Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian gần đây vấn đề bình đẳng giới đang được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Bởi vì thực tế tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra phổ biến, đây là một trong những nguyên nhân hạn chế quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Bất bình đẳng giới cũng là nguyên nhân làm tăng đói nghèo, cản trở việc chăm sóc sức khỏe dân cư, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên hàng loạt tổn thất khác cho xã hội. Những nước tích cực thúc đẩy bình đẳng giới thường đạt được tốc độ phát triển kinh tế xã hội cao và phát triển bền vững hơn. Theo Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và cơ quan phát triển quốc tế Canađa thì “Việt nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới, là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á [20, 61]. Tuy nhiên không phải vì những thành tựu đó mà Việt Nam đã đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực sự. Thực tế cho thấy thực trạng bất bình đẳng giới, khoảng cách giới, phân biệt đối xử về giới ở Việt Nam vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, tiêu biểu như: định kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng về vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về mặt pháp lí, thực chất vấn đề bình đẳng giới được qui định rải rác trong nhiều văn bản khác nhau nhưng chưa tập trung, thống nhất. Hay nói cách khác, chưa có văn bản luật điều chỉnh riêng. Để khắc phục những tình trạng trên, ngoài những văn bản pháp luật liên quan thì Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2007. Đây là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm pháp luật bình đẳng giới. Đồng thời khẳng định sự quan tâm của Việt Nam trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế. Tuy vậy để đạt được mục tiêu bình đẳng giới còn là một quá trình dài và khó khăn, do nhận thức của người dân về vấn đề này còn nhiều hạn chế, quá trình thi hành còn nhiều khó khăn, bất cập. Thêm vào đó Luật Bình đẳng giới còn thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành khiến việc áp dụng pháp luật khó đi vào thực tiễn đời sống xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu của các nhà nghiên cứu khoa học mà còn là nhu cầu thiết thực của từng công dân trong xã hội. Chính vì lý do đó nên tác giả đã nghiên cứu và chọn đề tài: “ Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khóa luận cho mình. Với đề tài này tác giả muốn được góp một phần công sức nhỏ bé vào việc xây dựng pháp luật về bình đẳng giới và hi vọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về bình đẳng giới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam. Đặc biệt là trong hai lĩnh vực là lao động- việc làm và gia đình.

Đề tài nghiên cứu những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật bình đẳng giới. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển. Nói bình đẳng giới không có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bình đẳng của cả hai giới. Nhưng trong thời đại ngày nay, nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên đề tài chỉ tập trung đề cập đến vấn đề bình đẳng cho phụ nữ là chủ yếu. Đồng thời do thời gian hạn chế và pháp luật bình đẳng giới còn là lĩnh vực mới mẻ với nhiều nội dung ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Vì vậy ở đề tài này tác giả không đi sâu nghiên cứu hết tất cả các lĩnh vực mà chỉ giới hạn ở hai lĩnh vực: Lao động- việc làm và gia đình.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đề tài này được dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, kết hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng và thi hành pháp luật bình đẳng giới. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh giữa lí luận và thực tiễn nhằm làm rõ các qui định của pháp luật về bình đẳng giới. Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai có chương:

  • Chương 1. Một số vấn đề lí luận về  Bình đẳng giới
  • Chương 2. Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1. Những khái niệm cơ bản về bình đẳng giới

1.1.1. Khái niệm giới và đặc điểm của giới Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Thuật ngữ “giới”, theo tiếng Anh là “gender” là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học. Thuật ngữ này mới được du nhập vào Việt Nam khoảng 20 năm trở lại đây và được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt 2006- Nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học thì: “Giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” [22, 405]. Theo định nghĩa của tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “Giới và dự án phát triển”- Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 thì: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội” [13, 71]. Ngoài ra trong cuốn “ Xã hội học về giới và phát triển” – Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ Lộc thì :“Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ” [15, 6]. Như vậy, tuy các khái niệm trên có sự khác nhau về câu chữ trong cách diễn đạt nhưng nói chung, theo quan điểm xã hội học các tác giả đều cho rằng giới là khái niêm dùng để chỉ những sự khác biệt của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, để thể hiện sự khác biệt về vị thế xã hội, vị thế trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, khái niệm “đàn bà”, “đàn ông”, “trai”, “gái”, “nam”, “nữ” , “phụ nữ”, “nam giới” đã được sử dụng trong các bản Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Lần đầu tiên khái niệm “Giới” được qui định tại Điều 5 khoản 1 Luật Bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.

Có thể thấy khái niệm giới một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính đồng thời không mang tính bẩm sinh, di truyền mà bị quy định bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị. Giới có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện xã hội. Mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung, hình thức và tính chất. Các đặc điểm giới thường bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, giới là các đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội, do đó giới có đặc điểm sau: Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Thứ nhất, giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra. Giới là sản phẩm của xã hội và hình thành trong môi trường xã hội. Ví dụ: từ khi sinh ra, trẻ nam đã được dạy dỗ theo quan niệm con trai thì phải mạnh mẽ, không được chơi búp bê, phải dũng cảm; con gái phải dịu dàng, phải giúp mẹ làm công việc nội trợ. Như vậy, sở dĩ phụ nữ thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ, mà vì họ đã được dạy bảo để làm việc đó từ khi còn nhỏ.

Thứ hai, giới có tính đa dạng. Ví dụ như phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo thường chỉ ở trong nhà làm công viêc nội trợ và phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, nhưng tại các quốc gia châu Á, phụ nữ lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và đảm đương nguồn thu nhập chính của gia đình. Tại các quốc gia phát triển phương Tây, phụ tham gia nhiều vào các hoạt động cộng đồng, tham gia quản lý kinh tế, hoạt động lãnh đạo.

Thứ ba, giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian. Điều kiện kinh tế – xã hội nào thì quy định sự khác biệt về giới trong xã hội đó. Khi điều kiện kinh tế- xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, đạo đức cũng như thể chế xã hội (bao gồm pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách) thay đổi (theo không gian và thời gian) thì quan hệ giới cũng được hình thành khác nhau. Ví dụ: trước đây, ở các nước phương Tây chỉ có nam giới mới tham gia công việc xã hội và làm công tác quản lý, còn phụ nữ ở nhà nội trợ, ngày nay nam giới và phụ nữ đều tham gia công tác xã hội và san sẻ công việc gia đình, làm nội trợ và chăm sóc con cái.

