Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Bồi thường do truất hữu trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hiện đại của trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Có hai lý do chính để tác giả chọn nghiên cứu về đề tài “Bồi thường do truất hữu hóa trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hiện đại của Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID)”, cụ thể như sau:

Thứ nhất, bồi thường trong truất hữu hóa cho nhà đầu tư nước ngoài luôn là một chủ đề gây tranh cãi [14, tr. 213]. Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn không có một nguyên tắc rõ ràng nào để giải quyết vấn đề bồi thường khi một quốc gia thực hiện việc truất hữu hóa. Trong bối cảnh phát triển của kinh tế, vấn đề này càng trở nên phức tạp.

Theo một cuộc khảo sát của UNCTAD vào năm 2007 về 2000 hiệp định đầu tư thì trong phần lớn các hiệp định này [19, tr. 93], Quốc gia nhận đầu tư được phép truất hữu tài sản của nhà đầu tư nước ngoài khi 04 (bốn) yếu tố sau được đảm bảo, đó là việc truất hữu phải: (i) phục vụ mục đích công cộng; (ii) được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử; (iii) được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật và (iv) được dựa trên cơ sở bồi thường. Trong bốn yếu tố này, việc bồi thường cho nhà đầu tư là yếu tố gây tranh cãi nhiều nhất. Thêm vào đó, theo báo cáo của UNCTAD năm 2015 [20, tr. 103], trong số các quyết định được đưa ra về nội dung (merits) tại các vụ kiện của tòa trọng tài ISDS được đưa ra thì phần lớn là lỗi vi phạm về công bằng và bình đẳng (fair and equitable) và truất hữu hóa (expropriation).

Thứ hai, chưa có các quy định cụ thể về việc bồi thường cho nhà đầu tư trong các hiệp định đầu tư quốc tế. Hiện nay, việc bồi thường khi quốc gia có hành vi truất hũu hóa tài sản của nhà đầu tư đều được yêu cầu khi có hành vi truất hữu hóa. Tuy nhiên, cách thức xác định giá trị hay tiêu chuẩn của khoản bồi thường vẫn không được quy định cụ thể tại các hiệp định này. Tại các quyết định của tòa trọng tài ISDS, các cách thức xác định yếu tố bồi thường phần lớn được xác định trên cơ sở vụ việc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Một số các bài nghiên cứu về vấn đề bồi thường cho nhà đầu tư khi quốc hữu hóa đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trước đó như: Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

  • Sornarajah, M. (2004). The international law on foreign investment. 2nd ed. Cambridge: Cambridge University Press
  • Peter D. Isakoff (2013). Defining the Scope of Indirect Expropriation for International Investments , 3 Global Bus. L. Rev. 189.
  • Reinisch, August (2008). Legality of Expropriations. I: Standards of Investment Protection, August Reinisch (ed.).
  • Joshua B. Simmons (2012). Valuation In Investor-State Arbitration: Toward A More Exact Science. 30 BerkeleyJ. Int’lLaw.
  • Reinisch, August (2008). Legality of Expropriations. I: Standards of Investment Protection, August Reinisch (ed.)

Trong bài viết trên, về tính hợp pháp của việc truất hữu hóa [17, tr. 171 – 204], các tác giả đã phân tích cả bốn yếu tố cho truất hữu hóa hợp pháp. Đặc biệt về yếu tố bồi thường, tác giả đã đưa ra các cách thức xác định tiêu chuẩn của việc bồi thường qua các thời kỳ phát triển của luật quốc tế thông qua các vụ việc và học thuyết nổi tiếng. Đầu tiên là vụ yêu cầu của người chủ thuyền Nauy [26] với công thức “chỉ bồi thường”[1]. “Chỉ bồi thường” ở đây được PCA giải thích là việc hoàn lại hoàn toàn tài sản đã mất trên cơ sở status quo ante,[2] bao gồm cả lợi nhuận bị mất [26, tr. 338]. Vụ thứ hai có tính chất đánh dấu trong lịch sử phát triển của việc bồi thường khi chiếm đoạt tài sản nước ngoài là vụ Chorzow Factory [3] tại PCIJ. Qua vụ việc này, nguyên tắc bồi thường “công bằng” đã được đưa ra.

Ngoài ra, hai học thuyết quan trọng trong việc xác định tiêu chuẩn của bồi thường nữa là học thuyết Hull với công thức về việc bồi thường “nhanh chóng, đầy đủ, hiệu quả” và học thuyết Calvo với việc quy định nhà đầu tư nước ngoài không được đối xử tốt hơn công dân của nước có hoạt động truất hữu hóa. Cuối cùng, bài viết chỉ ra rằng tiêu chuẩn được thừa nhận nhiều nhất trong luật quốc tế là tiêu chuẩn về bồi thường phù hợp lần đầu tiên được đưa ra bởi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 1803.

