Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hàng không của Tổng công ty hàng không Việt Nam đến năm 2035 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Vận tải hàng không – một trong những ngành kinh tế mũi nhọn luôn đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới. Nó không chỉ là ngành kinh tế có khả năng đem lại lợi nhuận lớn mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị, ngoại giao cũng như quốc phòng đối với bất kỳ một quốc gia nào. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi, là trung tâm của một khu vực kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng trung bình tương đối cao, hàng không Việt Nam có lợi thế để phát triển. Trong những năm qua, từ khi có chính sách đổi mới của Đảng, hàng không dân dụng Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh về mọi mặt, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, khi mà sự cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải tính toán đến các phương án kinh doanh. Các doanh nghiệp luôn phải đổi mới phát triển sản phẩm của mình cho phù hợp với những yêu cầu khắt khe của khách hàng. Đứng trước thực trạng phát triển và những xu thế của thời kỳ mới, Tổng công ty hàng không Việt Nam cần phải được đổi mới cả về tầm nhìn, chiến lược và trình độ tư duy để ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hàng không sánh bước cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Với mong muốn đóng góp một số giải pháp để phát triển dịch vụ vận tải của Tổng công ty Hàng không Việt Nam, căn cứ trên những tài liệu và số liệu thực tế về tình hình hàng không thế giới cũng như hoạt động của Tổng công ty trong một số năm qua, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hàng không của Tổng công ty hàng không Việt Nam đến năm 2035” làm khoá luận tốt nghiệp.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt thời gian: từ năm 2021 – 9/2026
- Về mặt nội dung : Trong khuôn khổ cho phép, đề tài chỉ nghiên cứu tình hình hoạt động và các giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hàng không của Tổng công ty hàng không Việt
- Đối tượng nghiên cứu: các giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hàng không của Tổng công ty hàng không Việt
3. Mục tiêu nghiên cứu.
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vận tải hàng không và vai trò của vận tải hàng không.
- Phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hàng không tại Tổng công ty hàng không Việt
- Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ vận tải hàng không cho Tổng công ty hàng không Việt
4. Phương pháp nghiên cứu. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp, tác giả đã sử dụng một số phương pháp như phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp dự báo, …
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp này còn gồm 3 chương lớn:
- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ vận tải hàng không
- Chương 2: Thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
- Chương 3: Định hướng và những giải pháp cơ bản phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam đến năm 2035.
Vì đây là một lĩnh vực rất rộng, các kỹ năng, nghiệp vụ, các quy trình công nghệ trong hàng không mang nhiều nét đặc thù so với các dịch vụ hàng hoá thông thường khác, trong khi trình độ và thời gian có hạn nên em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và những người có quan tâm đến lĩnh vực này. Em xin cảm ơn thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Hữu Khải, phòng Quản lý khoa học – Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội và các anh chị trong Cục Hàng không dân dụng – Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
1.1. KHÁI NIỆM DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG.
1.1.1. Khái niệm dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ
1.1.1.1. Dịch vụ
- Định nghĩa về dịch vụ
Trong thế giới hiện đại ngày nay, khái niệm dịch vụ được được xã hội nói đến rất nhiều nhưng để hiểu rõ dịch vụ là gì và bản chất của dịch vụ thì không phải ai cũng hiểu rõ được. Trên thực tế hiện nay đang có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ và việc đi đến một định nghĩa thống nhất về dịch vụ đang gặp nhiều khó khăn.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là “những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”. Ví dụ như phục vụ giải trí, y tế, giáo dục…; phục vụ sản xuất kinh doanh có dịch vụ vận tải, dịch vụ thông tin, dịch vụ tư vấn… Như vậy, dịch vụ ở đây được hiểu hiểu là những hoạt động phục vụ.
Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là ngành kinh tế thứ ba, tức là các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp, ví dụ như hàng không, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng…Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ khách hàng trước, trong và sau khi bán hàng. Chẳng hạn như dịch vụ bảo hành sản phẩm của hãng Toyota là dịch vụ đi kèm với việc bán sản phẩm xe ô tô, thực hiện sau khi bán hàng nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động bán hàng.
Hiện tại, một số tổ chức quốc tế như IMF, WTO… đã hướng đến một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Họ tiếp cận khái niệm này bằng cách xác định phạm vi những lĩnh vực được coi là dịch vụ và liệt kê danh mục phân loại các ngành dịch vụ. Như vậy, mặc dù khái niệm về dịch vụ chưa được thống nhất một cách rộng rãi nhưng hướng đi này là hoàn toàn hợp lý trong hoàn cảnh hiện nay. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Ở đây, trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn tiếp cận khái niệm dịch vụ trong mối quan hệ phân biệt với khái niệm hàng hoá, và dịch vụ có thể được định nghĩa như sau: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về khái niệm dịch vụ thông qua nghiên cứu các thuộc tính của dịch vụ.
