Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật và kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến Việt Nam và ở một số quốc gia trên thế giới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Pháp luật và kinh nghiệm về phòng, chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Trong cách hiểu của người Việt xưa, tham quan ô lại, sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ, đục khoét của công, vơ vét tiền của dân, cậy quyền làm bậy… được dùng để chỉ những k  có chức, quyền và lợi dụng chức, quyền đó, bằng những thủ đoạn, cách thức khác nhau để mưu lợi cho riêng mình.

Những hành vi này xâm hại đến trật tự kinh tế của xã hội phong kiến, phá hoại kỷ cương phép nước, khiến dân chúng lầm than, cực khổ và sinh lòng oán thán triều đình. Chính vì vậy, ngăn chặn, đầy lùi tệ nạn tham nhũng là một trong những mục tiêu quan trọng của các triều đại phong kiến, không những để bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp cầm quyền mà nó còn nhằm xây dựng một trật tự xã hội ổn định, thịnh vượng, một chế độ hợp lòng dân. Bởi sự vững mạnh, lâu bền của ngôi thiên tử trong bất kỳ triều đại nào đều không chỉ nhờ thấm nhuần và thực thi Vương đạo mà cần được sự trung thành và thương yêu nhà vua của quần thần, sự “tâm quy” của muôn dân. Do vậy, “công tâm” là chiến thuật lấy lòng dân của bất cứ triều đại nào cần duy trì sự ổn định để xây dựng và bảo vệ vương quyền.

Triết lý này được thể hiện rõ nét trong các quy định pháp luật của các triều đại phong kiến Việt nam, thể hiện qua các Chỉ, Dụ, Sắc, Lệnh của Nhà vua và triều đình phong kiến. Các thiết chế về tổ chức bộ máy hành chính cùng với chế độ, chính sách quản lý đội ngũ quan lại đã được hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử.

Đề ngăn chặn tham nhũng trong bộ máy, các nhà nước phong kiến đã tiến hành rất nhiều biện pháp như từ việc cải cách bộ máy nhà nước, tuyển chọn người hiền tài để giúp dân, giúp nước, giám sát bộ máy quan lại để đánh giá đạo đức và năng lực làm việc, xử lý hành vi tham nhũng… Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Các biện pháp phòng, chống tham nhũng thời kỳ phong kiến nhìn chung đều thể hiện khá rõ tư tưởng và quan điểm của các triều đại. Đó là luôn đề cao biện pháp phòng ngừa tham nhũng, coi phòng ngừa là một trong những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và duy trì một bộ máy nhà nước phong kiến trong sạch, không có chỗ cho những tên tham quan, ô lại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.1. Phòng ngừa tham nhũng – giải pháp cốt lõi trong phòng, chống tham nhũng dưới thời phong kiến  

Nghiên cứu các quy định pháp luật phong kiến cũng có thể nhận thấy rằng, mặc dù những đạo luật nổi tiếng của các triều đại phong kiến Việt Nam mà chúng ta còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những Bộ hình luật thì thấy pháp luật thiên về việc quy định các biện pháp trừng phạt. Tuy vậy, các Bộ hình luật cũng như những Sắc, Lệnh, Chỉ dụ, của các vị vua phong kiến cũng thể hiện rất rõ tinh thần, tư tưởng phòng ngừa tham nhũng. Tuy rằng trong từng giai đoạn, thời kỳ khác nhau ứng với mỗi triều đại khác nhau, những tinh thần ấy được cụ thể hoá bằng những biện pháp khác nhau song luôn góp phần quan trọng vào việc xây dựng một bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, một đội ngũ quan lại thanh liêm. Tinh thần, tư tưởng đó được thể hiện rõ qua các biện pháp chính sau:

Thứ nhất, chú trọng cải cách hành chính và tuyển chọn, sử dụng quan lại. 

Các đạo luật phong kiến Việt Nam đều có rất nhiều quy định về xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh. Bộ luật tiêu biểu là Bộ luật Hồng Đức với nhiều điều luật thể hiện sự cải cách mạnh mẽ dưới triều Lê. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, cải cách mạnh mẽ và hiệu quả nhất đó là chế độ quan lại luôn ràng buộc, giám sát lẫn nhau. Quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, khu vực, quan lại được quy định rõ ràng và có sự giám sát lẫn nhau. Mỗi bộ phụ trách một việc, các bộ chịu sự giám sát của các khoa, các hiến ty giám sát công việc của các Đạo; các quan lại giám sát lẫn nhau, quan trên giám sát quan dưới. Bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê Thánh Tông được xem là bộ máy phong kiến tập quyền vững mạnh, chặt chẽ, thể hiện sức mạnh chi phối của chính quyền Trung ương xuống địa phương trong cả nước và quyền lực tối cao của người đứng đầu nhà nước.

Việc tuyển chọn quan lại thời Lê dựa vào nhiều con đường như khoa cử, tiến cử, khảo công, khảo khoá… Triều đình còn thường xuyên tổ chức các kỳ khảo công nhằm khảo xét việc hay, dở và năng lực của quan lại hàng năm. Nhà vua còn tổ chức các khoa thi Hoành từ để chọn người hiền tài trong số quan lại đương chức. Trong việc lựa chọn quan lại, thanh liêm luôn được xem là tiêu chuẩn hàng đầu. Đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông, lần đầu tiên chế độ thử việc đối với quan lại đã được áp dụng.

Dưới thời Nguyễn, mặc dù tuyển chọn và tin dùng quan lại chưa được xây dựng thành một chính sách, quốc sách xuyên suốt, rõ ràng, bài bản… nhưng cách lựa chọn người tài của các vị vua cũng luôn thể hiện sự chú trọng, quan tâm, cất nhắc người xuất thân từ giới tinh hoa xã hội, có công trạng với dân tộc, quốc gia… quan tâm đến nguồn gốc gia đình tinh hoa, khí phách để phát hiện, bồi dưỡng. Với phương châm của vua Minh Mạng: Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, vì vậy rất muốn trong triều có người tài giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hoá. Đây chính là những nguyên tắc mang lại hiệu quả trong việc chọn người điều hành quản lý và duy trì trật tự xã hội của triều Nguyễn.

Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là lệ “hồi tỵ”. Theo lệ này thì viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có bất động sản trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Trong lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam, vua Lê Thánh Tông là vị vua đầu tiên đã ban hành và thực hiện luật “hồi tỵ” rất cụ thể và nghiêm túc. Trong Bộ luật Hồng Đức, ông quy định những điều khoản phải “hồi tỵ” như sau: “Cha con, thầy trò, anh em, vợ chồng, thông gia… không được làm, không được tổ chức thi cùng một nơi”; “Các quan phủ, huyện, châu xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, anh em con chú, con bác, bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ ch một người làm xã trưởng, không được cho cả hai cùng làm để trừ mối tội bè phái hùa nhau”; “Các viên quản quân, quản dân nếu người nào có quê quán ở ngay phủ, huyện mình cai trị, có nhà ở nha môn mình làm việc, thì Bộ lại điều động đi nơi khác, chọn người khác bổ thay”.[1]

Luật “hồi tỵ” dưới thời vua Minh Mệnh được mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới, bao gồm:

  • Quan lại ở các bộ, trong kinh và ở các tỉnh, huyện hễ có bố, con, anh em ruột, chú bác, cô dì cùng làm một chỗ đều phải đổi đi chỗ khác. Đối với Viện Thái y là viện chuyên giữ việc thuốc men, chữa bệnh cần phải cha truyền con nối thì không phải áp dụng luật “hồi tỵ”.
  • Những quan lại, ai quê ở phủ, huyện nào thì cũng không được làm việc tại nha môn của phủ, huyện ấy.
  • Quan lại ở các nha thuộc phủ, huyện ai là người cùng làng thì phải chuyển đi nha môn khác làm việc.
  • Quan lại không được làm quan ở chính quê hương mình, quê vợ mình, thậm chí cả nơi đi học lúc còn tr .
  • Người có quan hệ thông gia với nhau, thầy trò cũng không được làm quan cùng một chỗ.
  • Khi thanh tra, thụ lý án, nếu trong đó có tình tiết liên quan đến người thân phải bẩm báo để triều đình cử người khác thay thế.
  • Quan lại không được coi thi, chấm thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen ứng thí. Nếu có, phải tâu trình thay người khác. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.
  • Nghiêm cấm các quan đầu tỉnh không được đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với đàn bà, con gái ở nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình.[2]

Những quy định trong luật “hồi tỵ” được ban hành và áp dụng dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh rất cụ thể, đối tượng và phạm vi áp dụng luật rất rộng rãi đã góp phần làm cho bộ máy nhà nước được củng cố, tránh được tình trạng cục bộ, bè phái, địa phương chủ nghĩa, các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn. Có thể nói, luật “hồi tỵ” là một phương pháp phòng ngừa tham nhũng rất hiệu quả, nhiều tư tưởng tiến bộ trong luật “hồi tỵ” sẽ là các gợi mở góp phần bổ sung, hoàn thiên pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, thiết lập một chế độ lương bổng công bằng, hợp lý cho đội ngũ quan lại. 

Một trong những biện pháp được các triều đình phong kiến thiết lập và luôn cố gắng thực hiện đó là định rõ chế độ bổng lộc cho đội ngũ quan lại tuỳ thuộc vào chức quan và tính chất công việc cũng như khả năng của từng người. Ngay khi lên ngôi, Vua Lê Thánh Tông đã lập ra quan chế, lễ nghi, chế độ lộc điền, tiền tuế bổng cho các quan văn võ trong triều. Những ai làm điều gì nhũng lãm thì đều phải nghiêm trị.[3] Chế độ bổng lộc này được xác định trên nguyên tắc: “Cấp bổng lộc để khuyến khích người có công, tùy theo trách nhiệm nặng hay nhẹ, những hoàng tông và công thần tuy không có hạng định về phẩm tước, mà cấp lộc còn có từng bậc khác nhau, huống chi các quan văn, quan võ trong kinh và ngoài các đạo chức việc không giống nhau, thì việc cấp lộc nên làm cho tỏ rõ việc nặng nhọc, việc nhàn rỗi…”.[4] Vua Lê Thánh Tông còn ra lệnh để khiển trách và răn đe các quan phải thực hiện nghiêm chế độ lương bổng: “Nhà nước đã có quy định lương bổng để giữ liêm khiết, lại có ban bố phép tắc để theo đó mà làm. Nay bọn các ngươi không chịu giữ phép, khi làm việc công thì mượn tiếng việc công để lo chạy việc tư, khi xét kiện tụng thì lo nhận hối lộ mà b  cong phép nước, khiến những người đi đường ai cũng than oán. Xét mối tệ hại này hẳn không là việc nhỏ. Nay các ngươi phải gột rửa lòng mình, giữ thân liêm khiết, gắng gỏi việc công, yêu thương quân dân, khiến chúng thần dân được yên nghiệp, thì các ngươi cũng được yên nghiệp. Nếu vẫn mê muộn không chừa, bị người cáo giác, hoặc dò xét được thực trạng sẽ bị trị năng hơn luật thường 2 bậc. Quan trên và đồng liêu không biết khuyên răn, thì khi việc bị phát giác, cũng bị trị tội theo luật và cắt phần thưởng”.[5]

Dưới triều Nguyễn, cùng với chế độ lương bổng được ban hành, cuối thời Gia Long, nhà vua còn quy định một khoản cấp thêm ngoài lương bổng để nuôi lòng liêm khiết của quan lại, còn gọi là tiền dưỡng liêm. Lúc đầu khoản tiền này chỉ để dành cho quan lại đứng đầu cấp phủ, huyện như Tri phủ, Tri huyện, bởi theo quan điểm của vua Gia Long thì “Phủ, huyện ở gần nhân dân, chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm để tỏ đặc cách”. Sau này dưới thời Vua Minh Mạng đối tượng được hưởng khoản tiền dưỡng liêm này được mở rộng hơn, ngoài Tri phủ, Tri huyện thì các quan giữ chức Tri Châu, Đồng tri phủ cũng được cấp loại tiền này, vì theo Vua Minh Mạng thì “tiền dưỡng liêm là để khuyến khích tiết tháo trong sạch”. Đặc biệt dưới thời Vua Tự Đức, tiền dưỡng liêm còn được cấp cho các phái viên thu thuế quan. Chế độ tiền dưỡng liêm chỉ được áp dụng cho các quan lại các cấp ở địa phương, quan chức thuộc bộ máy Trung ương ở kinh thành đều không nằm trong chế độ ưu đãi này. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Theo các tài liệu lịch sử thì giá trị thực tế của khoản tiền dưỡng liêm dưới triều Nguyễn rất lớn, nó tương đương với số lương bổng họ được nhận thực hàng tháng. Điều này có ý nghĩa rất lớn về vật chất vì quan lại có thể dựa vào tiền dưỡng liêm để bảo vệ tính thanh liêm cần thiết cho mình. Tiền dưỡng liêm thật sự là một biện pháp tương đối hữu hiệu trong việc ngăn ngừa tệ nạn tham những trong hàng ngũ quan lại triều Nguyễn.

Thứ ba, thành lập các cơ quan giám sát thực quyền và hiệu quả.