Trong bài nghiên cứu về việc định giá trong các vụ kiện nhà đầu tư – nhà nước [11], tác giả Joshua B. Simmons đã tập trung vào việc xác định giá trị của việc bồi thường thông qua cái giá mà người mua sẵn sàng trả cho một người sẵn sàng bá trong trường hợp mỗi người có thông tin đầu đủ, mỗi người đều muốn tối đa hóa thu nhập và không có ai bị đe dọa.

Có thể nói, các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bồi thường trong truất hữu hóa qua nhiều các góc độ khác nhau, từ việc phan tích các tiêu chuẩn của bồi thường, cách bồi thường đối với từng loại tài sản hay cách thức tính giá trị được áp dụng trong các bản án tại ICSID.

3. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là đưa ra phân tích về lượng bồi thường cuối cùng được trao cho một yêu cầu đòi bồi thường khi có sự truất hữu hóa. Cụ thể, bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào các vấn đề như:

  • Sự khác biệt giữa truất hữu hóa hợp pháp và truất hữu hóa bất hợp pháp. Trên cơ sở này, bài viết phân tích sự khác nhau giữa việc bồi thường trên cơ sở truất hữu hóa hợp pháp và truất hữu hóa bất hợp pháp.
  • Xác định tiêu chuẩn của việc bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
  • Phương pháp xác định giá trị bồi thường trên thực tế trong trường hợp truất hữu hóa bất hợp pháp.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:

  • Tại sao có sự khác nhau trong việc bồi thường giữa truất hữu hóa hợp pháp và bất hợp pháp?
  • Việc bồi thường khi truất hữu hóa hợp pháp và truất hữu hóa bất hợp pháp diễn ra như thế nào?
  • Có các tiêu chuẩn nào để xác định việc bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp?
  • Có các phương pháp nào để xác định giá trị bồi thường trên thực tế trong trường hợp truất hữu hóa bất hợp pháp?

5. Phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu chỉ nghiên cứu việc bồi thường do truất hữu hóa thông qua các vụ việc hiện đại được xử lý tại ICSID. Cụ thể là:

  • Giới hạn không gian: bài nghiên cứu sẽ tập trung phân tích các vụ kiện tại ICSID
  • Giới hạn thời gian: bài nghiên cứu tập trung phân tích các vụ việc xảy ra sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 năm 1945. Giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 là giai đoạn các hiệp định đầu tư được ký kết mạnh mẽ. Giai đoạn này còn chứng kiến một sự gia tăng lớn các hoạt động truất hữu và các hình thức tái cấu trúc kinh tế khác tại nhiều các quốc gia với chế độ kinh tế, chính trị khác nhau.

6. Phương pháp nghiên cứu

          Bài nghiên cứ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:

  • Phân tích: bài viết sẽ đi phân tích các vụ việc cụ thể để làm rõ các cách thức bồi thường trên cơ sở truất hữu hóa trên thực tế.
  • So sánh: bài viết sẽ so sánh các học thuyết / phán quyết được sử dụng khi xác định cách thức bồi thường trên cơ sở truất hữu hóa.
  • Thống kê: bài viết sẽ thống kê các cách thức xác định tiêu chuẩn của việc bồi thường hợp pháp và bất hợp pháp trên thực tế được sử dụng. Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như biện chứng khoa học kết hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp; phương pháp phân tích, lựa chọn.

7. Kết cấu báo cáo nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, bài nghiên cứu gồm có ba chương. Cụ thể là:

  • Chương 1: Một số nguyên tắc pháp lý về bồi thường trong truất hữu
  • Chương 2: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp.
  • Chương 3: Bồi thường trong trường hợp truất hữu hóa bất hợp pháp.

Chương 1 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC PHÁP LÝ VỀ  BỒI THƯỜNG KHI TRUẤT HỮU 

Trong Chương 1, tác giả sẽ trình bày về xu hướng phân biệt giữa bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp với trường hợp truất hữu bất hợp pháp trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hiện đại. Để phân tích xu hướng này, bài viết sẽ lần lượt chỉ ra rằng việc truất hữu không phải hoàn toàn là bất hợp pháp vì truất hữu đã được công nhận trong luật quốc tế hiện đại (1.1). Tuy nhiên, để hành vi truất hữu được coi là hợp pháp thì cần đáp ứng một số điều kiện (1.2).