- Các thuộc tính của dịch vụ
Thứ nhất là tính không hiện hữu: Dịch vụ có tính không hiện hữu hay còn gọi là tính vô hình, tính phi vật chất. Sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật thể nên không thể nhìn thấy, cầm, nắm… do vậy người ta không thể biết được chất lượng của dịch vụ trước khi tiêu dùng nó. Để tìm đến những dịch vụ có chất lượng thoả mãn nhu cầu của mình, người tiêu dùng chỉ có thể tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng cung ứng đó, như thương hiệu, danh tiếng người cung ứng, biểu tượng, giá cả hay qua sự mô tả về dịch vụ đó của các khách hàng đã tiêu dùng dịch vụ hoặc qua thông tin quảng cáo.
Thứ hai là tính không mất đi: kỹ năng cung ứng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng. Sau khi thực hiện một ca phẫu thuật thành công, bác sỹ không mất đi khả năng phẫu thuật. Vì vậy sự thành công của bác sỹ trong phẫu thuật vẫn tồn tại và hướng tới sự hoàn thiện hơn trong việc lặp đi lặp lại hoạt động của mình.
Thứ ba là tính không thể tách rời và không lưu giữ được: dịch vụ có tính đặc thù ở chỗ việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ song trùng với việc cung ứng dịch vụ. Một dịch vụ được tiêu dùng khi nó đang tạo ra và khi ngừng quá trình cung ứng có nghĩa là việc tiêu dùng dịch vụ ấy cũng ngừng lại. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Do tính không thể tách rời đó, dịch vụ không thể lưu giữ được, tức là sản phẩm dịch vụ không thể sản xuất sẵn rồi lưu vào kho chờ tiêu thụ. Dịch vụ không thể tách rời nguồn gốc, trong khi hàng hoá vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự vắng mặt hay có mặt nguồn gốc của nó. Tuy nhiên đặc tính này chỉ mang tính tương đối do một số sản phẩm dịch vụ có thể mang hình thái vật chất như đối với dịch vụ thiết kế thì các bản vẽ là hữu hình và có thể lưu trữ được.
Thứ tư là tính không ổn định và khó xác định chất lượng: chất lượng dịch vụ không đồng nhất, nó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ như người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng. Ví dụ, chất lượng giáo dục của một trường đại học có thể khác nhau khi nó được giảng dạy bởi những giáo viên có trình độ khác nhau. Ngay cả khi cùng một giáo viên giảng dạy, bài giảng cũng có thể thành công với lớp học này nhưng lại không thành công với lớp học khác do mức độ thành công của nó không chỉ phụ thuộc vào trình độ của giáo viên mà còn phụ thuộc vào các phương tiện kỹ thuật trợ giúp và tâm lý của họ ở những thời điểm khác nhau…
1.1.1.2. Các phương thức cung cấp dịch vụ
Trong điều 1, khoản 2 của Hiệp định GATS liệt kê 4 phương thức cung cấp dịch vụ như là định nghĩa về thương mại dịch vụ.
- Bốn phương thức cung cấp dịch vụ đó là:
Cung cấp qua biên giới (Cross border): Dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên này vào trong lãnh thổ của một nước thành viên khác. Trong phương thức này, chỉ có dịch vụ được chuyển qua biên giới còn người cung cấp dịch vụ thì không dịch chuyển. Ví dụ như việc cung cấp thông tin và tư vấn qua fax hoặc thư điện tử hoặc việc vận chuyển hàng hoá. Người cung cấp dịch vụ không xuất hiện trên lãnh thổ của nước thành viên tiêu dùng dịch vụ đó.
Tiêu thụ ở nước ngoài (Consumption abroad): Hình thức này liên quan tới các dịch vụ được tiêu thụ bởi công dân của một nước thành viên trên lãnh thổ của một nước thành viên khác (nơi mà dịch vụ được cung cấp). Nói cách khác, dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng ở ngoài lãnh thổ mà người tiêu dùng đó cư trú thường xuyên. Điển hình cho hình thức này là dịch vụ du lịch, hoặc dịch vụ sửa chữa tài sản của người tiêu dùng như sửa chữa tàu biển ở nước ngoài.
Hiện diện thương mại (Commercial presence): Trong hình thức này dịch vụ được cung cấp bởi người cung cấp dịch vụ của một thành viên, qua sự “ hiện diện thương mại” trong lãnh thổ của bất cứ thành viên nước nào khác. Để cung cấp dịch vụ theo hình thức này người cung cấp dịch vụ phải thành lập một công ty, một chi nhánh, một văn phòng đại diện, hay là một liên doanh…v.v. tại nước tiêu thụ dịch vụ để cung cấp dịch vụ.
Hiện diện của thể nhân (Presence of natural person): Hình thức này chỉ áp dụng với nhà cung cấp dịch vụ là các thể nhân, trong đó các thể nhân này sẽ hiện diện trực tiếp ở nước tiêu thụ để cung cấp dịch vụ. Đây là trường hợp cung cấp dịch vụ của những người tự kinh doanh hay những người làm việc cho các nhà cung cấp dịch vụ…
Đối với hai hình thức đầu, người cung cấp dịch vụ ở ngoài nước thành viên, còn hai hình thức sau, người cung cấp dịch vụ làm việc ở nước thành viên mà dịch vụ được cung cấp.
