Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân thành phố Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thừa Thiên Huế từ lâu đã được biết đến như một trung tâm văn hóa du lịch của Việt Nam, tự hào là địa phương còn lưu giữ trong mình nhiều di tích lịch sử văn hóa lễ hội phong phú và đa dạng. Đặc biệt, năm 1993 quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO (tên viết tắt của tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, tên tiếng Anh là: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) công nhận là di sản văn hóa Thế giới tiếp sau đó nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhân là di sản văn hóa phi vật thể năm 2015. Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế còn có hệ thống cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng với Vịnh Lăng Cô là vịnh biển được công nhận đẹp nhất Thế giới, sông Hương, núi Ngự thơ mộng, vườn quốc gia Bạch Mã và đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được xem là đầm phá lớn nhất Đông Nam Á với sinh quyển và bảo tồn sinh học phong phú, đa dạng,… Vậy nên Thừa Thiên Huế có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển ngành du lịch.
Để có thể khai thác hết tiềm năng và thế mạnh về du lịch của địa phương Festival Huế lần đầu tiên hợp tác cùng CODEV cộng hòa Pháp (CVP) được tổ chức vào năm 2012 chính là dịp để địa phương quảng bá hình ảnh của địa phương mình, phát huy thế mạnh của Thừa Thiên Huế. Trải qua 7 kỳ tổ chức Festival Huế đến nay đã tạo được thương hiệu lễ hội uy tín và dần trở thành niềm tự hào của địa phương với bạn bè quốc tế và các tỉnh thành trong cả nước. Sau thành công lớn đầu tiên của Festival Huế UBND tỉnh quyết định tổ chức sự kiện này định kỳ hai năm một lần vì thế Festival Huế không những đã góp phần tích cực vào việc bảo tồn, quảng bá văn hóa Huế, văn hóa Việt Nam mà còn thúc đẩy ngành kinh tế du lịch phát triển, tăng trưởng kinh tế cho địa phương.
Festival Huế là một sự văn hóa lễ hội lớn, có tác động to lớn đến mọi lĩnh vực của địa phương. Chính vì thế, hiện nay có rất nhiều báo cáo đánh giá tổng kết, nghiên cứu và tài liệu về Festival Huế. Nhưng, trong đó các bài báo cáo chủ yếu đưa ra các đánh giá, nhận xét hiệu quả, tác động chung của Festival Huế trên các phương diện: kinh tế, du lịch, văn hóa sau mỗi kỳ tổ chức Festival Huế. Các nhận xét này còn chung chung, mang tính chủ quan, phiến diện chưa có cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu phù hợp. Cũng trong thời gian vừa qua, có các luồng dư luận khác nhau về kết quả tổ chức Festival Huế tại địa phương.“Một số người cho rằng, Festival Huế có tác động tích cực đối với phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa… của địa phương và toàn quốc.Trong khi đó, một số người khác thì lại phê phán việc tổ chức Festival Huế là lãng phí, là hoạt động đầu tư không hiệu quả.”[17] Đặc biệt hơn, thời gian gần đây Festival Huế ngày càng thu hút nhiều nhà chuyên môn, giới nghiên cứu quan tâm. Tại hội thảo quốc tế “Du lịch văn hóa và sự kiện” được tổ chức tại Huế vào năm 2016 [18] một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã có các báo cáo đề cập tới một số vấn đề như: mối quan hệ giữa Festiavl Huế và du lịch; xã hội hóa hoạt động du lịch; thu hút khách du lịch bằng việc tổ chức Festival Huế, vai trò của Festival Huế trong công tác tiếp thị và phát triển bền vững; thị trường khách du lịch tiềm năng tham dự Festival Huế, các tác động tích cực của Festival Huế… bên cạnh đó, tại một số trường Đại học có nhiều nghiên cứu khóa luận, luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sĩ đã chọn đề tài nghiên cứu về Festival Huế trên khía cạnh về Festival Huế. Có thể nhận thấy rằng, tuy có rất nhiều tài liệu nghiên cứu, báo cáo tổng kết, đánh giá liên quan đến Festival Huế, nhưng những tài liệu đó chỉ mới dừng lại ở góc độ trên phương diện kinh tế, văn hóa, du lịch mà chưa có đánh giá ở góc độ chuyên môn xã hội học. Hơn hết, vẫn chưa có báo cáo, nghiên cứu nào đánh giá cụ thể, phân tích rõ tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân địa phương. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Cũng trên Báo Thừa Thiên Huế, số ra ngày 4 tháng 2 năm 2024 [46] trích dẫn lời phát biểu của trưởng BTC Festival Huế – Phó chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế – Ông Ngô Hòa: “Mỗi người dân là chủ thể của sáng tạo và hưởng thụ của lễ hội”.
Vậy, vấn đề đặt ra ở đây câu hỏi: với một sự kiện văn hóa Festival Huế lớn như vậy, trải qua 7 kỳ Festival thì liệu người dân có thực sự quan tâm và đề cao vai trò mục đích của Festival Huế không? Festival có tác động như thế nào đến đời sống của người dân, và tác động đó diễn ra như thế nào? Từ đó, người dân có những hành động và thái độ như thế nào với Festival Huế? Nhưng trên thực tế chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu và chứng minh điều đó.
Qua các kỳ Festival Huế đến nay tổng cộng đã trải qua 7 kỳ tổ chức, có thể nhận thấy, có sự biến đổi rõ ràng trong đời sống của người dân Thành phố Huế. thông qua các công trình nghiên cứu và tài liệu trên, tôi quyết định tiếp cận nghiên cứu “Tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân Thành phố Huế” ở góc độ xã hội học, đề tài nghiên cứu này sẽ vừa mang tính cơ sở lý luận và tính thực tiễn khi áp dụng các lý thuyết của xã hội học vào để phân tích và vận dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học vào nghiên cứu. Đề tài sẽ góp phần phong phú cho những nghiên cứu, báo cáo liên quan đến Festival Huế. Đều quan trọng hơn, đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, hoạch định chiến lược phát triển, giới chuyên môn, nhà nghiên cứu quan tâm vấn đề Festival Huế tham khảo.
Bên cạnh đó, bản thân người nghiên cứu sinh ra và lớn lên tại Huế, có một tình yêu quê hương thắm thiết và muốn vận dụng những tri thức được học trên giảng đường đóng góp cho quê hương, ngay từ thuở nhỏ bản thân người nghiên cứu đã tham dự các kỳ Festival Huế và luôn bị hấp dẫn lôi cuốn các chương trình, hoạt động của Festival Huế, vậy nên tác giả – ở đây là người nghiên cứu luôn ấp ủ trong mình dự định sẽ thể đóng góp công sức của mình cho Festival Huế và sâu xa hơn là xây dựng quê hương, đóng góp sức mình cho sự phát triển của tỉnh nhà bằng những kiến thức đã học được tại trường và kinh nghiệm thực tế đã trải nghiệm. Vậy, người nghiên cứu mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu “Tác động của Festival đến đời sống người dân thành phố Huế” nhằm tìm hiểu tác động của Festival đến đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân, góp phần đưa ra những đề xuất, khuyến nghị nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực, làm nâng cao hiệu quả của Festival Huế và cải thiện phúc lợi xã hội cho người dân.
Người nghiên cứu lựa chọn địa bàn nghiên cứu trường hợp tại hai phường Thuận Thành và Phú Hội thuộc ngay tại trung tâm Thành Phố Huế, việc lựa chọn này đã được thực hiện dựa trên hai yếu tố khách quan và chủ quan của người nghiên cứu. Khách quan là nghiên cứu được thực hiện tại các địa bàn thường xuyên diễn ra các chương trình, hoạt động của Festival Huế là Phường Thuận Thành và Phường Phú Hội – Thành phố Huế dựa trên bảng chương trình do Trung Tâm Festival cung cấp và đây là địa bàn đảm bảo tính đa dạng mẫu như: nghề nghiệp, giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, diện kinh tế hộ gia đình. Với yếu tố chủ quan của người nghiên cứu là bản thân người nghiên có các mối quan hệ với người dân tại địa bàn – đây là yếu tố thuận lợi cho cuộc điều tra nghiên cứu, đồng thời người nghiên cứu cũng có những hiểu biết nhất định về địa bàn cũng như các hoạt động diễn ra trên địa bàn trong dịp Festival.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Festival Huế là sự kiện văn hóa quan trọng của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tính đến năm 2026, sự kiện này đã được tổ chức 7 lần liên tiếp (năm 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022, 2024). Và sau hơn 10 năm tổ chức Festival Huế không còn là một hiện tượng mới xuất hiện, nhưng nó đã, đang và sẽ có những tác động to lớn đến tất cả các mặt trong xã hội, đặc biệt trong đó là đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân thành phố Huế. Vì thế trong hơn nhiều năm qua có rất nhiều học giả, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu khoa học, giới chuyên môn quan tâm và có không ít công trình nghiên cứu về Festival Huế ở nhiều góc độ khác nhau. Những đề tài nghiên cứu được thực hiện luôn bám sát vào quá trình phát triển của Festival Huế qua từng kỳ tổ chức.
Công trình đầu tiên có thể kể đến các đánh giá chính thức của nhà tổ chức Festival Huế, do Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế chủ trì. Đây là những báo cáo đánh giá của bản thân các nhà tổ chức sau mỗi kỳ Festival Huế, chủ yếu mang tính chất tổng kết công tác và đề ra phương hướng cho các kỳ Festival Huế sau. Chẳng hạn như: Báo cáo tổng kết Festival Huế 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022, 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế; Báo cáo tổng kết năm 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022, 2024 của Sở du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế. Nội dung chính của báo cáo là những đánh giá tổng kết đạt được, chưa đạt được, những điểm còn thiếu sót trong khâu tổ chức, đúc kết kinh nghiệm và đưa ra phương hướng, nhiệm vụ cho kỳ Festival Huế tiếp theo.
Bên cạnh đó, Festival Huế là sự kiện thu hút nhiều sự quan tâm của các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giới kinh tế, giới du lịch, giới văn hóa, giới truyền thông,…vậy nên, Festival Huế cũng sẽ có nhiều sự quan tâm được thể hiện trên nhiều góc độ khác nhau, từ nhiều cách nhìn nhận ở mỗi phương diện khác nhau trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Đầu tiên có thể nhìn thấy tác động của Festival Huế được thể hiện rõ nét nhất là trên góc độ kinh tế. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: đề tài “Nghiên cứu tác động của Festival Huế đối với kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế” Tiến sĩ Trần Thị Mai; đề tài “Đánh giá tác động kinh tế của Festival Huế năm 2016 đối với khách sạn, nhà hàng tại Thành phố Huế” luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế năm 2017 của Vũ Hoài Phương; tiếp đến là “Đánh giá mức độ thõa mãn của du khách đối với lễ hội Festival Huế năm 2018” luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế năm 2019 của Phan Thị Thanh Tâm.
