Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Kinh nghiệm áp dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp mỹ và bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong vòng một thập kỷ qua, cùng với những tiến bộ vượt bậc về công nghệ thông tin, thương mại điện tử không còn là một khái niệm mới mẻ. Thương mại điện tử mang lại cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dân mở rộng khả năng tìm kiếm, quảng bá, truyền thông; tiết kiệm chi phí; rút ngắn về mặt không gian và thời gian. Xu thế ứng dụng thương mại điện tử rộng rãi trong đời sống kinh tế-chính trị- xã hội đã phát triển trên phạm vi toàn cầu, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.

Tuy nhiên Việt Nam mới đang ở bước đầu của quá trình số học hoá nền kinh tế. Internet và việc ứng dụng Thương mại điện tử mới chỉ xuất hiện trong vài năm gần đây và đang trong giai đoạn sơ khai của nó. Trong khi mà cả hiểu biết và hành lang pháp lý về thương mại điện tử còn chưa hoàn thiện thì bài học kinh nghiệm từ các nước đi trước là một thuận lợi vô cùng lớn của Việt Nam.

1. Mục đích chọn đề tài

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng phát triển thương mại điện tử ở Mỹ, phân tích và đánh giá những thành tựu các doanh nghiệp Mỹ đạt được nhờ ứng dụng thương mại điện tử; so sánh với bối cảnh và tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam; khoá luận sẽ đưa ra những bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng và phát triển thương mại điện tử thành công hơn.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là kinh nghiệm áp dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Mỹ và bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, khoá luận có sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phân tích, thống kê, so sánh, sơ đồ minh hoạ.

4. Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3 phần:

  • Chương I: Tổng quan về thương mại điện tử.
  • Chương II: Thực trạng áp dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp Mỹ.
  • Chương III: Bài học kinh nghiệm phát triển thương mại điện tử cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do hạn chế của bản thân về lĩnh vực công nghệ thông tin và pháp luật cũng như những khó khăn trong việc thu thập và tổng hợp tài liệu nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót cần được điều chỉnh, bổ sung. Chính vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè để đề tài này có thể hoàn thiện và mang giá trị thực tế hơn. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Cuối cùng em xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc của mình tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế đã cung cấp cho em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, em xin được cảm ơn chân thành tới thầy giáo, Tiến sỹ Trần Việt Hùng, người đã tận tình hướng dẫn để em có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp của mình.

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I/ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1/ Khái niệm về thương mại điện tử

Tuy mới phát triển mạnh mẽ trong vòng một thập kỷ qua, nhưng thương mại điện tử đã khẳng định được vị thế và xu hướng tất yếu của nền kinh tế hiện đại. Internet và thương mại điện tử đã mở ra một thị trường không biên giới khắp toàn cầu, khái niệm thương mại điện tử (TMĐT) từ đó dần dần được hình thành và ứng dụng ngày càng phổ biến. Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi như: thương mại trực tuyến (Online Trade), thương mại điều khiển học (Cyber Trade) nhưng phổ biến nhất vẫn là thương mại điện tử (Electronic Commerce).

Nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra các khái niệm khác nhau về thương mại điện tử với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng hiểu theo 1 nghĩa tổng quát thì thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử. Thương mại điện tử vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống, song thông qua các phương tiện điện tử, hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn và hiệu quả hơn.

1.1. Theo nghĩa rộng

Theo Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) năm 2015: “Thương mại điện tử là việc sử dụng thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” (Điều 1), trong đó, theo điều 2(a) thì: “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận, lưu trữ bằng phương tiện quang học và các phương tiện tương tự, bao gồm nhưng không hạn chế ở trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax”. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Thuật ngữ “thương mại” (commerce) bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm các giao dịch sau đây: giao dịch trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring); cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; Ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

Theo Đại hội đồng WTO: “Thương mại điện tử là việc sản xuất (production), phân phối (distribution), marketing, bán (sale), hoặc chuyển giao (distribution) hàng hoá và dịch vụ bằng phương tiện điện tử”.

Phương tiện điện tử được quy định là các phương tiện truyền tin như: điện thoại, telex, fax, điện tín, truyền hình, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác.

UN đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử phù hợp:

Phản ánh các bước thương mại điện tử, theo chiều ngang: “TMĐT là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh, bao gồm marketing (M), bán hàng (S), phân phối (D) và thanh toán (P) thông qua các phương tiện điện tử”.

Phản ánh góc độ quản lý Nhà nước, theo chiều dọc thì thương mại điện tử bao gồm:

  • Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển thương mại điện tử.
  • Thông điệp.
  • Các quy tắc cơ bản.
  • Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực.
  • Các ứng dụng.

Mô hình IMBSA đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển thương mại điện tử.

Như vậy, theo cách tiếp cận theo nghĩa rộng nói trên, thương mại trong thương mại điện tử không chỉ là buôn bán hàng hoá (trade) theo cách truyền thống thông thường mà ở phạm vi rộng hơn nhiều trong đó buôn bán hàng hoá, dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.

1.2. Theo nghĩa hẹp Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua mạng truyền thông như Internet”.

Như vậy, theo nghĩa hẹp thương mại điện tử là các hoạt động gắn liền với duy nhất mạng Internet. Tuy rằng có rất nhiều loại hình phương tiện điện tử nhưng trên thực tế thì mạng Internet là được sử dụng phổ biến và quen thuộc nhất, định nghĩa theo nghĩa hẹp bắt nguồn từ thực tế đó.

1.3. Theo Luật giao dịch điện tử Việt Nam

Luật giao dịch điện tử của Việt Nam số 51/2024/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 03 năm 2025 không đưa ra khái niệm thương mại điện tử. Luật chỉ quy định khái niệm về giao dịch điện tử nhằm quản lý, điều chỉnh các hợp đồng thương mại điện tử và các hoạt động không có tính chất thương mại (như giao dịch dân sự). Theo đó, “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử” (Điều 4 khoản 6 Luật giao dịch điện tử Việt Nam năm 2024) và cũng quy định cụ thể: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.

Được xây dựng dựa trên Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử, Luật giao dịch điện tử Việt Nam cũng có cách tiếp cận theo nghĩa rộng, tuy nhiên chú trọng vào định nghĩa giao dịch điện tử thay vì thương mại điện tử. Việc định nghĩa theo cách “mở” như vậy sẽ tạo ra khả năng ứng dụng cao hơn rất nhiều trong điều kiện thương mại điện tử còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước.