Thứ tư, giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể. Ví dụ, trong gia đình phụ nữ thường đảm nhận công việc nội trợ nhưng nam giới cũng có thể giặt giũ, chăm sóc con cái và nấu ăn…; ngoài xã hội phụ nữ thường đóng vai trò là cấp dưới và là  người thừa hành nhưng phụ nữ cũng có thể giữ các cương vị như tổng thống, chủ tịch nước hay chủ tịch hội đồng quản trị.

1.1.2. Khái niệm giới tính và đặc điểm của giới tính

Theo từ điển Tiếng Việt 2006- Nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học thì: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái” [22, 405]. Theo quan điểm xã hội học trong cuốn “Xã hội học về giới và phát triển” của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ Lộc, “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [15, 6]. Với tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “Giới và dự án phát triển” thì “giới tính là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y- sinh học” [13, 77].

Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính cũng lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Điều 5 khoản 2 Luật Bình đẳng giới, theo đó: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.

Là khái niệm thể hiện đặc điểm sinh học của nam và nữ giới tính có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, bẩm sinh, có sẵn từ lúc lọt lòng (sinh ra đã là nam hay nữ);

Thứ hai, giới tính là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, do vậy các đặc trưng giới tính hầu như không phụ thuộc vào thời gian, không gian. Từ ngàn xưa đến nay, về mặt sinh học phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều có đặc điểm sinh học đồng nhất và đối với nam giới cũng tương tự như vậy. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Thứ ba, giới tính có những biển hiện về thể chất có thể quan sát trong cấu tạo, giải phẫu, sinh lý người (giữa nam và nữ có những đặc điểm khác nhau về gen, cơ quan nội tiết, hoócmôn, cơ quan sinh dục…). Đồng thời, giới tính gắn liền với một số chức năng sinh học, đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người. Ví dụ: nam giới có khả năng thụ thai còn phụ nữ có khả năng mang thai, đẻ con và cho con bú. Do đó giới không thể thay đổi, vận động.

Thứ tư, giới tính nam và giới tính nữ không thể thay đổi cho nhau trong một quan hệ xã hội cụ thể.

Chính những đặc điểm trên cho chúng ta thấy sự phân biệt giữa khái niệm giới với khái niệm giới tính. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính”“giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định – đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên. Từ đó, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi cách phân công lao động trong gia đình và xã hội.

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm bình đẳng giới

Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các thuật ngữ “bình đẳng nam nữ”, “nam nữ bình quyền” đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật để thể hiện sự bình đẳng về địa vị pháp lý của nam nữ trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Tuy nhiên việc nam nữ bình đẳng về địa vị pháp lý không bao hàm sự bình đẳng của nam và nữ trong tất cả các quan hệ xã hội. Để đạt được điều này cần có một thuật ngữ pháp lý mới: “Bình đẳng giới”. Và thuật ngữ này lần đầu tiên được quy định tại Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới, bình đẳng giới được hiểu “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội. Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể như: nữ và nam có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển; nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội. Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận. Từ đó nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam và nữ ngang nhau trong các quan hệ xã hội, do đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, tính ngang quyền: để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ví dụ, cần có quy định như nhau (bình đẳng), chung cho phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền và gánh vác các nghĩa vụ. Đây là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu, không thể thiếu để đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ (công dân nam và nữ đều có quyền bầu cử, ứng cử; có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật; có quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn…)

Thứ hai, tính ưu đãi: do đặc điểm sinh học và truyền giống của phụ nữ khác biệt so với nam giới, để đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ. Ví dụ phụ nữ phải đảm nhận chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ, vì vậy pháp luật lao động quy định khi nữ lao động nghỉ thai sản họ vẫn được hưởng nguyên lương đồng thời được trợ cấp thai sản.

Thứ ba, tính linh hoạt: sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến. Ví dụ, do đặc điểm sinh học của phụ nữ nên phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn so với nam giới, vì vậy pháp luật các nước đều có quy định cấm tuyển dụng nữ lao động trong các nghành nghề lĩnh vực nguy hiểm, nặng nhọc. Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật phát triển, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏ quy định cấm này đối với các nghành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện điều kiện lao động, để tạo thêm cơ hội có việc làm cho phụ nữ.

Thứ tư, tính phân loại: bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và nam giới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần xã hội khác nhau trong các vùng lãnh thổ khác nhau, trong phạm vi quốc gia và trên thế giới. Ví dụ, quy định tăng độ tuổi nghỉ hưu đối với phụ nữ, thì mặt bằng chung này có thể có lợi cho nữ giới lao động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy…nhưng lại bất lợi đối với nữ giới ở khu vực lao động nặng nhọc, phụ nữ nông thôn và phụ nữ trong khu vực kinh tế phi tiền tệ (nội trợ). Như vậy, quy định trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp, dẫn đến làm dãn khoảng cách đối xử và tạo ra phân biệt đối xử trong nữ giới nói chung.

Như vậy bình đẳng giới cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ giới được công nhận và được hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội.

Thứ hai, bình đẳng giới không có nghĩa là nhìn nhận nam giới và nữ giới giống y hệt nhau mà sự tương đồng và khác biệt tự nhiên tự nhiên giữa nam và nữ được công nhận và có giá trị như nhau. Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng.

Hiểu sâu xa thì bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người và là yêu cầu về sự phát triển bền vững. Có thể nói, ý nghĩa quan trọng của bình đẳng giới là nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội [20, tr 4].

Trên đây là một số các khái niệm có ý nghĩa quan trọng cần được hiểu và làm rõ trong quá trình thi hành Luật Bình đẳng giới. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải biết thêm một số các khái niệm khác được quy định tại Điều 5 Luật Bình đẳng giới.

1.1.4. Một số khái niệm khác Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. Ví dụ, quan niệm nam giới thì phải cứng rắn, quyết đoán không được mền yếu. Do đó, nếu thấy con trai khóc thì dễ bị coi là nhát và yếu đuối thậm chí là hèn. Còn những người phụ nữ mạnh mẽ, cá tính, quyết đoán thì lại cho rằng họ như đàn ông.

Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới.

Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ. Chỉ số phát triển giới (GDI) càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng, và càng lùi về 0 thì càng bất bình đẳng.Ví dụ, năm 1995, Việt Nam có GDI=0,537 xếp ở vị trí 74/130 nước, Thụy Điển là nước đạt sự bình đẳng cao nhất với GDI= 0,919. Năm 1999 Việt Nam xếp ở vị trí 89/174 nước với GDI= 0,662. Trong đó Canada là nước đạt bình đẳng cao nhất với GDI=0,928.