“Nghiên cứu tác động của Festival Huế đối với kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế” của tiến sỹ Trần Thị Mai năm 2020. Là một trong những nghiên cứu có quy mô được triển khai. Đề tài đã tổng hợp được lý luận về phương pháp đánh giá tác động kinh tế của Festival đối với một địa phương, kinh nghiệm của các nước về đánh giá tác động kinh tế của Festival. Bên cạnh đó, thu thập, tổng hợp được thông tin về quá trình hình thành và phát triển của Festival Huế. Đồng thời, đánh giá được sơ bộ về tác động kinh tế của các Festival Huế đã được tổ chức và lượng hoá được tác động trực tiếp của Festival Huế 2018 đối với kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao giá trị tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực về mặt kinh tế của các Festival Huế. Xây dựng được phương pháp nghiên cứu, phân tích tác động kinh tế của các Festival Huế tiếp theo.[17]
Đề tài chỉ ra: Festival Huế có sức hút mạnh mẽ đối với khách du lịch trong nước và ngoài nước, khắc phục được tình trạng vắng khách trong mùa thấp điểm tạo mức doanh thu cao. Đồng thời góp phần kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Bên cạnh đó, đề tài khẳng định Festival Huế làm tăng mức chi tiêu của khách du lịch, Festival không những mang lại lợi ích kinh tế cho ngành du lịch mà còn mang lại lợi ích kinh tế cho nhiều thành phần khác. Đây còn là cơ hội kinh doanh, quảng bá giới thiệu hình ảnh Huế, kích thích sự đầu tư xây dựng mới tăng năng lực kinh doanh, cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị. Không những thế, Festival Huế còn đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, làm cho một mặt của đô thị Huế thay đổi rõ rệt; du lịch di sản được bảo tồn, giới thiệu và khai thác hiệu quả hơn, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể nhã nhạc cung đình Huế; tạo động lực thúc đầy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động du lịch, kích thích các thành phần dân cư tham gia vào hoạt động kinh tế, góp phần giải quyết hàng trăm việc làm, thu hút được hàng ngàn lao động thời vụ, trong số đó đã có một lực lượng lao động lớn học sinh, sinh viên các trường tham gia. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Tóm lại, đề tài đã chỉ ra các mặt tác động tích cực của Festival Huế đến kinh tế của địa phương thông qua các chỉ số đánh giá trên phương diện tiếp cận từ mặt kinh tế. Đặc biệt đề tài cũng đã chỉ ra tác động kinh tế đến người dân địa phương qua việc làm và thu nhập của người dân.
Đề tài của Vũ Hoài Phương với Luận văn Thạc sĩ Khoa học Kinh tế bảo vệ năm 2017 tiêu đề “Đánh giá tác động kinh tế của Festivai Huế 2016 đối với khách sạn nhà hàng tại thành phố Huế”. Thể hiện đồng quan điểm với đề tài của Tiến sỹ Trần Thị Mai, đề tài có một số điểm chung nhất định. Nhưng, đề tài lại chủ yếu nhấn mạnh phân tích tác động của Festival Huế đến nhà hàng khách sạn và khẳng định nhóm kinh doanh dịch vụ du lịch nhà hàng, khách sạn là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ Festival Huế. Số liệu nghiên cứu chứng minh trong năm 2016 ước tính doanh của nhà hàng, khách sạn thu đạt từ 120-155 tỷ đồng. Góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương khoảng từ 20-25% so với cùng kỳ các năm. Các nhà hàng khách sạn tăng cường quảng bá trong dịp Festival Huế, đầu tư xây dựng, sửa chữa, cải tạo đã góp phần đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa các hoạt động du lịch. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra khoản thu trực tiếp từ các chương trình của Festival Huế còn rất nhỏ so với ngân sách trung ương.[24]
Qua đó, đề tài đã chỉ ra đối tượng những người làm kinh doanh dịch vụ nhà hàng khách sạn được hưởng lợi trực tiếp và doanh thu tăng cao trong dịp Festival Huế.
Phan Thị Thanh Tâm cũng là hướng tiếp cận theo hướng kinh tế nhưng nghiên cứu phản ánh từ phía người tham dự là khách du lịch với đề tài “Đánh giá mức độ thõa mãn của du khách đối với lễ hội Festival Huế năm 2018”. Nghiên cứu làm rõ những lợi thế của địa phương TTH có được để làm lợi thế cho phát triển du lịch, đặc biệt nhấn mạnh những yếu tố làm hài lòng khách du lịch và những yếu tố chưa đáp ứng nhu cầu thỏa mãn của khách du lịch. Trong đó, điểm đáng quan tâm của nghiên cứu này là phản ảnh mức độ thõa mãn của khách du lịch không chỉ trong các chương trình Festival Huế mà còn có các dịch vụ tham gia phục vụ khách du lịch trong dịp Festival Huế. Các cung cấp dịch vụ của các nhà hàng, khách sạn, tụ điểm vui chơi giải trí về đêm ở Huế mà đối tượng tham gia cung cấp ở đây chính là người dân.[27]
Như vậy, với hướng nghiên cứu kinh tế của của các đề tài kể trên đều có đề cập đến tác động của Festival Huế đến đời sống kinh tế của người dân địa phương, nhưng vẫn chưa được làm rõ.
Hướng tiếp cận thứ hai mà tác giả nghiên cứu tham khảo được là đề tài nghiên cứu “Báo cáo đánh giá Festival Huế câu chuyện về hội nhập và phát triển văn hóa” của trung tâm nghiên cứu, hỗ trợ và phát triển văn hóa (viết tắt là A&C) do nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội phát hành. Công trình này được biên soạn, làm việc đánh giá trong suốt hai năm liên tục (2020-2021), là sản phẩm của cán bộ khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Nghiên cứu đề cập chủ yếu đến đánh giá Festival Huế được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động kinh tế, xã hội của Festival Huề vào quá trình phát triển của tỉnh TTH và vùng Bắc Trung Bộ. Đồng thời, đề tài cũng đánh giá việc tổ chức và quản lý Festival Huế từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách cho việc phát triển một thành phố Festival gắn liền với tiềm năng di sản văn hóa vùng và hội nhập với văn hóa toàn cầu.[31]
Báo cáo đã đánh giá được những thành công và hạn chế quá trình di sản truyền thống cũng như quá trình hội nhập của các yếu tố văn hóa, nghệ thuật mới, đương đại vào tổng thể Festival Huế. Đều đáng quan tâm nhất ở đây là đề tài đã đánh giá sự tham gia của người dân địa phương vào việc tổ chức lễ hội, đối tượng dân cư được hưởng lợi từ du lịch Festival Huế thông qua việc cung cấp các dịch vụ ăn uống, bán hàng, vận chuyển, chỗ ngủ nhà dân. Bên cạnh đó theo đánh giá của nhóm nghiên cứu đã chỉ ra sự tham gia của người dân còn bị hạn chế chủ yếu là do nguyên nhân xuất phát từ mục tiêu và cấu trúc của Festival Huế chưa có một sự cân bằng cần thiết giữa tính nhà nước (thể hiện thông qua các hoạt động do nhà nước tổ chức) và tính dân sự (thông qua các hoạt động do dân tự tổ chức hay có tính thu hút sự tham gia của người dân tại chỗ một cách mạnh mẽ). Đồng thời để thực hiện mục đích báo cáo đưa ra các kiến nghị chính sách cho việc phát triển một thành phố Festival, một trong những giải pháp đáng quan tâm. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Bên cạnh đó, Festival Huế được tiếp cận theo hướng truyền thông mới đây nhất dưới góc nhìn báo chí “Công tác quảng bá Festival Huế trên báo Thừa Thiên Huế (khảo sát các năm 2012, 2014, 2016)” do sinh viên Ngô Thị Hồng Nhung thực hiện và đề tài “Phương thức truyền thông Festival Huế trên báo Vietnamnet và Vnexpress” của sinh viên Hoàng Thị Thu Ngà thuộc khoa báo chí truyền thông, Đại học Khoa Học Huế.
Đề tài của sinh viên Ngô Thị Hồng Nhung thực hiện đề tài nghiên cứu “Công tác quảng bá Festival Huế trên báo Thừa Thiên Huế (khảo sát các năm 2012, 2014, 2016)” đã chỉ ra công tác quảng bá của Festival Huế từ khâu chuẩn bị, đến triển khai nội dung tin bài, dẫn chứng Khóa luận làm rõ những hoạt động trong công tác quảng bá lễ hội Festival Huế của báo Thừa Thiên Huế. Đánh giá được ưu nhược điểm và hạn chế của các phương tiện truyền thông trong việc thông tin, quảng bá, phản ánh, PR cho sự kiện Festival Huế. Đồng thời đề ra những giải pháp, mô hình quảng bá hiệu quả cho lễ hội Festival Huế.[21]
Đề tài của Hoàng Thị Thu Ngà “Phương thức truyền thông Festival Huế trên báo Vietnamnet và Vnexpress (Khảo sát năm 2018, 2020, 2022)” đã làm rõ các hoạt động trong công tác quảng bá lễ hội của báo Thừa Thiên Huế, thực trạng quảng bá và phương thức quảng bá trên hai trang báo mạng. Tuy nhiên lại không có số liệu thống kê đầy đủ mà chủ yếu chỉ sử dụng phương pháp phân tích lý giải theo cách nhìn nhận của báo chí.[22]
Qua đó, có thể thấy nghiên cứu đứng từ góc độ nghiên cứu của báo chí truyền thông chỉ mới đưa ra cách thức quảng bá cho Festival Huế mà vẫn chưa chỉ ra được việc quảng bá Festival Huế có tác động như thế nào đến hiểu biết, nhìn nhận và thái độ của người dân với Festival Huế.
Một nghiên cứu từ góc độ xã hội học nhưng chỉ nghiên cứu Festival chuyên đề của nhóm sinh viên khoa xã hội học K34, trong đó tác giả nghiên cứu cũng là một trong những thành viên tham gia là đề tài nghiên cứu này “Tác động của Festival đến hoạt động thủ công truyền thống tại tỉnh Thừa Thiên Huế” (Nghiên cứu trường hợp làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Tài liệu đã mô tả thực trạng hiện nay của hoạt động nghề thủ công truyền thống trước những tác động của Festival nghề truyền thống. Đề tài tìm hiểu những khó khăn thực tại của nghề gốm tại làng Phước Tích; thực trạng của hoạt động của làng nghề thủ công truyền thống trước và sau khi có Festival diễn ra. Từ đó đề xuất các khuyến nghị về tổ chức Festival theo hướng tạo động lực cho sự phát triển làng nghề thủ công truyền thống của địa phương. Báo cáo chỉ rõ Festival nghề truyền thống tác động mạnh mẽ đến việc bảo tồn và phát huy các ngành nghề truyền thống của người dân địa phương và đăc biệt là thợ thủ công. Đồng thời, với sự tham gia vào các hoạt động của lễ hội, sản phẩm gốm Phước Tích đã ngày càng khẳng định vị trí của mình không chỉ trong nước mà còn vươn ra các quốc gia khác. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực Festival nghề truyền thống mang lại, nghề gốm vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Những sản phẩm thủ công truyền thống phải đứng trước rất nhiều thách thức và một trong những khó khăn lớn mà những sản phẩm này đang phải đối mặt với khó cạnh tranh trên thị trường, đó là sự ra đời của các loại đồ dùng, trang thiết bị hiện đại nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của người dân. Với sự hỗ trợ của nhà nước, chính quyền địa phương đã tổ chức nhiều lễ hội nhằm hướng đến việc phục hồi những giá trị văn hóa truyền thống. Những hoạt động này đã tác động rất tích cực trong việc quảng bá sản phẩm đến với du khách trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, lễ hội diễn ra cũng là dịp để thu hút sự quan tâm của thanh niên trong làng. Xác định được tầm quan trọng của các dịch vụ du lịch, làng cổ Phước Tích đã kết hợp hoạt động làm gốm với hoạt động du lịch nhằm mang lại thu nhập cho người dân nơi đây.