2. Sự hình thành và phát triển của Thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

2.1. Lịch sử hình thành thương mại điện tử

130 năm trước với việc sử dụng điện báo để truyền tin liên quan đến tài chính như hệ thống chuyển tiền Western Union của Mỹ. Giai đoạn đầu tiên của thương mại điện tử dưới hình thức điện thoại diễn ra vào năm 1889. Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Internet. Internet bắt nguồn từ một một dự án do Bộ quốc phòng Mỹ khởi xướng vào năm 1969 với mục tiêu tạo ra mạng máy tính tin cậy kết nối giữa Bộ quốc phòng với nhà thầu nghiên cứu khoa học quân sự, một khi một liên kết bị phá hỏng thì các máy tính vẫn có thể kết nối với nhau bằng các mối liên kết khác. Dự án này do cơ quan quản lý các dự án nghiên cứu cao cấp (ARPA- Advanced Research Project Agency). Điều này dẫn tới việc nghiên cứu các công nghệ chuyển mạch gói. Kết quả là, tới năm 1977, hai giao thức chuyển mạch gói là Giao thức điều khiển truyền thông (TCP) và Giao thức Internet (IP) được phát minh và trở thành hai giao thức cơ bản của Internet. Mạng ARPANET- tiền thân của Internet đã ra đời. Năm 1973, ARPANET lần đầu tiên được kết nối ra nước ngoài, tới trường Đại học London. Đầu những năm 1980, Quỹ khoa học quốc gia Mỹ (NSF-National Science Foundation) thiết lập mạng NSFnet nhằm tạo ra một chuỗi mạng khu vực, liên kết những ngừơi sử dụng trong khu vực. Năm 2008, mạng Eunet (Châu Âu) và Aussibnet (Úc) kết nối Internet. Trong thời gian đó, các mạng kỹ thuật IP cũng xuất hiện ở nhiều nước. Đến năm 1985, mạng NSFnet kết nối hệ thống máy tính cao tốc xuyên quốc gia ở Mỹ, đánh dấu sự bùng nổ của Internet. Một loạt các hệ thống đặt hàng từ xa trên máy tính cá nhân xuất hiện mà đầu tiên phải kể đến là EDI (Electronic Data Interchange- Trao đổi dữ liệu điện tử). Các chuẩn EDI cho phép các công ty có thể trao đổi các chứng từ và tiến hành giao dịch thương mại thông qua mạng cá nhân (Private Network), truyền thông tin tài chính và thanh toán dưới dạng điện tử EFT (Electronic Funds Transfer- chuyển tiền điện tử). Sang những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi không những ở công sở mà ở cả gia đình, nhiều tổ chức tài chính đã mở rộng công nghệ và mang đến cho khách hàng ngày càng nhiều dịch vụ. Năm 2012, trình duyệt Web đầu tiên xuất hiện. Đến tháng 10 năm 2013, những quảng cáo banner đầu tiên trên Internet. Việc mua bán không gian trên trang Web để đặt quảng cáo được tiến hành từ đầu năm 2014. Năm 2014, trên toàn thế giới có 3,2 triệu máy tính và 42 triệu ngươì kết nối Internet, từ đây Internet được chính thức công nhận là mạng toàn cầu. Với tính chất quốc tế và những tiện ích của các dịch vụ Internet, các nhà quảng cáo và sau đó là các doanh nghiệp đã không bỏ lỡ cơ hội làm ăn trên Internet. Từ đó, một phương thức kinh doanh mới của thương mại toàn cầu xuất hiện và khái niệm thương mại điện tử ra đời.

Sau đó, vào năm 2015, Đạo luật mẫu về thương mại điện tử do UNCITRAL soạn thảo đã được Liên Hợp Quốc chính thức thông qua, trở thành một cơ sở pháp lý chính thức cho thương mại điện tử trên thế giới.

2.2. Các giai đoạn phát triển của thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Dù hình thức trao đổi dữ liệu điện tử- EDI đã có từ đầu những năm 80, nhưng thương mại điện tử chỉ thực sự bùng nổ cùng với sự tăng tốc của Internet, do đó giai đoạn phát triển thương mại điện tử được hiểu là thương mại điện tử trên Internet. Căn cứ vào mô hình và các loại ứng dụng điện tử đặc trưng: Trang Web giới thiệu (Brochureware), thương mại điện tử (e-commerce), kinh doanh điện tử (e-Business), doanh nghiệp điện tử (e-Enterprise). Tuy vậy tất cả các giai đoạn đều chỉ có thời gian bắt đầu mà không có thời gian kết thúc.

  • Giai đoạn “Trang Web giới thiệu” (bắt đầu khoảng giữa năm 2014)

Tuy còn hạn chế về công nghệ, nhưng các công ty đã sớm nhận ra giá trị của Internet nói chung và Web nói riêng. Cho đến cuối năm 2014, khoảng 34% trong số 500 công ty hàng đầu thế giới trong danh sách Fortune đã lập trang Web riêng. Một năm sau, con số này đã lên tới gần 80%.

Các trang Web thế hệ đầu tiên chủ yếu chỉ có dạng tĩnh và chức năng multimedia đơn giản, mọi giao dịch liên lạc vẫn qua các phương tiện truyền thống.

  • Giai đoạn “TMĐT” (bắt đầu khoảng giữa năm 2016)

Giai đoạn này bước đầu là tập trung vào các ứng dụng cho phép tiến hành giao dịch và tương tác giữa công ty với khách hàng là ngươì tiêu dùng qua Internet. Như vậy, thương mại điện tử mới chỉ dừng lại ở việc mua bán trên mạng. Các hãng lớn như e-Toys, e-Trade, Reel.cm đều sử dụng công cụ cho phép cá nhân hoá (personalization), tự phục vụ (self-service), sự trực tiếp (immediacy), và thông tin (information). Nhiều ứng dụng tại các công ty lớn như MCI worldcom hay AT&T cho phép ngươì tiêu dùng trả tiền trên mạng, hợp nhất hoá đơn, phân tích và báo cáo, xử lý thanh toán.

Giai đoạn này còn đặc trưng bởi “chứng nghiện.com” (.com mania): trong thế giới B2C, yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thành công của một công ty là khả năng xây dựng thương hiệu Internet (thương hiệu.com), khả năng tiếp thị đến khách hàng, cá biệt hoá thông tin và giao dịch với khách hàng, tạo môi trường mạng thu hút khách hàng ghé thăm nhiều lần.