1.1. Quyền của các quốc gia trong việc truất hữu tài sản 

Luật quốc tế không cấm các nước nhận đầu tư truất hữu tài sản của nhà đầu tư. Bất cứ sự can thiệp nào của quốc gia tới tài sản tư nhân thuộc quyền tài phán của mình (dù thuộc về cá nhân, tổ chức nước ngoài hay trong nước) đều không bị cấm bởi pháp luật quốc tế. Quyền của một quốc gia trong việc truất hữu tài sản nước ngoài cũng được coi là một thuộc tính của chủ quyền và được công nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế hiện đại qua nhiều các hình thức khác nhau như nghị quyết của Liên Hợp quốc,[4] bản án, quyết định của tòa án hay trọng tài[5] hay trong các điều ước quốc tế.

Trong phán quyết của mình, tòa trọng tài trong vụ Texaco v. Libyan Arab Republic [57] còn cho rằng, quyền của một quốc gia trong việc truất hữu tài sản bắt nguồn từ tập quán pháp luật quốc tế, cái mà được hình thành từ thực tiễn chung được công  nhận bởi cộng đồng quốc tế như là luật. [57, ¶ 59]

Không chỉ vậy, quyền truất hữu có thể coi là quyền tự trị có liên quan đến chủ quyền và quyền tài phán của một quốc gia thực hiện quyền đó trên lãnh thổ của mình, hoặc theo một số cách gọi, truất hữu có thể coi là “quyền tự bảo vệ”, cái mà cho phép một quốc gia có thể gia tăng phúc lợi và kinh tế [21, ¶ 21]. Tòa trọng tài ICSID trong vụ kiện Amco v. Iran [43] cũng đồng ý với nhận định này. Họ cho rằng: Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

“Đây là nguyên tắc cơ bản của một quốc gia có chủ quyền khi quốc hữu hóa hoặc truất hữu tài sản, bao gồm các quyền hợp đồng đã được cấp trước đó bởi chính quốc gia, ngay cả khi chúng thuộc về người nước ngoài, đến nay được thừa nhận rõ ràng trong các hệ thống pháp luật quốc gia cũng như trong quốc tế.”[43, ¶ 188]

Ngoài được ghi nhận trong tập quán pháp luật quốc tế, quyền truất hữu của quốc gia còn được phản ánh trong các hiệp định quốc tế. Có thể kể đến một số ví dụ như: Hướng dẫn của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) [30, Section IV(1)] Bản Dự thảo của Liên Hợp quốc về Hoạt động của các Tập đoàn Xuyên quốc gia [31, ¶ 55] hay Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới.  [32, Section IV(1)]

Như vậy, có thể kết luận rằng quyền truất hữu tài sản của cá nhận, tổ chức nước ngoài (hay trong phạm vi nghiên cứu của Khóa luận này là của nhà đầu tư nước ngoài) của một quốc gia là được chấp nhận hoàn toàn. Tuy nhiên, việc truất hữu tài sản của một quốc gia luôn bị giới hạn để nhằm cân bằng với lợi ích của cá nhân, tổ chức nước ngoài sở hữu tài sản đó (những điều kiện để việc truất hữu được coi là hợp pháp). Những giới hạn này sẽ được trình bày tại phần 1.2.

1.2. Điều kiện để việc truất hữu được coi là hợp pháp

Để hành vi truất hữu được coi là hợp pháp, một số điều kiện cần được thỏa mãn. Trong luật quốc tế hiện tại, phần lớn các hiệp định đầu tư quốc tế cũng như các bản án đều cho rằng việc các quốc gia truất hữu tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài là được phép miễn là bốn yếu tố sau được thỏa mãn:

  • Vì mục đích công cộng (For a public purpose);
  • Diễn ra trên cơ sở không phân biệt (In a non discriminatory manner);
  • Được thực hiện theo đúng trình tự pháp luật (In accordance with due process of law); và
  • Có kèm theo sự bồi thường (Against the payment of compensation).

Tại một số các hiệp định đầu tư, bốn yếu tố này có thể được trình bày khác nhau. Tuy nhiên, bốn yếu tố này vẫn được xem là đặc trưng cho việc bồi thường cho một hành vi truất hữu được coi là hợp pháp.

Một số ví dụ về điều khoản truất hữu được thể hiện trong các BIT như:

Hà Lan – Oman BIT (2009): “Điều 4

Không Bên ký kết nào sẽ thực hiện bất kỳ biện pháp nào tước đoạt, trực tiếp hoặc gián tiếp, công dân hoặc người của Bên ký kết kia . Bên đầu tư hoặc các biện pháp có hiệu lực tương đương trừ khi các điều kiện sau được tuân thủ:

  • Các biện pháp được thực hiện vì lợi ích công cộng và theo đúng thủ tục pháp luật;
  • Các biện pháp không phân biệt hoặc trái với bất kỳ nghĩa vụ cụ thể mà Bên Ký kết kia có thể có được;
  • Các hành động tước đoạt kèm theo các quy định cho thanh toán chỉ bồi thường.”