Tóm lại, đề tài đã nhấn mạnh tác động tích cực và tiêu cực của Festival nghề truyền thống đến hoạt động thủ công truyền thống, không đi sâu xem xét tác động Festival nghề truyền thống có tác động đến đời sống của người dân làng Phước Tích.[23]
Nhìn chung, những công trình này chưa đi sâu vào khảo sát tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân thành phố Huế trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì thế, có thể nói đây sẽ là một đề tài chưa ai khai thác và nghiên cứu.
3. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
3.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác động (tích cực và tiêu cực) của Festival đến đời sống của người dân thành phố Huế. Từ đó, đưa ra khuyến nghị làm hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực, để nâng cao hiệu quả của Festival Huế, đồng thời cải thiện phúc lợi cho người dân.
3.2 Mục tiêu cụ thể
Để tìm hiểu được tác động của Festival Huế nghiên cứu này thực hiện được mục tiêu chung, đề tài phải triển khai và làm rõ từng mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, tìm hiểu đặc tính của Festival Huế thông qua tổng hợp 7 kỳ Festival Huế. Nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về Festival Huế, từ đó có cơ sở để hiểu rõ tác động của nó đến đời sống của người dân. Tác giả sẽ sử dụng các tài liệu sẵn có từ UBND tỉnh TTH, báo cáo tổng hợp của Trung tâm Festival Huế, các cơ quan ban ngành có liên quan đến Festival, đề tài nghiên cứu, các tạp chí và bài báo mà tác giả thu thập được. Từ đó tác giả sẽ phân theo các nhóm chủ đề và cố gắng tổng hợp các vấn để để có thể tạo ra một bức tranh tổng thể nhất về Festival Huế trong 7 kỳ vừa qua.
Thứ hai, dựa trên những tài liệu thu thập được trong phần tổng quan tài liệu nghiên cứu ở trước, đề tài sẽ tiến hành tìm hiểu tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân thành phố Huế trong các lĩnh vực. Nhằm làm nổi bật nội dung chính của nghiên cứu và đáp ứng được mục đích chung, để đạt được mục đích cụ thể này tác giả nghiên cứu có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhiệm vụ thứ nhất: tìm hiểu tác động của Festival Huế đến đời sống kinh tế của người dân thông qua cơ hội tiếp cận việc làm, cải thiện thu nhập của người thông qua đó nghiên cứu sẽ xác định được nhóm người chịu tác động về mặt kinh tế do các kỳ Festival Huế mang lại, trong số đó nghiên cứu này sẽ xác định được đâu là nhóm chịu tác động nhiều nhất đến đời sống kinh tế của Festival Huế. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Nhiệm vụ thứ hai: nghiên cứu tìm hiểu tác động của Festival Huế đến đời sống văn hóa của người dân thành phố Huế tác giả sẽ thông qua chỉ báo xem xét quá trình người dân tham gia như thế nào? họ được hưởng lợi những gì từ các chương trình, hoạt động biểu diễn nghệ thuật của Festival Huế và khi họ được hưởng lợi như vậy người dân sẽ có thái độ như thế nào đối với di sản văn hóa của địa phương. Thông qua đó, nghiên cứu sẽ xác định ai là đối tượng được hưởng lợi về mặt văn hóa nhiều nhất từ Festival mang lại.
Nhiệm vụ thứ ba, tác giả thực hiện tìm hiểu tác động của Festival Huế đến đời sống xã hội của người dân và các vấn đề xã hội tiêu cực nảy sinh trong dịp Festival Huế.
Mục tiêu thứ ba dựa trên kết quả tìm được nghiên cứu sẽ đưa ra một số khuyến nghị đến ba chủ thể là với BTC Festival Huế, chính quyền địa phương và người dân địa phương. Từ đó nhằm nâng cao, phát huy những tác động tích cực và làm hạn chế những tác động tiêu cực từ Festival mang lại.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân thành phố Huế hiện nay.
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Khách thể chính: là những người dân hiện đang sinh sống và làm việc tại địa bàn phường Thuận Thành và Phú Hội thành phố Huế.
- Khách thể phụ: là cán bộ trung tâm Festival Huế – cơ quan chủ quản triển khai các hoạt động Festival Huế.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại địa bàn 2 phường Thuận Thành và Phú Hội – Thành phố Huế.
- Thời gian nghiên cứu: từ được tiến hành từ 11/01/2026 đến 06/06/2026.
Thời gian nghiên cứu được phân công các công việc cụ thể như Bảng 1 ở dưới:
- Bảng 1: Thời gian thực hiện nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu “Tác động của Festival đến đời sống của người dân Thành Phố Huế” thuộc phạm vi rộng, kèm theo thời gian nghiên cứu chỉ có thời hạn ngắn, nên nghiên cứu chỉ đi sâu tìm hiểu tác động của Festival Huế năm 2024 đến đời sống của người dân. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Thứ nhất tác động của Festival đến đời sống kinh tế của người dân Huế: Trong nội dung này tập trung nghiên cứu làm rõ tác động của Festival Huế đến việc làm và thu nhập, đối tượng chịu tác động kinh tế nhiều nhất .
Thứ hai tác động của Festival Huế đến đời sống văn hóa của người dân: khóa luận sẽ nghiên cứu người dân tham gia vào các chương trình hoạt động như thế nào, họ cảm nhận được những lợi ích gì từ việc tham dự các chương trình đó và thái độ của họ trước tác động Festival Huế đến người dân.
Thứ ba xem xét tác động của Festival đối với đời sống xã hội của người dân thông qua các vấn đề xã hội tiêu cực nảy sinh trong dịp Festival Huế.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Từ những luận cứ và luận chứng trong phần tổng quan tài liệu, nghiên cứu đưa ra giả thuyết làm định hướng cho nghiên cứu như sau:
- Giả thuyết 1: Tác động của Festival đến đời sống của người dân thành phố Huế vừa có tính tích cực và có tính tiêu cực.
- Giả thuyết 2: Có sự khác nhau giữa mức độ tác động của Festival lên các nhóm người trong xã hội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rõ được các mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu đã đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- 1.Festival có tác động đến đời sống của người dân thành phố Huế không? Nếu có, tác động như thế nào ?
- 2.Đối tượng nào chịu tác động trực tiếp nhiều nhất của Festival? Và tác động trên những phương diện nào?
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, luôn xem xét sự vật, hiện tượng trong một quá trình phát triển và trong mối liên hệ phổ biến.[28]
Chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn xem xét sự vật trong mối quan hệ nhân quả với nhau tức là mọi sự vật, hiện tượng không đứng riêng rẽ độc lập một mình mà luôn có sự tương tác lẫn nhau, phụ thuộc nhau. Chính vì thế khi nghiên cứu bất kì một hiện tượng, một vấn đề xã hội nào cần phải đặt chúng trong mối liên hệ phổ biến. Còn chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét mọi hiện tượng xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn có sự vận động không ngừng, có phát sinh, tồn tại, phát triển và tiêu vong. Bởi vậy khi nghiên cứu bất kì một vấn đề xã hội nào cần phải đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Dựa trên cơ sở lý luận đó, nghiên cứu vấn đề Festival Huế tác động đến đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân thành phố Huế cũng là đặt nó trong một môi trường xã hội, một giai đoạn lịch sử cụ thể, để từ đó xem xét xem có những yếu tố nào có mối liên hệ ảnh hưởng đến vấn đề trên. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Ngoài ra nghiên cứu còn là sự vận dụng hệ thống các khái niệm và lý thuyết của các Xã hội học chuyên ngành như: lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons, lý thuyết cấu trúc chức năng của Robert Merton, Khái niệm đoàn kết xã hội của Durkheim, Lý thuyết bất bình đẳng xã hội theo quan điểm của Max Weber. Trong nghiên cứu này người nghiên cứu còn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu hướng tiếp cận Xã hội học chuyên ngành như: Xã hội học văn hóa, xã hội học kinh tế.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu là một phương pháp được sử dụng rộng rãi, khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu khoa học xã hội học. Nguồn tài liệu chúng tôi sử dụng trong đề tài này gồm các tài liệu văn tự và tài liệu phi văn tự. Qua việc thu thập và phân tích các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố để từ đó có cơ sở so sánh, đối chiếu với các nghiên cứu trước và xem nó có điểm giống và khác biệt nào không.
Việc điều tra, thu thập dữ liệu về tác động Festival Huế đến đời sống của người dân địa phương được thực hiện thông qua truy cập tài liệu báo chí, Internet, tài liệu nghiên cứu đã có trước. Những nguồn tài liệu trên chủ yếu là các sách báo đã xuất bản về lĩnh vực Festival Huế và các chủ đề có liên quan khác, các đề tài, các luận văn, khóa luận tốt nghiệp và các bài viết trên Tạp chí Xã hội học, trên báo điện tử đặc biệt là web: http://www.huefestival.cm và các website khác. Khi đã có những tài liệu trên người nghiên cứu sẽ được sử dụng theo phương pháp phân tích truyền thống, tiến hành tổng quan, sắp xếp, chia tư liệu thành các tệp nhỏ theo tiêu chí về nội dung thông tin, cuối cùng chọn lọc các thông tin có giá trị để làm luận cứ, luận chứng cho đề tài, phân tích có so sánh, đối chiếu, bổ sung và tránh trùng lặp.
Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp còn được thu thập thông qua các báo cáo tổng kết các kỳ Festival Huế của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo của Sở Du lịch Thừa Thiên Huế, các tư liệu lưu trữ tại văn phòng Trung tâm Festival… Việc thu thập dữ liệu thứ cấp nhằm thu thập các thông tin như: quy mô, thời gian tổ chức, chủ đề Festival Huế, số các đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế tham dự, số khách tham dự Festival. Đồng thời, tác giả còn sử dụng thông tin tài liệu trong phần tổng quan vấn đề tài nghiên cứu làm cơ sở để tiến hành phân tích thực địa.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn cấu trúc Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Phỏng vấn được sử dụng rỗng rãi trong các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm với tư cách như là một phương pháp chủ yếu cho việc thu thập thông tin, đây là một phương pháp rất quan trọng trong nghiên cứu xã hội học. Theo Caplow (1970) [26] phỏng vấn là phương pháp được ưa chuộng nhất trong các phương pháp thu thập thông tin được sử dụng ở các nước phương Tây. Sở dĩ nó là phương pháp được ưa chuộng, bởi vì nó có hàng loạt những ưu điểm mà các phương pháp khác không có được.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn cấu trúc làm chủ đạo cho nghiên cứu, nhằm thu nhập các thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu. Việc thu thập những thông tin mang tính mô tả và được thực hiện bằng một bảng hỏi đã được soạn sẵn, với một số lượng mẫu đủ tin cậy.