1.1.2. Khái niệm dịch vụ vận tải Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Ngành giao thông vận tải là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nó được ví như hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể sống của con người. Chẳng những vậy, khi còn sống Hồ chủ tịch đã từng nói rằng: “ Giao thông vận tải rất quan trọng, quan trọng đối với chiến đấu, đối với sản xuất, đối với đời sống nhân dân. Nó như mạch máu của con người. Muốn chiến đấu tốt, muốn sản xuất tốt, muốn đời sống nhân dân bình thường, thì giao thông vận tải phải làm tốt”. Vậy vận tải là gì?
Theo nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kỹ thuật của bất kỳ sự di chuyển vị trí nào của vật phẩm và con người. Còn với ý nghĩa kinh tế (nghĩa hẹp), vận tải chỉ bao gồm những sự chỉ chuyển của vật phẩm và con người khi thoả mãn đồng thời hai tính chất: là một hoạt động sản xuất và là một hoạt động kinh tế độc lập. Vậy tóm lại ta có thể thấy rằng, vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển.
1.1.3. Khái niệm dịch vụ vận tải hàng không
Dịch vụ vận tải hàng không là hình thức dịch vụ chuyên chở hàng hoá và hành khách trong không gian bằng máy bay nhằm đạt mục đích nhất định.
So với các phương thức vận tải khác, vận tải hàng không là một ngành vận tải còn rất non trẻ. Nếu vận tải đường biển đã hình thành và phát triển từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên thì vận tải hàng không mới chỉ ra đời và phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XX. Mặc dù vậy sự ra đời của vận tải hàng không đã đánh dấu một bước tiến lớn của con người. Nó có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong giao lưu kinh tế giữa các nước, các dân tộc, là phương tiện chính trong du lịch quốc tế. Bên cạnh đấy, vận tải hàng không là phương tiện chuyên chở có tốc độ cao nhất vì vậy nó thường dùng để vận chuyển hàng hoá khẩn cấp, cần giao ngay; là mắt xích quan trọng trong quy trình vận tải đa phương thức. Với những lợi ích to lớn như vậy, vận tải hàng không luôn chiếm vị trí quan trọng bậc nhất trong ngành giao thông vận tải.
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
1.2.1. Đặc điểm của dịch vụ vận tải hàng không.
1.2.1.1. Các đặc điểm và đối tượng chuyên chở của dịch vụ vận tải hàng không.
Vận tải hàng không là một loại hình dịch vụ vận tải. Công việc kinh doanh này đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn, chi phí lớn. Tất cả các hoạt động và công tác phục vụ liên quan đến một chuyến bay phải được chuẩn bị một cách chu đáo thì hoạt động hàng không mới có thể đạt hiệu quả cao. Hiểu một cách đơn giản nhất, sản phẩm của ngành hàng không chính là dịch vụ chuyên chở hành khách và hàng hoá. Để thực hiện một chuyến bay có rất nhiều các công việc liên quan khác như lên lịch cho các chuyến bay, sắp xếp chỗ cho hành khách trên một chuyến bay, phục vụ suất ăn và chương trình giải trí cho khách, cung cấp vé, làm các thủ tục tại sân bay, tiếp nhận và giao trả hành lý cho khách cùng nhiều dịch vụ khác đi kèm. Như vậy, có thể thấy rằng: kinh doanh vận tải hàng không là một chuỗi các công việc được thực hiện một cách logic, liên kết và ăn ý với nhau. Sự thành công của doanh nghiệp khi cung ứng dịch vụ vận tải hàng không chỉ đạt được khi mọi khâu, mọi hoạt động trong cả chuỗi những hoạt động đó được thực hiện một cách hoàn hảo. Dịch vụ vận tải hàng không còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ và nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Ở mỗi khu vực thị trường khác nhau, nhu cầu của khách hàng về dịch vụ hàng không cũng khác nhau.
- Kinh doanh vận tải hàng không mang đầy đủ tính chất đặc trưng của bất kỳ một loại dịch vụ nào:
Đặc tính đầu tiên và cũng là đặc tính dễ dàng nhận thấy nhất của loại hình dịch vụ này là tính vô hình. Đây là loại sản phẩm mà người tiêu dùng chúng không thể nhận thấy cũng như không thể cầm nắm hay cảm nhận được trước khi tiêu dùng chúng. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người tiêu dùng sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng của dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Vì vậy, nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ là vận dụng những điều kiện vật chất cụ thể để biến cái vô hình thành cái hữu hình cho sự nhận biết của người tiêu dùng được rõ ràng và cụ thể hơn. Đó là các bến bãi, sân bay, thái độ cư xử của nhân viên ngành hàng không đối với khách, là các hoạt động dịch vụ trên máy bay như cung ứng suất ăn và các chương trình giải trí, sự đúng giò của các chuyến bay… Chính vì đặc tính vô hình này mà việc vật chất hoá nó càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết.