Việt Nam – Nhật Bản BIT (2003): “Điều 9.2 Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Không Bên Ký kết nào được trưng thu hoặc quốc hữu hóa những đầu tư của các nhà đầu tư của Bên Ký kết kia trong Khu vực của mình, hoặc thực hiện bất kỳ biện pháp tương tự với việc trưng thu hoặc quốc hữu hóa (dưới đây gọi là “trưng thu”), ngoại trừ các trường hợp sau:

  • vì mục đích công cộng;
  • không phân biệt đối xử;
  • thanh toán các khoản bồi thường một cách đúng hạn, công bằng và hiệu quả; và
  • theo đúng trình tự của pháp luật.”

Tác giả sẽ lần lượt trình bày về từng yếu tổ của truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp phía dưới.

1.2.1 Nguyên tắc về “Mục đích Công cộng”

Nguyên tắc về mục đích công cộng yêu cầu rằng việc truất hữu “phải được thúc đẩy bởi việc đạt được một mục tiêu chính đáng về phúc lợi, trái ngược với lợi ích cá nhân thuần túy hoặc một kết cục bất hợp pháp“. [7, tr 28-29]

Tuy nhiên, theo phán quyết của một số tòa trọng tài, việc một hành động được thúc đẩy bởi mục đích công cộng là chưa đủ để thỏa mãn nguyên tắc này. Cách tiếp cận này xuất phát từ phán quyết của tòa trọng tài trong vụ ADC v. Hungary và được trích dẫn rất nhiều trong các phán quyết sau này.

Cụ thể, tòa trọng tài trong vụ ADC v. Hungary  ghi nhận rằng:

“[Y]êu cầu hiệp ước về “lợi ích công cộng” đòi hỏi một số lợi ích chính đáng của công chúng. Nếu chỉ tham chiếu đến “lợi ích công cộng” có thể đưa lợi ích đó thành hiện thực và do đó thỏa mãn yêu cầu này, thì yêu cầu này sẽ không có ý nghĩa vì Tòa trọng tài có thể tưởng tượng không có một tình huống nào mà yêu cầu này không được đáp ứng.” [41, ¶ 432] (Nhấn mạnh được thêm vào.)

Mục đích công cộng thường được ghi nhận trong các BIT dưới cụ từ “public purpose”. Tuy nhiên, một số hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) lại tiếp cận với nguyên tắc này thông qua các cụm từ khác nhau như: “public benefit” (Đức – Pakistan BIT), “public interest” (Trung Quốc – Peru FTA), “public order and social interest” (Canada – Colombia FTA), “internal needs” (Hong Kong, China – Thái Lan BIT), “legal ends” (Malaysia – Uruguay BIT), “national interest” (Chile – Philippines BIT), “public necessity” (Peru – Singapore FTA). 

Mục đích công cộng phải thể hiện tại thời điểm truất hữu nhưng không phụ thuộc vào mục đích cuối cùng của mục tiêu. Ngược lại, yêu cầu về mục đích công cộng sẽ không được thỏa mãn nếu việc nhận tài sản ban đầu không có mục đích công cộng nhưng sau đó được sử dụng để phục vụ cho mục đích công cộng.

Các tòa án có xu hướng tạo điều kiện cho các quốc gia có một sự đánh giá rộng rãi trong việc xác định xem việc chiếm đoạt tài sản có phải là mục đích công cộng hay không [18, tr. 371]. Như vậy trên thực tế, việc không thỏa mục đích công cộng rất hiếm hoi nhưng không phải không xảy ra. Một số ví dụ có thể kể đến như:

Tòa trọng tài ad hoc trong vụ BP Exploration Co. v. Libya [44] nhận định rằng yêu cầu về mục đích công cộng không được thỏa mãn do việc truất hữu tài sản của nhà đầu tư “hoàn toàn vì mục đích chính trị thuần túy” [44, ¶ 329].

Trong vụ ADC v. Hungary, tòa trọng tài cũng kết luận rằng đã có sự vi phạm nguyên tắc vì mục đích công cộng vì họ cho rằng việc thông qua đạo luật truất hữu nhằm mục đích để hài hóa với chế độ pháp lý của Liên minh Châu Âu không phải vì mục đích công cộng. [41, ¶ 429]

1.2.2 Nguyên tắc về “Không phân biệt đối xử” Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Yêu cầu không phân biệt đối xử có nghĩa là việc tước quyền sở hữu không thể dựa vào lý do là vì người nước ngoài thuộc “một nhóm dân tộc, tôn giáo, văn hoá, sắc tộc hoặc quốc gia cụ thể.” [7, ¶ 40]

Thông thường, các tòa trọng tài thường kết luận yêu cầu này bị vi phạm trong trường hợp việc truất hữu là nhằm chống lại nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quốc tịch [7, tr.34]. Như vậy có nghĩa là việc truất hữu hướng đến một nhà đầu tư cụ thể nào đó (mà không vì lý do quốc tịch của họ) sẽ không bị coi là vi phạm yêu cầu về không phân biệt đối xử.