Bạo lực giới là bất kì một hành động nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý,hoặc sự đau khổ cho phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay cưỡng đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư [Liên hợp quốc, 1995, Tr 73, UNIFEM, 1998].

1.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Bình đẳng giới ở Việt Nam có thể nói được quan tâm từ rất sớm. Ngay từ thời phong kiến đến từng giai đoạn của cuộc cách mạng giải phóng đất nước. Và ở giai đoạn hiện nay thì đó là vấn đề được toàn xã hội quan tâm.

1.2.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Thời kì này các quy định mang tính chất bình đẳng giới tuy chưa nhiều nhưng những qui định mang tính bình đẳng nam nữ cũng đã được quan tâm điều chỉnh. Trong đó, nổi bật là những qui định của Bộ luật Hồng Đức. Bộ luật đã có nhiều điều luật quan tâm đến quyền lợi, cũng như sự bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới như: Con gái có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ như con trai; vợ chồng đã có con nếu một người chết trước thì số điền sản thuộc về người còn sống; con gái thấy vị hôn phu có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ; vợ có quyền kiện chồng và bỏ chồng nếu chồng bỏ lửng 5 tháng. Những qui định trên của Bộ luật Hồng Đức cho thất vấn đề bình đẳng giới đã được đề cập.

Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), vấn đề “bình đẳng nam nữ” đã được Đảng hết sức chú ý. Mục tiêu của Đảng cộng sản đã được nêu rõ ngay trong Chính cương vắn tắt là: Làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” “nam nữ bình đẳng” là một trong mười ba chủ trương lớn của Đảng. Đồng thời là một trong mười mục tiêu được nhắc tới trong lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhân dịp thành lập Đảng. Luận cương năm 1930 của Đảng cũng khẳng định một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là thực hiện “nam nữ bình quyền”

Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới được quan tâm từ khá sớm. Ngay từ thời phong kiến, mặc dù xuất phát và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trọng nam, khinh nữ nhưng pháp luật phong kiến cũng đã có những qui định hết sức tiến bộ, đảm bảo quyền của người phụ nữ, từ đó tạo tiền đề thúc đẩy bình đẳng giới ở các giai đoạn sau.

1.2.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1954 Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, mục tiêu bình đẳng nam, nữ (nam nữ bình quyền) đã được đưa ra từ “Chánh cương vắn tắt” của Đảng và Bác Hồ từ năm 1930. Năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, chương trình bình đẳng nam nữ đã được đưa vào luật pháp, chính sách, chương trình hoạt động của Nhà nước một cách có hệ thống.

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã thể hiện rõ cam kết của Đảng và Nhà nước đối với bình đẳng nam nữ. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pháp luật quy định phụ nữ được hưởng các quyền ngang với nam giới: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6 Hiến pháp 1946) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9 Hiến pháp 1946).

Trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ đã ban hành hai Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, đó là Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn. Trong Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, vấn đề bình đẳng nam nữ trong gia đình được khẳng định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5); “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mặt hộ” (Điều 6); “Người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi, khi đã đến tuổi thành niên thì dù còn ở với cha mẹ, người con cũng có quyền tự lập” (Điều 7). Về vấn đề ly hôn, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 cũng thể hiện sự bình đẳng nam nữ, như công nhận quyền tự do giá thú và tự do ly hôn, xóa bỏ sự phân biệt không bình đẳng về các duyên cớ ly hôn riêng cho vợ và chồng trong các Bộ dân luật cũ, đồng thời quy định duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng (Điều 2). Bên cạnh đó, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 cũng quy định điều khoản bảo vệ phụ nữ và thai nhi mà không bị xem là bất bình đẳng giới: “Trường hợp ly hôn mà người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin Tòa án hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn” (Điều 5).

1.2.3. Giai đoạn từ 1954 đến 1975

Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1959, đã được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 31/12/1959 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 01/01/1960. Điều 24 Hiến pháp năm 1959 đã quy định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Công việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn được hưởng nguyên lương. Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển của các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ, nhà nuôi trẻ. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Ngày 17/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959. Nhấn mạnh tầm quan trọng của Luật này đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Hồ Chủ tịch đã nói: “Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội…Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người”. Các nguyên tắc chung về bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng được quy định tại Điều 1, Điều 2 và Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959. Những Điều từ Điều 12 đến Điều 16 quy định bình đẳng giữa vợ và chồng về nghĩa vụ và quyền trong quan hệ hôn nhân.

1.2.4. Giai đoạn từ 1975 đến nay

Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước thống nhất cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bản Hiến pháp thứ ba năm 1980 đã được Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua, tiếp tục là nền tảng cho việc xây dựng các quy định pháp luật về bình đẳng giới. Đồng thời, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã được Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.

Ngày 18/12/1979 Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) được Liên hợp quốc phê chuẩn. Gần một năm sau, ngày 29/7/1980 Việt Nam ký Công ước CEDAW và phê chuẩn Công ước và ngày 19/03/1982, trở thành quốc gia sớm thứ 6 trên thế giới ký Công ước và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn Công ước này.

Triển khai thực hiện các quy định của Công ước CEDAW và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bình đẳng giới, các quyền của phụ nữ và các quy định về bình đẳng giới đã được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật như Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Lao động năm 1994 được sửa đổi bổ sung năm 2002, Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000…

Tại Hội nghị phụ nữ quốc tế lần thứ IV của Liên hợp quốc tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1995, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố “Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000”. Thực hiện tinh thần của Cương lĩnh Bắc Kinh, ngày 4/10/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 822/TTg phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000”. Từ đây vấn đề giới ở Việt Nam mới thực sự trở thành vấn đề quốc gia. Tại Hội nghị Bắc Kinh +5 năm 2000, khóa họp đặc biệt lần thứ 23 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, một lần nữa Việt Nam đã cam kết trước cộng đồng quốc tế nỗ lực và quyết tâm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 và công bố Nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 07/03/2003 của Chính phủ nhằm quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho Hội phụ nữ tham gia quản lý nhà nước về các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của phụ nữ, trẻ em. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Thành tựu bình đẳng giới mà Việt Nam đã đạt được là việc Luật Bình đẳng giới đầu tiên đã được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007. Việc ra đời của Luật Bình đẳng giới có ý nghĩa lớn đối vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam. Cụ thể:

Một là, đã tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, quan điểm của Đảng về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tôt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Nghị quyết số 23 NQ/TW ngày 12/03/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhấn mạnh quan điểm của Đảng về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ là “Tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới; khẩn trương cụ thể hóa chủ trương của Đảng  thành pháp luật, chính sách; lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch chung.Coi trọng các chính sách xã hội, các chính sách về giới để giảm nhẹ lao động cho phụ nữ. Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ; chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp”.