Cùng với việc cải cách, củng cố bộ máy quan lại, các triều đình phong kiến còn có những biện pháp, quy chế tương đối chặt chẽ để có thể giám sát hành vi của quan lại. Ngay từ thời nhà Trần, triều đình đã đặt Ngự sử đài là cơ quan làm nhiệm vụ giám sát các hoạt động của quan lại triều đình.

Dưới triều Lê, Vua Lê Thánh Tông đã đặt ra 6 khoa để giám sát các quan lại thi hành công vụ. Ngự sử đài được đặt ở vị trí quan trọng, đứng đầu các bộ phận trong Ngự sử đài thường là những người có học vị tiến sĩ nắm giữ.

Ngoài Ngự sử đài, triều đình còn đặt ra Lục khoa là cơ quan thanh tra ở sáu bộ, có trách nhiệm tâu hặc quan lại sai trái và các việc không đúng thể thức ở mỗi bộ. Ở địa phương triều đình lập ra cơ quan Giám sát Ngự sử để đi xem xét công việc ở cấp đạo trở xuống. Mỗi đạo lại có Hiến sát sứ ty để thanh tra quan lại tránh sự nhũng nhiễu dân chúng, đồng thời còn để kịp thời phát giác và hạch tội các quan, làm rõ những điều uẩn khuất trong dân chúng.

Năm 1804, dưới triều Nguyễn, ngay sau khi lên ngôi, Vua Gia Long đặt các chức Đô ngự sử và Phó đô ngự sử. Năm 1827, vua Minh Mạng đặt thêm các chức Cấp sự trung và Giám sát ngự sử. Đến năm 1832, ông chính thức đặt Đô Sát viện với một quy chế đầy đủ bao gồm Lục khoa và Giám sát ngự sử các đạo. Đô Sát viện với một đội ngũ Ngôn quan được phép có lời nói thẳng, nói thật, khuyên ngăn việc nước. Chức năng của Đô Sát viện được xác định là: “Phàm hoàng thân quốc thích, quan viên lớn nhỏ có điều làm bất công, bất pháp, thực trạng tham nhũng hay liêm khiết, hay hoặc dở của quan chức trong ngoài, cùng các chương tấu có ý kiến không theo công lý đều được tham hặc…”. Nhiệm vụ của Đô Sát Viện là giám sát hành vi của các quan lại trong triều kể cả hoàng thân quốc thích để phát hiện ra những hành vi khuất tất, không công bằng, không giữ phép, dối trá, bưng bít, chuyên quyền đều phải tham hặc. Đô Sát Viện còn giám sát cả việc thi cử tuyển chọn nhân tài cho đất nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong thi tuyển, lựa chọn được người hiền tài giúp nước, giúp vua.

Để thi hành công vụ, Đô Sát Viện có một hệ thống giám sát đoàn, Giám sát ngự sử 16 đạo trong Đô Sát Viện có nhiệm vụ giám sát dưới địa phương để phát hiện quan lại có tệ tham ô, tham hặc, những việc không công bằng, không giữ phép. Các quan chức trong Đô Sát Viện và các giám sát đoàn cũng có quyền “hặc tấu lẫn nhau”.

Đô Sát viện là cơ quan độc lập ở Trung ương chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hoàng đế. Đó là cơ quan giám sát có quyền lực lớn nhất trong lịch sử tổ chức ngành Giám sát thời quân chủ ở Việt Nam. Có thể nói, Đô Sát Viện trên thực tế là cơ quan giám sát cao nhất và hoàn chỉnh nhất của triều Nguyễn, nó tạo nên một hệ thống giám sát từ Trung ương đến các địa phương chặt chẽ, vừa tăng cường được hiệu lực của cơ chế quân chủ tập quyền, vừa đảm bảo sự minh bạch, góp phần làm trong sạch bộ máy cai trị thời này. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Thứ tư, chống tham nhũng là việc của toàn dân.

Các quy định của pháp luật phong kiến đều thể hiện sự đề cao chế định tố cáo tham nhũng. Các triều đại đều có cơ chế khuyến khích, động viên người tố cáo hành vi tham nhũng hiệu quả và coi đây là việc làm cần thiết vì phải có sự hợp lực bảo vệ, để người dân không bị trù dập khi tố cáo hành vi tham nhũng, ngăn chặn mọi yếu tố trả thù của k  tham nhũng và vây cánh.

Thời Lý quy định những người tố giác việc ăn trộm thuế triều đình của các viên quan thu thuế thì được miễn lao dịch ba năm, người ở kinh thành cáo giác thì được thưởng. Quốc triều Hình luật của Nhà Lê cũng có những quy định rõ ràng về chế độ thưởng xứng đáng cho người dân tố cáo đúng sự thật các hành vi tham nhũng: “Người thu lúa thuế ruộng, mà giấu giếm giảm bớt không đúng sự thực… thì người cáo giác được thưởng tùy theo việc nặng nhẹ” (Điều 351 Quốc triều Hình luật); Tuyển chọn quân lính không đúng quy định thì người tố giác đúng sự thật thì có thưởng tùy theo việc lớn nhỏ (Điều 170 Quốc triều Hình luật)…

Pháp luật triều Nguyễn cũng thế hiện rất rõ những quan niệm này, Vua Gia Long quy định nếu người coi kho và người bảo vệ biết được hành vi và thủ đoạn người lấy trộm và tố cáo thì được miễn tội. Nếu người bên ngoài phát hiện quả tang hành vi thì được thưởng gấp 10 lần số tang vật. Nếu chủ kho và lính bắt được quả tang thì thưởng gấp 5 lần.

Để phát huy vai trò của người dân trong việc tham gia vào công việc của triều đình nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng, các triều đại khác nhau đều có các hình thức thích hợp để khuyến khích họ. Vua Lê Thánh Tông cho đặt hòm thư tại sân đình để người dân có thể viết thư phản ảnh và bỏ vào đó; người dân được phép yết bảng nêu việc làm tốt, xấu của quan lại địa phương.

Dưới triều Nguyễn, Vua Gia Định đã mở hòm thư “dân ý” để thông suốt ý dân; nhà vua cũng ban chiếu “cầu ngôn” để được nghe lời nói thẳng, quy tụ nhân tâm, chiều mộ hiền tài. Để phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng, nhà Vua quy định tất cả các quy chế nội dung công việc đều được công khai minh bạch, tạo điều kiện cho người dân giám sát dễ dàng. Nhà nước yêu cầu dân chúng, đặc biệt là binh lính, thợ thuyền phải luôn quan tâm đến tài sản, vật tư của quốc gia. Trên các công trường, các chỉ dụ của Vua về tội tham nhũng, cách xử tội, danh sách các quan vi phạm được làm thành nhiều bản, niêm yết nhiều nơi, nhằm công khai cho mọi người biết thủ đoạn moi ruột công quỹ và biển thủ vật tư, từ đó để mọi người cảnh giác và phát hiện.[6]

Có thể thấy rằng ông cha ta trước đây luôn quan niệm coi phòng, chống tham nhũng là việc của toàn dân để từ đó đề ra những biện pháp, hình thức khuyến khích hợp lý để người dân tố cáo tham nhũng đã mang lại những hiệu quả nhất định trong việc xây dựng bộ máy phong kiếm vững mạnh, thanh liêm, xây dựng niềm tin trong dân chúng.