Dịch vụ vận tải hàng không mang đặc tính không tách rời. Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Hãng hàng không cung cấp cho khách hàng dịch vụ hàng không bao gồm chỗ ngồi trên máy bay và nhiều dịch vụ khác đi kèm khác. Nếu tất cả mọi sự cung ứng đó được khách hàng chấp thuận và tiêu dùng nó thì sự cung ứng dịch vụ hàng không mới được coi là hiệu quả. Khách hàng và người cung ứng dịch vụ hàng không cùng tham gia vào quá trình thực hiện dịch vụ. Sự tác động qua lại của cả hai bên đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của dịch vụ. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Dịch vụ vận chuyển hàng không cũng mang tính không đồng nhất. Đó là do đặc trưng cá biệt hoá cung ứng và tiêu dùng dịch vụ. Sự cung ứng dịch vụ cho mỗi chuyến bay được thực hiện bởi các nhân viên khác nhau. Hơn nữa việc tiêu dùng và cảm nhận dịch vụ của mỗi hành khách là khác nhau, tuỳ thuộc vào sự đánh giá của từng người. Vì thế rất khó xác định mức độ chất lượng chính xác của loại hình sản phẩm dịch vụ này.
Một đặc điểm khác nữa của sản phẩm dịch vụ vận chuyển hàng không là tính không lưu giữ được ( hay tính mau hỏng). Một chuyến bay được thực hiện nếu số ghế cung ứng vượt quá số nhu cầu được hành khách chấp nhận thì số ghế thừa này coi như bị bỏ. Mức cung ứng dư thừa này không thể cất trữ được cho những chuyến bay sau.
Đối tượng chuyên chở của vận tải hàng không gồm 3 nhóm khách hàng chính, đó là:
- Thư, bưu kiện : gồm thư từ, bưu kiện, bưu phẩm dùng để biếu tặng, vật kỷ niệm… Những mặt hàng này thường đòi hỏi phải vận chuyển nhanh và an toàn cao.
- Hàng chuyển phát nhanh : gồm các loại chứng từ, sách báo, tạp chí và đặc biệt là hàng cứu trợ khẩn cấp.
Hàng hoá thông thường: là những hàng hoá thích hợp vận chuyển bằng máy bay. Trong tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng máy bay thì 80% là hàng hoá thông thường, 16% là hàng hoá chuyển phát nhanh và 4% là bưu phẩm, bưu kiện. Hàng hoá thông thường được vận chuyển bằng máy bay gồm các loại sau:
- Hàng hoá có giá trị cao như vàng, bạch kim, đá quý, tiền, séc du lịch, thẻ tín dụng…
- Hàng hoá dễ hư hỏng do thời gian: gồm những loại hoa quả tươi, thực phẩm đông lạnh…
- Hàng hoá nhạy cảm với thị trường: gồm những loại hàng mốt, hàng thời trang…
- Động vật sống: gồm những động vật nuôi trong nhà, vườn thú… Động vật sống khi vận chuyển đòi hỏi phải kiểm dịch, chăm sóc đặc biệt và phải vận chuyển nhanh để đảm bảo chất lượng.
1.2.1.2. Ưu điểm và hạn chế của dịch vụ vận tải hàng không.
- Ưu điểm: Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Tuyến đường trong vận tải hàng không là không trung và hầu như là đường thẳng, không phụ thuộc vào địa hình mặt đất, mặt nước, không phải đầu tư xây dựng. Tuy nhiên việc hình thành các đường bay cũng phụ thuộc ít nhiều vào điều kiện địa lý, khí tượng của từng vùng. Thông thường đường hàng không bao giờ cũng ngắn hơn đường sắt và đường bộ khoảng 20% và đường biển 30%.
Tốc độ vận tải cao, thời gian vận tải ngắn. Có thể nói vận tải hàng không có tốc độ cao nhất rút ngắn thời gian vận tải. Nếu như trên một quãng đường 500km thì với loại máy bay bình thường chỉ mất khoảng 1giờ thì tầu hoả mất hơn 8 giờ, ô tô là 10 giờ, và đường biển là 27 giờ.
Vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao, do tốc độ cao và chủ yếu là chuyên chở con người và hàng hoá có giá trị cao vì vậy cần có một sự an toàn tuyệt đối trong quá trình vận tải bởi tính chất hủy diệt nghiêm trọng một khi tai nạn xảy ra cho nên vận tải hàng không không cho phép một sự sai sót nào kể cả nhỏ nhất. Vận tải hàng không luôn cải tiến và ứng dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới.
Do đặc tính trên mà vận tải hàng không được coi là an toàn nhất, tỉ lệ tai nạn, thiệt hại trong vận tải bằng đường hàng không thấp hơn rất nhiều so với các hình thức vận tải khác.
Vận tải hàng không cung cấp các dịch vụ có tiêu chuẩn cao hơn hẳn các phương thức vận tải khác, được đơn giản hóa về thủ tục và chứng từ do máy bay bay thẳng ít qua các trạm kiểm tra, kiểm soát.