Hai là, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, khắc phục tình trạng quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ chưa được thực hiện nghiêm túc. Trước tiên là, việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới nhưng thực tế cho thấy nguyên tắc bình đẳng nam nữ không phân biệt đối xử giữa nam và nữ được quy định trong Hiến pháp 1992 chưa được cụ thể hóa toàn diện, triệt để và đồng bộ trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Một số văn bản xác định chủ thể chung chung “công dân”, “người lao động”…được mặc nhiên hiểu là không phân biệt nam nữ trong các quan hệ xã hội được điều chỉnh. Một số văn bản quy phạm pháp luật quy định theo hướng “ưu tiên” cho lao động nữ nhưng chua tính đến việc tạo cơ hội để phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực chưa có các chế tài đủ mạnh để xử lý các vi phạm; thiếu các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực và các quy định bảo đảm lồng ghép giới trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, một số quy định về chính sách đối với khu vực không có quan hệ lao động, khu vực nông thôn chưa được quan tâm đầy đủ. Sau đó, việc thi hành pháp luật chưa được thực hiện nghiêm túc, cụ thể: tư tưởng định kiến giới, coi trọng nam giới hơn phụ nữ vẫn còn tồn tại ở các tầng lớp xã hội. Phụ nữ ít có cơ hội tham gia học tập nâng cao trình độ, tỷ lệ phụ nữ có học hàm học vị cao còn quá thấp so với nam giới. Cơ hội tuyển dụng, khả năng cạnh tranh và thu nhập bình quân của lao động nữ thấp hơn nam giới.

Ba là, tiếp tục khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện  mục tiêu bình đẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế. Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC), các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Trên thế giới, đến nay đã có rất nhiều nước kể cả các nước phát triển và đang phát triển đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ như Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phần Lan, Đan Mạch, Lào, Trung Quốc, Kosovo…Là thành viên các Công ước quốc tế về quyền con người, việc xây dựng Luật Bình đẳng giới không chỉ thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử nam nữ mà còn là câu trả lời đầy đủ nhất của Việt Nam trong việc thực hiện CEDAW.

Như vậy, ta thấy vấn đề bình đẳng giới ở trên thế giới và Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để đạt được bình đẳng giới hay nói cách khác là làm thế nào để xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam, nữ trong phát triển kinh tế- xã hội, và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình mà các nước trên thế giới và Việt Nam đã đề ra. Đây rõ ràng là nhiệm vụ hết sức khó khăn không chỉ trong  từng quốc gia, từng khu vực mà là vấn đề mang tính toàn cầu. Bởi vì bình đẳng giới chính là tiêu chí để đánh tiến bộ xã hội. Đảm bảo bình đẳng giới là một trong những mục tiêu cơ bản của việc đảm bảo công bằng xã hội.

1.3. Sự điều chỉnh của pháp luật hiện hành về bình đẳng giới Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

1.3.1. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

1.3.1.1. Nguyên tắc nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Sự bất bình đẳng đầu tiên trong xã hội loài người là sự bất bình đẳng nam nữ. Nếu trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ công việc tề gia nội trợ của người phụ nữ được coi là công việc xã hội và do vậy người đàn bà được bình đẳng với người đàn ông thì đến thời kỳ tiếp theo đó lại hoàn toàn khác hẳn. Với sự xuất hiện của cải dư thừa, chế độ tư hữu xuất hiện, và xuất hiện gia đình cá thể  trong đó người đàn ông trở thành ông chủ, người đàn bà là nô lệ, là tài sản cho người đàn ông. Công việc tề gia nội trợ không còn là công việc xã hội nữa. Nó chỉ hạn chế trong từng gia đình, phục vụ cho người chồng, cho sự thống trị, cho việc duy trì chế độ tư hữu- nguồn gốc của sự bất công, bất bình đẳng trong gia đình và xã hội.

Khi xã hội loài người chuyển sang các hình thái tiến bộ hơn như chế độ phong kiến rồi chế độ tư bản chủ nghĩa, vẫn còn bất bình đẳng nam nữ trên thực tế với nhiều lý do, trong đó có định kiến xã hội và tư tưởng trong nam khinh nữ.

Ở Việt Nam, mục tiêu bình đẳng nam nữ (nam, nữ bình quyền) đã được đưa ra từ Chánh cương vắn tắt của Đảng và Bác Hồ từ năm 1930, được nêu trong các văn kiện Đại hội Đảng, được thể chế hoá trong các bản Hiến pháp và nhiều văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự….

Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã quy định tại Điều 1: “Nhà nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Tại Điều 6: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” và tại Điều 9: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.

Quy định về bình đẳng nam nữ được kế thừa trong các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Theo Điều 63 Hiến pháp 1992, “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”. Còn trong gia đình “Vợ chồng bình đẳng” (Điều 64 Hiến pháp 1992).

Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992, Điều 6 Khoản 1 Luật Bình đẳng giới quy định nguyên tắc nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Đồng thời, tại các Điều từ Điều 11 đến Điều 18 Luật đã quy định cụ thể các lĩnh vực bình đẳng nam nữ như lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa thông tin thể dục thể thao, y tế và trong gia đình. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Bình đẳng nam nữ có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của nam và nữ được quy định như nhau trong pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như trong gia đình. Tuy nhiên, từ bình đẳng trước pháp luật đến bình đẳng trong thực tế đời sống còn cả một đoạn đường dài. Sự bình đẳng phải được ghi nhận và từng bước được củng cố với sự phát triển của xã hội, tạo cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội cho việc thực hiện bình đẳng hoàn toàn giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng.

1.3.1.2. Nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới

Nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật Bình đẳng giới. Nguyên tắc này có nội dung không trùng với nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong gia đình.

Việc quy định nam nữ hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm ngang nhau trong pháp luật là nhằm bảo vệ và thực hiện bình đẳng nam nữ trên thực tế đời sống. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả các hành vi tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ đều được loại trừ. Chính vì vậy cần đưa ra nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới và những quy phạm cụ thể khác quy định về cơ chế thực thi và thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế.