2.1.2. Xử lý hành vi tham nhũng trong pháp luật phong kiến Việt Nam Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Không chỉ chủ động phòng ngừa tham nhũng mà các triều đại phong kiến Việt Nam còn có những biện pháp xủ lý kiên quyết, nghiêm ngặt, kịp thời những quan lại có hành vi tham nhũng.

Nhà Lê, trong Quốc triều Hình luật đã quy định rõ các hành vi quan lại lợi dụng chức quyền để vụ lợi, tham nhũng như: nhận hối lộ, đòi hối lộ, sách nhiễu dân, gây khó dễ cho việc thu chi, giấu đất công, giấu đồ vật của công, chiếm ruộng đất công, sử dụng đất công quá hạn định, chiếm đoạt đất đai của lương dân, tự tiện đặt thêm quan chức, tự tiện thuyên chuyển quan dưới quyền, tự tiện sai khiến dân đinh, bắt dân phu làm việc riêng, lấy của dân vào việc riêng, dùng quân nhu vào việc riêng, tùy tiện thu thuế của dân, tự ý thu đồ vật của con nợ, đi công cán về tâu trình không đúng thực, chậm trễ, sao nhãng việc công, thi hành sắc lệnh không nghiêm… Ứng với mỗi hành vi đều có những hình thức xử lý nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ và nhân thân, sự cống hiến của quan chức.

Về nhận hối lộ, Quốc triều Hình luật quy định hình thức xử lý khá nghiêm, bên cạnh phải chịu hình phạt thì k  nhận hối lộ còn phải nộp gấp đôi số tiền đã nhận vào ngân sách: “Quan ty làm ăn trái luật mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức; từ 10 quan đến 19 quan thì xử tội đồ hay lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém. Những bậc công thần quý thần cùng những người có tài được dự vào hạng bát nghị mà ăn hối lộ từ một quan đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan; từ 10 quan đến 19 quan thì phạt tiền từ 60 quan đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho” (Điều 138).

Bên cạnh việc xử lý quan lại ăn hối lộ, Quốc triều Hình luật cũng quy định việc xử lý đối với người đưa hối lộ nhưng tùy thuộc vào hoàn cảnh và động cơ của họ, số tiền hối lộ phải nộp vào ngân sách. Trong một số trường hợp, những người biết tội phạm mà không báo cáo lại còn ăn hối lộ để bao che thì cũng bị xử lý. Điều 192 quy định: “Những người coi chợ và người lính thợ thấy trong chợ có người làm đồ vật giả dối hay phá hủy tiền đồng mà tha thứ không bắt trình quan, thì bị tội biếm hoặc phạt. Người ăn hối lộ dung túng việc đó thì tội cũng giống như chính phạm”. Trong một số trường hợp nếu nhận hối lộ mà làm không đúng quy định thì xử lý nặng hơn: “Viên quan được sai đi công tác, xem xét việc gì về tâu trình không đúng sự thực thì phải tội biếm hay đồ,… nếu ăn tiền hối lộ thì xử tội thêm 2 bậc” (Điều 120).

Đối với hành vi đòi hối lộ, Quốc triều Hình luật quy định xử lý trong một số trường hợp lợi dụng để đòi hối lộ và chế tài xử lý trong các trường hợp này là khá nghiêm khắc. Điều 626 quy định: “Các quan đại thần, quan hành khiển cùng các quan coi ngục tụng, nếu không tội nhân xét tình đáng thương, nên được vua ân tha cho mà lại tự nhận là ơn của mình, để đòi hối lộ, thì xử tội đồ, tội lưu hay tội chết”. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Đối với các trường hợp giấu đất đai, tài sản của công để chiếm đoạt hoặc có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi đều bị xử lý nghiêm: “Giấu những đồ vật của công từ 1 quan trở lên thì xử tội biếm; từ 10 quan trở lên thì xử tội đồ; 20 quan trở lên thì xử tội lưu; 50 quan trở lên thì phải xử tử. Nếu giấu mà chưa chiếm hẳn làm của mình, thì được giảm tội hai bậc” (Điều 594);

“Những người coi việc đào sông, làm cảng và quan đắp ải mà giấu bớt dân phu, sách nhiễu tiền của thì bị tội biếm hoặc đồ, phải bồi thường gấp hai, trả lại cho dân” (Điều 184); “Những người công sai đến các lộ, các huyện mà bắt ép phu khuân vác đưa đón và lấy lương thực, vật liệu quá nhiều thì bị tội xuy, đánh 50 roi, biếm một tư, phải bồi thường gấp đôi tang vật trả cho dân” (Điều 185); “Những người coi chợ trong kinh thành sách nhiễu tiền lều chợ thì xử tội xuy đánh 50 roi, biếm một tư, lấy thuế chợ quá nặng biếm hai tư, mất chức coi chợ, bồi thường tiền gấp đôi trả cho dân” (Điều 186); “Những quan tướng hiệu cai quản (…) ăn bớt của công (…) xét tội nhẹ thì bị biếm hay cách chức, tội nặng thì bị đồ hay lưu. Nếu khi chống giặc mà phạm thì không kể nặng nhẹ đều phải chém” (Điều 241); “Những đồ quân nhu mà tướng lĩnh lấy dùng vào việc riêng thì xử tội biếm hay bãi chức; và bồi thường gấp đôi nộp vào quân” (Điều 280); “Các quan ty tự tiện lấy của cải đồ vật của quân dân, dùng vào việc riêng tư, thì xử như tội ăn hối lộ, và phải bồi thường gấp đôi trả cho quân dân” (Điều 639). “Quan dân không theo chế độ ruộng đất mà lạm chiếm phần mình thì xử tội biếm hay đồ” (Điều 372); “Các nhà quyền quý chiếm đoạt nhà cửa ruộng đất ao đầm của lương dân, từ một mẫu trở lên, thì xử tội phạt; từ 5 mẫu trở lên, thì xử tội biếm. Quan tam phẩm trở xuống thì xử tội tăng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định” (Điều 370); “Những người phu dân thợ thuyền đang làm việc mà quan chủ ty giám đương lại sai làm việc riêng, thì xử tội biếm hay bãi chức, và phải trả tiền công thuê nộp vào kho” (Điều 571).