Đối tượng được phỏng vấn là những người dân hiện đang sinh sống trên địa bàn 2 phường Thuận Thành và Phú Hội – Thành phố Huế. Địa điểm phỏng vấn được thực hiện tại nhà riêng của người được phỏng vấn. Thời gian phỏng vấn diễn ra trong khoảng 15 phút, vào buổi tối lúc họ có mặt ở nhà.
Công cụ: Bảng hỏi với các câu hỏi được soạn thảo theo một trình tự logic(Xem phụ lục số 1). Được thiết kế gồm các loại câu hỏi: câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi hỗn hợp, câu hỏi ma trận. Bảng hỏi gồm 4 phần chính: phần một, thông tin cá nhân người trả lời phỏng vấn; phần hai, thực trạng hiểu biết và sự quan tâm của người dân với Festival Huế. Phần 3, là tác động của Festival đến đời sống của người dân thành phố Huế; phần 4, mong muốn và đề xuất của người dân.
Mẫu và cách chọn mẫu:phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kiểu chọn mẫu thuận tiện. Hiện nay, số lượng người dân đang sinh sống tại địa bàn 2 phường Thuận Thành và Phú Hội – Thành phố Huế. Với tổng số hộ trên địa bàn 2 phường là 7095 hộ. Trong đó, phường Thuận Thành có 3689 hộ, phường Phú Hội 3406 hộ, để chọn ra được mẫu có tính đại diện, người nghiên sử dụng công thức tính dung lượng mẫu theo công thức sau:
Trong đó:
- n : Dung lượng mẫu cần chọn
- N : Tổng thể nghiên cứu
- t : Hệ số tin cậy của thông tin
- ε : Phạm vi sai số chọn mẫu
- pq : Phương sai của tiêu thức thay phiên (p là xác suất để một tiêu thức xuất hiện, q là xác suất để tiêu thức đó không xuất hiện). (p + q = 100% và p = 1 – q, tức là p = q = 0.5 và p.q = 0.25)
Người nghiên cứu lựa chọn phạm vi sai số chọn mẫu không vượt quá 0.8% (0.08) và mức độ tin cậy là 95% (Φ(t) = 0.9545), tra bảng “Một số giá trị của hệ số tin cậy t được tính sẵn theo hàm Φ(t)” của Ljapunov (1857 – 1918).[25] Như vậy, chúng ta có hệ số tin cậy t = 2 Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
- Áp dụng công thức chọn mẫu trên vào đề tài này ta có:
Nhưng, nghiên cứu thực hiện điều tra với 155 bảng hỏi, trong đó có 2 bảng hỏi dùng để đề phòng trường hợp bảng hỏi hư hỏng không sử dụng được. Tuy nhiên, khi thu hồi bảng hỏi số lượng bảng hỏi không hợp lệ (bảng hỏi thiếu nhiều thông tin) vượt quá số lượng điều tra thư là 5 bảng hỏi, nên chỉ có 150 bảng hỏi được sử dụng cho nghiên cứu.
Cơ cấu mẫu điều tra của nghiên cứu có tính đến sự đa dạng dựa trên một số yếu tố như: giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, diện kinh tế gia đình.
Mô tả mẫu nghiên cứu: Trong tổng số 150 người dân được phỏng vấn, có 82 người sống ở Phường Phú Hội, phường Thuận Thành với 68 người. Cũng trong tổng số 150 người được điều tra đó, cơ cấu giới tính nữ chiếm 60% và 40% nam giới.
Phân theo nhóm tuổi có 6% dưới hoặc bằng 18 tuổi, trong nhóm tuổi thanh niên từ 19 đến 25 tuổi có 31,3%, nhóm từ 26 đến 32 tuổi có 20%; Nhóm từ thanh niên đến trung niên từ 33 đến 48 tuổi có 12%, trong nhóm 33 đến 40 tuổi, từ 41 đến 48 tuổi có 11,3%; Nhóm tuổi trung niên từ 49 đến 56 tuổi có 11,3% và trên 57 hoặc bằng 57 có 8%.
Phân theo trình độ học vấn, có 1,3% không biết chữ; 4,0% trình độ tiểu học; Phổ thông và trung học cơ sở có 18,0%; 226,7% Cao đẳng và trung cấp; Trình độ Đại học và trên đại học chiếm số lượng cao với 50%.
Phân theo nghề nghiệp, có 38,7% cán bộ công chức, nhân viên văn phòng; 24,7% là học sinh và sinh viên; 14,7% là người kinh doanh, buôn bán, dịch vụ; có 9,3% là công nhân, nông dân và ngư dân; 6,0% là thợ thủ công, chỉ có 6,7% là lao động phổ thông, người nghỉ hưu và nội trợ.
Phân theo tình trạng hôn nhân, có 67% độc thân; 78 % đã kết hôn; 3% người ở góa và chỉ có 2% người li thân hoặc li dị. Trong đó, số người kết hôn đã có con là 68%. Phân theo diện kinh tế gia đình, có 21,3% đánh giá gia đình mình thuộc diện khá giả; 68,0% thuộc hộ trung bình và 10,7 thuộc diện hộ nghèo.
Cuối cùng, toàn bộ phiếu điều tra sau đã khi thu hồi sẽ được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và sẽ được xử lý theo chương trình SPSS 16.0.
7.2.3 Phương pháp Phóng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn bán cấu trúc là phương pháp bổ trợ cho phương pháp phỏng vấn cấu trúc. Phương pháp này một mặt khắc phục những nhược điểm của phỏng vấn cấu trúc, mặt khác làm cho thông tin đa chiều và sâu sắc hơn. Phỏng vấn bán cấu được thực hiên với 10 trường hợp, được phân chia ra thành khách thể chính và khách thể phụ, cụ thể như sau:
- Bảng 2: Mẫu nghiên cứu Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
1 phỏng vấn dành cho cán bộ Trung tâm Festival nhằm thu thập những thông tin liên quan đến đặc tính Festival Huế: thời gian tổ chức, cách thức tổ chức, quy mô tổ chức, các hoạt động diễn ra trên địa bàn. 9 phỏng vấn dành cho người dân đang sinh sống trên địa bàn 2 phường Thuận Thành và Phú Hội được lựa chọn sau khi người nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn cấu trúc và muốn mở rộng, khai thác thêm thông tin với khách thể. Đồng thời, người nghiên cứu cảm thấy khách thể có thể cung cấp thêm nhiều thông tin hữu ích có thể khai thác hiệu quả, bổ sung những thông tin cần thiết cho nghiên cứu. Nội dung phỏng vấn bán cấu trúc dành cho người dân tập trung vào những câu hỏi sau: thông tin cá nhân (giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn,…); Đặc điểm địa bàn đang sinh sống; Hiểu biết của người dân về Festival và đánh giá về tác động của Festival đến đời sống của người dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tư tưởng, xã hội(thu nhập, việc làm, hưởng thụ văn hóa, các mối quan hệ…). Mong muốn và đề xuất của người dân với chính quyền địa phương, ban tổ chức.
Thời gian cho một cuộc phỏng vấn khoảng 60 phút. Công cụ thu thập thông tin là bản hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc đã được thiết kế sẵn. Thông tin sẽ được tư liệu hóa và xử lý theo phương pháp truyền thống.
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp quan sát kết hợp với phương pháp phỏng vấn cấu trúc và phỏng vấn bán cấu trúc nhằm quan sát điệu bộ, cử chỉ hành động, biểu lộ cảm xúc bên ngoài của đối tượng, nhằm bổ trợ cho những thông tin thu thập từ các phương pháp khác, bổ xung những thông tin mà phương pháp phỏng vấn không thể tiếp cận. Trong đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát chuẩn mực để kiểm tra thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu của mình.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
8.1. Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu đề tài trên chính là củng cố thêm phương pháp, tri thức khoa học xã hội học cho người nghiên cứu khoa học. Đồng thời, làm phong phú thêm, mở rộng phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu và phục vụ xã hội của ngành xã hội học. Mặt khác, đề tài sẽ có ý nghĩa là bài học kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu khoa học sau về lĩnh vực này. Bên cạnh đó,đề tài mang tính kiểm chứng cho các hệ thống lý thuyết xã hội học trong các lĩnh vực chuyên biệt. Vận dụng các lý thuyết và phương pháp xã hội học vào nghiên cứu, giúp người nghiên cứu lý giải được vấn đề bản thân quan tâm đến.
Nghiên cứu này giúp sinh viên hiểu và làm sáng tỏ một số lý thuyết. Dựa vào những thành quả của các lý thuyết xã hội học xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc đưa ra cách nhìn nhận khách quan, đúng đắn hơn về tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân. Từ sự hiểu rõ vấn đề có thể giúp đưa ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp với thực trạng nghiên cứu chỉ ra đề từ đó giúp cải thiện cuộc sống và tăng phúc lợi xã hội cho người dân một cách có hiệu quả.
8.2 Ý nghĩa thực tiễn Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các cơ quan chức năng sử dụng như một nguồn tư liệu hữu ích để xem xét những yếu tố có tác động tích cực đến đời sống của người dân và nhằm tăng tính hiệu quả cho việc tổ chức sự kiện văn hóa lớn của địa phương, phát huy thế mạnh sẵn có một cách tối ưu nhất. Bên cạnh đó có những chính sách, phương hướng phát triển đúng đắn, làm hạn chế những tiêu cực và phát huy những thế mạnh tích cực từ lễ hội mang lại. Tăng phúc lợi xã hội cho người dân địa phương.
9. Kết cấu khóa luận:
Phần 1,Bao gồm:Lý do chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể), đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Phần 2, Sẽ trình bày toàn bộ kết quả nghiên cứu, phần này có 2 chương.
Chương 1. Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn gồm các khái niệm cơ bản, các lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, vài nét về địa bàn nghiên cứu và giới thiệu về Festival Huế.
Chương 2.Trình bày tác động của Festival đến đời sống của người dân thành phố Huế. Bao gồm:
- Hiểu biết của người dân về Festival Huế.
- Giới thiệu các đối tượng được hưởng lợi từ Festival Huế.
- Tác động tích cực của Festival Huế lên các mặt đời sống kinh tế, đời sống văn hóa và đời sống xã hội của người dân địa phương.
- Tác động tiêu cực của Festival Huế đến người dân địa phương.
- Phản ứng của người dân địa phương.