Một ví dụ cho cách phân tích này là vụ GAMI Investments v. Mexico [48]. Trong vụ kiện này, chính phủ Mexico đã truất hữu một số nhà máy đường của một số công ty Mexico được sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên tòa trọng tài đã ra phán quyết rằng việc truất hữu này hoàn toàn không phân biệt đối xử do hành động này nhằm mục đích chính sách chính đáng là nhằm đảm bảo cho nền công nghiệp đường vẫn nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp địa phương.

1.2.3 Nguyên tắc về “Đúng trình tự pháp luật”

Nguyên tắc đúng trình tự pháp luật đòi hỏi hai yếu tố: (i) việc truất hữu tuân theo các thủ tục được thiết lập trong luật pháp của quốc gia nhận đầu tư và các luật lệ quốc tế được công nhận trong lĩnh vực này và (ii) nhà đầu tư bị ảnh hưởng có cơ hội xem xét lại vụ kiện trước một cơ quan độc lập và vô tư (Quyền được xem xét độc lập). [ 7, tr.36]

Nguyên tắc này thường được thể hiện trong IIA là “under due process of law”. Tuy nhiên, một số FTA và BIT thường sử dụng các thuật ngữ khác như: “legal provisions” (Trung Quốc – Costa Rica BIT), “legal procedure” (Hàn Quốc – Mexica BIT) hay là “domestic laws of general application” (Oman – Thụy sĩ BIT).

1.2.4 Nguyên tắc bồi thường

Nguyên tắc bồi thường sẽ được trình bày trong Chương 2 của Khóa luận này.

1.3. Yêu cầu phân biệt giữa truất hữu hợp pháp và không hợp pháp Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Việc truất hữu trên thực tế xảy ra cả trường hợp truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp. Phần 1.2 ở trên đã chỉ ra các yêu cầu để việc truất hữu được coi là hợp pháp. Việc không tuân thủ một trong các điều kiện đó sẽ dẫn đến hành vi truất hữu bất hợp pháp.

Việc phân biệt giữa truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp là cần thiết vì hai lý do: (i) Mọi hệ thống pháp lý đều chỉ ra sự khác biệt giữa những thiệt hại phát sinh từ nhũng hành vi hợp pháp và bất hợp pháp [7, tr 438]. Chỉ trong trường hợp hành vi hợp pháp và bất hợp pháp dẫn đến hậu quả kinh tế giống nhau thì tính năng phòng ngừa nói chung của pháp luật mới được thỏa hiệp [22, tr 723, 726-727]. (ii) Trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp, lượng bồi thường mà bên truất hữu phải chịu (trong trường hợp này là quốc gia nhận đầu tư) sẽ nhiều hơn lượng bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp.

Để làm rõ hai lý do trên, bài nghiên cứu sẽ phân tích vụ kiện Chorzow Factory, vụ kiện đã đặt cơ sở cho việc phân biệt giữa truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp cho các vụ kiện sau này (1.3.1). Sau đó, bài nghiên cứu sẽ chỉ ra xu hướng xét xử của các tòa trọng tài trong việc phân biệt giữa bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp (1.3.2).

1.3.1. Vụ kiện Chorzow Factory

Vụ việc đầu tiên có đề cập đến việc phải phân biệt giữa truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp là vụ Chorzow Factory [45]. Vụ tranh chấp liên quan đến Hiệp ước Versailles, ký kết vào năm 1919. Hiệp ước có yêu cầu rằng một số vùng lãnh thổ được chuyển giao từ kiểm soát của Đức sang Ba Lan và rằng tình trạng của một số vùng đất khác được xác định bằng cách bỏ phiếu. Trước đó, Công ước Geneva – được thông qua để thi hành Hiệp ước Versailles – và các cuộc trưng cầu dân ý sau đó đã quyết định từ bỏ vùng Chorzow, nằm ở Upper Silesia, cho Ba Lan. Theo Công ước Geneva, các nước tiếp nhận lãnh thổ của Đức có quyền tịch thu đất thuộc sở hữu của chính phủ Đức và ghi nhận nghĩa vụ đền bù của Đức trong việc bồi thường cho các khoản đất đó. Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh theo Công ước đều phải được chuyển đến PCIJ.