Những người có chức, có quyền để vợ và những người thân lợi dụng để vụ lợi cũng bị xử lý: “Các quan cai quản quan dân các hạt, vô cớ mà đi đến những làng xã trong hạt, hay là cho vợ cả, vợ lẽ, người nhà đi lại, mượn việc mua bán làm cớ, để quấy nhiễu quân dân, lấy của biếu xén, thì xử tội biếm hay bãi chức” (Điều 632). Quốc triều Hình luật quy định những trường hợp đòi tiền lương, tiền công quá mức cũng bị xử lý nhằm hạn chế những hành vi tham lam tư lợi của quan chức và những người có liên quan trong xã hội.

Điều 193 quy định “Những người đòi tiền lương quá phận của mình, nếu là quan chức thì bị tội xuy đánh 50 roi, biếm một tư, và bãi chức, viên thuộc lại bị tội đồ làm tù quét dọn nơi đang làm việc, người tư giám bị tội đồ làm tù quét dọn trong trại lính, phải bồi thường tiền gấp đôi trả theo luật. Người không đáng được ăn lương mà lại đòi tiền thì bị xử tội thêm một bậc”.

Quốc triều Hình luật quy định các biện pháp chế tài xử lý đối với các trường hợp bổ nhiệm, tuyển dụng, thuyên chuyển quan chức và người làm việc trong các cơ quan nhà nước không đúng quy định. Điều 97 quy định: “Quan lại đặt ra có số nhất định, nếu bổ dụng hay đặt ra quá hạn định, hay không nên đặt ra mà đặt ra (nghĩa là không tâu xin) thì thừa một viên phải phạt 60 trượng, biếm hai tư và bãi chức; thừa 2 viên trở lên thì thì xử tội đồ, người sau biết mà để yên thì xử tội nhẹ hơn người trước một bậc”. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rõ đối với các trường hợp quan lại được bổ nhiệm nằm ngoài quy định cũng bị xử lý “Người xin vào chức đặt thừa ấy phải phạt 50 roi, biếm một tư… Những người ỷ thế nhà quyền quý để cầu cạnh xin quan tước thì xử tội biếm hay đồ; k  dưới quyền quan ty cũng bắt tội như thế” (Điều 139). Đối với người quyết định bổ nhiệm, luân chuyển một cách tùy tiện, không theo thứ bậc cũng bị xử lý “Các quan sảnh, quan viện, phê vào sổ thăng trật, thuyên chuyển các quan văn võ bậc dưới và các quan coi tăng tạo mà chẳng theo thứ bậc, tự tiện thay đổi thì bị tội đồ và bắt cải chính; nếu phạm nặng thì xử thêm tội” (Điều 152). Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Kế thừa tư tưởng của Quốc triều Hình luật, Luật Gia Long triều Nguyễn có 17 quyển riêng quy định về Luật hình đối với tội nhận đút lót (hối lộ) và gần 20 điều khoản liên quan đến nội dung này. Điều 392 Luật Gia Long quy định rõ: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư kho cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà nếu tang vật thu được lên đến 40 lượng thì bị chém”.

Từ những phân tích trên, có thể thấy, dù ở những mức độ khác nhau, song nhìn chung các triều đại phong kiến Việt Nam đã có những biện pháp khá toàn diện và hiệu quả trong ngăn ngừa và xử lý tệ tham nhũng của đội ngũ quan lại. Trên một khía cạnh nhất định, hệ thống những biện pháp đó đã góp phần quan trọng giúp các triều đại phong kiến phòng, chống tham nhũng có hiệu quả đặc biệt là ở vào những giai đoạn chính trị. Ngày nay trong tình hình mới, cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, những kinh nghiệm quý báu của ông cha ta trong lĩnh vực này vẫn còn nguyên giá trị.

2.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về phòng, chống tham nhũng

Như đã khẳng định trước đó, tham nhũng là “đại dịch toàn cầu”, là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới. Giống như một căn bệnh ung thư quái ác, tham nhũng ngày càng bào mòn, phá hủy và gây ra những hậu quả nặng nề cho kinh tế – xã hội của các quốc gia. Tùy theo mức độ, điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội của mình mà từng quốc gia đã nghiên cứu và tìm ra những giải pháp riêng để phòng ngừa, đẩy lùi tệ nạn này.

Qua nghiên cứu và phân tích thực tiễn hoạt động chống tham nhũng ở một số quốc gia trên thế giới cho thấy có những kinh nghiệm chống tham nhũng hết sức quý báu mà Việt Nam có thể vận dụng, đó là:

2.2.1. Tổ chức cơ quan chống tham nhũng hoạt động độc lập, trong sạch, hiệu quả

Đấu tranh chống tham nhũng tức là đấu tranh chống lại các hành vi trái pháp luật của những người có chức vụ, quyền hạn nằm trong bộ máy nhà nước, hay nói cách khác là đấu tranh với thói hư tật xấu của những k  cầm quyền. Cuộc chiến này không giống như hoạt động chống các tội phạm thông thường. Do đó, để đạt hiệu quả không nên chỉ chú trọng giao nhiệm vụ chống tham nhũng cho các cơ quan bảo vệ pháp luật mà phải thành lập tổ chức chống tham nhũng độc lập với các cơ quan nhà nước, trực thuộc người đứng đầu Chính phủ. Tổ chức này phải có những quyền hạn nhất định, được áp dụng các biện pháp trong sạch, nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ công chức, trước hết phải có những quy định cụ thể về chức trách, nhiệm vụ, quy chế làm việc, trách nhiệm rõ ràng. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Kinh nghiệm này đã được áp dụng và mang lại những kết quả to lớn tại nhiều quốc gia như Anh, Mỹ, CHLB Đức, Singapore, Trung Quốc, In-đô-nêxi-a, Hàn Quốc… Các nước này đã thành lập các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng trực thuộc Tổng thống hoặc Thủ tướng, có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và các cơ quan khác. Người đứng đầu các cơ quan này do Tổng thống, Thủ tướng hoặc Nhà vua bổ nhiệm.