- Hạn chế:
Cước phí vận tải hàng không rất cao do chi phí trang thiết bị, chi phí máy bay, chi phí các dịch vụ phục vụ, nếu so sánh cước vận tải hàng không cho 1kg hàng trên cùng một tuyến đường từ Hàn Quốc đi Marseille của Pháp thì cước máy bay là 6 USD trong khi đó tàu biển chỉ khoảng 1 USD. Giá cước cao nên vận tải hàng không bị hạn chế đối với việc vận chuyển mặt hàng có giá trị thấp, khối lượng lớn do chi phí vận chuyển chiếm một tỉ lệ quá lớn trong giá bán của hàng hoá, như vậy sức cạnh tranh của hàng hoá đó sẽ bị suy giảm so với các mặt hàng cùng chủng loại, hay mặt hàng thay thế.
Vận tải hàng không cũng bị hạn chế trong việc chuyên chở hàng hoá khối lượng lớn, hàng cồng kềnh do máy bay có trọng tải và dung tích nhỏ, loại máy bay lớn nhất hiện nay chỉ có khả năng chuyên chở tối đa 110 tấn hàng, nếu kết hợp chở khách với chở hàng thì chỉ chở khoảng 15-20 tấn. Trong khi đường biển có những con tàu có thể chuyên chở tới hàng chục vạn tấn.
Vận tải hàng không đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật cho máy bay, sân bay, trang thiết bị, nhà ga, hệ thống dịch vụ… Do vậy các nước đang phát triển, các nước nghèo gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển vận tải hàng không do thiếu vốn, thiếu thiết bị công nghệ hiện đại. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải hàng không.
- Máy bay:
Máy bay là cơ sở vật chất chủ yếu trong vận tải hàng không.
Do có tính đồng nhất và quốc tế hóa cao của sản phẩm hàng không nên không có sự khác nhau đáng kể trong việc vận chuyển hành khách trên các máy bay khác nhau. Một hành khách có thể bắt đầu chuyến đi của mình tại một sân bay nhỏ bằng một chiếc máy bay nhỏ rồi chuyển sang một chiếc Jumbo B747-400 tại một sân bay lớn và cuối cùng kết thúc chuyến đi trong một chiếc máy bay tầm ngắn như một chiếc Fokler 50.
Có nhiều loại máy bay khác nhau tuỳ thuộc vào tính năng kỹ thuật, mức độ sử dụng, nước sản xuất. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản giữa các máy bay là kích cỡ của nó, điều này sẽ quyết định đến số lượng hành khách (hoặc hàng hóa) có thể chuyên chở được, tốc độ và quãng đường tối đa mà nó có thể đi thẳng.
- Sân bay:
Tính đến cuối năm 2025, có hơn 80 sân bay của 46 hãng trên thế giới được xếp hạng lớn nhất trên thế giới. Tuy đứng đầu vẫn là các công ty của Mỹ và Châu Âu nhưng về tốc độ tăng lượng khách và hàng hoá thi Châu Á vẫn đứng đầu, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, hàng chục tỷ USD đang được chi cho xây dựng và hiện đại hoá các sân bay trong khu vực để đủ khả năng đáp ứng được lượng hành khách và hàng hoá đang tăng lên. Theo đánh giá của ATAG thì cần có 200 tỷ USD cho các chương trình xây dựng và hiện đại hoá của khu vực này.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ vận tải hàng không. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
1.2.2.1. Cầu:
Dịch vụ vận tải hàng không chính là một phần của sản phẩm lớn trong đó sản phẩm lớn bao gồm cả giải trí, thương mại (mua bán tại các cửa hàng miễn thuế ở sân bay) và việc di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác. Nhu cầu đi lại bằng đường hàng không phụ thuộc vào một số yếu tố như:
- Thu nhập cá nhân.
- Mức độ thông thương giữa các quốc
- Mức độ khẩn cấp của công việc của hành khách (do ưu điểm của vận tải hàng không là thời gian vận chuyển thuận tiện và nhanh chóng).
- Sự phân bố dân cư và những biến đổi có thể xảy ra (chiến tranh, thiên ..).
- Mức độ tăng trưởng kinh tế.
Xét theo những đặc trưng của thu nhập cao hay thấp mà việc tăng hay giảm giá có thể ảnh hưởng khác nhau đến nhu cầu:
- Đối với những người có thu nhập cao: Việc giảm giá không có tác dụng thúc đẩy nhu cầu, việc tăng giá cũng không có hiệu quả cao.
- Đối với những người có thu nhập thấp: Việc giảm giá sẽ chỉ thúc đẩy được nhu cầu lúc đầu. (Do trong kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không, khi giá trở nên quá thấp thì cũng không có ý nghĩa thúc đẩy nhu cầu do chi phí đi lại chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ chi phí cho một chuyến đi).
