Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2040 là phải hoàn thành nhiệm vụ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp tiên tiến. Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào qui mô và hiệu quả vốn đầu tư. Nói cách khác, để đáp ứng nhu cầu phát triển và cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới dây truyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, vươn lên cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Trong khi đó, nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp, các tổ chức lại rất hạn chế. Bởi vậy nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng. Một địa chỉ quen thuộc và tiện ích nhất mà người cần vốn nghĩ đến đó chính là các Ngân hàng thương mại. Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên trong điều kiện thị trường tài chính nước ta vẫn đang trong giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển thì huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và hiệu quả nhất. Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ. Với vai trò trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế theo các nguyên tắc tín dụng.
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu vốn đầu tư ngày càng tăng cũng tương đương với việc huy động vốn của các Ngân hàng thương mại phải được tăng cường, mở rộng cho phù hợp. Mặt khác việc tăng cường huy động và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả hơn. Do vậy, trong thời gian tới để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống ngân hàng, việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các ngân hàng thương mại và Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy cũng không là ngoại lệ. Vấn đề tìm ra những giải pháp để hoàn thiện công tác huy động vốn là rất thiết thực và cấp bách.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế tại Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy vừa qua, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy” trong giai đoạn 2022-2024 làm khóa luận tốt nghiệp cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ngoài việc tổng hợp những kiến thức, lý thuyết đã tích lũy được trong quá trình học tập để áp dụng phân tích trong thực tế còn tập trung vào 3 nội dung chính sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận chung về hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy qua các năn 2022, 2023 và 2024. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
- Qua những phân tích đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm và hạn chế trong hoạt động huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động huy động vốn của Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy giai đoạn 2022-2024. Qua đó, đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả huy động vốn của Chi nhánh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng chủ yếu phương pháp quan sát thực tế, khái quát, thống kê, tổng hợp, phân tích và suy luận,… từ cơ sở là các số liệu được cung cấp và thực trạng tình hình hoạt động của Chi nhánh, kết hợp với những kiến thức đã học, các thông tin thu thập từ mạng xã hội và các tài liệu tham khảo khác để đưa ra đánh giá và kết luận.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các bảng biểu và tài liệu tham khảo, kết cấu của khóa luận được chia thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy.
- Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cầu Giấy.
Chương 1. Các vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1. Khái quát chung về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
NHTM ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế. Trong các nước phát triển hầu như không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một Ngân hàng thương mại nhất định nào đó. Ngân hàng thương mại được coi như là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người. Mọi công dân đều chịu tác động từ các hoạt động của Ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ Ngân hàng.
NHTM không chỉ là một sản phẩm độc đáo của quá trình sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường mà còn là một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế. Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng hầu như giống nhau song quan niệm về ngân hàng lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới.
1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về Ngân hàng thương mại, người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, đôi khi còn kết hợp giữa tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Theo Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941, định nghĩa: “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng Luận văn tốt nghiệp cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Hoặc ở Mỹ, Ngân hàng thương mại được định nghĩa là “một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”. Hay theo như Luật Ngân hàng của Ấn Độ (1959) đã nêu: “ Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Còn ở Việt Nam, Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 2022 thì định nghĩa: “NHTM là một loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”… Như vậy, có nhiều cách nhìn nhận, diễn giải khác nhau về định nghĩa Ngân hàng thương mại, nó rất đa dạng và luôn biến động tuỳ thuộc vào sự biến động chung của nền kinh tế, phong tục tập quán cũng như pháp luật của từng quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhưng khi đi sâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cả các Ngân hàng thương mại đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác – tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, sử dụng tiền này vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng.
- Hiện nay, ở Việt Nam có các loại hình ngân hàng sau:
NHTM quốc doanh: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng ở nước ta. Các ngân hàng này được nhà nước cấp vốn và hoạt động chịu sự quản lý của nhà nước. Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình thường: huy động vốn, cho vay và các dịch vụ khác, ngân hàng còn phải thực hiện các nhiệm vụ khi nhà nước giao cho. Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn là một trong những ngân hàng này.
NHTM cổ phần: Đây là các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo luật công ty cổ phần. Sở hữu ngân hàng là các cổ đông, họ cùng nhau góp vốn để hình thành và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Vốn điều lệ là vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài, có trụ sở chính tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Ngân hàng đầu tư: Ngân hàng đầu tư hoạt động với mục tiêu đầu tư trung và dài hạn, đầu tư gián tiếp thông qua các giấy tờ có giá.
Ngân hàng phát triển: Ngân hàng phát triển có nét đặc trưng nổi bật là những ngân hàng này tập trung vốn huy động trung, dài hạn và đầu tư trung, dài hạn vì sự phát triển. Hoạt động đầu tư của loại ngân hàng này chủ yếu đầu tư trực tiếp qua các dự án.