Điển hình là Cục Điều tra chống tham nhũng Singapore (CPIB) thành lập năm 1952 với thẩm quyền được trao rất lớn. CPIB trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, có quyền độc lập điều tra và ngăn chặn tham nhũng. CPIB là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm điều tra về các hiện tượng tham nhũng trong tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, pháp lý hay các cơ quan công quyền, khu vực tư nhân, hoặc xã hội dân sự. CPIB được quyền điều tra đối với người bị tình nghi tham nhũng bất kể người đó là ai. Tục ngữ có câu “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, giữ một hệ thống liêm khiết, trong sạch phải bắt đầu ngay từ những người đứng đầu. Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã từng khẳng định, một khi những nhà lãnh đạo chủ chốt kém liêm khiết, không nghiêm khắc đòi hỏi những chuẩn mực cao, lúc đó cấu trúc toàn vẹn của hệ thống hành chính sẽ yếu đi và cuối cùng nó sẽ sụp đổ.[7] Chính vì vậy, Luật pháp Singapore trao cho CPIB thẩm quyền điều tra cả Thủ tướng nếu cơ quan này có căn cứ để nghi ngờ Thủ tướng có hành vi tham nhũng. Trong trường hợp Thủ tướng bị tình nghi tham nhũng, CPIB có thể xin đặc quyền của Tổng thống để tiến hành cuộc điều tra, vì vậy có thể xóa bỏ mọi cản trở và điều này được quy định trong Hiến pháp. CPIB không hề bị can thiệp trong quá trình điều tra những vụ án tham nhũng. Trong thực tế, mỗi năm, CPIB tiến hành điều tra khoảng 300 vụ và đã tiến hành điều tra đến cấp Bộ trưởng.[8]

Ngoài ra, CPIB có các điều tra viên dày kinh nghiệm và thực sự liêm chính. Thành viên của CPIB có quyền chọn cơ chế hưởng lương theo công chức hoặc hưởng phần thưởng thu được từ Quỹ Phòng chống tham nhũng (INVEST Fund – Quỹ được trích nộp từ tiền tịch thu tài sản tham nhũng). Các thành viên của CPIB nếu phạm tội tham nhũng hay che giấu tội phạm tham nhũng sẽ bị mất toàn bộ lương hưu và tiền thưởng.

Hay như ở Trung Quốc đã thành lập Ủy ban giám sát quốc gia – một cơ quan chống tham nhũng siêu quyền lực, bao gồm Ủy ban giám sát trung ương và các Ủy ban giám sát địa phương. Hệ thống ủy ban này “trùm” lên tất cả các cơ quan Đảng, Nà nước, các tổ chức và tư nhân. Về danh nghĩa, Ủy ban giám sát quốc gia là cơ quan độc lập trực thuộc Quốc hội, ngang hàng với Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; song, về bản chất, đây là cơ quan của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước, do Ban Kiểm tra Trung ương Đảng lãnh đạo. Cơ quan này được giao quyền hạn rất lớn, được truyền thông quốc tế gọi bằng biệt danh “siêu cơ quan chống tham nhũng” và được xem như là hình thành một nhánh quyền lực mới tại Trung Quốc bên cạnh các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp.[9]

2.2.2. Khuôn khổ pháp lý chống tham nhũng toàn diện và mạnh mẽ Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Để Phòng chống tham nhũng, Singapore đã ban hành Đạo luật Ngăn chặn Tham nhũng (POCA), trong đó đặt nghĩa vụ chứng minh cho các bị cáo thấy rằng họ đã sở hữu tài sản một cách hợp pháp. Bất kỳ một sự giàu có nào không được giải trình hợp lý với các nguồn thu nhập được kê khai sẽ bị điều tra và có thể bị tịch thu.

Thủ tục điều tra hành vi tham nhũng được quy định là một thủ tục đặc biệt. Chủ tịch, Điều tra viên chuyên ngành CPIB có quyền bắt, khám xét, thu giữ tang vật (Điều 15), có quyền điều tra như cơ quan cảnh sát mà không cần có sự phê chuẩn của cơ quan công tố (Điều 17), có thể ra quyết định, tiến hành điều tra đối với các thông tin trong tài khoản ngân hàng, cổ phần (Điều 18).[10] Mức độ điều tra đối với người bị nghi vấn là rất kỹ, bao gồm tài sản của vợ, con; các suất học bổng, quà tặng mà vợ, con người đó được nhận; các công ty do vợ, con người đó tham gia góp vốn. Những người từ chối cung cấp thông tin, tẩu tán tài sản hay cản trở quá trình điều tra sẽ bị phạt đến 10.000 SGD. Người nào được CPIB yêu cầu đều phải cung cấp thông tin trung thực, nếu từ chối cung cấp thông tin hoặc đưa thông tin sai sự thật sẽ bị xử phạt, thậm chí bị phạt tù.

Hình phạt đối với tội phạm tham nhũng được pháp luật Singapore quy định cụ thể và nghiêm khắc. Người có hành vi tham nhũng theo quy định của POCA sẽ phải chịu hình thức phạt tiền hoặc/và bị phạt tù,[11] đồng thời người phạm tội sẽ bị tịch thu sung công khoản vụ lợi và phải nộp phạt một khoản tiền tương đương với khoản vụ lợi bị tịch thu với tư cách là tiền phạt bổ sung.

Ngoài ra, người phạm tội tham nhũng còn phải bồi thường cho cơ quan nhà nước bị thiệt hại theo thiệt hại thực tế phát sinh hoặc nộp một khoản tiền tương đương với khoản vụ lợi đã nhận.

Các hành vi hối lộ, tham nhũng đều bị trừng phạt ở bất cứ khu vực nào, cấp độ nào, dù tư nhân hay cơ quan chính phủ, dân thường hay quan chức cao cấp. Cá nhân nào phạm tội tham nhũng, ngoài việc bị mức án giam, còn phải thanh toán đầy đủ số tiền nhận hối lộ, nếu không sẽ được “cộng” vào hình thức phạt giam.

2.2.3. Kê khai và công khai tài sản – công cụ quan trọng để phòng, chống tham nhũng 

Kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là một trong những công cụ quan trọng, cần thiết để tăng cường minh bạch và phòng, chống tham nhũng. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Theo Điều 8.5 của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) mà Việt Nam là một thành viên “mỗi quốc gia thành viên nỗ lực thiết lập các biện pháp và cơ chế yêu cầu công chức báo cáo cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề có liên quan trong đó có những hoạt động công việc, các khoản đầu tư bên ngoài hay tài sản hoặc quà tặng giá trị lớn, những thứ mà có thể gây xung đột lợi ích khi họ thực hiện công vụ”.

Xây dựng một cơ chế để kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn cũng là một nội dung quan trọng của Luật phòng, chống tham nhũng mà Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 11 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2019. Để hướng dẫn nội dung này, dự kiến Chính phủ sẽ ban hành nghị định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Tại Georgia (Gruzia), Chính phủ xây dựng và áp dụng hệ thống giám sát kê khai tài sản với mục tiêu chính là nâng cao tính minh bạch, liêm chính trong các cơ quan công quyền và ngăn ngừa xung đột lợi ích.