Tại vụ tranh chấp này, PCIJ cho rằng:

“[V]iệc bồi thường cho Chính phủ Đức không nhất thiết là giới hạn đối với Giá trị của cam kết tại thời điểm thu hồi, cộng với lãi suất cho đến ngày thanh toán. Hạn chế này chỉ có thể được chấp nhận nếu Chính phủ Ba Lan có quyền truất hữu, và nếu hành vi sai trái này chỉ đơn thuần là không trả cho hai Công ty giá hợp lý cho việc bị tước đoạt; thi trong trường hợp này, một hạn chế như vậy có thể dẫn tới việc đặt Đức và các lợi ích được Công ước Geneva bảo vệ […] trong tình huống không thuận lợi hơn so với những gì mà Đức và những lợi ích này sẽ có nếu Ba Lan đã tôn trọng Công ước nói trên. Một hậu quả như vậy sẽ không chỉ là bất công, mà còn […] không tương thích với mục đích của […] Công ước – có nghĩa là về nguyên tắc, việc cấm việc thanh lý tài sản  […] của người Đức và […] các công ty […] tại Upper Silesia – vì nó sẽ làm cho việc thanh lý hợp pháp và tước quyền bất hợp pháp không thể phân biệt được trong chừng mực xét đến kết quả kinh tế.” [45, ¶47] (Nhấn mạnh được thêm vào).

Như vậy, PCJI cho rằng lượng bồi thường cho hành vi truất hữu hợp pháp chỉ là “giá trị cam kết tại thời điểm thu hồi” (cộng với lãi suất), lượng mà cấu thành “giá trị của những gì đã bị truất hữu”. Mặt khác, trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp, nước nhận đầu tư sẽ phải chịu bồi thường một lượng cao hơn vậy. Cụ thể, Tòa án trong vụ kiện này cho rằng, việc truất hữu bất hợp pháp yêu cầu: Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

“Việc bồi thường[6] bằng hiện vật hoặc nếu không thể thực hiện được thì phải thanh toán khoản tiền tương ứng với giá trị bồi thường bằng hiện vật; [và] khoản tiền bồi thường, nếu cần, của thiệt hại cho tổn thất được duy trì mà sẽ không bao gồm việc bồi thường bằng hiện vật hoặc thanh toán thay cho nó.”

Cũng từ cơ sở này, Tòa trọng tài cho rằng biện pháp khắc phục cho hành vi bất hợp pháp phải “xóa hết mọi hậu quả” của hành vi đó. Mặc dù PCIJ không trực tiếp giải thích một cách chính xác như thế nào được gọi là “xóa hết mọi hậu quả”. Tuy nhiên, trong phán quyết của mình, Tòa cho rằng sự khác biệt ở đây là nếu việc truất hữu là hợp pháp thì giá trị cam kết tại thời điểm thu hồi là biện pháp và giới hạn của việc bồi thường, trong khi đó nếu không hợp pháp, giá trị này có thể, hoặc chỉ là một phần, của việc đền bù cho được thanh toán [45, ¶ 1306].

Có thể thấy rằng, quyết định của Tòa dựa trên cơ sở việc phân biệt giữa damnum emergens (thiệt hại thực tế) và lucrum cessans (thiệt hại về lợi nhuận) tức là phân biệt giá trị việc bồi thường dựa trên giá trị của doanh nghiệp bị truất hữu, bao gồm tài sản hữu hình, các quyền hợp đồng và các giá trị hữu hình khác so với bồi thường dựa trên lợi nhuận. Theo đó, trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp, nhà đầu tư sẽ nhận được sự bồi thường mà giá trị của nó giới hạn trong tài sản đầu tư. Còn trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp, sự bồi thường mà nhà đầu tư nhận được còn bao gồm cả phần lợi nhuận hay nói cách khác, quốc gia nhận đầu tư sẽ phải chịu thêm phần nghĩa vụ để bồi thường cho thiệt hại vì “có một nguyên tắc và khái niệm tổng quát của luật quốc tế rằng bất kỳ vi phạm cam kết nào cũng có nghĩa vụ phải đền bù” [45, ¶29].

1.3.2. Việc áp dụng cách tiếp cận trong vụ kiện Chorzow Factory

Tiêu chuẩn của bồi thường trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp có xu hướng thay đổi rõ rệt trong giai đoạn trước và sau năm 2006, thời điểm xảy ra vụ tranh chấp ADC v. Hungary.[7]

  • Trước khi xảy ra vụ tranh chấp ADC v. Hungary

Vào trước thời điểm có vụ ADC v. Hungary [41], các tòa trọng tài đưa ra phán quyết về tiêu chuẩn của bồi thường trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp bằng cách áp dụng tiêu chuẩn của bồi thường hợp pháp đã được ghi nhận trong các hiệp ước đầu tư.