Ngân hàng chính sách: Là những Ngân hàng thương mại 100% vốn Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước( gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh) được lập ra để phục vụ những chính sách của Nhà nước. Loại ngân hàng này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng hợp tác: Ngân hàng hợp tác hay gọi rộng ra là những tổ chức tín dụng hợp tác, là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện lập lên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn và dịch vụ ngân hàng.
1.1.1.2. Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
Trước hết, Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính đặc biệt, cũng cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – đồng thời cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng. Một số đặc điểm của Ngân hàng thương mại có thể kể đến như:
Trung gian tài chính: Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế, bao gồm: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, trung gian thông tin,…
Trung gian tín dụng: Sản xuất hàng hoá phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này giải quyết bằng cách nào? Ngân hàng thương mại ra đời là chìa khoá giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn. Bằng cách đứng ra huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngày nay, quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn. Sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khác của chức năng này. Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những nhà đầu tư chẳng hạn như: Chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu công ty,… Theo cách này Ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường. Hơn nữa, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng Ngân hàng góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư. Đưa vật tư hàng hoá vào sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được, chỉ có Ngân hàng thương mại- một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối.
Trung gian thanh toán: Việc làm trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đến mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian truyền thống như trước, mà còn quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các nước phát triển, phần lớn các công tác thanh toán ở trong nước được thực hiện thông qua séc và phần lớn séc thanh toán ở trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại. Với phương pháp công nghệ hiện đại hơn, các Ngân hàng thương mại từng bước trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật tạo điều kiện thanh toán bù trừ được nhanh chóng, tiết kiệm được chi phí và có độ chính xác, an toàn cao. Đồng thời thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Trung gian thông tin: Các Ngân hàng thương mại chuyên hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ nên được trang bị đầy đủ hơn những người cho vay đơn lẻ cả về kiến thức và kinh nghiệm, nhờ đó họ có thể thu thập và xử lý thông tin hiệu quả hơn, giúp đánh giá được chính xác hơn mức độ rủi ro của các dự án xin vay, qua đó giảm thiểu được nguy cơ chọn lựa đối nghịch. Hơn nữa, khi ngân hàng thực hiện các dịch vụ tài chính, hoạt động tín dụng đã thiết lập mối quan hệ với các doanh nghiệp tổ chức kinh tế khiến ngân hàng trở thành nơi lưu trữ thông tin tương đối đầy đủ và chính xác, đồng thời tăng khả năng kiểm soát quá trình sử dụng vốn của người đi vay, nhờ đó giảm bớt được những thiệt hại do rủi ro đạo đức gây ra. Mặt khác, chi phí Ngân hàng thương mại bỏ ra để mua thông tin và giám sát hoạt động của người đi vay nhằm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng sẽ thấp hơn rất nhiều và đem lại những lợi thế mà các nhà đầu tư khác không thể có được.
Kinh doanh có điều kiện: Hoạt động Ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là chỉ khi Ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật qui định như điều kiện về thành lập, hoạt động, giải thể, điều kiện về vốn, phương án kinh doanh…thì mới được phép hoạt động trên thị trường. Bởi lẽ hoạt động Ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng tiến hành huy động vốn của người khác rồi đem vốn đó để cấp tín dụng cho khách hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định nên đã tạo rủi ro cho các hoạt động Ngân hàng thương mại. Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những yếu tố khách quan. Để tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
- Vốn và tài sản: Đây là một trong những đặc điểm phân biệt giữa Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác.
Trong tổng nguồn vốn, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng bao gồm: Vốn điều lệ – là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành lập và vốn pháp định – là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật qui định. Vốn điều lệ được ghi vào điều lệ thành lập Ngân hàng và luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Ngoài nguồn vốn thuộc chủ sở hữu thì tất cả các nguồn vốn còn lại được coi là nguồn vốn huy động, chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Vì vậy các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển được là nhờ nguồn vốn huy động này. Kỳ hạn của nguồn này thường thấp, chủ yếu là vốn không kỳ hạn nên việc quản lý thanh khoản được các Ngân hàng rất quan trọng. Nếu quản lý thanh khoản không tốt có thể gây nên phá sản.
Vì tài sản cố định được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu nên tỷ lệ của tài sản này trong tổng tài sản cũng chiếm tỷ trọng nhỏ. Chủ yếu là tài sản tài chính hình thành từ ngân quỹ, tín dụng và đầu tư.