Phần 3, Kết luận và kiến nghị:
Trình bày các kết luận được rút ra từ kết quả nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị dựa trên cơ sở nghiên cứu tới chính quyền địa phương, Ban tổ chức Festival và người dân Thành phố Huế.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm “Đời sống”
Chúng ta biết rằng “Đời sống” là thuật ngữ được nhắc đến thường xuyên trong cuộc sống hằng ngày của con người và được dùng để ám chỉ lĩnh vực, điều kiện, nhu cầu nào đó trong cuộc sống của con người. Hiện nay, Khái niệm về “đời sống” còn gây nhiều tranh cãi và vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm khoa học cụ thể nào về đời sống.
Theo từ điển Việt – Anh, đời sống có nghĩa là life = đời sống, sinh mệnh, tính mệnh, sự sống; livelihood = sinh kế, phương kế sinh nhai; living = cuộc sống, sinh hoạt.[4]
Theo từ điển Tiếng Việt, đời sống có 4 cách giải thích sau:[28] thứ nhất: Đời sống là toàn bộ nói chung những hiện tượng diễn ra ở cơ thể sinh vật trong suốt khoảng thời gian sống (nói tổng quát). Ví dụ: đời sống cây lúa; thứ hai: Đời sống là toàn bộ nói chung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội. Ví dụ: đời sống riêng, đời sống tinh thần, đời sống văn hóa; thứ ba: Đời sống là toàn bộ nói chung những điều kiện sinh hoạt của con người, của xã hội. ví dụ: đời sống có nhiều khó khăn, đời sống công nhân, những vấn đề đời sống; thứ tư: Đời sống là lối sống chung của một tập thể, một xã hội. Ví dụ: đời sống ở thôn quê.[3] Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Từ cách giải thích của từ điển trên, đề tài vận dụng cách hiểu thứ 2 trong từ điển tiếng Việt. Đề tài sẽ thực hiện nghiên cứu tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội của con người.
- Khái niệm “Festival”
Theo từ điển Anh – Việt, Festival có nghĩa là lễ hội, Đại hội liên hoan.
“Festival” vốn không là từ trong ngôn ngữ tiếng Việt mà là từ vay mượn của tiếng nước ngoài. Trong từ điển Wikipedia – từ điển Bách khoa tri thức thì Festival được định nghĩa như sau: “Festival is a day or period of celebaration or a series of performance of music, drama … given regularly, especially once a year”, tạm dịch là: “Festival là ngày hôi, đại hội, liên hoan hoặc đợt biểu diễn thường kỳ về âm nhạc, điện ảnh… được thường xuyên, đặc biệt là mỗi năm một lần” [10]
Festival có nghĩa là lễ hội, nó bao gồm phần lễ và phần hội là chủ yếu. khi nói đến hội là nói đến sự tham gia đông đảo của người dân.
Theo từ điển điện tử, Festival là một sự kiện thường được tổ chức bởi cộng đồng dân cư địa phương mà trung tâm hướng vào một số điều kỳ diệu của cộng đồng dân cư đó. [39]
Festival là một chuỗi hoạt động và các buổi biểu diễn (thường được tổ chức tại một điểm) về âm nhạc, sân khấu hoặc các sự kiện văn hóa khác.[39]
Trong các loại Festival, Festival du lịch được nhắc đến nhiều nhất. Khi chuyển sang tiếng Việt, đôi khi thuật ngữ này cũng được dịch là liên hoan du lịch, lễ hội du lịch hay lễ hội văn hóa du lịch, tuy nhiên từ gốc vẫn biểu thị chính xác nhất từ gốc của nó. Nhìn chung, Festival du lịch được hiểu là một hoạt động văn hóa du lịch được tổ chức thường kỳ, là ngày hội du lịch của địa phương, vùng quốc gia, khu vực…nhằm gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao, hội nghị, hội thảo… với các hoạt động du lịch nhằm giới thiệu sâu rộng với người dân, khách du lịch trong và ngoài nước về tiềm năng du lịch, đất nước và con người địa phương, vùng, quốc gia hay khu vực đó, tạo cơ hội kinh doanh hợp tác du lịch giữa các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch và giữa các quốc gia, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Festival là các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng, những cuộc triển lãm hay các cuộc thi được tổ chức định kỳ.
- Khái niệm “Festival Huế” Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Festival có nhiều loại hình khác nhau, dùng để đáp ứng các nhu cầu và nhiệm vụ mang tính xã hội cũng như cung cấp các loại hình giải trí. Trong những lần tổ chức Festival, người ta thường đưa ra các ý tưởng liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, xã hội, hoặc các vùng miền địa lý. Festival hiện đại được tập trung vào các chủ đề văn hóa, dân tộc nhằm tìm kiếm thông tin để thông báo đến các thành viên có cùng truyền thống. Trong quá khứ, việc tổ chức các Festival là thời gian mà những người đi trước có kinh nghiệm chia sẻ những câu chuyện và truyền đạt những kiến thức nào đó cho thế hệ tiếp theo.
Festival Huế hay được gọi theo cách phân loại của Trần Thị Mai là Festival tổng hợp [17]. Festival tổng hợp thường được tổ chức theo quy mô lớn trên phạm vi không gian rộng (thành phố, liên tỉnh, quốc gia) với nhiều loại hoạt động được tổ chức tại nhiều địa điểm khác nhau dưới sự điều hành chung của một BTC. Việc tổ chức các Festival tổng hợp thường có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương (nơi diễn ra Festival) và sự hỗ trợ của các cơ quan trung ương. Các Festival khá nổi tiếng trên thế giới như: Festival Avignon, Festival Ottawa Canada …
1.2 Các lý thuyết liên quan
Tác động của Festival là một xu thế tất yếu của thời đại mang tính quy luật xã hội khách quan. Nó không chỉ diễn ra ở quy mô một địa phương, một quốc gia mà trên cả quy mô toàn cầu, xuyên suốt thời đại lịch sử của loài người. Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu về Festival được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm tòi ở cả hai phương diện: Lý thuyết và thực tiễn. Qua đó, nghiên cứu này áp dụng một số lý thuyết vào đề tài để lý giải vấn đề nghiên cứu.
1.2.1 Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons
Talcott Parsons (1902-1979) là nhà xã hội học người Mỹ, tác giả nổi tiếng của lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết hành động. Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu, định hình hệ thống một cách tương đối ổn định. Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là được định hình vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh. Parsons nổi tiếng trong giới xã hội học về sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL theo bốn chữ cái của bốn tiểu hệ thống (hệ thống nhỏ hơn), tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội. [11] Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Áp dụng vào vấn đề nghiên cứu là để Festival Huế hoạt động một cách hiệu quả các mục tiêu đã định, nhìn chung Festival Huế hoạt động dưới sự kiểm soát, định hướng các mục tiêu của Festival Huế. Bên cạnh đó, những hoạt động này dựa trên hay căn cứ vào những giá trị, chuẩn mực của hệ thống văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và hệ thống văn hóa Việt Nam nói chung. Trong sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội của Parsons được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội, viết tắt là AGIL, có thể xem hệ thống văn hóa này chính là tiểu hệ thống phát triển kinh tế địa phương, nâng cao đời sống người dân qua các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội (L), giúp tạo ra sự ổn định, trật tự và giữ Festival Huế đi đúng hướng mục đích đề ra. Ban tổ chức Festival Huế trực thuộc Ban tổ chức Festival và UBND tính TTH cùng bộ máy an ninh xã hội đóng vai trò là tiểu hệ thống liên kết (I) nhằm phối hợp các hoạt động, điều hòa, giữ gìn an ninh trật tự, tạo sự đoàn kết hợp tác giữa các kỳ Festival Huế với các thành phần tham gia và thành phần chịu tác động, giải quyết những phát sinh còn tồn tại. Mục tiêu của Festival Huế là nhằm khẳng định và tôn vinh, bảo tồn và phát huy những di sản, văn hóa của dân tộc, phát triển kinh tế địa phương, cái thiện đời sống và nâng cao đời sống cho người dân địa phương và quảng bá hình ảnh văn hóa Huế đến với công chúng. Đây là định hướng của chính quyền địa phương tỉnh, đóng vai trò là tiểu hệ thống hướng đích (G). Và cuối cùng, để thực hiện mục tiêu của Festival Huế cần được huy động một lượng kinh phí đầu tư từ tỉnh Thừa Thiên Huế và các chính sách hỗ trợ nhằm cung cấp các phương tiện và nguồn lực để đạt được mục tiêu đã định. Đây chính là tiểu hệ thống thích ứng (A), thực hiện chức năng thích ứng của xã hội
1.2.2 Thuyết cấu trúc chức năng của Robert Merton
Robert K. Merton (1910-2015) sinh ra trong một gia đình người Do Thái di cư sang Mỹ sống ở thành phố Philadenlphia. Cũng như Talcott Parsons, Merton được biết đến với tư cách là một trong những người đứng đầu của trường phái cấu trúc – chức năng trong xã hội học Mỹ. Công trình nghiên cứu khoa học nổi tiếng nhất của Merton là cuốn “Lý thuyết xã hội và cấu trúc xã hội” (Social Theory and Social Structure) (1986).
Merton có một đóng góp lớn đối với chủ thuyết chức năng trong xã hội học là việc phát hiện ra sự loạn phản chức năng. Phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm giảm chức năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc. Để nhận diện sự loạn chức năng hay phản chức năng. [11]. Áp dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu ta sẽ phân tích, lý giải được hiện sau thành công của mỗi kỳ Festival luôn gắn với những hạn chế của nó, tồn tại những tiêu cực và ảnh hưởng không tốt đến đời sống của người dân thành phố Huế.
Merton đã phân loại chức năng trội và chức năng lặn dựa vào mức độ biểu hiện của chúng. Merton chỉ ra cách phân tích chức năng là phải vượt qua quan niệm thông thường về mục đích, ý nghĩa mà các chủ thể gắn cho sự vật, hiện tượng để xác định chính xác khách quan tác dụng của chúng. Theo ông, muốn hiểu cơ chế, hoạt động, tồn tại và phát triển một cấu trúc xã hội, ta cần phải phân tích những tác động nhiều chiều của nó đối với cấu trúc xã hội có liên quan.
Áp dụng quan điểm của Merton vào nghiên cứu để giải thích ngoài những tác động của Festival có thể dễ dàng nhận thấy, như phát triển kinh tế xã, tăng mức độ hưởng thụ văn hóa cho người dân thì những chức năng tiểm ẩn như: nhờ có Festival mà tăng sự đoàn kết trong người dân với nhau. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
1.2.3 Lý thuyết đoàn kết xã hội của Durkheim
Emile Durkheim (15/4/1858 – 15/11/1917) là một nhà xã hội học người Pháp nổi tiếng, người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng và chủ nghĩa cơ cấu, người đã góp công lớn trong sự hình thành bộ môn xã hội học và nhân chủng học.