Vì đặc điểm giới tính của phụ nữ, nên trên thực tế, phụ nữ thường là bên yếu thế trong quan hệ giới, và từ đó, họ thường phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới. Và các hành vi phân biệt đối xử thường chống lại phụ nữ hơn là nam giới. Do đó, CEDAW (Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ) tại Điều 1 đã định nghĩa “Phân biệt đối xử đối với phụ nữ là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện một cách bình đẳng các quyền con người và những quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ và trên cơ sở bình đẳng với nam giới”.

Theo Điều 5 Khoản 5 Luật Bình đẳng giới đã đưa ra khái niệm “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”. Như vậy khái niệm trên thể hiện cách tiếp cận trung tính đối với binh đẳng giới, thay vì có một định nghĩa cụ thể về các hành vi phân biệt đối xử chống lại phụ nữ.

Luật Bình đẳng giới thể hiện rõ nguyên tắc nam nữ không bị phân biệt đối xử về giới trong nhiều quy định khác, như Điều 10 quy định các hành vi bị cấm, Điều 40 quy định các hành vi thể hiện sự phân biệt đối xử về giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa thông tin, thể thao, y tế. Điều 41 quy định các hành vi thể hiện sự phân biệt đối xử về giới trong gia đình. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

1.3.1.3. Nguyên tắc biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới

Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện, cơ hội ngang nhau để phát huy năng lực của bản thân và bình đẳng trong việc hưởng thụ. Tuy nhiên, bình đẳng giới không tự nhiên mà có. Pháp luật cần quy định bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, bình đẳng trong hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ, bình đẳng trong các điều kiện và cơ hội cống hiến. Nhưng trên thực tế, việc xây dựng bình đẳng giới xuất phát từ hiện thực không bình đẳng, và từ bình đẳng trong pháp luật đến bình đẳng trên thực tế là một chặng đường khá xa. Ví dụ, ở Việt Nam vẫn tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ trong nhận thức của cả nam giới và phụ nữ, về hoạt động kinh tế và thu nhập, nữ có thu nhập cao chiếm tỷ lệ thấp hơn nam; trong gia đình, công việc vẫn tập trung chủ yếu vào người phụ nữ (chăm lo con cái, người thân, nhất là lúc ốm đau, già cả..) và công việc gia đình ít được coi trọng, con trai được coi trọng hơn con gái; về mặt chính trị, quản lí, tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động này còn thấp; về giáo dục và khoa học, tỷ lệ nữ có trình độ cao còn khiêm tốn; trong chính sách pháp luật một số quy định còn có sự phân biệt như tuổi đề bạt thăng tiến, tuổi đào tạo để tạo nguồn cán bộ chính trị. Vì vậy, cần phải áp dụng các biện pháp thúc đẩy để nhanh chóng tiến tới bình đẳng giới một cách thực sự.

Điều 4 Khoản 1 CEDAW đã quy định các biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy bình đẳng giới: “Việc các nước tham gia công ước chấp nhận các biện pháp đặc biệt tạm thời nhằm thúc đẩy trong thực tế quyền bình đẳng giữa nam và nữ không bị coi là phân biệt đối xử, nhưng sẽ không được bằng bất cứ cách nào buộc phải coi đó như một kết quả của việc duy trì các tiêu chuẩn bất bình đẳng hoặc tiêu chuẩn riêng biệt”.

Như vậy, theo CEDAW, các biện pháp đặc biệt tạm thời có thể áp dụng các tiêu chuẩn bất bình đẳng hoặc tiêu chuẩn riêng biệt cho nam hoặc nữ, để thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế. Vì thế, các biện pháp này có hạn định về thời gian và điều kiện áp dụng nhất định, kèm theo tuyên bố hết hiệu lực khi các điều kiện không tồn tại và thời gian tạm thời đã hết. Trong trường hợp này, không bị coi là phân biệt đối xử. Hỗ trợ phụ nữ như đối với nhóm yếu thế để hạn chế bất lợi của giới này nhằm thúc đẩy nhanh bình đẳng giới.

Theo Điều 5 Khoản 6 Luật Bình đẳng giới, “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn về vị trí, vai trò, điều kiện cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành công của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục tiêu bình đẳng giới đã đạt được”. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Như vậy, theo quy định trên, trong một số trường hợp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, cơ quan có thẩm quyền có thể đưa ra các quy định trong đó điều kiện được áp dụng cho nữ và nam khác nhau, nhằm hạn chế việc xuất phát điểm khác nhau của nữ và nam. Nhiều điều khoản trong Luật bình đẳng giới cụ thể vấn đề trên, như trong lĩnh vực chính trị, bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước (Điều 11); trong lĩnh vực kinh tế, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính, lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm khuyến ngư (Điều 12); trong lĩnh vực lao động, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ (Điều 13).

1.3.1.4. Nguyên tắc chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới

Phụ nữ có đặc điểm sinh học riêng, và giới tính của phụ nữ tạo cho họ vai trò làm mẹ, một thiên chức quan trọng nhằm tái sản xuất con người. Phụ nữ phải dành phần không nhỏ cuộc sống của mình để thực hiện vai trò của người mẹ (nghỉ thai sản, nuôi con nhỏ, chăm sóc con cái..), do đó, so với nam giới, họ không có nhiều cơ hội  và điều kiện để tham gia các hoạt động khác của đời sống xã hội.Vì vậy, để phụ nữ có thể bình đẳng với nam giới về mọi mặt của đời sống xã hội, cần có các biện pháp đặc biệt ưu đãi dành riêng cho phụ nữ trong các trưòng hợp cụ thể khi phụ nữ đóng vai trò làm mẹ.

Theo Điều 4 Khoản 2 CEDAW, việc các nước tham gia công ước chấp nhận các biện pháp đã có trong công ước nhằm bảo vệ quyền làm mẹ không bị coi là phân biệt đối xử. Đồng thời, tại Điều 11 của Công ước đã quy định về ngăn cấm việc phạt, thải hồi phụ nữ vì có mang hoặc nghỉ đẻ và phân biệt đối xử trong những trường hợp sa thải dựa vào tình trạng hôn nhân; về việc quy định chế độ cho phụ nữ nghỉ đẻ được trả lương hoặc các phúc lợi xã hội tương ứng; về khuyến khích các dịch vụ xã hội có tác dụng phụ trợ cần thiết để tạo điều kiện cho cha mẹ kết hợp được nghĩa vụ gia đình với trách nhiệm lao động và tham gia vào đời sống cộng đồng; về cung cấp sự bảo hộ đặc biệt khi phụ nữ có mang trong công việc tỏ ra có hại đối với họ.