Vì tính chất đặc biệt giữa vốn và tài sản của Ngân hàng thương mại nên các Ngân hàng thương mại luôn phải đặc biệt quan tâm tới giá trị chịu rủi ro (Value at rick) là tổn thất dự kiến của Ngân hàng đối với những biến động về tỷ giá và và hạn mức chịu rủi ro là mức tổn thất dự kiến tối đa mà Ngân hàng có thể chịu đựng được. Giá trị chịu rủi ro phản ánh được mức độ rủi ro về tỷ giá trên cơ sở xem xét hai yếu tố trạng thái ngoại hối và mức độ biến động tỷ giá dự kiến đối với từng đồng tiền. Ngoài ra, giá trị chịu rủi ro đo lường được mức độ rủi ro về tỷ giá, tức là mức độ tổn thất dự kiến đối với ngân hàng khi tỷ giá biến động. Như vậy, hạn mức về giá trị chịu rủi ro cho phép ngân hàng giới hạn được mức độ tổn thất. Bằng việc xây dựng những hạn mức như vậy, ngân hàng có thể xác định rõ thẩm quyền và phạm vi giao dịch. Qua đó, cán bộ giao dịch được tự chủ trong giao dịch và đồng thời tổn thất của ngân hàng cũng được giới hạn ở mức độ nhất định. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Đặc điểm về sản phẩm : các sản phẩm của Ngân hàng thương mại là các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Những sản phẩm và dịch vụ này, ngoài tính chất vô hình còn liên tục thay đổi, dễ bắt chước và không có tính di truyền. Chính vì thế để nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này, các Ngân hàng thương mại phải thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm đồng thời tăng cường kênh phân phối cũng như các chính sách hỗ trợ sản phẩm cơ bản khác. Mặc dù vậy, các chính sách về giá đối với những sản phẩm và dịch vụ này thường không có ý nghĩa nhiều như các sản phẩm thông thường bởi những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng có độ co giãn theo lãi suất tương đối thấp.
Chức năng tạo tiền trong hệ thống Ngân hàng hai cấp: Vào thế kỷ thứ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp đã được hình thành, các ngân hàng không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống. Trong đó Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý, về tiền tệ tín dụng là “ngân hàng của các ngân hàng”, còn các Ngân hàng thương mại chuyên kinh doanh tiền tệ. Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các Ngân hàng thương mại đã tạo ra bút tệ. Việc tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động Ngân hàng; Chức năng tạo ra bút tệ được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và đầu tư của Ngân hàng thương mại trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào Ngân hàng trung ương. Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng, Ngân hàng thương mại có khả năng đầu tư. Nhưng khi đầu tư, Ngân hàng tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là tiền bút tệ, tiền chuyển khoản. Ngân hàng thương mại trở thành người cung ứng tiền bút tệ quan trọng, trong nền kinh tế. Tóm lại, khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng nhiều ngân hàng. Khả năng này tạo ra “bội số mức cung tiền tệ” liên quan chặt chẽ với việc công cụ dự trữ bắt buộc, của Ngân hàng Trung ương. Chính vì vậy các bút tệ thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà cũng có thể gây nên những tai hoạ lớn. Đây là nhân tố cơ bản trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng thương mại.
Từ những đặc điểm trên ta cũng có thể thấy được những ưu thế và vai trò to lớn của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế. Hoạt động của Ngân hàng thương mại đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch và tạo môi trường thuận lợi cho quá trình lưu chuyển vốn của nền kinh tế, nâng cao chất lượng của quá trình tập trung và phân phối nguồn vốn. Thêm vào đó, tầm quan trọng của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua các chức năng của nó trong nền kinh tế thị trường. Các nhà kinh tế học đã ví Ngân hàng thương mại là “trái tim của nền kinh tế”, không chỉ giúp cho quá trình lưu chuyển tiền tệ hiệu quả hơn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ và góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động của Ngân hàng Trung ương và các chính sách của Nhà nước, đồng thời cũng là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
NHTM hiện đại hoạt động với ba hoạt động chính đó là: Hoạt động huy động vốn, Cho vay và đầu tư và Cung cấp và dịch vụ tài chính khác. Ba hoạt động này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các Ngân hàng thương mại. Các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là các hoạt động tạo lập vốn cho ngân hàng, hình thành tài sản Nợ cho Ngân hàng thương mại Hoạt động này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp, tổ chức và đoàn thể, các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân, hộ gia đình vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản và hưởng lãi trên số tiền gửi.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các Ngân hàng thương mại phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các Ngân hàng thương mại giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính an toàn và ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Nghiệp vụ đi vay: Nghiệp vụ đi vay được các Ngân hàng thương mại sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo… Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của Ngân hàng thương mại khi mà bản thân ngân hàng không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, Ngân hàng thương mại còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của Ngân hàng thương mại, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại : Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng thương mại. Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong thực tế, khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, đồng thời góp phần nâng cao vị thế của Ngân hàng trên thị trường.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn
Đây là hoạt động phản ánh quá trình sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận. Đây là nghiệp vụ hình thành tài sản Có trên bảng cân đối kế toán của Ngân hàng. Nội dung chủ yếu của nghiệp vụ này bao gồm:
Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của Ngân hàng thương mại được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh của Ngân hàng thương mại và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra.
Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Thông thường lợi nhuận từ hoạt động cho vay này chiếm tới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển. Các Ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều kiện mang tính pháp lý nhằm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn. Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách: dựa trên thời hạn cho vay có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn; theo hình thức đảm bảo như cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo;hay đa dạng hóa theo mục đích có cho vay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thuê mua… Từ đó thỏa mãn tối đa như cầu của khách hàng. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các Ngân hàng thương mại còn dùng số vốn huy động được để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như : góp vốn liên doanh, liên kết với các ngân hàng, các tổ chứ khác; kinh doanh chứng khoán trên thị trường…cũng như đầu tư vào trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… Việc này không chỉ giúp ngân hàng phân tán rủi ro mà còn tăng thu nhập. Các khoản đầu tư trong ngắn hạn như chứng khoán ngắn hạn, đặc biệt là tín phiếu kho bạc (lãi suất thấp, tính thanh khoản cao) cũng giúp các ngân hàng nâng cao khả năng thanh toán.
Nghiệp vụ khác: Ngân hàng thương mại thực hiện các hoạt động king doanh như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và kim khí, đá quý; thực hiện các dịch vụ bảo lãnh và tư vấn, dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ uỷ thác và đại lý; kinh doanh dịch vụ bảo hiểm và một số hoạt động khác theo quy định của pháp luật để thu được những khoản lợi nhuận đáng kể.
Có thể nhận thấy rằng, mặc dù cơ cấu, loại hình và khối lượng vốn huy động phụ thuộc vào phương hướng kinh doanh và chiến lược tín dụng của Ngân hàng song ở bất kỳ ngân hàng nào, hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, để thực hiện tốt công tác này phải thực hiện tốt công tác kia và ngược lại.
1.1.2.3. Cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng càng được quan tâm và đòi hỏi sự phát triển cao hơn. Ngoài hai hoạt động cơ bản trên ngân hàng còn thực hiện một số nghiệp vụ khác như:
- Dich vụ trong thanh toán: Có thể nói ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua hoặc bán hàng hoá và dịch vụ bởi việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác.
- Dịch vụ tư vấn, môi giới: Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng khoán, tư vấn cho người đầu tư mua bán chứng khoán, bất động sản…
- Các dịch vụ khác: Ngân hàng đứng ra quản lý hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền; cho thuê két sắt, bảo mật…
1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
1.2.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định.Theo giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại của Đại học Thăng Long: “Vốn của Ngân hàng thương mại là toàn bộ các vốn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập hoặc huy động bằng nhiều hình thức để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm hai loại chính: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ”. Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của Ngân hàng thương mại. Về thực chất vốn của Ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi. Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Đây chính là việc họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê…
Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của Ngân hàng thương mại. Vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm: Vốn chủ sở hữu, Nợ, Vốn khác. Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
1.2.1.1. Vốn chủ sở hữu Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa…Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng. Ngân hàng có to, đẹp, bề thế thì mới tạo được cảm giác an toàn kho khách hàng khi đến giao dịch. Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Nguồn vốn hình thành ban đầu: Trước khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ). Tuỳ theo hình thức sở hữu, do nhà nước cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, do cổ đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần, do các bên đóng góp nếu là ngân hàng liên doanh và của cá nhân nếu là ngân hàng tư nhân.
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Vốn chủ sở hữu của ngân hàng không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…Nguồn vốn bổ sung này tuy không thường xuyên song đối với các ngân hàng lớn từ lâu đời thì nguồn bổ sung này chiếm một tỷ lệ rất lớn.
Các quỹ: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quĩ khen thưởng…Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận. Các quỹ này thuộc toàn quyền sử dụng của ngân hàng.
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thì được coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng vốn theo các mục đích kinh doanh của mình như có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
1.2.1.2. Vốn nợ Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Vốn huy động : là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội… với nhiều hình thức khác nhau.
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi ( trả lãi thấp ) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Người gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền… với một mức phí thấp. Các ngân hàng có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình.
Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút ) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư : Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng và bằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất.
Tiền gửi của các ngân hàng khác: Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.