Khái niệm đoàn kết xã hội được Durkheim phân biệt hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội là đoàn kết cơ học và đoàn kết xã hội hữu cơ, tương ứng với hai loại xã hội là kiểu xã hội đoàn kết cơ học và xã hội kiểu đoàn kết hữu cơ. Trong đó, kiểu đoàn kết xã hội cơ học là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, sự thống nhất của các giá trị niềm tin, tín ngưỡng, phong tục, tập quán. Sức mạnh của ý thức tập thể có khả năng chi phối và điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành động của các cá nhân đối với truyền thống tập tục và quan hệ gia đình. Xã hội gắn kết kiểu cơ học thường có quy mô nhỏ, nhưng ý thức cộng đồng cao, các chuẩn mực chặt chẽ.
Áp dụng vào vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu sử dụng khái niệm Đoàn kết xã hội của Durkheim để chứng minh sự tác động tích cực của Festival tác động đến đời sống xã hội của người dân. Khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội – những người có tham gia và không tham gia vào Festival Huế, giữa cá nhân với cá nhân. Chức năng của Festival Huế như là một sự kiện liên kết, tăng tình đoàn kết giữa các cá nhân tại địa phương bởi sự thống nhất giá trị di sản văn hóa niềm tin trong cộng đồng.
1.2.4 Lý thuyết bất bình đẳng xã hội theo quan điểm của Quan điểm Max Weber
Max Weber (1864-1920), là nhà kinh tế học, nhà sử học, nhà xã hội học, bách khoa toàn thư. Khác với Marx không coi mọi cấu trúc xã hội, đều bất bình đẳng như trong một xã hội có giai cấp. Đẳng cấp phụ thuộc vào những khác nhau đặc biệt về địa vị trên nền tảng nghi thức tôn giáo. Werber nhấn mạnh rằng quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác. Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất. Weber cho rằng đây là một vấn đề phân tích về mặt lịch sử và xã hội để phát hiện ra cơ sở thực sự của bất bình đẳng xã hội.
Quan điểm của Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường chứ không phải là tái sản xuất, như là cơ sở kinh tế của giai cấp. Theo Weber, nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong xã hội tư bản là khác biệt về khả năng thị trường. Điều đó có nghĩa là khả năng chiếm lĩnh thị trường của các cá nhân phụ thuộc vào sự hiểu biết, bản lĩnh và kỹ năng nghề nghiệp.
Vận dụng quan điểm bất bình đẳng xã hội của Weber vào nghiên cứu để xem xét mức độ hưởng lợi văn hóa của người dân có sự khác nhau như thế nào dựa vào biến phụ thuộc là diện kinh tế gia đình, xem xét sự khác nhau giữa những hộ thuộc diện khá giả khác như thế nào với diện hộ trung bình và nghèo.
1.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Thành phố Huế là trung tâm tỉnh lỵ của Tỉnh Thừa Thiên Huế, có tổng diện tích tự nhiên là 7.099 ha, bao gồm 27 phường nội thành và 5 xã ngoại thành, có vị trí địa lý và địa chính trị thuận tiện để tổ chức Festival tầm quốc gia và quốc tế được thể hiện bằng những đặc điểm chủ yếu như sau:
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội
- Vị trí địa lý
TTH là một trong 4 điểm thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, có tọa độ 16 – 16,7 độ vĩ Bắc, 107,8 – 108,2 kinh Đông. Có diện tích tự nhiên là 5054 km2 chiếm 1,5% diện tích quốc gia. TTH nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trục hành lang Đông – Tây nối Thái Lan – Lào – Việt Nam theo đường 9. TTH ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta, là nơi giao giữa điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của cả hai miền Nam – Bắc. TTH là một trong những trung tâm văn hóa, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, y tế lớn của cả nước và là cực phát triển kinh tế phát triển quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. [30]
Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho TTH phát triển ngành du lịch và mở rộng giao lưu kinh tế – văn hóa- xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế.
Ảnh 1.1: Bản đồ tỉnh Thừa Thiên Huế
- Địa hình
Thiên nhiên tỉnh TTH được hình thành qua tác động qua lại hết sức chặt chẽ giữa các hợp phần tự nhiên, cơ cấu địa hình của tỉnh khá đa dạng, bao gồm: đồi núi, đầm phá, duyên hải và biển liên kết với nhau trong một không gian hẹp. địa hình núi chiếm phần lớn diện tích (núi trung bình chiếm 255 diện tích, núi thấp và gò đồi chiếm 50% diện tích) và tập trung ở phía tây, đồng bằng duyên hải chiếm 16% diện tích, đầm phá và duyên hải chiếm 9% diện tích, với địa hình đa dạng là tiền đề cho việc tổ chức và phát triển các loại hình du lịch khác nhau: du lịch leo núi, du lịch biển, du lịch sinh thái…[32].
- Khí hậu Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Khí hậu TTH mang tính chuyển tiếp và khá phức tạp, mang tính chất chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, không có sự phân chia bốn mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hằng năm ở khu vực đồng bằng là 24,60C – 250C, ở vùng núi là 21,60C-220C. số giờ nắng trung bình hằng năm là 1600 – 1800 giờ. Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 2800mm với số ngày trung bình là 158 ngày nhưng phân phối không đều giữa các tháng trong năm và giữa các vùng trong tỉnh. Độ ẩm tuyệt đối không khí tỉnh TTH không cao và có giá trị trung bình giao động trong khoảng từ 20,0mb đến 25,1mb độ ẩm tương đối trung bình là 84,5%. [30]
Đây là những chỉ số khí hậu xác định mức độ thuận lợi về điều kiện tự nhiên phục vụ hoạt động du lịch.
- Đặc điểm kinh tế
TTH được xác định là một trong những khu kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế của tỉnh đang thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Sự phát triển với tốc độ cao của ngành du lịch đã và đang góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. [32]
Theo kế hoạch của tỉnh đề ra, trong cơ cấu kinh tế tỉnh TTH, ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ – du lịch sẽ tăng mạnh; ngành nông nghiệp lâm ngư sẽ giảm đáng kể. Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của đất nước, cũng như chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh. [32]
- Đặc điểm xã hội
Tính đến năm 2024, dân số tỉnh Thừa Thiên Huế có 1.115.523 người (551.650 nam; 563.873 nữ). Về phân bố, có 538.791 người sinh sống ở thành thị và 576.732 người sinh sống ở vùng nông thôn.[44]
Tại TTH có 24 dân tộc cùng chung sinh sống trong cộng đồng, trong đó dân tộc kinh chiếm đa số, sau đó là các dân tộc: Cơtu, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều được xem là người bản địa sinh sống ở phía Tây của tỉnh. Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, các dân tộc này đã tạo cho mình bản lĩnh dân tộc và nét văn hóa đặc trưng, thống nhất trong đa dạng, làm nên một tiểu vùng văn hoá ở phía tây tỉnh Thừa Thiên Huế. Đây là một lợi thế để khai thác phát triển du lịch.[44]
Nguồn nhân lực của thành phố có chất lượng khá cao về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ; Thành Phố Huế là nơi tập trung phần lớn nguồn nhân lực được đào tạo của tỉnh (chiếm khoảng 54% lao động đã qua đào tạo của tỉnh); trên địa bàn thành phố có 11 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, trong đó Đại học Huế là Đại học của Vùng với hơn 40.000 sinh viên, là lực lượng quan trọng trong việc nghiên cứu, ứng dụng các kết quả của khoa học xã hội-nhân văn, kiến trúc và khoa học-công nghệ phục vụ cho việc xây dựng Thành phố Festival, hình thành các chủ đề nội dung tổ chức Festival và trực tiếp tham gia các hoạt động của Festival.[44]
1.3.2 Tài nguyên du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
TTH là một trong 3 cùng du lịch lớn của Việt Nam với tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng cũng như quần thể kiến trúc và văn hóa đặc sắc mang đậm nét dân gian.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên
Với một diện tích tự nhiên không lớn nhưng TTH có đầy đủ các dạng địa hình xen kẽ, quần hợp thành một quần thể kỳ thú. Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh TTH được phân bố tương đối tập trung ở một số khu vực chính như TPH và phụ cận, Cảnh Dương – Bạch Mã, Lăng Cô – Hải Vân, A Lưới – Đường mòn Hồ Chí Minh. Ở mỗi khu vực có những thế mạnh riêng thuận lợi cho phát triển du lịch tự nhiên, du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng.[30] Có thể kể đến một số tài nguyên nổi bật như sau:
- Tài nguyên du lịch biển với các bãi biển đẹp nổi tiếng như: Lăng Cô, Cảnh Dương, Hàm Rồng, Quảng Ngạn (Quảng Điền)…
- Các thắng cảnh như đèo Hải Vân, núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An – hồ Thủy Tiên, núi Ngọc Trản, núi Thiên Thai…
- Các nguồn nước khoáng có công năng chữa bệnh như: Thanh Tân, Mỹ An, Hương Bình, A Roàng…
- Các điểm du lịch sinh thái như vườn quốc gia Bạch Mã với diện tích hơn 22.000ha, thác Phướn, thác Mơ, thác Trượt, thác Kazan, khu bảo tồn tự nhiên Phong Điền, khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Bắc Biên (Quảng Điền),…
Các điểm du lịch sông nước, đầm phá như sông Hương với cồn Hến, cồn Dã Viên, hồ Truồi, hệ thống Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai lớn nhất vùng Đông Nam Á, dài 68km, chạy dọc theo bờ biển, có hệ sinh thái đa dạng,…
- Tài nguyên du lịch nhân văn Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Có thể nói rằng TTH là một xứ sở đặc biệt của Việt Nam, một miền đất của lịch sử, của thơ văn, kiến trúc và nghệ thuật độc đáo, in đậm màu sắc dân gian. Đến với Huế là một vùng danh lam thắng cảnh kỳ thú hữu tình, đầy sức quyến rũ. Các di tích văn hóa, các công trình kiến trúc độc đáo, quần thể di tích triều Nguyễn bao gồm các cung điện đền đài, miếu mạo, thành quách, lăng tẩm, các kiến trúc chùa chiền, nhà thờ… vẫn giữ nguyên nét uy nghiêm, cổ kính, trang nghiêm. Các lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội tôn giáo tín ngưỡng, các thể loại mỹ thuật rất đa dạng và đặc sắc, nghệ thuật cổ truyền dân gian và cung đình được lưu truyền. Khung cảnh nhà vườn – Huế, một mô hình sinh thái lý tưởng và hài hòa…
TTH là nơi lưu giữ nhiều di chỉ, hiện vật cổ của nền văn hoá Chăm. Mặt khác, đây cũng là nơi có truyền thống cách mạng oanh liệt, còn giữ nhiều di tích liên quan đến cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng tiền bối và nhiều địa danh lịch sử về hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như: chiến khu Dương Hoà, Hoà Mỹ, A Lưới, đường mòn Hồ Chí Minh…
Đặc biệt, TTH là cố đô của Việt Nam hiện đang tập trung và lưu giữ khá nguyên vẹn nhiều tài nguyên văn hoá vật thể và phi vật thể truyền thống cung đình và dân gian nổi trội, đặc sắc rất tiêu biểu cho văn hoá dân tộc Việt Nam; là địa bàn duy nhất ở nước ta vừa có những tài nguyên văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Trong đó, hệ thống di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh đã được xếp hạng (tính đến 31/12/2022) là 132 gồm: Đình: 26, Chùa: 6, Đàn: 2, Tháp: 2, Di tích lịch sử, cách mạng: 94, Di tích khác: 2.[30]
1.3.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng phục vụ ngành du lịch
- Hệ thống giao thông:
TTH là một tỉnh nằm giữa hai đầu đất nước với hệ thống giao thông thuận tiện cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Mặt khác, TTH còn nằm trên hành lang Đông –Tây, nối Việt Nam với Myanmar, Thái Lan, Lào.[30]
Đường bộ: Hệ thống đường quốc lộ I xuyên Việt đã được cải tạo, nâng cấp, mở rộng, trong đó đoạn thành phố Huế – Phú Bài dài 17km được mở rộng cho 4 làn xe; tuyến đường tránh phía Tây thành phố tạo điều kiện cho sự thông thoáng trên các cửa vào – ra của thành phố nối với đường Hồ Chí Minh có tác dụng nâng cao năng lực thông thương giữa TPH nói riêng, tỉnh TTH nói chung với các vùng trên cả nước và nước ngoài. Từ những trục đường chính này, Huế kết nối với Lào qua các hành lang Đông – Tây quốc lộ 49 với cửa khẩu Hồng Vân – Koutai và bằng đường 9 với cửa khẩu Lao Bảo sang Lào, Thái Lan, Miến Điện và Ấn Độ. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Đường sắt: Đường sắt đóng vai trò quan trọng không chỉ trong vận chuyển hàng hóa mà còn là hành khách, đặc biệt là khách, đặc biệt là khách du lịch đến Huế. TPH nằm trên điểm trung tâm của các tuyến đường Sắt xuyên Việt Nam hiện nay và sẽ được kết nối với tuyến đường sắt xuyên Á và hành lang Đông – Tây. Bằng đường sắt, từ TPH có thể đi đến các nước trong khu vực và trên Thế giới.