Điều 6 Khoản 4 Luật Bình đẳng giới đã cụ thể hoá các quy định trên của Công ước CEDAW và đưa thành một nguyên tắc: Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Điều 7 Luật Bình đẳng giới quy định “Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tạo điều kiện để nam nữ chia sẻ công việc gia đình”. Theo Điều 14, “ Nữ cán bộ, công chức viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con nhỏ dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của pháp luật”; “Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ” (Điều 17)

1.3.1.5. Nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật

Trong xã hội hiện đại, pháp luật là công cụ điều chỉnh hành vi của con người một cách hiệu quả nhất. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện với các quy phạm pháp luật bảo đảm bình đẳng giới và việc thi hành nghiêm chỉnh hệ thống pháp luật đó là điều kiện cơ bản và tiên quyết để đạt đến bình đẳng giới thực chất.

Là Công ước duy nhất hiện nay xác lập các điều luật quốc tế về quyền  phụ nữ và trách nhiệm của các quốc gia trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động phù hợp để đạt được sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ, Công ước CEDAW đã quy định tại Điều 3: “Chuyển hóa những nội dung cơ bản của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia”.  Đây là trách nhiệm lập pháp của các quốc gia thành viên. Cụ thể hoá Công ước CEDAW về vấn đề này không trái với pháp luật Việt Nam, Khoản 5 Điều 6 Luật Bình đẳng giới quy định nguyên tắc bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật tức là đưa vấn đề giới, mục tiêu giới và các quá trình nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi hoạt động của các nhóm xã hội vào hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật.

Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách, tiến hành quá trình lập pháp, lập quy. Các cơ quan có thẩm quyền ban hành pháp luật của nhà nước cần có quan điểm bình đẳng giới trong khi xem xét những tác động bất lợi về giới có thể xảy ra khi ban hành các quy định của pháp luật. Trong quá trình áp dụng pháp luật cần có quy định rõ cơ chế giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với việc thực hiện bình đẳng giới.

Để cụ thể hoá nguyên tắc này, Luật Bình đẳng giới quy định tại Điều 21 về biện pháp lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Điều 22 về thẩm tra lồng ghép vấn đề giới, các quy định từ Điều 35 đến Điều 42 về tranh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

1.3.1.6. Nguyên tắc thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân

Thực hiện bình đẳng giới là vấn đề quan trọng. Đây không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của các tổ chức, gia đình và cá nhân. Các tư tưởng định kiến giới như trọng nam khinh nữ, coi việc nội trợ là việc của phụ nữ… đã ăn sâu vào tư duy của con người, cả nam giới và phụ nữ và là quan niệm xã hội. Muốn thay đổi định kiến giới, không chỉ có vai trò của Nhà nước trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, mà các cơ quan, tổ chức, công dân cũng phải tiến hành tuân thủ các quy định của pháp luật về vấn đề bình đẳng giới, đồng thời tích cực vận dộng tuyên truyền bình đẳng giới nhằm đạt đến sự thay đổi về bề rộng và bề sâu các tư tưởng, quan niệm bất bình đẳng nam nữ. Chương IV Luật Bình đẳng giới đã  quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới (từ Điều 25 đến Điều 34).

1.3.2. Những nội dung cơ bản về bình đẳng giới Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Về các lĩnh vực bảo đảm bình đẳng giới, Công ước CEDAW đã đưa ra 11 lĩnh vực loại trừ phân biệt đối xử đối với phụ nữ, đó là các lĩnh vực: chính trị, đại diện quốc tế, quốc tịch, giáo dục, lao động việc làm, chăm sóc sức khoẻ, kinh tế, dân sự, phụ nữ ở nông thôn, hôn nhân và gia đình, bạo lực trên cơ sở giới tính. Đồng thời, sau khi xem xét báo cáo quốc gia về việc thực hiện CEDAW tại Việt Nam năm 2001, trong bản kết luận và khuyến nghị đối với Việt Nam, Ủy ban CEDAW của Liên hợp quốc đã ghi nhận “Ủy ban bày tỏ sự quan ngại về việc có khoảng cách đáng kể giữa nỗ lực của quốc gia nhằm đảm bảo bình đẳng nam nữ trên phương diện pháp lý với việc thụ hưởng sự bình đẳng trên thực tế, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị”(Kết luận và khuyến nghị của Ủy ban về quyền trẻ em và Ủy ban CEDAW của Liên hợp quốc, UNICEP). Các lĩnh vực cụ thể mà Ủy ban CEDAW cho rằng còn có khoảng cách giới lớn ở Việt Nam là chính trị, giáo dục, hôn nhân và bạo lực gia đình,chăm sóc sức khỏe sinh sản, kinh tế và lao động. Tiếp thu khuyến nghị trên, đồng thời nhằm nội luật hóa các quy định về các lĩnh vực bảo đảm bình đẳng giới của CEDAW, Luật Bình đẳng giới không quy định về bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực mà chỉ tập trung vào một số lĩnh vực (quy định 8 lĩnh vực) được xác định là còn có sự bất bình đẳng, sự phân biệt đối xử theo tinh thần Hiến pháp và Công ước CEDAW.

Về các nội dung bình đẳng giới trong từng lĩnh vực cụ thể, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới chỉ quy định các nội dung mới về bình đẳng giới mà các văn bản pháp luật chuyên ngành còn chưa quy định. Luật Bình đẳng giới cũng quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới chung áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (trước đây được quy định rải rác và chưa thống nhất trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên nghành khác nhau), còn các quy định cụ thể Luật Bình đẳng giới không quy định mà vẫn do các luật chuyên ngành điều chỉnh.

Tại chương II Luật Bình đẳng giới đã qui định nội dung bình đẳng giới gồm 8 lĩnh vực sau:

  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao
  • – Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế
  • – Bình đẳng giới trong gia đình

Tuy nhiên như đã giới hạn rõ trong phạm vi của khóa luật tốt nghiệp này tác giả chủ yếu tập trung làm sáng tỏ hai nội dung bình đẳng giới: bình đẳng giới trong lao động- việc làm và bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình.