Vốn đi vay : Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc… Các ngân hàng có thể: Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Vay ngân hàng Nhà nước ( ngân hàng trung ương ): Khi các Ngân hàng thương mại có nhu cầu cấp bách về vốn thì người dang tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ương. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu ( hay tái cấp vốn ). Các Ngân hàng thương mại sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên ngân hàng trung ương để tái chiết khấu. Thông thường các ngân hàng trung ương chỉ cho tái chiết khấu những trái phiếu có chất lượng, thời hạn ngắn và phù hợp với mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Vay các tổ chức tín dụng khác : Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý. Các khoản vay có thể không cần thế chấp hoặc thế chấp bằng các chứng khoán của kho bạc. Các khoản vay này thông thường có thời hạn ngắn chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời.
Vay trên thị trường vốn: Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu cho vay trung và dài hạn và các nhu cầu đầu tư khác. Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ. Các ngân hàng nhỏ thường vay gián tiếp thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, các hình thức phát hành, chuyển đổi, thời hạn của các công cụ nợ…
1.2.1.3. Vốn khác
- Nguồn uỷ thác: Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của ngân hàng như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ…
- Nguồn trong thanh toán: Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi… hay ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình.
- Nguồn khác : Gồm các khoản phải nộp, phải trả như: thuế chưa nộp, lương chưa trả…
1.2.2. Các phương thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Một hoạt động không thể thiếu của các Ngân hàng thương mại là tiến hành huy động vốn để ngân hàng đi vào hoạt động. Quá trình huy động vốn đó hầu như đều giống nhau ở các ngân hàng nhưng để phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau. Điều này còn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại.
1.2.2.1. Phân loại căn cứ theo thời gian
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành:
Vốn huy động ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán….Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn ( dưới 12 tháng) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
Vốn huy động trung và dài hạn ( từ 12 tháng trở lên): Với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao. Nguồn huy động trung và dài hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao. Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn nhiều so với nguồn ngắn hạn.
1.2.2.2 Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động
Huy động vốn từ dân cư : Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định . Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội : Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần. Chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán… Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng thương mại. Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ, các Ngân hàng thương mại có thể vay lẫn nhau. Quá trình vay này là một thoả thuận tín dụng giữa hai bên, có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt. Đó là Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho các Ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra. Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều.
1.2.2.3. Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn
Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các Ngân hàng thương mại sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:
- Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động ( máy ATM ). Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai. Trong đó, tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi. Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có. Và tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi. Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt Nam), để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Tiền gửi có kỳ hạn: Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định. Khoản này thường gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động. Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng. Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi ( mà chúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích ) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm… ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò tạo vốn cho các ngân hàng.
- Huy động tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các Ngân hàng thương mại. Bao gồm các loại sau:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn. Tuy nhiên so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này ổn định hơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Người gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3 tháng, 6 tháng… Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt. Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với lãi suất gần như là cao nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trước thời hạn. Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế…
Tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài: Loại hình này khá phổ biến ở những nước phát triển nhưng ở nước ta còn khá mới mẻ. Người gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉ được rút ra khi đến hạn ( thời hạn tương đối dài ). Loại hình này giúp cho ngân hàng có nguồn vốn ổn định để có thể đầu tư trung và dài hạn. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
- Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay : Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay. Các Ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn:
Vay từ các tổ chức tín dụng: Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương.
Vay từ ngân hàng trung ương: Khi Ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu. Các Ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng trung ương để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng trung ương chỉ cho Ngân hàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sung vốn cho Ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định.
Huy động qua phát hành các công cụ nợ : Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các Ngân hàng thương mại. Trong quá trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra mới tính đầu vào. Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu. Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn. Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế…
Huy động vốn qua các hình thức khác: Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các Ngân hàng thương mại còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng đồng tài trợ… Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả.
1.2.3. Đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
1.2.3.1. Sự cần thiết đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
- Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại:
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Để bước vào hoạt động kinh doanh thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có vốn. Ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp. Ngoài lượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác. Ngân hàng đi vay để cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà cho vay. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ. Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh của mình.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường: Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi và nể trọng. Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngân hàng. Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo, các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.
Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng: Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng cường quan hệ với các đối tác. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàng truyền thống. Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm tăng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi…Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Đối với Ngân hàng Nhà nước : Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước với tư cách là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam đồng thời xem xét việc thành lập các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, quản lý các Ngân hàng thương mại nhà nước thì việc đánh giá hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại cũng rất quan trọng. Việc này không chỉ giúp Ngân hàng Nhà nước phát huy được tốt vai trò quản lý và định hướng của mình mà còn thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế. Đồng thời trong thời gian này, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tích cực hỗ trợ đối với Ngân hàng thương mại về các chính sách tiền tệ, lãi suất… và các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vốn pháp định. Từ đó tăng cường việc quản lý các Ngân hàng thương mại, xây dựng hệ thống Ngân hàng thương mại an toàn, vững mạnh, góp phần ổn định nền kinh tế. Mặt khác, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của mình trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của các chính sách của Ngân hàng Nhà nước.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Hiệu quả huy động vốn được đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhau. Vì vậy, các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốn cũng có nhiều loại khác nhau. Dưới góc độ ngân hàng, ta có thể đánh giá hiệu quả huy động vốn dựa trên những chỉ tiêu sau:
Quy mô và cơ cấu: Các Ngân hàng thương mại luôn ra sức tăng trưởng quy mô vốn huy động để tạo điều kiện mở rộng quy mộ hoạt động, tăng tính thanh khoản. Cơ cấu nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của Ngân hàng. Các nhà quản lý nghiên cứu mối quan hệ giữa số lượng, cấu trúc, đặc tính từng loại nguồn vốn cũng như các nhân tố ảnh hưởng để lập ra kế hoạch nguồn vốn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng. Kế hoạch nguồn bao gồm tăng quy mô mỗi nguồn, tìm kiếm nguồn vốn mới,…
Tỷ lệ vốn huy động / Tổng nguồn vốn (%) : Tỷ lệ này cho thấy mức độ phụ thuộc của các ngân hàng vào nguồn vốn đi vay, tỷ lệ an toàn ở các Ngân hàng thương mại là dưới 90%
Chi phí huy động vốn: Là chi phí đầu vào của hoạt đông ngân hàng. Quy mô vốn huy động tăng trưởng tốt nhưng chi phí của nó tăng quá nhiều sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần nghiên cứu tăng trưởng các loại nguồn vốn giá rẻ, phù hợp với nhu cầu sử dụng trong từng giai đoạn. Các nguồn có tính ổn định cao thường có chi phí trả lãi cao và ngược lại. Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua lãi suất huy động bình quân, lãi suất huy động từng nguồn và chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Tỷ lệ chi phí lãi bình quân = Tổng chi phí lãi / Tổng vốn huy động (%) : Nếu tỷ lệ này thấp cho thấy ngân hàng huy động được nguồn vốn giá rẻ.
Kỳ hạn huy động: Việc xác định kỳ hạn của nguồn sao cho phù hợp với kỳ hạn sử dụng vốn là hết sức quan trọng. Nó ảnh hưởng tới tính thanh khoản và rủi ro lãi suất. Kỳ hạn cùng với lãi suất tương ứng với mỗi loại nguồn là khác nhau, được ngân hàng quy định theo từng giai đoạn. Trong thực tế, khách hàng có thể rút trước hạn, kéo dài thời hạn hoặc chuyển sang loại hình huy động khác nên rất khó kiểm soát.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn / Dư nợ vay trung và dài hạn: Tỷ lệ này cho thấy Ngân hàng đã sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn là bao nhiêu. Hiện nay, các ngân hàng thường sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Điều này đáp ứng nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng nhưng do có sự không cân xứng về kỳ hạn nên rủi ro thanh khoản cao. Vì vậy mức khống chế tỷ lệ này an toàn cho các ngân hàng là dưới 30%.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Trong cả môi trường tự nhiên và xã hội, mỗi sự vật, hiện tượng đều có những tác động đến sự vật, hiện tượng khác và đồng thời cũng phải chịu những tác động ngược lại. Công tác huy động vốn, nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của các Ngân hàng thương mại cũng vậy. Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại buộc phải cạnh tranh để có thể thu hút các nguồn vốn lớn với chi phí hợp lý. Vấn đề đặt ra là phải nhận thức được những yếu tố tác động đến việc huy động vốn. Những tác động này rất phong phú, đa dạng. Dựa vào bản chất của các tác động ta chia các yếu tố đó thành những yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan.
1.3.1. Các nhân tố chủ quan
Chính sách lãi suất: Là một nhân tố quan trọng, có tác động mạnh đến việc huy động vốn của Ngân hàng thương mại; đặc biệt là đối với các khoản vốn mà người gửi hoặc người dân đầu tư Ngân hàng với mục đích hưởng lãi. Các Ngân hàng cạnh tranh không chỉ về lãi suất huy động với các Ngân hàng khác mà cả với thị trường tiền tệ. Do đó, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo những chiều hướng khác nhau. Đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người gửi tiền chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác. Vì vậy, xác định một lãi suất hợp lý, có tính cạch tranh là một vấn đề vô cùng quan trọng, phải được nghiên cứu, cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện. Tuy nhiên, Ngân hàng phải tính toán sao cho lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo được chi phí đầu vào thấp nhất và kinh doanh có lãi.
