợp đồng hay không?
  • Các điều khoản thương mại chung liệu có vi phạm nguyên tắc tự do thoả thuận của các chủ thể của hợp đồng khay không?
  • Khi nào thì các điều khoản thương mại chung bị coi là trái pháp luật, trái với nguyên tắc tự do thoả thuận trong hợp đồng

Bên cạnh đó, pháp luật không nên chỉ điều chỉnh vấn đề này dưới góc độ bảo về người tiêu dùng như quy định hiện nay khi mà bên thuê cung ứng dịch vụ có thể là tổ chức, doanh nghiệp chứ không phải đơn thuần là người tiêu dùng thuần tuý. Luật cần nghiên cứu dưới góc độ đưa ra quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể trong hợp đồng nhằm đảm bảo nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng như đã được nêu trong Luật Thương mại Việt Nam 2005.

3. Một số quy định về các loại hợp đồng dịch vụ cụ thể vẫn còn chung chung Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã đi vào cuộc sống cho tới nay được hơn 3 năm, phần nào đã thể hiện được những ưu điểm nổi trội của mình so sới Luật Thương mại năm 1997, phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế của đất nước. Bên cạnh những thành công mà Luật Thương mại đạt được, cũng còn một số hạn chế bộc lộ rõ khi áp dụng Luật vào thực tiễn thương mại luôn luôn thay đổi như hiện nay. Về phía các quy định cụ thể của Luật Thương mại 2005 đối với hoạt động cung ứng dịch vụ có một số khó khăn trong việc áp dụng để ký kết các hợp đồng dịch vụ. Cụ thể là khó khăn trong việc áp dụng quy định liên quan đến hợp đồng dịch vụ Logistics.

Các quy định của Luật Thương mại 2005 liên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ logistics được quy định tại mục 4 chương 6 của luật từ điều 233 đến điều 240. Quy định của các điều này là tương đối rõ ràng để có thể áp ụng vào thực tế, tuy nhiên sẽ là hoàn thiện hơn nếu quy định tại điểm đ khoản 1 điều 37 được quy định cụ thể hơn. Tại mục đ, khoản 1, điều 237 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong trường hợp “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận”. Trong quy định này khái niệm “ngày”  được đưa ra nhưng Luật Thương mại lại không giải thích rõ ràng, chưa nêu ra cách tính cụ thể. Ngày có thể bao gồm ngày làm việc, ngày nghỉ việc, ngày nghỉ lễ chính thức, và liệu “mười bốn ngày” trong quy định này có bao gồm ngày nghỉ việc, ngày nghỉ lễ chính thức hay không? Chính sự chưa rõ ràng này có thể là nguyên nhân dẫn đến những suy luận, nhận thức khác nhau về khái niệm “ngày” của các bên trong hợp đồng khi xảy ra tranh chấp và sẽ gây khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp giải quyết các tranh chấp liên quan đến thời hạn khiếu nại. Nếu muốn áp dụng triệt để quy định này của Luật trong  hợp đồng cung ứng dịch vụ logistics mà các bên ký kết thì các bên trong hợp đồng lại phải làm thêm một động tác nữa là giải thích rõ khái niệm ngày trong quy định này được hiểu như thế nào để tránh những rắc rối có thể xảy ra. Như vậy về một khía cạnh nào đó quy định của điều khoản này trong thực tế chưa phát huy được hết hiệu quả của nó như mong muốn của các nhà làm luật khi xây dựng nên quy định này. Khóa luận: Thực tiễn pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật thương mại về hợp đồng dịch vụ

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x