Đây là một trong những mô hình kê khai điện tử thành công nhất trên thế giới hiện nay. Các bản kê khai được nộp trực tuyến qua trang web www.declaration.gov.ge do Cơ quan Nội vụ Georgia (CSB) quản lý và có thể truy cập công khai. CSB có trách nhiệm đảm bảo việc tiếp nhận các bản kê khai, công khai thông tin về tình hình tài sản của cán bộ, công chức và kiểm soát việc nộp bản kê khai.

Theo quy định của Luật chống Xung đột Lợi ích Georgia và văn bản hướng dẫn, việc xác minh các bản kê khai tài sản của công chức được tiến hành trên cơ sở lựa chọn ngẫu nhiên bởi hệ thống điện tử và yêu cầu bằng văn bản có cơ sở. Ngoài ra, các bản kê khai cần xác minh cũng được chọn bởi một ủy ban độc lập do người đứng đầu CSB thành lập. Ủy ban gồm 5 thành viên (trong đó có 3 đại diện của các tổ chức phi chính phủ và 2 đại diện của giới học thuật) sẽ lựa chọn các bản kê khai cần xác minh căn cứ vào một số tiêu chí như chức vụ của cán bộ, rủi ro tham nhũng cụ thể, lợi ích công cộng và các vi phạm được phát hiện từ hoạt động giám sát. Số bản kê khai được chọn ngẫu nhiên và số bản kê khai do Ủy ban chọn không được vượt quá 5% mỗi loại trên tổng số bản kê khai. Kết quả của hoạt động xác minh sẽ được công khai trên trang web của CSB vào cuối mỗi năm dương lịch.

Năm 2017, CSB đã xác minh tổng cộng 287 bản kê khai. Kết quả, số lượng bản kê khai được đánh giá tốt chiếm 20%, 78% bản kê khai bị đánh giá tiêu cực và 2% bản kê khai thuộc diện dừng giám sát.

2.2.4. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ công chức, nhất là vấn đề tiền lương Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Một trong những nguyên nhân của tệ tham nhũng ở các nước thời gian qua là mức lương của cán bộ, công chức thấp, không đủ sống, buộc họ phải xoay sở kiếm thêm, kể cả bằng phương pháp sách nhiễu, vòi vĩnh khi có cơ hội. Chính vì vậy, một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao mà nhiều nước đã áp dụng trong quá trình đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đó là cải cách, điều chỉnh hệ thống tiền lương, chế độ đãi ngộ vật chất, tinh thần đối với cán bộ công chức, làm cho cán bộ, công chức đủ sống bằng lương. Và khi đó, nếu tham nhũng họ phải trả giá đắt khi bị phát hiện, buộc họ phải cân đo cẩn trọng hơn, vì tham nhũng lợi ít, hại nhiều – mất lương, mất việc, mất nguồn sống chính. Còn nếu lương chỉ là nguồn phụ thì họ ít đắn đo hơn và trả giá ít hơn, nên họ vẫn liều lĩnh tham nhũng. ở các nước phát triển như: Đan Mạch, Anh, Đức… sỡ dĩ ít có tình trạng tham nhũng là bởi mức thu nhập của công chức nhà nước rất cao, làm công chức nhà nước là niềm mơ ước, tự hào đối với mọi người. Bên cạnh đó, mức xử lý đối với tội tham nhũng lại rất nghiêm minh, vì vậy, công chức nhà nước không thể tham nhũng để chấp nhận rủi ro.

2.2.5. Bảo đảm cơ chế giám sát của công chúng có hiệu quả

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, muốn chống tham nhũng thành công thì không thể chỉ dựa vào nỗ lực của các cơ quan nhà nước mà nhất thiết phải phát huy được vai trò, trách nhiệm và có được sự tham gia, ủng hộ tích cực của toàn xã hội; phải xây dựng được cơ chế xã hội, ở đó các cơ quan báo chí và người làm công tác báo chí có quyền độc lập, tự chủ trong việc lấy tin, viết bài và được pháp luật bảo hộ khi bị ngăn cản, can thiệp, đả kích. Khi có thông tin của xã hội và người dân, cơ quan đấu tranh chống tham nhũng có nhiệm vụ xác minh đầy đủ và kịp thời các nguồn tin chống tham nhũng trên báo chí và có trách nhiệm trong việc bảo vệ bí mật đối với người tố cáo, tố giác tội phạm. Ở Trung Quốc, đơn tố cáo, tố giác của nhân dân về tham nhũng là nguồn quan trọng nhất để từ đó phát hiện ra tội phạm. Theo thống kê có tới 80% vụ án tham nhũng khám phá được là do nhân dân, báo chí tố giác và hơn 90% là do nhân dân, báo chí cung cấp đầu mối. Nếu tội tham nhũng được phát hiện và xử lý thì người tố giác, tố cáo tội phạm được hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số giá trị tài sản mà cơ quan đấu tranh chống tham nhũng thu giữ được.

2.2.6. Xây dựng nên văn hóa “phi tham nhũng”

Singapore đã luôn nỗ lực chạy đua với thời gian để phát triển một xã hội với nền văn hóa nói không với tham nhũng, môi trường văn hoá ở Singapore phản đối mạnh mẽ với tham nhũng. Họ không tha thứ, không chấp nhận hiện tượng  bôi trơn xã hội  để đạt được mục đích trong công việc. Khi đối mặt với những hành vi tham nhũng, người dân Singapore luôn sẵn sàng đứng ra tố cáo. Họ tin tưởng rằng bất cứ ai vi phạm luật pháp cũng sẽ bị trừng phạt nghiêm minh. Chính phủ không chấp nhận sự che đậy, dù quan chức vi phạm có chức vụ lớn đến đâu đi nữa. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Giải pháp “4 không với tham nhũng” của Singapore bao gồm:

Không dám tham nhũng: Theo quy định của Chính phủ Singapore, công chức, quan chức hàng tháng phải trích một tỷ lệ tiền lượng để gửi vào quỹ tiết kiệm. Khởi đầu là 5%, sau đó tăng dần theo tỷ lệ tăng lương. Quan chức có chức vụ càng cao, tỷ lệ % trích tiết kiệm càng cao. Số tiền đó do Ngân hàng Nhà nước quản lý. Khi nghỉ hưu, số tiền tiết kiệm nói trên thuộc quyền sở hữu của công chức. Nếu công chức, quan chức phạm tội tham nhũng, dù chỉ bị xử lý hành chính, buộc thôi việc, thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm sẽ bị Nhà nước trưng thu. Quan chức có chức vụ càng cao mà tham nhũng thì số tiền bị trưng thu càng lớn.