Hai vụ tranh chấp di theo cách giải quyết áp dụng tiêu chuẩn của bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp cho trường hợp truất hữu bất hợp pháp là Metaclad v. Mexico [50] và Tecmed v. Mexico [56]. Nhà đầu tư trong cả hai vụ việc đều bị từ chối cấp phép do sự phản đối của cộng đồng đối với bãi chôn lấp của dự án đầu tư. Tòa trọng tài ICSID đều nhận thấy rằng hằng vi truất hữu của Mexico trong cả hai vụ việc là bất hợp pháp. Tuy nhiên, sự khác biệt này bị tòa trọng tài bỏ ngỏ. Để tính giá trị bồi thường, tòa trọng tài đã áp dụng điều khoản về bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp trong hiều định đầu tư.  Cụ thể, tiêu chuẩn bồi thường được ghi nhận là “giá trị thị trường hợp lý”.

  • Vụ tranh chấp ADC v. Hungary Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Bối cảnh của vụ tranh chấp này là việc hủy bỏ hợp đồng quản lý sân bay của Hungary với chi nhánh ở địa phương của ADC. Bởi vậy, ADC đã kiện Chính phủ Hungary về hành vi truất hữu nhưng không kèm theo khoản bồi thường cho ADC của Hungary.

Trong vụ tranh chấp ADC v. Hungary, tòa trọng tài ICSID cho rằng cần phải phân biệt giữa truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp. Tòa trọng tài nhận định rằng việc truất hữu trong trường hợp này là bất hợp pháp do Hungary đã không thỏa mãn bất cứ quy định nào của việc bồi thường hợp pháp trong Điều 4 của Hungary – Cyprus BIT.[8] Thêm vào đó, Tòa trọng tài cũng cho rằng những điều khoản quy định trọng hiệp định đầu tư chỉ điều chỉnh trường hợp truất hữu hợp pháp (lập luận này dựa trên nhận định rằng hiệp định đầu tư là lex specialis (luật điều chỉnh một vấn đề cụ thể) và do đó có hiệu lực hơn luật quốc tế nói chung). Do vậy, hành vi truất hữu bất hợp pháp sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định đầu tư mà sẽ được điều chỉnh bởi tập quán quốc tế đã được đưa ra trong vụ tranh chấp Chorzow Factory [41, ¶¶480-499].

Cụ thể, trong phán quyết của mình, Tòa trọng tài cho rằng:

“BIT chỉ quy định tiêu chuẩn bồi thường thiệt hại phải trả trong trường hợp truất hữu hợp pháp, và những điều này không thể được sử dụng để xác định vấn đề thiệt hại phải trả trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp vì điều này sẽ kết hợp việc bồi thường cho việc chiếm hữu hợp pháp với thiệt hại cho việc truất hữu bất hợp pháp”. [41,¶ 481]

Và cũng dựa trên cơ sở này, Tòa trọng tài ra phán quyết rằng việc bồi thường thiệt hại sẽ dựa trên tiêu chuẩn là “bồi thường đầy đủ”.[9] Thêm vào đó, do tính chất đặc biệc của vụ việc là giá trị của khoản đầu tư đã tăng lên nhanh chóng kể từ thời điểm truất hữu, bởi vậy, tòa trọng tài đã quyết định rằng thời điểm thích hợp để tính giá trị của khoản bồi thường không phải là ngày xảy ra hành động truất hữu mà là ngày bản án có hiệu lực [41, ¶ 497]. Phương pháp dòng tiền chiết khấu được tòa trọng tài sử dụng để tính giá trị của khoản bồi thường vào thời điểm bản án có hiệu lực [41, ¶ 521].

1.1.3 Sau khi xảy ra vụ tranh chấp ADC v. Hungary

Kể từ thời điểm vụ tranh chấp ADC v. Hungary xảy ra, một số tòa trọng tài hiện đại có xu hướng áp dụng cách tiếp cận này của tòa trọng tài ICSID trong việc phân biệt giữa bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp. [23, tr. 488]

Phần lớn các tòa trọng tài đều dựa trên lập luận của tòa trọng tài trong vụ việc trên rằng các điều khoản về truất hữu trong hiệp định đưa ra những yêu cầu cho việc truất hữu hợp pháp và việc vi phạm những yêu cầu này sẽ được điều chỉnh bởi tập quán quốc tế của luật quốc tế về truất hữu đã được đặt ra trong vụ Chorzow Factory [43], bao gồm cả nguyên tắc “bồi thường đầy đủ” trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp. Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, cách tiếp cận trong vụ ADC v. Hungary [41] có một số hạn chế trong một vài trường hợp. Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