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng : Chiến lược kinh doanh có thể nói là đường lối, phương hướng hoạt động cho một ngân hàng. Mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau. Điều này phụ thuộc vào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn chế của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh xác định quy mô huy động có thể mở rộng hay thu hẹp, cơ cấu vốn có thể thay đổi về tỷ lệ các loại nguồn, chi phí hoạt động có thể tăng hay giảm . Chiến lược kinh doanh có liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ. Đây là các yếu tố quan trọng. Với việc lãi suất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào ngân hàng tăng, rất lớn. Nhưng đồng thời thì hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí huy động tăng. Do đó số lượng nguồn vốn huy động được sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược kinh doanh hay đúng hơn là phụ thuộc vào chính bản thân ngân hàng. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng: Không chỉ riêng ngân hàng mà trong bất cứ hoạt động nào, ngành nghề nào, yếu tố con người cũng phải được đặt lên hàng đầu. Nếu các Cán bộ công nhân viên ngân hàng có năng lực thì sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống, làm cho các hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp. Trình độ của cán bộ ngân hàng cao sẽ làm cho các thao tác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả. Thái độ trong tiếp xúc của Cán bộ công nhân viên với khách hàng cũng rất quan trọng. Nó có thể lôi kéo khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng thời cũng có thể làm khách hàng rời bỏ, gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong hoạt động của ngân hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn. Các Cán bộ công nhân viên ngân hàng là những người xây dựng hình ảnh cho cả ngân hàng. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kỳ quan trọng là các ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên ngân hàng chuyên nghiệp: Hiểu biết khách hàng, Hiểu biết nghiệp vụ, Hiểu biết quy trình, Hoàn thiện phong cách phục vụ.
Uy tín và vị thế của ngân hàng: Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu dài. Người gửi tiền khi gửi thường lựa chọn những ngân hàng lâu đời chứ không phải là những ngân hàng mới thành lập. Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa chọn so với các ngân hàng nhỏ. Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng. Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở hữu cũng có ảnh hưởng quan trọng tới huy động vốn. Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao hơn cho người gửi tiền nên uy tín của các Ngân hàng thương mại quốc doanh cao hơn so với các ngân hàng khác. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian.
Trình độ công nghệ ngân hàng: Có thể nói công nghệ ngân hàng hiện đại khác xa so với trước đây. Việc áp dụng công nghệ là một cuộc cách mạng trong hoạt động của ngân hàng. Nhờ có hệ thống tin học hiện đại, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt. Từ đó, có thể hoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình thức trả lãi… Mặt khác, nhờ hệ thống thông tin tốt khiến cho ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động vốn. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến, đó là một xu thế tất yếu. Việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ khiến cho các ngân hàng ngày càng gắn liền với các hoạt động xã hội.
Ngoài ra, mạng lưới phục vụ cho việc huy động vốn cũng tác động tới việc huy động vốn của ngân hàng. Mạng lưới huy động rộng rãi, hợp lý trên địa bàn giúp ngân hàng có nhiều cơ hội để thu hút vốn hơn, tạo điều kiện cho người gửi tiền. Mạng lưới hẹp thì sẽ gây khó khăn cho khách hàng có tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng, chi phí giao dịch lớn, mất nhiều thời gian.
1.3.2. Các nhân tố khách quan Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Đây là các yếu tố mà khi bị tác động, ngân hàng sẽ không thể chống lại được, đó là các rủi ro không thể tránh. Ngân hàng chỉ có thể nhận thức, dự báo và tìm cách giảm thiểu các rủi ro khi nó xảy ra.
Pháp luật, chính sách của Nhà nước : Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Do vậy tất cả mọi hoạt động của ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Cụ thể là Luật các tổ chức tín dụng (1997), Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (1990), Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1998), các văn bản pháp luật khác như: chỉ thị, thông tư…Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng là vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy các hoạt động của ngân hàng luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng các văn bản pháp quy. Mỗi văn bản đều có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của Ngân hàng, cụ thể là hoạt động huy động vốn. Chính phủ đề ra chính sách tiền tệ quốc gia và hệ thống ngân hàng là công cụ đắc lực để thực hiện. Chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó Ngân hàng thương mại huy động vốn dễ dàng hơn. Hoặc khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi họ bỏ tiền vào sản xuất có lợi hơn gửi ngân hàng. Các quy định của pháp luật đòi hỏi các Ngân hàng thương mại luôn phải tuân thủ. Chẳng hạn như thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc chính phủ điều chỉnh việc cung ứng tiền cho nền kinh tế. Việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay lãi suất tái chiết khấu là tuỳ theo định hướng phát triển của từng thời kỳ. Các chính sách đầu tư, ưu đãi, ưu tiên phát triển mũi nhọn… cũng ảnh hưởng sâu sắc tới việc huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Nói chung bất cứ Ngân hàng thương mại nào khi cần huy động vốn đều phải xem xét các quy định của luật pháp.