1.3.2.1. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm là một trong những nội dung quan trọng và cơ bản nhất về bình đẳng nam, nữ trên phạm vi toàn cầu, trong từng quốc gia kể cả Việt Nam. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm là sự ngang nhau giữa lao động nam và lao động nữ về lĩnh vực lao động, về nghĩa vụ và quyền lợi hay cống hiến và hưởng thụ. Như vậy, không có nghĩa là phải bảo đảm bình đẳng giới theo nghĩa tuyệt đối mà phải giải quyết mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi theo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ (cống hiến) ngang nhau thì có quyền lợi (được hưởng thụ) ngang nhau từ kết quả lao động, việc làm; đồng thời tạo cơ hội như nhau giữa nam và nữ trong phát triển nghề nghiệp, tạo và tìm kiếm việc làm, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội và các điều kiện việc làm khác.

Quan điểm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm được Công ước CEDAW quy định cụ thể tại Điều 11 Khoản 1:

“Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo đảm những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam, nữ, đặc biệt là:

  1. a) Quyền được làm việc, một quyền không thể chối bỏ của mọi con người.
  2. b) Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, kể cả việc áp dụng những tiêu chuẩn khi tuyển dụng lao động.
  3. c) Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm, quyền được thăng chức, bảo đảm việc làm, mọi phúc lợi và điều kiện làm việc và quyền được theo học những chương trình đào tạo và bổ túc nghiệp vụ, kể cả các lớp dạy nghề, các lớp nghiệp vụ cao cấp và lớp đào tạo định kỳ.
  4. d) Quyền được hưởng thù lao như nhau, kể cả các phúc lợi, và được đối xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau, cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc.
  5. e) Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp về hưu, thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, tuổi già và các tình trạng mất khả năng lao động khác, cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương.
  6. f) Quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ”.

Phù hợp với các quy định tại Điều 11 Khoản 1 của Công ước, kế thừa đạo lý truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, trong lĩnh vực lao động, Nhà nước ta đã thể chế hoá bằng những quy định cụ thể trong Hiếp pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 (Điều 62, Điều 63), văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi bổ sung bằng Luật sửa đổi bổ sung năm 2006, văn bản pháp luật quan trọng nhất điều chỉnh toàn diện các vấn đề lao động và việc làm nói chung, trong đó dành riêng một chương (Chương X) quy định các vấn đề việc làm đối với lao động nữ. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Vì vậy, nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động việc làm, là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật lao động hướng dẫn cụ thể có tính khả thi về bình đẳng giới, Điều 13 Luật Bình đẳng giới đã quy định nội dung bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

  • “Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng.
  • Bình đẳng khi được đối xử tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.
  • Bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn, chức danh”.

1.3.2.2. Bình đẳng giới trong gia đình

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 kế thừa các quy định về bình đẳng giới của các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1992 đã đề ra những nguyên tác pháp lý cơ bản nhất nhằm củng cố và xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới, thực hiện nam nữ bình đẳng. Điều 52 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Thuật ngữ “công dân” ở đây phải được hiểu là cả nam và nữ. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Điều 64 Hiến pháp quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội, Nhà nước bảo hộ hô nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”. Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về vấn đề này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 bảo đảm quyền bình đẳng vợ chồng, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt…; Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bình đẳng nam nữ trong các quan hệ dân sự, các quyền nhân thân trong đó có các quyền trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (quyền kết hôn, quyền ly hôn…); Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hẳn một chương (Chương XV) về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.

Điều 18 Luật Bình đẳng giới quy định:

  • Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan  hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
  • Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
  • Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
  • Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện nhu nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
  • Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình”.

1.3.3. Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

1.3.3.1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được (Điều 5 Khoản 6 Luật Bình đẳng giới).

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp bảo đảm bình đẳng giới có “tính chất đặc biệt” và “tính chất tạm thời”. Tính chất đặc biệt của biện pháp này có nghĩa là chỉ quy định cho một giới (thay vì quy định như nhau cho cả hai giới), để thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế. Tính chất tạm thời của biện pháp này có nghĩa là chỉ được áp dụng trong những điều kiện nhất định khi chưa đạt được mục tiêu bình đẳng về cơ hội và ứng xử. Như vậy, khi thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cần phải thường xuyên rà soát việc áp dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp đó khi đã đạt được mục tiêu bình đẳng giới trên thực tế.

Để thực hiện tốt các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cần có hệ thống các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới cụ thể. Theo khoản 1 Điều 19 Luật Bình đẳng giới các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

  • – Quy định tỉ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỉ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;
  • – Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;
  • – Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;
  • – Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;
  • – Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;
  • – Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam.

Ngoài các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nêu trên do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để bảo đảm bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, trong những lĩnh vực khác nhau còn có những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đặc thù riêng, phù hợp với đặc điểm riêng của các quan hệ xã hội còn có khoảng cách giới và bất bình đẳng giới trong lĩnh vực cụ thể đó.

Trong lĩnh vực lao động, do đặc thù của lĩnh vực này mà ngoài các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nêu trên còn có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đặc thù sau (khoản 3 Điều 13 Luật Bình đẳng giới):

  • – Quy định tỉ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;
  • – Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
  • – Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

1.3.3.2. Biện pháp bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới đã được quy định tại Điều 6 Luật Bình đẳng giới. Đó là các nguyên tắc: bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới; chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật; thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình cá nhân. Các nguyên tắc trên phải được đảm bảo là các nguyên tắc chủ đạo, có tính xuyên suốt trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, từ khâu xây dựng soạn thảo đến ban hành thực hiện, đánh giá rút kinh nghiệm để sửa đổi bồ sung. Như vậy, việc xây dựng, sửa đổi bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới (Điều 20 Khoản 1 Luật Bình đẳng giới). Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Ngoài ra, quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật cần phải tiến hành rà soát để sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật không có quy đinh mang mục tiêu bình đẳng giới hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp. Trong quá trình rà soát này cần phải chú trọng đến các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, xem đây là căn cứ quan trọng để xem xét các văn bản quy phạm pháp luật có còn phù hợp hay không (có vi phạm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới không, nếu có thì phải sửa đổi bổ sung theo đúng các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới). Điều 20 Khoản 2 Luật Bình đẳng giới quy định: “Nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật”.