Không thể tham nhũng: Hàng năm, viên chức, công chức, quan chức từ Trung ương tới cơ sở đều phải làm tờ khai báo các khoản tài sản của bản thân và của vợ/chồng bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà đất. Đối với tài sản tăng lên so với năm trước, đương sự phải giải trình rõ nguồn gốc. Số tài sản tăng lên không giải trình được nguồn gốc có thể bị coi là do tham nhũng mà có, nên sẽ bị Nhà nước trưng thu.

Không cần phải tham nhũng: Chế độ tiền lương ở Singapore bảo đảm cho viên chức, công chức, quan chức Singapore đủ sống theo mức sống chung của xã hội nước này và còn có thể chu cấp cho gia đình con cái. Do vậy, để tồn tại ở mức trung bình khá trong xã hội họ không cần tham nhũng.

Không được tham nhũng: Theo quy định của Chính phủ Singapore, công chức chỉ được nhận quà tặng với giá trị 100 đôla Singapore trở xuống. Nếu trên mức đó, người được tặng phải tìm cách từ chối hoặc muốn nhận thì phải xin phép lãnh đạo trực tiếp có ý kiến cho phép thì mới được nhận. Trường hợp nhận quà tặng quá mức quy định (100 đôla) mà không được phép của cấp trên thì công chức phải nộp vào tài khoản “Quỹ nộp phạt” do nhận quà tặng quá mức quy định được tính quy ra tiền. Số tiền hối lộ và nhận hối lộ bị phát hiện thì người hối lộ và người nhận hối lộ sẽ bị xử lý theo Luật Hình sự.

2.2.7. Ứng dụng điện thoại tố cáo tham nhũng

Công nghệ đang được sử dụng ngày càng hiệu quả ở nhiều quốc gia để phòng, chống tham nhũng. Các ứng dụng tố cáo tham nhũng dựa trên nền tảng quần chúng (crowd-based) cho phép người dân tố cáo ngay lập tức các vụ hối lộ một cách ẩn danh bằng điện thoại thông minh. Một số ứng dụng sử dụng dữ liệu để tạo ra “bản đồ điểm nóng”, tổng hợp các báo cáo để xác định các ngành, khu vực hoặc tổ chức nơi diễn ra nhiều tham nhũng nhất (Kukutschka 2016).

Ở Ấn Độ, một nền tảng cung cấp dịch vụ quần chúng nổi tiếng “Tôi đã trả một khoản hối lộ” (I Paid a Bribe) cho phép người dân tố cáo các trường hợp tham nhũng khi các cán bộ công chức yêu cầu hối lộ. Nền tảng này nhằm mục đích xây dựng bằng chứng và xác định các ngành và cơ quan hay xảy ra tham nhũng. Nền tảng đã ghi lại hơn 180.000 báo cáo kể từ khi được ra mắt vào tháng 8/2010. Cách tiếp cận này đã được nhân rộng ở hơn 25 quốc gia trên thế giới bao gồm Hy Lạp, Hungary, Serbia, Mexico, Morocco, Nigeria, Kenya, Zimbabwe, Pakistan và Philippines (Kukutschka 2016).

2.3. Những giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

Nhà nước phong kiến Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều có những quan tâm trong công tác Phòng chống tham nhũng và đã ban hành các quy định cụ thể để thực hiện việc phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi nhà nước, mỗi quốc gia đều có những biện pháp cụ thể khác nhau trong Phòng chống tham nhũng. Từ kết quả nghiên cứu pháp luật thời phong kiến và pháp luật của Singapore, Trung Quốc nói trên chúng ta rút ra những giá trị tham khảo cho việc HTPL Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay:

Pháp luật xác định rõ các hành vi tham nhũng xảy ra trên thực tế. Từ đó quy định các biện pháp xử lý nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng, nhất là các hành vi nhận hối lộ, lợi dụng chức quyền để vụ lợi, chiếm đoạt, chiếm dụng tài sản, đất đai, ngân sách; bổ nhiệm, bố trí cán bộ không đúng quy định để vụ lợi. Bên cạnh đó, pháp luật quy định những nguyên tắc trong xử lý tham nhũng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng. Những người phạm tội tham nhũng bên cạnh bị xử lý hình sự hoặc kỷ luật hành chính còn bị tịch thu sung công khoản vụ lợi, bồi thường bị thiệt hại.

Coi trọng biện pháp phòng ngừa tham nhũng, nhất là việc công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước và tài sản, thu nhập của công chức; có biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập của công chức, nhất là những người giàu lên bất thường và xử lý nghiêm đối với các trường hợp không thực hiện công khai, minh bạch hoặc không chứng minh được tài sản hợp pháp.

Thành lập cơ quan chống tham nhũng chuyên trách có địa vị pháp lý tương đối độc lập và được giao những quyền hạn đặc thù, đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phát hiện, xử lý tham nhũng một cách có hiệu quả.

Quy định và thực hiện tốt chế độ đạo đức công vụ của công chức. Công chức thường xuyên phải rèn luyện thái độ làm việc, nhân phẩm, giá trị đạo đức, tính liêm khiết. Các cơ quan chức năng thường xuyên thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện chức trách công vụ của công chức.

Trả lương xứng đáng cho công chức nhà nước, nhất là những người trực tiếp thực hiện công tác Phòng chống tham nhũng.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong Phòng chống tham nhũng.

Phát huy vai trò của tổ chức, cá nhân trong Phòng chống tham nhũng; khuyến khích công dân tố cáo tham nhũng; có chính sách bảo vệ cán bộ, nhân dân trong đấu tranh chống tham nhũng. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tham nhũng là căn bệnh nan y gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của mỗi nhà nước. Lịch sử nhân loại cho thấy không phải đợi đến thời kỳ hiện đại, tham nhũng xuất hiện ngay trong các nhà nước chủ nô và phong kiến mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Nhà nước phong kiến Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều có những quan tâm trong công tác Phòng chống tham nhũng và đã ban hành các quy định cụ thể để thực hiện việc phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi nhà nước, mỗi quốc gia đều có những biện pháp cụ thể khác nhau trong Phòng chống tham nhũng.

Nghiên cứu pháp luật phòng, chống tham nhũng của ông cha ta thời kỳ phong kiến cũng như pháp luật phòng, chống tham nhũng của các quốc gia trên thế giới là một việc làm cần thiết. Những kinh nghiệm mà ông cha ta để lại trong lịch sử lập pháp cũng như của các quốc gia trên thế giới sẽ đem lại cho chúng ta những giá trị tham khảo bổ ích trong quá trình hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng nước ta hiện nay. Khóa luận: Pháp luật chống tham nhũng trong lịch sử phong kiến.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về phòng chống tham nhũng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x