Trong vụ Siemens v. Argentina [55], tòa trọng tài cho rằng Argentina – Đức BIT[10] đã không nhắc đến về tiêu chuẩn hợp lý cho trường hợp truất hữu bất hợp pháp [55, ¶349].  Bởi vậy, họ kết luận rằng tiêu chuẩn của tập quán quốc tế có hiệu lực hơn tiêu chuẩn của hiệp định và nguyên đơn có quyền được bồi thường theo tập quán quốc tế như sau:

“Mấu chốt của sự khác biệt giữa việc bồi thường theo phán quyết trong vụ Chorzow Factory và hiệp định đầu tư [giữa Argentina – Đức] là nguyên đơn có quyền không chỉ được bồi thường giá trị của doanh nghiệp của mình vào ngày 18 tháng 5 năm 2001, ngày truất hữu, mà còn được bồi thường một giá trị lớn hơn giá trị mà doanh nghiệp đã thu được tính đến ngày Bản án này có hiệu lực” [55, ¶349].  

Trên cơ sở này, tòa trọng tài quyết định tính giá trị của khoản bồi thường là giá trị sổ sách của khoản đầu tư tính đến ngày bản án có hiệu lực [55, ¶377]. Tuy nhiên, họ từ chối việc khoản bồi thường bao gồm cả lợi nhuận trong tương lai vì cho rằng việc Siemen có được lợi nhuận đó khó có thể xảy ra. [55, ¶372]

Tương tự, trong bụ Vivendi v. Argentina [59], tòa trọng tài cũng cho rằng nguyên tắc bồi thường đầy đủ cũng được áp dụng trong trường hợp này. Tuy nhiên, họ cũng không tính giá trị tương lai vào khoản bồi thường mà chỉ công nhận khoản bồi thường gồm các khoản chi phí gia tăng kể từ thời điểm truất hữu.

Một vài trường hợp, tòa trọng tài lại chỉ rằng, mặc dù cần có sự phân biệt giữa bồi thường trong trường hợp truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp, tuy nhiên, sự phân biệt này lại không có hiệu quả thiết thực. Một trong số những trường hợp đó là vụ Unglaube v. Costa Rica [58]. Trong phán quyết của mình, ICSID ghi nhận một sự bồi thường nhiều hơn trong trường hợp truất hữu bất hợp pháp. Tuy nhiên, họ cho rằng việc phân biệt sẽ không dẫn đến một sự khác biệt thực tế về số lượng của khoản bồi thường [58, ¶¶ 306 – 307].

Trường hợp cụ thể của vụ việc này đó là việc tài sản đầu tư không chỉ gia tăng nhanh chóng sau thời điểm truất hữu mà còn gia tăng lên đến đỉnh điểm và sau đó giảm vào thời điểm bản án có hiệu lực. Do vậy, tòa trọng tài đã lập luận rằng nếu không có sự truất hữu thì nguyên đơn có thể đã tự do giữ lại hoặc xử lý tài sản trong khi giá trị của chúng còn đang đạt đến đỉnh điểm [58, ¶ 316]. Tuy nhiên, tòa trọng tài không ra phán quyết ghi nhận cho Unglaube một khoản bồi thường với giá trị thị trường bất động sản thường xuyên có thể thay đồi cũng như ghi nhận một thời điểm để tính giá trị thị trường một cách hoàn hảo [58, ¶ 317]. Thay vào đó, họ đã quyết định rằng giá trị của khoản bồi thường sẽ là giá trị của tài sản vào thời điểm trước khi giá của nó đạt đến đỉnh điểm vì họ cho rằng điều đó sẽ là điều hợp lý xảy ra nếu không có hành động truất hữu [58, ¶ 318].

Cách tiếp cận trong vụ Unglaube v. Costa Rica giống vụ Chorzow Factory ở chỗ cả hai tòa trọng tài đều cố gắng ra phán quyết sao cho sự bồi thường sẽ tương ứng với tình huống có thể đã xảy ra nếu không có hành động truất hữu bất hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường hợp trên, tòa trọng tài đã có sự tiếp cận và áp dụng một cách đa dạng hơn trong việc quyết định số lượng bồi thường.

Tóm lại, thời điểm kể từ khi xảy ra vụ tranh chấp  ADC v. Hungary, sự công nhận của các tòa trọng tài về việc phân biệt truất hữu hợp pháp và bất hợp pháp đã gia tăng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự phân biệt này không được áp dụng rõ ràng vì nó không tạo ra được sự khác biệt một cách thiết thực. Khóa luận: Pháp luật giải quyết bồi thường do truất hữu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Bồi thường khi xảy ra truất hữu hóa hợp pháp

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x