  • Giai đoạn “kinh tế điện tử” (bắt đầu từ đầu năm 2018) Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Những bước đầu tiên của giai đoạn này là tập trung vào các ứng dụng cho phép tiến hành giao dịch và tương tác giữa các công ty với khách hàng, doanh nghiệp qua Internet. Ví dụ như ứng dụng thị trường ảo của Cisco system, General electric và Dell bao gồm catalogue, công cụ mua hàng, khả năng tích hợp cũng như khả năng lựa chọn thanh toán. Quản trị thu mua và nguồn lực của Master card, Chevron và General Motors bao gồm thông tin, ra lệnh, đặt lệnh mua, thanh toán và quản trị nhà cung cấp. Hay quan hệ khách hàng của Hewlett Packard, Dell, General Motors bao gồm tự phục vụ, trung tâm giải pháp, cá nhân hoá và quản lý tài khoản.

Yếu tố để “kinh tế điện tử” thành công là phải tạo được quy trình hợp lý, tăng cường khả năng cải tiến và tích hợp; bên cạnh đó phải sử dụng các ứng dụng tốc độ cao, tích hợp tốt dữ liệu.

  • Giai đoạn “Doanh nghiệp điện tử” (bắt đầu vào giữa năm 2019)

Từ việc thu mua nguyên vật liệu thô cho đến bán lẻ cho ngươì tiêu dùng và quản trị khách hàng, tất cả các hoạt động đều diễn ra bằng cách kết hợp các tài sản vật chất truyền thống với khả năng hoạt động mạng. Các doanh nghiệp liên kết phức tạp nhiều quy trình và quan hệ kinh doanh trong và ngoài doanh nghiệp (liên kết với khách hàng, nhà phân phối, nhà cung cấp, đối tác, đối thủ cạnh tranh).

Để có thể thực hiện tất cả các công đoạn trong quy trình mua bán hàng hóa từ việc thu mua nguyên vật liệu thô cho đến bán lẻ cho ngươì tiêu dùng thì yêu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp là tốc độ và sự nhanh nhạy mà chỉ có thể có được nhờ vào thành lập những mô hình kinh doanh mạng như Auto Nation, Tinkin Corp.

  • Hình 1.1: Quá trình phát triển của thương mại điện tử

3. Đặc điểm của Thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

3.1. Đặc điểm của Thương mại điện tử

  • Có sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thông tin và tiền tệ qua mạng máy tính hoặc các phương tiện thông tin điện tử khác.
  • Có khả năng cắt giảm chi phí và nâng cao hiệu quả (tốc độ) đối với các quá trình sản xuất, kinh doanh, hoạt động của hầu hết các tổ chức.
  • Có thể ứng dụng ngay vào các ngành dịch vụ (Chính phủ điện tử, đào tạo trực tuyến, du lịch, tư vấn).
  • Khi hạ tầng ITC phát triển, khả năng liên kết và chia sẻ thông tin giữa doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà phân phối và khách hàng góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.
  • Có sự phân biệt tương đối giữa thương mại điện tử và kinh doanh điện tử: thương mại điện tử (hẹp) tập trung vào mua bán và trao đổi hàng hoá, dịch vụ, thông tin qua các mạng, các phương tiện điện tử và Internet. Kinh doanh điện tử (hẹp) tập trung vào sự phối hợp các doanh nghiệp, đối tác, khách hàng và tổ chức các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp dựa trên mạng nội bộ.
  • Sự phát triển của thương mại điện tử gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của ICT. Nhờ sự phát triển của ICT mà thương mại điện tử ra đời, tuy nhiên sự phát triển của thương mại điện tử cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của ICT như phần cứng và phần mềm chuyên dùng cho các ứng dụng thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán cho thương mại điện tử.

3.2. Phân loại Thương mại điện tử

Có thể phân loại thương mại điện tử theo các hình thức sau:

  • Phân loại theo đối tượng tham gia: Chính phủ (G), doanh nghiệp (B), khách hàng cá nhân (C).
  • Phân loại theo công nghệ kết nối mạng: Công nghệ P2P (Peer-To-Peer), công nghệ Mobile (M-commcerce).
  • Phân loại theo hình thức dịch vụ: Chính phủ điện tử, giáo dục điện tử.
  • Phân loại theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng: thương mại thông tin, thương mại giao dịch, thương mại cộng tác.

Như vậy, có rất nhiều cách phân loại khác nhau tuỳ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau, mục đích phân loại khác nhau. Trong đó hình thức phân loại chủ yếu thường gặp là phân loại theo đối tượng tham gia, theo cách này thì các hình thức của thương mại điện tử là tổng hoà những mối quan hệ giữa các thành phần: Chính phủ, doanh nghiệp, khách hàng cá nhân. Như vậy, tổng hợp lại có 9 loại hình thương mại điện tử được xét đến, trong đó phổ biến nhất là B2B, B2C,C2C,G2C.

  • Bảng 1.1: Các loại hình thương mại điện tử

4. Điều kiện cần thiết để phát triển thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

TMĐT ngày càng được phổ biến trên phạm vi toàn cầu và khẳng định vai trò to lớn của nó trong sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy xây dựng và phát triển thương mại điện tử ở mỗi quốc gia là vô cùng quan trọng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và trình độ phát triển mà mỗi nước phải có sự chuẩn bị nhất định về hạ tầng công nghệ, nhân lực, pháp luật, hệ thống thanh toán điện tử cũng như nhận thức và sự tham gia tích cực của Chính phủ, doanh nghiệp và ngươì tiêu dùng.

4.1. Nhận thức của các chủ thể về thương mại điện tử

Để xây dựng và phát triển các mô hình thương mại điện tử cần có sự tham gia của 3 chủ thể, đó là: Chính phủ, doanh nghiệp, và người tiêu dùng. Vì vậy phải tích cực tác động, tuyên truyền, khuyến khích các chủ thể tham gia thương mại điện tử, đặc biệt ở các nước đang phát triển nơi mà thương mại truyền thống phát triển đáng kể thì việc đổi mới quan niệm, cách nhìn về các giao dịch qua Internet là cần thiết.