Tình hình chính trị – kinh tế – xã hội trong và ngoài nước : Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế, không riêng gì ngân hàng. Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác động rất rõ. Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động vốn của ngân hàng bị trì trệ bởi người dân không còn tin tưởng. Ngược lại, sự đồng tâm, nhất trí, ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm cho các Ngân hàng thương mại huy động vốn được dễ dàng. Ví dụ như năm 2002, tại Argentina, sau khi có những vấn đề về chính trị, người dân kéo đến ngân hàng rút tiền ồ ạt làm cho cả hệ thống ngân hàng chao đảo. Có thể thấy, nền kinh tế ở vào trạng thái tăng trưởng hay suy thoái đã tác động tới việc huy động vốn của ngân hàng. Khi kinh tế tăng trưởng, người dân cần nhiều vốn để đầu tư mở rộng quy mô, trang thiết bị. Các ngân hàng phải huy động nhiều vốn và càng có điều kiện để huy động do tích luỹ được nhiều hơn. Ngược lại ở tình trạng suy thoái, sản xuất đình trệ, đầu tư bị thu hẹp, ngân hàng huy động vốn khó khăn. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền : Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc huy động vốn của ngân hàng. Rõ ràng ở những vùng người dân thường có thói quen gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động được dễ dàng hơn nhiều ở những vùng người dân thường hay cất trữ tiền trong nhà bằng vàng, bất động sản… Đồng thời ngay thói quen thanh toán khi mua hàng hoá cũng góp phần làm tăng hay giảm nguồn vốn huy động của ngân hàng. Ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt là phổ biến, hầu như người dân nào cũng có tài khoản trong ngân hàng và ngân hàng là cái gì đó không thể thiêú trong cuộc sống. Ngược lại, ở một số nước, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn ăn sâu thì nguồn vốn huy động của ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Các tập quán tiêu dùng này khó có thể được thay đổi ngay một sớm một chiều. Do đó để mở rộng nguồn huy động, các ngân hàng phải nỗ lực hết mình: cải cách quy trình, thủ tục, phát triển chính sách khách hàng… Một trong những đặc tính của cộng đồng dân cư đó là tính lan truyền nhanh chóng. Cuộc đổi tiền năm 1985 – 1986 với tốc độ lạm phát chóng mặt 600-700 % đã khiến người gửi tiền kéo ồ ạt đến ngân hàng để rút. Điều này đã kéo theo sự sụp đổ của hơn 7500 quỹ tín dụng nhân dân và làm cả hệ thống ngân hàng lao đao. Đồng thời gần đây các vụ bê bối, tham nhũng liên quan đến một số ngân hàng đã làm suy giảm uy tín của các ngân hàng trong con mắt của người gửi tiền. Nó không tạo cho người gửi tiền cảm giác an toàn và làm hạn chế khả năng hoạt động của các ngân hàng. Một trong những lý do nữa là người dân chưa hiểu biết nhiều về các hoạt động của ngân hàng, các tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường tuyên truyền sâu rộng, quảng cáo, quảng bá về các hoạt động của mình, các lợi ích của người gửi tiền cũng như các thủ tục cần thiết.
Nhìn chung có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của ngân hàng. Các yếu tố này tác động đến mọi hoạt động, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Mỗi ngân hàng khi hoạt động đều cần phải tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu. Những yếu tố tác động này có tính hai mặt: có thể có tác động tích cực đồng thời có thể tác động tiêu cực tới ngân hàng. Ngân hàng nào xác định đúng, chính xác các yếu tố tác động sẽ huy động được vốn lớn với chi phí rẻ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
Kết luận chương: Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tại các Ngân hàng thương mại, ta nhận thấy hoạt động huy động vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với Ngân hàng thương mại. Vốn quyết định đến quy mô hoạt động, là cơ sở để ngân hàng thực hiện mọi hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, vốn còn là yếu tố quyết định năng lực thanh toán, khả năng cạnh tranh cũng như đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường. Thông qua hoat động huy động vốn, các Ngân hàng thương mại góp phần quan trọng vào việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu tín dụng trung và dài hạn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Mặc dù hoạt động huy động vốn chịu nhiều tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan song nhiệm vụ của các ngân hàng là phải cố gắng tạo lập và tập trung mọi nguồn lực nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới. Khóa luận: Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Agribank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Agribank