Ngược lại, nếu tăng giá thì ảnh hưởng của nó đến doanh thu và lợi nhuận sẽ mang tính chất tiêu cực. Tăng giá sẽ dẫn đến giảm doanh thu, do đó làm giảm lợi nhuận. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Có thể nói chiến lược thay đổi giá cả không phải lúc nào cũng tỏ ra hiệu quả trong kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không. Người ta phải sử dụng các chiến lược khác như: thay đổi chính sách phân phối, xúc tiến bán hàng…
Nhu cầu đi lại bằng đường hàng không còn phụ thuộc rất nhiều vào thời gian, thời tiết và các sự kiện trong năm. Nhu cầu sẽ biến đổi khác nhau nếu chuyến bay được xếp vào các thời gian bay trong ngày, trong tuần (ví dụ việc sắp xếp thời gian bay trong ngày có thuận tiện cho nối chuyến hay không, sắp xếp chuyến bay tập trung vào sáng hay chiều, đầu tuần hay cuối tuần…). Nhu cầu đi lại của hành khách đôi khi còn phụ thuộc theo mùa. Có những tuyến đường bay chỉ khai thác mạnh theo mùa để phục vụ nhu cầu du lịch vào Việt Nam của khách nước ngoài hay nhu cầu của chính người Việt Nam. Nhu cầu sẽ biến động tăng vọt vào mùa du lịch hay có khi có các sự kiện đặc biệt (hội nghị, Festival) hoặc khi thời tiết không thuận tiện cho các loại hình vận tải khác (lụt lội, hỏng đường…)
Có thể nói, điều kiện tiên quyết cho việc mở rộng, phát triển thị trường dịch vụ vận tải hàng không là nhu cầu thị trường. Nhu cầu thị trường đóng vai trò là điều kiện cần cho việc mở rộng. Xác định được nhu cầu của thị trường và năng lực của bản thân mình là cơ sở khá vững chắc để thực hiện ý đồ mở rộng thị trường.
1.2.2.2. Cung
Trong kinh doanh vận tải hàng không, cung phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: năng lực của công ty về vốn, đội máy bay, nhân lực, thời gian được phép cất hạ cánh (đặc biệt ở các sân bay nước ngoài và các sân bay nhỏ), thời tiết, chính sách của Chính phủ… Cung ở đây đồng nghĩa với việc thực hiện hoàn hảo và an toàn các chuyến bay. Để thực hiện một chuyến bay có rất nhiều các công việc liên quan như sắp xếp lịch bay, sắp xếp chỗ cho khách trên máy bay, cung cấp suất ăn trên máy bay, cung cấp dịch vụ giải trí…Trong dịch vụ vận tải hàng không, việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Khách hàng và người cung ứng dịch vụ cùng tham gia vào quá trình thực hiện dịch vụ. Do vậy sự tác động qua lại của cả hai bên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của dịch vụ đó.
Nếu như nhu cầu thị trường đóng vai trò là điều kiện cần cho việc mở rộng thì năng lực kinh doanh của công ty về mặt tài chính, nhân lực, công nghệ của công ty chính là điều kiện đủ để doanh nghiệp thực hiện được ý đồ của mình. Nguồn vốn được coi là quan trọng nhất trong tất cả các điều kiện phải có của doanh nghiệp. Nó quyết định cơ bản và có ảnh hưởng lớn đến các năng lực khác như công nghệ, kỹ thuật hay nhân sự. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Để có thể mở rộng thị trường kinh doanh của mình, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không cần phải có đủ những yếu tố nội tại cần thiết, đáp ứng được những nhu cầu tiềm tàng của thị trường chưa được khai thác hết. Bên cạnh đó là các nhân tố thúc đẩy mang tính thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp như: sự ủng hộ của Chính phủ, sự hỗ trợ hợp tác của các doanh nghiệp cùng liên kết làm ăn. Một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp trong thời điểm này là xu hướng hoà hợp về kinh tế – chính trị của các quốc gia trên Thế giới.
Đối với một doanh nghiệp vận tải hàng không, việc mở rộng thị trường thực sự nên bắt đầu khi cơ sở cho thị trường cũ khá vững chắc về mọi mặt. Đó là điều kiện về sân bay, máy bay, các trang thiết bị phục vụ tại sân bay và trên máy bay. Ngoài ra, các công tác phục vụ cho chuyến bay như phân phối vé, làm thủ tục, phục vụ hành khách trên máy bay cùng các dịch vụ kèm theo khác đã được thực hiện khá tốt cho các chuyến bay hiện tại. Việc mở rộng thị trường hàng không sẽ là sự gia tăng về cường độ các công tác phục vụ và các loại dịch vụ đồng thời là sự đầu tư thêm về cơ sở vật chất của doanh nghiệp cho việc phục vụ hành khách.
1.2.2.3. Môi trường kinh doanh
- Môi trường chính trị và môi trường pháp lý.
Bất kì một doanh nghiệp, một tập đoàn kinh tế nào khi tham gia vào thị trường hàng không thì điều đầu tiên họ quan tâm tới là môi trường chính trị, môi trường pháp lý và định hướng xã hội của nước đó như thế nào, chính sách mở cửa và mức độ quan tâm của chính phủ đến ngành nghề đó ra sao? Bởi vì chính những điều đấy sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng kinh doanh hay cũng chính là lợi nhuận của tập đoàn hàng không đó. Chính vì vậy mà môi trường chính trị, môi trường pháp lý luôn được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu.