  • Sự tham gia của Chính phủ:

Chính phủ có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo cho các doanh nghiệp cũng như cho người tiêu dùng, vì vậy để thúc đẩy thương mại điện tử thì sự tham gia và hành động của Chính phủ là vô cùng quan trọng. Chính phủ có thể thúc đẩy thương mại điện tử thông qua sự phổ biến nó tới khu vực doanh nghiệp và người tiêu dùng; hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử phát triển nhờ tạo ra môi trường kinh doanh, pháp lý và hạ tầng công nghệ phù hợp. Đặc biệt đối với Việt Nam đang trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước thì sự can thiệp sâu sắc của Chính phủ là chất xúc tác an toàn cho sự phát triển của thương mại điện tử.

Hiện nay Chính phủ điện tử (e-Government) được coi như là giải pháp mang tính chiến lược cho mục tiêu cải cách hành chính quốc gia theo hướng tinh giản, tiện lợi và hiệu quả để bắt kịp xu hướng hội nhập của thế giới.

  • Sự tham gia của các doanh nghiệp:

Thành phần áp dụng thương mại điện tử nhiều nhất là các doanh nghiệp. Việc mua bán hàng hoá trên mạng mang lại nhiều tiện ích, hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình do đó sự tham gia thương mại điện tử của các doanh nghiệp là điều tất yếu. Doanh nghiệp tham gia vào thương mại điện tử trước tiên là bằng việc đưa tên tuổi của mình lên mạng Internet qua Website của doanh nghiệp nhằm giới thiệu sản phẩm, quảng bá hàng hoá và dịch vụ, nhận, xử lý các đơn hàng, lập hồ sơ khách hàng…; cao hơn nữa là thực hiện các giao dịch số hoá, mua bán điện tử, thanh toán điện tử. Để làm được điều này, doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng công nghệ và đội ngũ nhân lực.

  • Sự tham gia của người tiêu dùng: Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin, giao dịch mua bán trực tuyến qua mạng giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức; đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận với đa dạng các mặt hàng. Tuy nhiên mua bán trực tuyến tồn tại những rủi ro về tính chính xác của nguồn thông tin cần tìm kiếm và tính an toàn, bảo mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Đây là lý do người tiêu dùng vẫn e ngại với thương mại điện tử. Vì vậy, muốn người tiêu dùng tích cực tham gia vào thương mại điện tử thì vấn đề đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng cần phải được chú trọng.

4.2 Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin (trước hết là công nghệ máy tính)

Liên kết tiêu chuẩn của doanh nghiệp, quốc gia, quốc tế và các kỹ thuật ứng dụng, gồm: dịch vụ viễn thông (nhà cung cấp dịch vụ mạng), công nghiệp phần cứng (trang thiết bị như máy fax, điện thoại…), công nghiệp phần mềm (các chương trình phần mềm). Yêu cầu hàng đầu để thành công trong kinh doanh thương mại điện tử là phải có một hạ tầng công nghệ thông tin ở mức độ phát triển nhất định, bao gồm:

  • Hạ tầng về mạng.
  • Hạ tầng an toàn bảo mật.
  • Môi trường ứng dụng
  • Công cụ quản lý dữ liệu và dung liệu.
  • Công cụ phát triển ứng dụng.
  • Hệ thống điều khiển và phần cứng.
  • Cơ sở quản lý hệ thống.

Hạ tầng công nghệ cho phép thương mại điện tử có thể dễ dàng được tiếp cận hay nhanh chóng thích ứng được với những ứng dụng mới, đảm bảo khả năng xử lý khối lượng công việc ngày càng tăng. Để tăng tính quy mô và linh hoạt của thương mại điện tử thì công nghệ thông tin ngày càng phải được nâng cấp thường xuyên và chi phí cho việc nâng cấp không phải nhỏ.

4.3. Kết cấu hạ tầng nhân lực Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

TMĐT muốn đi vào các hoạt động kinh doanh thì trước hết phải nâng cao tầm nhận thức của khách hàng về thương mại điện tử. Tất cả mọi người khi truy cập Internet đều cảm giác quen thuộc và dễ dàng sử dụng thì việc ứng dụng thương mại điện tử mới có thể trở nên phổ biến và hữu ích. Đồng thời, thương mại điện tử mang lại cơ hội mở rộng khả năng tìm kiếm thông tin và thực hiện các giao dịch qua mạng mà không chỉ dừng lại trong biên giới một quốc gia, ngôn ngữ trên mạng vì thế cũng không chỉ sử dụng ngôn ngữ địa phương, mà sử dụng ngôn ngữ chung toàn cầu, cụ thể là Tiếng Anh (English). Do đó, thương mại điện tử kéo theo sự thay đổi về cả hệ thống giáo dục nguồn nhân lực cho đất nước.

Đồng thời, khi làm việc trong môi trường kinh doanh điện tử, đội ngũ nhân viên phải có năng lực chuyên môn về kinh doanh nói chung và thương mại điện tử nói riêng. Đội ngũ chuyên viên tin học thì phải nhanh chóng nắm bắt được tình hình phát triển công nghệ thông tin trên thế giới để kịp thời đưa vào ứng dụng. Ngoài ra họ cũng cần thường xuyên học các khoá nghiệp vụ mạng mà phổ biến bây giờ là các khoá học ngay trên Internet. Bên cạnh việc học hỏi, nắm bắt công nghệ, các lập trình viên cũng cần phải có trình độ để nghiên cứu viết ra các phần mềm ứng dụng ngày càng đáp ứng được với trình độ phát triển của công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

Dù KHKT có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì yếu tố con người vẫn là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự phát triển của khoa học, của sự cải tiến phương thức hoạt động kinh doanh truyền thống.

4.4. Kết cấu hạ tầng pháp lý

TMĐT mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội, nó làm thay đổi phương thức kinh doanh giao dịch truyền thống. Tuy nhiên, cùng với sự ra đời và phát triển của nó, chúng ta ngày càng nhận thấy những rủi ro và thiếu sót tiềm ẩn trong qua trình kinh doanh, giao dịch trên mạng. Và điều này đòi hỏi phải có những giải pháp không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn là hình thành cơ sở pháp lý phù hợp và đầy đủ. Cơ sở pháp lý vững chắc không chỉ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân người tiêu dùng mà trước hết là tạo điều kiện cho các cơ quan Nhà nước có cơ sở để kiểm soát các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.