Đường hàng không: Sân bay Phú Bài vừa được nâng cấp lên thành sân bay quốc tế có thể đón được các loại máy bay lớn như Boeng 777. Boeng 737. Airbus 321…có năng lực tiếp nhận trên 0,5 triệu khách và 15.000 tấn hàng hóa /năm.
Đường biển: Cảng Thuận An nằm cách trung tâm TPH khoảng 13km về phía Đông và cảng nước sâu Chân Mây cách TPH 49km về phía Nam với lợi thế nằm trên trục giao thông Bắc – Nam.
Hệ thống cung cấp điện: TPH có 2 nhà máy nước sạch hoạt động cung cấp nước cho toàn thành phố là nhà máy nước Dã Viên (công suất 14.400m3/ngày đêm) và nhà máy Quảng Tế (công suất 24.300 m3/ngày đêm). Các vùng lân cận và huyện trong tỉnh đều có hệ thống cung cấp nước sạch phục vụ cho cuộc sống hàng ngày.Thành phố cũng đã đầu tư xây dựng một hệ thống thoát nước đảm bảo cho vệ sinh môi trường thành phố.
Hệ thống thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc được hiên đại và thuận tiên với sự tham gia của nhiều nhà cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông như: Bưu điện TTH, công ty viễn thông quân đội, công ty viễn thông Sài Gòn, viễn thông FPT Huế. Đặc biệt từ nằm 2025 TPH đã bắt đầu phủ song Wifi miễn phí ở một số địa điểm trung tâm thành phố.
- Hệ thống các cơ sở lưu trú, ăn uống và giải trí
Tính đến năm 2024, toàn tỉnh TTH có 313 cơ sở lưu trú bao gồm khách sạn và nhà nghỉ, trong đó có 2 cơ sở đạt tiêu chuẩn 5 sao, 16 cơ sở đạt tiêu chuẩn 4 sao, 23 cơ sở đạt tiêu chuẩn khách sạn 3 sao. Tổng số phòng đạt đến 7.284 phòng với 13.246 giường.
THP có nhiều nhà hàng lớn nhỏ với phong phú các món ăn đặc sản địa phương còn có các nhà hàng mang phong cách, đặc trưng của nước ngoài với đầu bếp người nước ngoài chế biến món ăn.
Trên địa bàn TPH ngoài những tụ điểm vui chơi về đêm như Phố đi bộ Nguyên Đình Chiểu, Phố mua sắm Mai Thúc Loan,… Huế còn phát triển các hộp đêm giải trí dành cho khách du lịch về đêm như các quán Bar, Cafe tập trung chủ yếu ở Phố Phạm Ngũ Lão.
1.3.4 Chính sách phát triển Huế trở thành Thành phố Festival
Ngày 25/04/2025, thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 597/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Huế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Huế là thành phố Festival cấp quốc gia và mang tầm quốc tế, là đầu mối giao lưu kinh tế trong vùng và trong trục hành lang thương mại quốc tế…Với các mục tiêu cụ thể như sau:
Về văn hóa: xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa đồng bộ và hiệu quả; bảo tồn, phát triển và tôn vinh nền văn hóa dân tộc Việt Nam và xứ Huế; giới thiệu văn hóa Việt Nam với thế giới, thực hiện hợp tác và giao lưu văn hóa với các dân tộc trên thế giới; thúc đẩy việc phục dựng, tạo lập và phát triển các hoạt động lễ hội và sinh hoạt văn hóa cộng đồng truyền thống, đặc trưng, tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và những nét độc đáo của xứ Huế với sự kế thừa, nâng cao chất lượng cả về nội dung và nghệ thuật, kết hợp với tính hiện đại và tiên tiến, đủ năng lực giao lưu với các nền văn hóa của các nước trong khu vực và quốc tế. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Về kinh tế: thành phố Festival Huế sẽ thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của thành phố Huế và tỉnh TTH theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ, du lịch. Chuyển các hoạt động văn hóa, du lịch, dịch vụ trở thành các ngành kinh tế chủ đạo của thành phố. Hình thành và phát triển các ngành kinh tế du lịch, dịch vụ và hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ Festival và làm cho thành phố Huế phát triển bền vững.
Về xã hội: thành phố Festival Huế có môi trường lành mạnh, an ninh trật tự trị an được bảo đảm, không có các tệ nạn xã hội. Hình thành được nếp sống văn hóa phong phú, văn minh, lịch sự, đoàn kết tại cộng đồng dân cư trong thành phố, giữa các dân tộc trong nước và quốc tế.
Về kết cấu hạ tầng đô thị và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động Festival và du lịch: có được hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, cảnh quan không gian văn hóa, các công trình phục vụ trực tiếp Festival và các hoạt động du lịch đồng bộ, hiện đại và mang tính dân tộc.
Về phát triển nguồn nhân lực: có đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao phục vụ cho các hoạt động Festival Huế, du lịch và dịch vụ.
Về quản lý, tổ chức Festival: có bộ máy quản lý Festival Huế hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp về hoạt động Festival Huế trình độ cao; có đội ngũ nguồn nhân lực văn hóa – nghệ thuật chuyên nghiệp, trình độ cao để làm nòng cốt cho các hoạt động Festival Huế; thu hút được sự tham gia rộng rãi, tích cực và hiệu quả của các thành phần kinh tế và toàn dân trong việc xây dựng các công trình và tổ chức các hoạt động Festival Huế.
1.4 Giới thiệu Festival Huế Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
1.4.1 Sự ra đời của Festival Huế
“Ý tưởng tổ chức về Festival Huế được hình thành từ năm 1998, bắt nguồn từ kết quả liên hoan Việt – Pháp do Thành phố Huế cùng Hiệp hội Codev (Cộng hòa Pháp) phối hợp tổ chức năm 1992”[21].Đây là hoạt động văn hóa đầu tiên khai thác được đặc trưng văn hóa đặc sắc của địa phường Thừa Thiên Huế để giới thiệu với khách du lịch. Tuy là một liên hoan nhỏ, mang tầm vóc địa phương với sự tham gia của một số đoàn nghệ thuật của Thành phố Huế và vùng Poitou Charentes (Cộng hòa Pháp) nhưng đã gây được tiếng vang khá lớn, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp với du khách và cộng đồng dân cư Tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến năm 1998, tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu xây dựng nội dung, chương trình cho Festival quy mô lớn và đã được Chính phủ, các Bộ, Ngành trung ương ủng hộ, cho phép tổ chức vào tháng 4 năm 2012.
Có thể thấy ngây từ lần tổ chức đầu tiên, Festival Huế đã bao hàm nhiều mục tiêu như: Văn hóa nghệ thuật, củng cố, phát triển, hợp tác Quốc tế; Và mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt nhấn mạnh phát triển kinh tế du lịch của địa phương. Như lời phát biểu của đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam[23] Ông Serge Degallaix: “Liên hoan hàm chứa nhiều kỳ vọng và ý nghĩa, mong muốn vừa chào đón năm 2012 lại vừa đánh dấu khởi điểm cho một cuộc giao lưu trao đổi sẽ trở thành định kỳ và mang tính đa văn hóa… Liên hoan sẽ tạo cơ hội thuận lợi mới mẻ cho Thành phố Huế và Tỉnh Thừa Thiên Huế, là một nhân tố đáng kể trong bổi cảnh phát triển kinh tế của địa phương”. Hay như lời phát biểu của ông Chủ tịch Tỉnh TTH [23]Nguyễn Văn Mễ: “Thành công của Festival Huế năm 2012 sẽ là biểu hiện – Chí vươn lên mạnh mẽ của vùng đất vốn giàu truyền thống văn hóa và mong muốn vươn lên tự khẳng định mình là một trung tâm văn hóa Du lịch của cả nước, là nơi tổ chức lễ hội định kỳ; các Festival văn hóa, nghệ thuật góp phần phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, làm giàu thêm sản phẩm Du lịch – thế mạnh quan trọng nhất của địa phương trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn và văn minh”. Đến Festival 2026,Lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như ban tổ chức lễ hội nhiều lần khẳng định rằng mục tiêu sau cùng của Festival Huế là thu hút nhiều du khách đến Huế thúc đẩy phát triển du lịch phát triển – ngành phát triển mũi nhọn của tỉnh.
Qua nghiên cứu tác động của Festival Huế đối với kinh tế tỉnh TTH của tiến sĩ Trần Thị Mai [17]đã tóm tắt cụ thể mục tiêu của Festival Huế như sau:
Một là, Tạo cơ hội để gặp gỡ, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền của Việt Nam và giữa các nền văn hóa trên Thế giới, đồng thời là dịp để giới thiệu, quảng bá tinh hoa văn hóa Huế, văn hóa Việt Nam, các sản phẩm du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế
Hai là, Festival Huế góp phần phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững khai thác thế mạnh văn hóa Huế, văn hóa Việt Nam trên diện rộng và cả chiều sâu là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển các hoạt động du lịch và các ngành kinh tế của địa phương.