1.3.3.3. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Muốn hệ thống pháp luật thực định chú trọng đến các khía cạnh của bình đẳng giới, đạt được mục tiêu bình đẳng giới cả về mặt pháp lí và bình đẳng thực chất, khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần có quan điểm bình đẳng giới, xem xét vấn đề giới cũng như biện pháp giải quyết để bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Đồng thời, với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật cần xem xét các tác động về bất lợi về giới có thể xảy ra khi ban hành và áp dụng các quy định đó trong thực tế, cũng như xác định trách nhiệm và nguồn lực giải quyết các vấn đề giới phát sinh trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

Thứ nhất, xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh có tồn tại bất bình đẳng giới không, đó là những vấn đề cụ thể nào; đã có các quy định bình đẳng chung cho cả nam và nữ chưa, nếu đã có rồi thì trên thực tế quy định đó có tác động như nhau đối với nam và nữ không, nếu không vì lí do gì; đối với những vấn đề liên quan đến phụ nữ khi họ thực hiện các thiên chức riêng của người mẹ đã có các quy định riêng để giải quyết chưa; các vấn đề còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ đã được giải quyết bằng các quy phạm đặc biệt cần thiết để thúc đẩy nhanh sự bình đẳng thực chất chưa. Ví dụ, trong lĩnh vực đất đai, về vấn đề sử dụng đất giữa nam giới và phụ nữ cần được xem xét là phụ nữ luôn ở vị thế bất lợi so với nam giới (phụ nữ thường không được quyết định các vấn đề liên quan đến sử dụng đất- một tài sản có giá trị lớn, cũng như có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng…) vì vậy để giải quyết thực trạng trên pháp luật đất đai quy định đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên của cả hai vợ chồng. Đây là một quy phạm pháp luật trung tính về giới.

Thứ hai, dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nam và nữ. Pháp luật là mặt bằng đồng đều áp dụng cho các đối tượng không cùng vị thế. Trong lĩnh vực lập pháp và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các nhà lập pháp, lập quy thường chỉ chú ý tới các quy phạm theo mặt bằng chính sách chung, ít chú ý đến đối tượng áp dụng không cùng vị thế hoặc có điều kiện hoàn cảnh khác nhau, chịu sức ép khác nhau. Ví dụ chính sách tăng- giảm độ tuổi về hưu đối với nữ giới, mặt bằng chung này có thể có lợi cho nữ giới lao động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy, mà lại bất lợi đối với nữ giới ở khu vực lao động nặng nhọc, hay chính sách xóa bỏ chợ cóc, hàng xén, nhưng khi ban hành chính sách này nhà lập pháp, lập quy lại không tìm giải pháp giúp đỡ kế sinh nhai cho người thu nhập thấp sinh sống chủ yếu nhờ buôn bán nhỏ trong các chợ cóc, chợ tạm, buôn bán hàng xén mà đa số là phụ nữ.

Thứ ba, sau khi dự báo được tác động giới của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành cần xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

1.3.3.4. Thẩm tra lồng ghép về bình đẳng giới Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực giới có trách nhiệm tham gia với Hội đồng dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội để thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét thông qua.

Nội dung thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm: Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo; việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo; việc tuân thủ thủ tục và trình tự đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo; tính khả thi của dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới.

1.3.3.5. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới

Vấn đề giới và bình đẳng giới là vấn đề còn khá mới mẻ trong khoa học xã hội và khoa học pháp lí, trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng như quan điểm định kiến giới đã ăn sâu vào ý thức của cả nam giới và phụ nữ, đã in đậm trong cách sống hàng ngày, trong phong tục tập quán của người dân. Vì vậy, không thể làm thay đổi nhận thức của cả nam và nữ về vấn đề giới và bình đẳng giới trong một sớm một chiều.

Biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới là biện pháp bảo đảm bình đẳng giới mang tính chất giáo dục, thuyết phục tác động dần dần một cách sâu rộng vào quần chúng nhân dân. Tuy biện pháp này không đem lại hiệu quả ngay tức thời, nhưng khi đã đạt được kết quả thì đem lại tác dụng tích cực, lâu dài và ổn định, không gây ra các tác động ngoại ý khác.

Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức giới và bình đẳng giới. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hình thức khác (Điều 23 Luật Bình đẳng giới). Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

1.3.3.6. Biện pháp bảo đảm bình đẳng giới bằng nguồn tài chính

Để có thể thực hiện được các chính sách của Đảng, của Nhà nước, các quy định của pháp luật về bình đẳng giới cần phải có nguồn tài chính nhất định. Vấn đề bình đẳng giới là vấn đề quan trọng phải được Nhà nước thực hiện, vì vậy nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới trước hết phải được trích từ ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, muốn đạt được bình đẳng giới thực sự trong xã hội, cần có sự phối hợp của Nhà nước với các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế và cá nhân… để huy động nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới.

Theo Điều 24 Luật Bình đẳng giới, nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm: ngân sách Nhà nước, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân, các nguồn thu hợp pháp khác. Việc quản lí, sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới phải đúng mục đích, có hiệu quả và theo quy định của pháp luật.

1.3.4. Trách nhiệm thực hiện bảo đảm bình đẳng giới

Để mục tiêu bình đẳng giới được bảo đảm thực hiện có hiệu quả thì một vấn đề không thể thiếu đó là cơ quan đầu mối có trách nhiệm quản lí Nhà nước về bình đẳng giới. Mặc dù tại Điều 9 Luật Bình đẳng giới đã có quy định về cơ quan quản lí Nhà nước, nhưng cũng chỉ quy định một cách chung chung là Chính phủ thống nhất quản lí Nhà nước về bình đẳng giới và các Bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong quá trình thực hiện. Nhưng kể từ khi Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/06/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới được ban hành thì chúng ta đã xác định được cơ quan đầu mối có trách nhiệm quản lý trực tiếp về vấn đề bình đẳng giới. Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 70 thì đó là Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội: “Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi cả nước”.

Như vậy, ở Việt Nam, pháp luật bình đẳng giới đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng ngay từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Sự quan tâm đó không chỉ được quy định trong Hiến pháp 1992 và các văn bản Hiến pháp trước đó như một nguyên tắc hiến định mà các quy định về bình đẳng giới còn được thể chế hóa trong các văn bản dưới luật thuộc các ngành luật khác nhau. Thành tựu bình đẳng giới đáng kể là sự ra đời của Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực ngày 1/7/2007. Đây là văn bản luật quan trọng điều chỉnh lĩnh vực bình đẳng giới, là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bình đẳng giới. Khóa luận: Pháp luật thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Bình đẳng giới, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc xuất phát từ hạn chế trong việc xây dựng pháp luật cũng như quá trình áp dụng pháp luật mà vấn đề này sẽ được làm rõ ở chương tiếp theo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x