Hạ tầng pháp lý cũng là yêu cầu cần thiết để xây dựng lòng tin cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ thương mại điện tử, là việc làm cần thiết để tạo ra một sân chơi chung với các quy tắc thống nhất chặt chẽ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đặc biệt trong xu hướng quốc tế hội nhập, chính sách pháp lý đầy đủ và rõ ràng sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút các doanh nghiệp và người tiêu dùng từ nhiều nước khác tham gia giao dịch thương mại điện tử. Xét trên bình diện quốc gia thì hạ tầng pháp lý điều chỉnh bao gồm các Luật điều chỉnh, các công nhận tính pháp lý của thương mại điện tử, các Luật quy định về hợp đồng điện tử, thanh toán…. Xét trên bình diện quốc tế, kinh doanh giao thương là việc tiến hành các nghiệp vụ vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia mà thương mại điện tử đã giúp xoá đi ranh giới đó cho nên cơ sở pháp lý điều chỉnh cần thiết phải là các Luật điều chỉnh đa biên. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

4.5. Hệ thống thanh toán điện tử

Giao dịch thương mại điện tử đòi hỏi phải có hệ thống thanh toán điện tử hoàn toàn trực tuyến, nghĩa là việc thanh toán được thực hiện thông qua các thông điệp điện tử (Electronic message) thay vì việc giao tay tiền mặt như cách truyền thống. Như vậy cần thiết phải có một hệ thống thanh toán điện tử (Electronic payment) bao gồm việc sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động (ATM- Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (Credit card), thẻ mua hàng tự động (Purchưasing card), thẻ thông minh (Smart card), ví tiền điện tử (Electronic purse), tiền mặt Cyber (Cyber Cash), các chứng từ điện tử như hối phiếu, giấy nhận nợ điện tử…Như vậy, yêu cầu về một hệ thống thanh toán tự động đòi hỏi rất lớn sự phối hợp của các Ngân hàng trong việc trang bị và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán điện tử. Đồng thời, đây không chỉ là công việc của một Ngân hàng riêng lẻ mà phải có sự kết hợp của cả hệ thống liên Ngân hàng trên phạm vi quốc gia và toàn cầu.

II/ LỢI ÍCH VÀ HẠN CHẾ CỦA thương mại điện tử ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

1. Lợi ích của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

1.1. Mở rộng thị trường

TMĐT làm “mờ” đi khái niệm về không gian cũng như biên giới quốc gia, mở ra khả năng giao lưu, trao đổi, mua bán trên toàn cầu. Các doanh nghiệp chỉ cần sử dụng một lượng tiền vốn tối thiểu để tăng lượng khách hàng và nhà cung cấp có chất lượng cao, cải thiện quan hệ khách hàng, loại bỏ rào cản về thời gian và không gian.

1.2. Giảm thời gian và chi phí

Về mặt chi phí, ước tính khi tham gia kinh doanh trên mạng, doanh nghiệp có thể giảm 50% chi phí so với kinh doanh truyền thống nhờ giảm chi phí ở một số hoạt động như chi tiêu cho cơ sở hạ tầng, chi phí nhân công, chi phí giao dịch, chi phí quảng cáo tiếp thị, đăng ký kinh doanh, chi phí phát sinh, xử lý, phân phối… Về chi phí nhân công, Amazone.cm- một hãng bán sách qua mạng rất được ưa chuộng chỉ có 614 nhân viên; trong khi Barnes& Noble- hãng sách nổi tiếng nhất của Mỹ (không kinh doanh điện tử) phải thuê đến 27200 nhân viên. Khi kinh doanh trên mạng, nhiều doanh nghiệp không cần phải có trụ sở, như vậy đã tiết kiệm đáng kể chi phí văn phòng. Ví dụ như: General Electricity (Mỹ) tiết kiệm 35% chi phí văn phòng, giảm 85% chi phí tài chính và vô hình. Ngoài ra, các chi phí khác qua mạng đều rẻ hơn rất nhiều so với phương thức truyền thống: Chi phí giao dịch qua mạng chỉ bằng 5% qua bưu điện chuyển phát nhanh. Chi phí thanh toán qua mạng chỉ bằng 10%- 20% chi phí thanh toán thông thường. Giảm mức tồn kho cũng như phí quản lý khác. Chi phí bảo trì, sửa chữa, vận hành nhờ vậy cũng giảm đáng kể.

Về mặt thời gian, nhờ giao dịch qua mạng, tốc độ bán hàng của một số công ty tăng lên gấp 10 lần. Công ty Micron Computer cho biết để làm việc với một khách hàng đã tìm hiểu Website của công ty, họ chỉ mất trung bình 2 phút; còn đối với những khách hàng chưa tham khảo Website của công ty thì phải mất 20 phút. Thời gian giao dịch qua mạng chỉ bằng 7% so với qua fax và 0,05% so với qua bưu điện. Giao dịch nhanh tăng giúp cả doanh nghiệp và người tiêu dùng cập nhật thông tin, từ đó làm giảm số lượng và thời gian lưu kho, doanh nghiệp có điều kiện nhanh thay đổi phương án sản phẩm cho phù hợp với sự thay đổi và nhu cầu của thị trường. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

1.3. Tiếp cận nguồn thông tin phong phú

Thông qua mạng toàn cầu Internet, doanh nghiệp có thể tiếp cận với vô số nguồn thông tin phong phú không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà vượt qua biên giới ra phạm vi toàn cầu. Người sử dụng chỉ cần ngồi bên máy vi tính, thông qua các trang Web và các ứng dụng mạng để tìm hiểu về những biến động, những thay đổi về mặt kinh tế, chính trị, xã hội ở tất cả các nước; đồng thời tìm hiểu hoạt động kinh doanh, chính sách… của bất kỳ đối tác mình quan tâm cũng như nhu cầu của các khách hàng. Trong số các khách hàng trực tuyến của tập đoàn máy tính Dell, có tới 30% chưa từng xem quảng cáo của hãng trên các phương tiện truyền thông nhưng vẫn mua hàng qua những tìm hiểu của họ qua mạng toàn cầu. Các catalogue điện tử phong phú và dễ dàng cập nhật hơn các catalogue in ấn thông thường.