Ba là, hình thành công nghệ tổ chức Festival, tăng dần tính chuyên nghiệp trong công tác tổ chức Festival, tiến tới xây dựng Thành phố Huể trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
Bốn là, thông qua Festival Huế, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa tỉnh Thừa Thiên Huế với các vùng miền trong nước và Quốc tế.
1.4.2 Công nghệ tổ chức Festival Huế Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Đây là vấn đề cốt lõi của việc tổ chức Festival Huế, là điểm khác biệt của Festival Huế so với các Festival chuyên đề được tổ chức tại các địa phương khác trên cả nước (Festival Hoa Đà Lạt, Festival Biển Nha Trang, Festival Biển Vũng Tàu,…).
Để có được công nghệ tổ chức Festival Huế theo hướng Festival Quốc tế, Ban tổ chức Festival đã dày công nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các Quốc gia có các lễ hội nổi tiếng trên Thế giới, vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương để tổ chức thành công 7 kỳ Festival Huế. Công nghệ tổ chức Festival Huế qua quá trình phát triển được định hình cơ bản như sau:
- Đặc điểm và cơ cấu chương trình của Festival Huế
Festival Huế là loại hình Festival nghệ thuật tổng hợp, các chương trình nghệ thuật tại Festival được phân thành hai nhóm: chương trình chính thức (chương trình IN) và chương trình văn hóa lễ hội cộng đồng (chương trình OFF).
Chương trình IN: gồm các chương trình nghệ thuật có chất lượng cao, có tính chuyên nghiệp được lựa chọn từ các chương trình trong nước và Quốc tế đã đăng ký có bán vé, được tổ chức chủ yếu vào ban đêm tại các địa điểm nằm trong khuôn viên các di tích hoặc thắng cảnh nổi tiếng. Ngoài ra, còn kết hợp giữa biểu diễn nghệ thuật với ẩm thực, trưng bày triển lãm, nghệ thuật, ánh sáng, công nghệ hiện đại…tạo ra các sản phẩm đặc sắc.
Chương trình OFF: là sự kết hợp giữa nghệ thuật đường phố với nghệ thuật truyền thống, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng, văn nghệ quần chúng. Hầu hết các chương trình nghệ thuật OFF không bán vé, được tổ chức tại các địa điểm cộng đồng, nơi công cộng, dễ tiếp cận nhằm tiếp cận phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân. Ngoài ra còn kết hợp với một số chương trình có bán vé, chương trình giao lưu từ IN ra OFF.
- Quy trình tổ chức
Tất cả các chương trình nghệ thuật biểu diễn IN và OFF đều được xây dựng kịch bản.Kịch bản cho các chương trình nghệ thuật IN có sự tham gia tư vấn của các nhà tổng đạo diễn, giám đốc biểu diễn, giám đốc kỹ thuật…khá nổi tiếng của Pháp. Sau khi có kịch bản, tất cả các yếu tố như: địa điểm, cơ sở vật chất, kỹ thuật (sân khấu, phương tiện kỹ thuật, âm thanh, ánh sáng, con người, hoạt động điều phối… liên quan đến tập luyện, tổng duyệt và triển khai các hoạt động biểu diễn được làm theo một quy trình khá hợp lý.
- Thương mại hóa Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
Thông thường, việc tổ chức Festival tiêu tốn khoảng tiền lớn của ngân sách quốc gia và địa phương, Để góp phần giảm chi ngân sách cho Festival, việc tổ chức Festival Huế đã được tính đến mức độ thương mại hóa hợp lý một số hoạt động của Festival. Theo kinh nghiệm được tiếp nhận của các chuyên gia Pháp, các vấn đề liên quan đến việc tổ chức bán các “sản phẩm chính” của Festival và các sản phẩm kèm theo đã được đưa vào kế hoạch như: các chương trình có bán vé, mức giá (trọn gói và giá lẻ), tổ chức in ấn và quản lý vé, tổ chức phân phối sao cho tránh được vé giả, và đầu cơ vé, tổ chức soát vé, cách thức đổi hoặc trả lại vé…Bên cạnh đó, việc kiểm tra quy định khách sạn, nhà đủ điều kiện để đón khách Festival được thực hiện; việc khuyến khích các cơ sở sản xuất hàng lưu niệm mang logo Festival Huế đã được triển khai đối với nhiều loại hàng địa phương. Ý tưởng “đấu thầu” quảng cáo tại các điểm chính tổ chức Festival từng bước được triển khai.
Đây là một trong những điểm khác biệt căn bản giữa Festival Huế và các Festival khác được tổ chức tại Việt Nam.
- Nguồn nhân lực
Nhân lực phục vụ Festival Huế khá đa dạng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau:
- Lực lượng chuyên và bán chuyên nghiệp gồm: các tổng đạo diễn, giám đốc điều hành chương trình, các nghệ sĩ, các chuyên gia âm thanh, ánh sáng điện, trang trí, hóa trang trang phục, lực lượng công an, an ninh, phục vụ hậu cần của Việt Nam và Quốc tế.
- Lực lượng không chuyên nghiệp: gồm các nhà điều hành và diễn viên của các đoàn nghệ thuật không chuyên, cộng đồng dân cư tham gia các lễ hội.
- Lực lượng tình nguyện viên: gồm thanh niên, sinh viên, học sinh được huy động từ các tổ chức đoàn thanh niên, các trường học.
- Cộng đồng dân cư địa phương: lực lượng này vừa tham gia với nhiều vai trò, là diễn viên, cung cấp các dịch vụ, đồng thời là những đối tượng hưởng thụ các hoạt động của Festival…
Tất cả các hoạt động trên hoạt động theo sự điều hành chung thông nhất của Ban tổ chức và các tiểu ban của Festival Huế.
Để phục vụ cho Ban tổ chức có văn phòng Feestival, đội ngũ cán bộ quản lý chỉ đạo nghệ thuật và nhân viên hoạt động chuyên trách. Văn phòng Festival chịu trách nhiệm phối hợp với các sở, ban, ngành, liên quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức các kỳ Festival Huế theo kế hoạch đã được phê duyệt; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh và giúp Ban tổ chức Festival Huế tìm hiểu đối tác, đề xuất giải pháp phối hợp, liên kết, hợp tác trong nước và quốc tế về các lĩnh vực có liên quan đến công tác tổ chức và nội dung hoạt động của các Festival Huế; phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông, thông tin đại chúng, bưu chính viễn thông… thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quảng bá và đảm bảo thông tin liên lạc, các dịch vụ viễn thông trong các kỳ Festival Huế; chịu trách nhiệm làm đầu mối trong quan hệ công tác giữa ban tổ chức Festival Huế với các tổ chức trong nước và quốc tế tham gia Festival Huế. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
- Quy mô của Festival Huế
Festival Huế được tổ chức theo lịch trình định kỳ 2 năm một lần, cố định thời điểm và thời gian tổ chức.
Mặc dù mục tiêu không thay đổi nhưng chủ đề, độ dài thời gian diễn ra Festival trong 3 kỳ đầu tiên (Festival 2012, 2014, 2016) có sự thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh chung của địa phương và Quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Sau 3 lần thử nghiệm, Festival lần thứ 4 (Festival 2018) đã bắt đầu cố định về chủ đề và độ dài thời gian tổ chức. Nhìn chung số ngày tổ chức và chủ đề được ổn định sau 3 kỳ thử nghiệm nhưng về mặt thời gian tổ chức lại có sự thay đổi ở kỳ Festival Huế 2024. Ban tổ chức Festival lý giải về việc thay đổi thời gian này là do để thời gian tổ chức Festival Huế 2024 trùng với thời gian diễn ra “Năm du lịch Việt Nam tại Huế”, đồng thời đây là thời điểm thời tiết ít xảy ra mưa, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động của Festival Huế.
Từ khi Festival Huế được tổ chức lần đầu tiên từ năm 2012 cho đến nay-2026, Festival Huế đã trải qua 8 kỳ tổ chức, với mỗi kỳ Festival Huế có quy mô khác nhau theo hướng ngày càng phát triển, nâng cấp, mở rộng ra các địa điểm tổ chức được thể hiện qua số lượng chương trình nghệ thuật tăng lên, với các lễ hội quy mô và hoành tráng, các hoạt động văn hóa cộng đồng phong phú, đa dạng diễn ra liên tục trong các ngày tổ chức, không chỉ biểu diễn trong thành phố mà ngày càng được mở rộng ra các địa điểm khác ở các huyện, thị xã trên toàn tỉnh TTH. Thu hút hơn hàng triệu lượt khách tham dự, thu hút nhiều sự quan tâm của hàng triệu khách tham quan, trong đó không thể không kể đến sự quan tâm của người dân địa phương
Quy mô phát triển của 8 kỳ Festival Huế với một số chỉ tiêu quan trọng như: số lượng các đoàn nghệ thuật trong nước tham gia, số lượng các đoàn nghệ thuật nước ngoài, số lượng nghệ sĩ diễn viên tham gia, số lượng quốc gia tham dự, và số lượt khách du lịch đến với Festival Huế. Dưới đây là bảng số liệu được thể hiện như sau:
- Bảng 1.1: Thống kê một số chỉ tiêu của các kỳ Festival Huế
Tóm lại, Festival Huế là một lễ hội được tổ chức với quy mô hoành tráng, có sức hút mạnh mẽ không chỉ các nghệ sĩ diễn viên, được thể hiện qua số lượng các đoàn nghệ thuật tăng lên cùng với số các quốc gia tham dự qua từng năm và sự quan tâm của khách du lịch thể hiện ở số lượt khách du lịch tăng lên qua mỗi kỳ Festival.
Festival Huế là một hoạt động được tổ chức có quy mô, đầu tư lớn không chỉ là sự kiện của địa phương, mà còn là sự của quốc gia, thu hút sự quan tâm của các đoàn nghệ thuật nước ngoài. Là nơi để các vùng miền, quốc gia đến giới thiệu giao lưu, trao đổi văn hóa của mình là sự kiện giúp tỉnh TTH bảo tồn, giữ gìn và phát huy những di được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của Thế giới. Bên cạnh đó, giúp phát triển kinh tế địa phương, phát triển ngành mũi nhọn của tỉnh là ngành Du lịch – dịch vụ, tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời cải thiện đời sống của người dân.
Vậy, với một sự kiện quy mô được tổ chức ở địa phương có tầm ảnh hưởng không chỉ địa phương mà còn của quốc gia trên nhiều mặt trong xã hội như: kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao… thu hút rất nhiều sự quan tâm của người dân và bạn bè quốc tế, điều này chứng tỏ, Festival Huế có tác động đến mọi phương diện. Câu hỏi đặt ra ở đây là, với một sự kiện xã hội lớn như vậy, Festival Huế có tác động như thế nào đến đời sống của người dân Huế? Những đối tượng nào được hưởng lợi từ Festival Huế? Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu sẽ trình bày tác động của Festival Huế đến đời sống của người dân ở chương tiếp theo. Khóa luận: Tác động của Festival đến đời sống người dân Huế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tác động của Festival Huế đến đời sống người dân