- Môi trường tự nhiên, văn hoá – xã hội. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Sau khi phân tích môi trường chính trị, môi trường pháp lý các hãng hàng không cần căn cứ vào định hướng, chiến lược kinh doanh và phát triển của mình để nghiên cứu và xác định rõ thị trường mục tiêu. Trong đó các yếu tố về môi trường tự nhiên, văn hoá – xã hội là vô cùng quan trọng bởi một khi hiểu rõ về vị trí địa lý, khí hậu và điều kiện tự nhiên cũng như phong tục, tập quán của người khách hàng thì các hãng hàng không sẽ tìm ra và đáp ứng một cách tốt nhất những dịch vụ vận tải cho khách hàng. Vì môi trường tự nhiên, văn hoá- xã hội là một mảng vô cùng lớn vì vậy cần phải nghiên cứu rất kĩ càng, tỉ mỉ và đồng thời phối hợp với các ban ngành du lịch địa phương đưa ra những giải pháp phù hợp cho để thu hút lượng khách hàng du lịch tới thị trường của mình.
- Môi trường cạnh tranh
Trong kinh doanh nói chung và kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không nói riêng, các doanh nghiệp (cụ thể là các hãng hàng không) luôn phải đối đầu với sự cạnh tranh vô cùng gay gắt với các đối thủ cạnh tranh trong ngành và đối thủ cạnh tranh ngoài ngành.
Các hãng hàng không thường xuyên phải đương đầu với một thực tế là trong quan điểm của hành khách thì sự khác biệt giữa ghế ngồi của hãng này với hãng khác cũng như loại máy bay này với loại máy bay khác là rất nhỏ nếu các hãng này có thời gian bay như nhau. Chính bản chất đồng nhất của các sản phẩm hàng không làm gia tăng gấp đôi sự cạnh tranh. Nó thúc đẩy các hãng Hàng không khác nỗ lực hết mình làm sao cho sản phẩm của mình khác biệt với các sản phẩm của hãng cạnh tranh. Để làm được điều này họ đưa các máy bay thuộc thế hệ mới vào khai thác, tần suất bay cao hơn, chi phí nhiều hơn cho các suất ăn trên máy bay và tăng cường quảng cáo cũng như lập kế hoạch bay ổn định. Ngoài ra còn vấn đề cạnh tranh về giá cả giữa các hãng hàng không do đặc tính dễ xâm nhập của sản phẩm hàng không vì đặc tính của vận tải hàng không là dùng phương tiện máy bay bay trên không. Cùng với sự phát triển của ngành hàng không dân dụng các ngành vận tải khác như đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đều phát triển và giữa các ngành này cạnh tranh càng trở nên vô cùng gay gắt. Để tìm được một chỗ đứng trên thị trường quả thật không phải là điều đơn giản với ngành hàng không.
Xét về giá, so với ngành hàng không, giá dịch vụ vận chuyển của các ngành khác thấp hơn, do đó phù hợp hơn với thu nhập của đa số người dân. Xét về độ linh hoạt, vận tải hàng không kém linh hoạt hơn vì đây là quá trình vận tải hàng không trọn vẹn. (Do phụ thuộc vào các điểm đỗ của các sân bay nên phải sử dụng sự trợ giúp của các phương tiện giao thông khác như ô tô, xe máy…)
Tuy nhiên, ngành hàng không lại có độ an toàn tương đối cao và có ưu thế hơn hẳn các ngành vận tải khác về mặt thời gian, tốc độ. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Trong những năm gần đây, đường bộ Bắc Nam và các trục đường quốc lộ khác đã được ưu tiên nâng cấp. Việc xây dựng các trục đường bộ liên á sang Campuchia, Lào đã và đang được thực hiện. Đường sắt đã có những cải tiến đáng kể như giảm thời gian tàu chạy, đa dạng hoá giá, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, giá cước vận chuyển thấp và dự định sẽ phát triển ngành để thông tuyến với các nước ASEAN, Trung Quốc. Việc xây dựng các cảng nước sâu và phát triển giao thông hàng hải có ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường vận tải hàng hoá trên trục Bắc Nam cũng như trên thị trường quốc tế. Mặc dù vận chuyển bằng đường hàng không nhanh chóng, thuận tiện, an toàn nhưng khối lượng vận chuyển có hạn và cước phí vận chuyển trong khi đố vận chuyển hàng hoá bằng đường biển rất thích hợp cho vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, giá cước rẻ và trên thực tế vận tải hàng hoá bằng đường biển đã chiếm một tỷ trọng vận chuyển hàng hoá lớn nhất.
Rõ ràng, môi trường cạnh tranh đang đặt ra cho ngành hàng không những thử thách hết sức nặng nề và có ảnh hưởng quyết định đến việc hoạch định chiến lược phát triển của các ngành hàng không.
1.3. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.