1.4. Củng cố quan hệ với khách hàng và đối tác

TMĐT giúp doanh nghiệp có được sự hiện diện toàn cầu, nhờ đó khả năng tiếp cận với khách hàng là rất cao. Khách hàng có thể tìm hiểu thông tin về hàng, đặt hàng, thanh toán qua mạng nhanh chóng và thuận tiện. Đồng thời, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu thập được thông tin về đối tác, bạn hàng; việc giao dịch cũng trở nên đơn giản hơn khi thực hiện qua mạng. Giờ đây, thương mại điện tử đã khắc phục được khoảng cách vị trí địa lý: các đối tác có thể giao dịch liên tục với nhau qua mạng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp, cơ hội kinh doanh từ đó cũng mở ra nhiều hơn.

1.5. Tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh

Nhờ có thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, nhờ đó tăng thu nhập của doanh nghiệp. 80% người tiêu dùng và một nửa số doanh nghiệp nhỏ- những người mua máy tính của Dell qua website chưa hề mua của Dell trước đó. Một phần tư số người nói rằng có lẽ họ sẽ không mua nếu không có website này. Xét về lượng doanh thu mà mỗi nhân công mang lại, Amazone (hãng kinh doanh qua mạng) đạt 267000USD/người còn Barnes&Noble chỉ đạt 103000USD/người mặc dù doanh thu của Barnes&Noble hơn hẳn Amazone (Barnes&Noble là 2,8 tỷ USD; Amazone là 148 triệu USD) do như đã nói ở trên, Barnes&Noble thuê một lượng nhân công lớn hơn rất nhiều so với Amazone.

1.6. Chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

TMĐT làm thay đổi thị trường truyền thống. Các mô hình bán hàng hóa mới ra đời nhanh chóng, giản tiện thay cho mô hình bán hàng truyền thống dẫn đến tối đa hoá tiềm năng của Internet. Thay vì phải lưu kho hàng hoá, tiếp thị đến từng khách hàng; giờ đây chỉ nhờ vào Internet, doanh nghiệp đã đẩy nhanh hoạt động kinh doanh, tiếp cận với đa dạng khách hàng. Việc thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống yêu cầu doanh nghiệp phải chuyển đổi công nghệ từ giao dịch trao tay sang giao dịch điện tử, kết nối các bộ phận của một dây chuyền. Nếu như trước đây các bộ phận hoạt động riêng lẻ thì giờ cơ cấu doanh nghiệp cần thay đổi sao cho có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các bộ phận kinh doanh, giao dịch khách hàng, phân tích, phân phối hàng hoá…nhằm cung cấp các dịch vụ tốt nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất tới khách hàng.

2. Hạn chế của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp

2.1. Hạn chế mang tính kỹ thuật

  • Thiếu các hệ thống hoàn chỉnh, tiêu chuẩn quốc tế về an toàn giao dịch, chất lượng, tính xác thực, độ tin cậy, các tiêu chuẩn thông tin.
  • Thiếu sự phát triển rộng rãi của bưu chính viễn thông, hạn chế trong quá trình kết nối Internet, tốc độ đường truyền chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng.
  • Các công cụ phần mềm vẫn đang trong giai đoạn phát triển, nhất là phần mềm thương mại điện tử với các ứng dụng và dữ liệu hiện tại.
  • Một vài phần mềm thương mại điện tử không phù hợp hoặc không tương thích với một số phần cứng.
  • Các nhà cung cấp cần đến sự hỗ trợ của trang web chủ đặc thù và các cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như các mạng chủ đòi hỏi phải thêm chi phí đầu tư.
  • Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi hệ thống kho hàng tự động lớn.

2.2. Hạn chế không mang tính kỹ thuật Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

  • Tâm lý của người tiêu dùng lo ngại về an ninh riêng tư, bảo mật.
  • Thiếu lòng tin vào thương mại điện tử và người bán hàng trong thương mại điện tử, môi trường kinh doanh phi giấy tờ do không được gặp trực tiếp.
  • Nhiều vấn đề về pháp luật, chính sách, thuế vẫn chưa được làm rõ. Một số chính sách chưa mang tính hỗ trợ, tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển.
  • Thiếu các dịch vụ hỗ trợ khi kinh doanh giao dịch thương mại điện tử.
  • Chuyển đổi thói quen tiêu dùng từ thực đến ảo cần nhiều thời
  • Giá cước truy cập Internet còn cao, không thuận tiện cho nhiều khách hàng tiềm năng.
  • So sánh chi phí và lợi ích: chi phí ban đầu để triển khai mô hình kinh doanh qua Internet lớn và rủi ro cao do còn thiếu kinh nghiệm, từ đó dẫn đến khó khăn trong vấn đề định lượng giá trị của quảng cáo qua mạng, nâng cao dịch vụ khách hàng…
  • Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô (hoà vốn và có lãi).
  • Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của thương mại điện tử.
  • Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khó khăn hơn sau sự sụp đổ của hàng loạt các công ty dot.cm.

III/ CÁC MÔ HÌNH KINH DOANH thương mại điện tử PHỔ BIẾN VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN thương mại điện tử TRÊN THẾ GIỚI

1. Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử phổ biến

1.1. Mô hình B2B

TMĐT B2B (business to business hay B2B e-commerce) là loại hình thương mại điện tử trong đó việc tiến hành kinh doanh tập trung vào việc buôn bán giữa các doanh nghiệp với nhau. Hiện nay, thương mại điện tử B2B chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp có hệ thống Ngân hàng điện tử như Anh, Mỹ…Giao dịch thương mại điện tử B2B thường diễn ra dưới hình thức chợ ảo hay sàn giao dịch điện tử kết nối các doanh nghiệp, giao dịch thông qua e-mail (thư điện tử) hoặc qua EDI (Electronic data interchange), quảng cáo qua trang Web. Giao dịch thương mại điện tử thường là những hợp đồng có giá trị lớn, doanh nghiệp sử dụng hệ thống mạng máy tính để đặt hàng với nhà cung cấp của mình các đơn hàng lớn.

TMĐT B2B là loại hình giao dịch quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên Internet (95%) và còn nhiều hứa hẹn phát triển trong tương lai. Theo số liệu điều tra của nhiều tập đoàn dữ liệu lớn, trong khi tổng giá trị thương mại điện tử B2B chỉ đạt khoảng 65 tỷ USD năm 2020, tổng giá trị các giao dịch thương mại điện tử B2B năm 2020 vào khoảng 470 tỷ USD. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia thương mại điện tử, tổng giá trị này sẽ tăng lên tới 2,7 nghìn tỷ USD năm 2023 và đạt mức 5,4 nghìn tỷ USD vào năm 2025. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

  • Một điển hình cho mô hình B2B là Covisint.

Covisint.com là trang web cung cấp một sàn giao dịch B2B cho các doanh nghiệp không phân biệt loại hình và quy mô. Đây là một trang web giao diện đơn giản nhưng lại có rất nhiều tiện ích, mang lại công cụ giao tiếp giữa các doanh nghiệp với đối tác từ khâu trao đổi thông tin sản xuất đến quản lý chất lượng toàn diện giữa trong và ngoài doanh nghiệp. Ngày nay, ngày càng có nhiều các công ty lớn trên thế giới thực hiện giao dịch qua Convisint như Ford, General Motors…Covisint hiện đặt trụ sở tại 53 nước với hơn 266.000 ở 30.000 tổ chức trên 96 quốc gia và trang web Covisint được dịch ra 7 thứ tiếng.

Các thành phần chủ yếu trong hệ thống quản lý công nghiệp của Covisint bao gồm:

  • Quản lý nhận dạng (Covisint Identity Management): Covisint cung cấp cho doanh nghiệp một giải pháp thực sự an toàn trước khi ký kết hợp đồng điện tử trong môi trường mạng- một môi trường đầy rủi ro là xác định đối tác, uy tín và độ tin cậy của đối tác. Các giải pháp an ninh mà Covisint đưa ra ngày càng cải thiện giúp xác định và tìm ra các thách thức và trở lực đối với các công ty và tổ chức về tính an toàn của hợp đồng và giao dịch qua mạng.
  • Kết nối (Covisint Connect): Đây là thành phần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc gửi và nhận thư điện tử với các đối tác. Khác với những nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử khác, Covisint cho phép doanh nghiệp tự lựa chọn giao thức giao tiếp và dạng gửi/ nhận văn bản thích hợp.
  • Dịch vụ cổng giao tiếp (Convisint Communicate): là một thành phần của Covisint cung cấp cho các doanh nghiệp thành viên để trao đổi thông tin, chia sẻ các phần mềm ứng dụng với đối tác, khách hàng và nhà cung cấp.

1.2. Mô hình B2C Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

TMĐT B2C (Business To Customer) là giao dịch thương mại điện tử trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng thông qua các phương tiện điện tử. Giao dịch loại này còn được gọi là giao dịch thị trường giúp doanh nghiệp tiếp cận với người tiêu dùng để từ đó chào bán các sản phẩm của họ cho khách hàng. Đây là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng qua mạng mà không cần xây dựng các cửa hàng thực tế. Các doanh nghiệp thường cung cấp danh mục hàng hoá trên mạng và nhận đơn đặt hàng của khách hàng khi họ duyệt xem danh mục hàng hóa. Hợp đồng B2C thường không lớn nên doanh nghiệp kinh doanh B2C thường chỉ lựa chọn thị trường trong nước.

Các dịch vụ của B2C bao gồm: bán lẻ trên mạng, Ngân hàng trực tuyến, dịch vụ du lịch trực tuyến, đấu giá trực tuyến, thông tin về sức khoẻ và bất động sản. Một trong những công ty hàng đầu thế giới về kinh doanh mô hình B2C có thể kể tên là Amazon.

  • Mô hình mua hàng qua mạng tại Amazon.

Amazon là một trong những trang web bán hàng trực tuyến lớn nhất và rất thành công trên thế giới. Ban đầu Amazon ra đời chỉ với mục tiêu là một trang web bán sách qua mạng, ngày nay nó đã trở thành một siêu thị online với rất nhiều chủng loại từ quần áo, đồ điện tử, đồ gia dụng cho đến dữ liệu điện tử…Hàng triệu người ở khắp 220 quốc gia đánh giá Amazon là website bán lẻ hàng đầu, được liệt vào danh sách 57 nhãn hiệu có giá trị nhất thế giới, đứng giữa Pampers và Hilton. Quý IV năm 2019, Amazon.cm có được 67% thị phần bán lẻ trực tuyến, trở thành hãng bán lẻ âm nhạc số một chỉ trong vòng một quý kinh doanh và hãng bán lẻ phim số một trong 6 tuần kinh doanh.

Quy trình mua hàng trực tuyến tại Amazon.cm bao gồm các bước sau:

  • B1: Tìm kiếm hàng hoá.
  • B2: Thêm hàng hoá vào giỏ hàng (Shopping Cart):
  • B3: Kiểm tra lại giỏ hàng và tiến hành đặt hàng.
  • B4: Đăng nhập.
  • B5: Nhập địa chỉ giao hàng.
  • B6: Chọn phương thức giao hàng.
  • B7: Nhập mật khẩu (password) và phương thức thanh toán.
  • B8: Kiểm tra lại đơn hàng và đặt hàng.
  • B9: Kiểm tra trạng thái đơn hàng.

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, Amazon chỉ có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ người bán cho người mua và 2 bên tự giải quyết tranh chấp. Nếu khách hàng đã đặt hàng mà không nhận được hàng hoá thì có quyền yêu cầu Amazon bồi thường thông qua phần “Amazon.cm A-to-Z Guarantee”. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

1.3. Mô hình C2C

TMĐT C2C (Customer To Customer) là giao dịch mà thông qua một doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến, người tiêu dùng có thể bán hàng hoá của mình cho người tiêu dùng khác. Giao dịch này chiếm tỷ trọng nhỏ, ước tính chỉ đạt 15 tỷ USD năm 2023. Mô hình này ra đời đã mang lại giải pháp hữu ích tiết kiệm thời gian và chi phí cho những người tiêu dùng muốn rao bán hàng hoá của mình. Trước đây, để bán hàng hoá đã qua sử dụng, người tiêu dùng phải bán chúng cho những người thu mua đồ cũ, cửa hàng mua bán đồ cũ hay bán ở những thị trường chuyên biệt như “chợ trời”; người tiêu dùng muốn mua cũng phải tìm đến những địa điểm đó. Nhưng từ khi loại hình đấu giá trực tuyến ra đời, người tiêu dùng chỉ cần gửi các thông tin về chúng tới những nhà đấu giá trực tuyến; người mua cũng chỉ cần truy cập vào website đấu giá để xem và trả giá, tất cả mọi quy trình mua bán từ xem hàng, trả giá, thanh toán đều được thực hiện trực tiếp thông qua phương tiện mà trang web đó cung cấp mà không cần phải gặp trực tiếp nhau. Để làm được điều này, người tiêu dùng chỉ phải trả một khoản phí hoa hồng nhất định cho công ty cung cấp dịch vụ này qua mạng. Ngoài ra, nếu không muốn tham gia đấu giá, người tiêu dùng có thể truy cập vào các trang web bán hàng giá cố định như website Half.cm.