1.3.1. Thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác, góp phần thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, dịch vụ vận tải hàng không đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Về khía cạnh xã hội, nó có vai trò phục vụ con người, vì con người, vì sự tốt đẹp của xã hội. Về mặt kinh tế, nó là ngành dịch vụ mũi nhọn, là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, hiệu quả góp phần thực hiện quá trình CNH, HĐH đất nước.
Khi dịch vụ vận tải hàng không của Việt Nam phải cạnh tranh với dịch vụ hàng không của các hãng nổi tiếng trên thị trường thế giới, thậm chí cạnh tranh ngay trên thị trường Việt Nam thì điều tất yếu các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam sẽ phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để có thể tồn tại và đứng vững. Điều đó thúc đẩy sự phát triển không chỉ của các ngành dịch vụ tham gia trực tiếp vào vận tải hàng không thế giới mà còn cả các ngành dịch vụ cung cấp gián tiếp trong nước. Ví dụ như khi ngành dịch vụ hàng không thế giới phát triển thì nó sẽ dẫn đến sự cạnh tranh ngay chính tại Việt Nam, muốn tồn tại được thì hàng không Việt Nam phải cải tiến dịch vụ, đáp ứng kịp thời, thuận tiện với nhu cầu của khách hàng. Không những thế, khi một ngành dịch vụ phát triển, nó thường kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ khác có liên quan. Sự phát triển của dịch vụ vận tải hàng không sẽ kéo theo sự phát triển của dịch vụ bảo hiểm hàng không, hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường hàng không, ngành dầu khí, du lịch….và một số ngành khác liên quan. Theo ước tính thì có tới một nửa khách du lịch quốc tế sử dụng đường hàng không để đi đến nước ta.
1.3.2. Góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bước đầu tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
Trong giai đoạn Việt Nam mới gia nhập tổ chức WTO thì dịch vụ vận tải hàng không có một vai trò cực kỳ quan trọng. Nó là cầu nối giữa các vùng, miền trong cả nước, là cầu nối giữa Việt Nam với các nền kinh tế trên thế giới, tạo điều kiện thực hiện quá trình hợp tác, giao lưu, hội nhập trong phát triển kinh tế giữa các quốc gia, dân tộc.
Tạo điều kiện phát triển vùng lãnh thổ: Cảng hàng không luôn là trung tâm công nghiệp và thương mại của vùng lãnh thổ nơi đóng địa bàn. Xung quanh cảng hàng không thường có các khu dân cư tập trung, các nhà máy, xí nghiệp hoạt động để tiện cho việc vận chuyển. Ngoài ra, sự phát triển của vận tải hàng không cũng đòi hỏi sự phát triển đồng bộ các công trình kết cấu hạ tầng kèm theo, như đường xá, các công trình quản lý- điều hành bay, hệ thống điện nước… Một ví dụ điển hình là sự phát triển của cảng hàng không quốc tế Nội Bài ( Hà Nội ) đã biến một vùng đất chậm phát triển của huyện Sóc Sơn thành một khu dân cư tương đối với các hoạt động kinh tế ngày càng sầm uất.
Tích luỹ kinh nghiệm để phát triển các ngành kinh tế khác: Do vai trò đặc biệt của ngành vận tải hàng không và những đặc thù của hoạt động kinh doanh vận tải hàng không, ngành vận tải hàng không Việt Nam đã thực hiện hội nhập quốc tế từ nhiều năm trước đây, đồng thời tiếp tục là lực lượng tiên phong trong hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hàng không Việt Nam đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về xây dựng và thực thi các chính sách có tính quốc tế; ký kết và thực hiện những cam kết quốc tế; từng bước giảm, loại bỏ những hàng rào thuế quan, thực hiện các dự án đầu tư quốc tế, huy động, sử dụng vốn và các nguồn lực nước ngoài khác; thực hiện chuyển giao công nghệ…Những kinh nghiệm này sẽ là bổ ích để các ngành, các địa phương tham khảo trong quá trình hội nhập quốc tế.
1.3.3. Tạo việc làm cho xã hội.
Cũng như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ vận tải hàng không đã và đang tạo ra một lượng lớn việc làm thông qua sự mở mang các tuyến đường bay đến khắp các nước trên thế giới và trong những ngành dịch vụ liên quan khác. Trong xu thế kinh tế ngày càng tăng trưởng cao và vững chắc, mức độ tạo công ăn việc làm trong các ngành dịch vụ nói chung, và dịch vụ vận tải hàng không nói riêng tăng cả về tương đối và tuyệt đối. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia phát triển, tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ liên quan đến hàng không ngày càng tăng. Trong năm 2024, ngành vận tải hàng không đã tạo ra được hàng chục nghìn việc làm mới, bao gồm cả việc làm trực tiếp và việc làm gián tiếp. Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, với dân số hơn 84 triệu người thì dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải hàng không là rất cao vì vậy tương lai của các ngành dịch vụ liên quan đến ngành hàng không là rất sáng sủa, điều này sẽ tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người dân với thu nhập cao và ổn định. Khóa luận: Phát triển dịch vụ vận tải hàng không Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hàng không