  • Điển hình cho mô hình C2C đấu giá qua mạng là e-Bay

Đây là trang Web đấu giá trực tuyến thuộc sở hữu của tập đoàn Echo Bay Technology. Hàng triệu những món hàng từ đồ sưu tầm, đồ trang trí nhỏ, vật dụng gia đình đến máy vi tính, đồ gỗ, thiết bị, xe cộ… được niêm yết, mua và bán mỗi ngày tại eBay.cm. Một số mặt hàng rất hiếm và rất có giá trị, trong khi các mặt hàng khác lại “đầy kho” và giá vô cùng rẻ đã thu hút đông đảo khách hàng tham gia đấu giá. EBay đã “cách mạng hoá” những sản phẩm nhỏ lẻ bằng cách đem người bán và người mua lại với nhau tại một thị trường mang tính chất toàn cầu, không ngừng diễn ra những cuộc đấu giá. Các hãng lớn như IBM cũng đăng bán những sản phẩm mới nhất của mình tại đây để tận dụng chức năng đấu giá cũng như bán tại các cửa hàng giá cố định của eBay

Quy trình mua hàng trực tuyến tại eBay gồm các bước sau:

  • B1: Đăng ký để được vào tham gia mua hoặc đấu giá.
  • B2: Tìm danh mục hàng hoá cần tham gia đấu giá:
  • B3: Tra thông tin về hàng hoá (mô tả, giá cả, phương thức thanh toán, giao hàng…) và người bán.
  • B4: Tiến hành đặt đấu giá hoặc mua hàng ngay.
  • B5: Đấu giá thành công, tiến hành thanh toán cho món hàng đã chọn.

2. Xu thế phát triển thương mại điện tử trên thế giới Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

Theo báo cáo Thương mại điện tử năm 2024 của UNCITAD, tốc độ tăng trưởng về số lượng người sử dụng Internet toàn cầu là 15,1%; thấp hơn so với 2 năm trước đó (26%). Tuy số người sử dụng Internet ngày càng tăng cao ở Châu Phi (56%), Đông Nam Á và SNG (74%) nhưng nhìn chung khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn rất lớn (chỉ 1,1% người dân Châu Phi truy cập được Internet năm 2022 so với 55,7% của dân cư Bẵc Mỹ). Hiện nay, Mỹ chiếm hơn 80% tỷ lệ thương mại điện tử toàn cầu, và tuy dung lượng này giảm dần, song Mỹ vẫn có khả năng lớn trong việc chiếm tới trên 70% tỷ lệ thương mại điện tử toàn cầu trong 10- 15 năm tới. Mặc dù một số nước Châu Á như Singapore và Hongkong (Trung Quốc) đã phát triển rất nhanh và rất hiệu quả, thương mại điện tử ở các nước khác của Châu lục này đều phát triển chậm. Khoảng cách ứng dụng thương mại điện tử giữa các nước phát triển và đang phát triển vẫn rất lớn. Các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch thương mại điện tử toàn cầu, trong đó riêng phần của Bắc Mỹ và Châu Âu đã lên tới 80%. Phương thức kinh doanh B2B đang và sẽ chiếm ưu thế nổi trội so với B2C trong các giao dịch thương mại điện tử toàn cầu. Trong phương thức B2C, loại hình bán lẻ tổng hợp (siêu thị thương mại điện tử) đã chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giao dịch B2C trên thị trường ảo. Việc kết hợp cửa hàng bán lẻ trực tuyến với các phương thức kinh doanh truyền thống hiện vẫn là phương thức được nhiều nhà kinh doanh lựa chọn.

Thương mại điện tử không chỉ giải quyết những yêu cầu thiết yếu, cấp bách thiết yếu, cấp bách trên các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hoá, điện tử hoá tiền tệ và phương án an toàn thông tin…, mà hoạt động thực tế của nó còn tạo ra những hiệu quả và lợi ích mà mô hình phát triển của thương mại truyền thống không thể sánh kịp (ví dụ, trường hợp hiệu sách Amazon, trang web đấu giá eBay). Chính vì tiềm lực hết sức to lớn của thương mại điện tử nên Chính phủ các nước đều hết sức chú trọng vấn đề này. Bản báo cáo mới nhất của hãng nghiên cứu comScore Networks cho biết “Ngân sách” chi cho mua sắm trực tuyến (không tính đặt tour du lịch), đã đạt mốc 102,1 tỷ USD trong năm ngoái, tăng tới 24% so với năm 2024. Trong đó, phần đóng góp của hai tháng 11 và 12 là “nặng ký” nhất: 24,6 tỷ USD. “Thương mại điện tử đang dần chiếm vị trí chủ đạo”, chuyên gia Jeffrey Grau của eMarketer thốt lên. “Ngày càng có nhiều người chuộng hình thức mua sắm này hơn. Số hàng họ mua và số tiền họ bỏ ra nhiều chưa từng có trong lịch sử”. Đi xa hơn, hãng đầu tư Cowen dự đoán rằng doanh thu từ Thương mại điện tử có thể đạt tới cột mốc 225 tỷ USD vào năm 2030. “Còn tại Mỹ, doanh thu cũng sẽ tăng trưởng 30% trong năm 2027, nhờ vào tác động của ba yếu tố: sự phổ cập của băng thông rộng, của các kênh bán hàng trực tuyến và sự tiện lợi ngày càng cao của thương mại điện tử”. Cowen kết luận. “Thương mại điện tử đang ở giai đoạn hoàng kim và chưa hề có dấu hiệu ngừng lại. Nó sẽ tiếp tục vươn mình với tốc độ bỏ xa các hãng bán lẻ offline. Một số hạng mục hàng hoá rất có thể sẽ bắt kịp, thậm chí qua mặt các cửa hàng bán lẻ. Thí dụ như tải phim và nhạc số chẳng hạn. Chúng ta sẽ chứng kiến sự đổi chiều từng bước của thị trường: từ những cửa hàng gạch xây chuyển sang các quầy nhạc vô hình như iTunes”. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp 

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x