Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhượng quyền thương mại (Franchise) là hình thức kinh doanh có lịch sử phát triển lâu dài tại các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ và đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Á. Thực tế đã chứng minh đây là phương thức kinh doanh an toàn và hiệu quả cho cả bên nhận quyền và nhượng quyền cũng như cho toàn xã hội và người tiêu dùng. Tuy nhiên, hình thức này mới chỉ gia nhập thị trường Việt Nam hơn 10 năm nay. Số lượng các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng mô hình này còn hạn chế, hiệu quả kinh tế cũng chưa cao. Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các khu vực, các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, mọi mặt trong lĩnh vực họat động kinh tế xã hội của Việt Nam nói chung, lĩnh vực nhượng quyền thương mại nói riêng đều có những biến chuyển rõ rệt. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới WTO (11/1/2007) đã tạo điều kiện thuận lợi cho phương thức này phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, bắt kịp xu thế thời đại.
Cho đến nay nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về nhượng quyền thương mại vẫn chưa thực sự sâu sắc và cặn kẽ. Do vậy, để hoạt động nhượng quyền thương mại đi vào hoạt động một cách quy củ, bài bản và chuyên nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mô hình này trước khi áp dụng, phải xuất phát từ thực tiễn tìm hiểu và nghiên cứu để từ đó tìm ra giải pháp thúc đẩy hoạt động này phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Người viết đã mạnh dạn chọn đề tài:” Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa: điều kiện và khả năng phát triển ở Việt Nam trong thời gian tới”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu những nhân tố giúp hoạt động nhượng quyền thương mại thành công kết hợp với thực tiễn triển khai ở Việt Nam và khả năng phát triển trong thời gian tới, người viết mạnh dạn nêu ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào việc tìm hiểu một số kiến thức cơ bản về nhượng quyền thương mại cũng như kinh nghiệm xây dựng và phát triển mô hình này của một số nước trên thế giới và trong khu vực. Từ đó, áp dụng vào tìm hiểu thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại Việt Nam cũng như rút ra bài học cho sự phát triển của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Đặc biệt, người viết chú trọng tới việc nghiên cứu những điều kiện và khả năng phát triển của phương thức này tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận này là phương pháp duy vật biện chứng, thu thập tài liệu và tổng hợp – phân tích, phương pháp diễn giải – quy nạp, phương pháp mô tả khách quan, phương pháp lôgic, thống kê, so sánh.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, khóa luận gồm 3 chương
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về toàn cầu hóa và nhượng quyền thương mại
- Chương 2: Đánh giá điều kiện và khả năng xây dựng và phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới
- Chương 3: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới
6. Dự kiến kết quả đạt được
Thông qua những kết quả nghiên cứu của khóa luận, người viết mong muốn có được cái nhìn tổng quát về tình hình tiến hành nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, những điều kiện ở Việt Nam cho sự phát triển của phương thức này cũng như khả năng phát triển của mô hình này trong thời gian tới và mong rằng khóa luận sẽ đóng góp một vài giải pháp cho việc thúc đẩy hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển ở Việt Nam trong tương lai không xa.
Để hoàn thành khóa luận này, người viết xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS. TS Phạm Duy Liên đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tận tình để người viết có thể hoàn thành khóa luận này.
Chương 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TOÀN CẦU HÓA VÀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
1.1. TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm
Toàn cầu hóa là một quá trình lịch sử, là kết quả sáng tạo của con người và tiến bộ công nghệ. Thuật ngữ toàn cầu hóa (tiếng Anh là Globalization) xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển của Anh năm 1961, và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 trở lại đây. Tuy nhiên, cho đến hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, song nói chung, có hai cách hiểu toàn cầu hóa theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Toàn cầu hóa theo nghĩa rộng:
Theo quan niệm rộng, toàn cầu hóa được xác định như một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế, làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên nhiều mặt của đời sống xã hội( từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường…). Ban thư ký của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng “ toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối” [19,tr.64 ]. Còn theo tác giả Lê Hữu Nghĩa “toàn cầu hóa xét về bản chất là một quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới” [7,tr.56 ].
Như vậy, theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa có thể hiểu là một quá trình, theo đó sự ảnh hưởng cũng như sự tác động mọi mặt của đời sống từng quốc gia, từng nước trở nên không có giới hạn, không bị ràng buộc bởi khoảng cách lãnh thổ, địa lý, khu vực, vùng hay từng nước. Đối với toàn cầu hóa theo nghĩa rộng, những gì được gọi là giới hạn, rào cản hầu như dần dần đều mất tác dụng.
- Toàn cầu hóa theo nghĩa hẹp
Toàn cầu hóa theo nghĩa hẹp là một khái niệm gắn liền với kinh tế. Theo đó, toàn cầu hóa được dùng để chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Hội nghị thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) đưa ra định nghĩa “ toàn cầu hóa liên hệ tới các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu, nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó” [12,tr.23]. Theo Bjon Hettne, “ toàn cầu hóa bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hóa, tăng cường chức năng của phát triển và làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của phát triển. Về cơ bản, toàn cầu hóa bao hàm sự tăng lên của thị trường chức năng thế giới, không ngừng xâm nhập và lấn át các nền kinh tế quốc gia trong quá trình làm mất đi đặc tính quốc gia” [9,tr.34]
Như vậy, theo quan niệm hẹp, toàn cầu hóa giới hạn sự tác động của nó trong phạm vi các nhóm nước, nhóm khu vực hoặc giới hạn ở phạm vi kinh tế. Do đó, có thể gọi toàn cầu hóa theo nghiã hẹp là toàn cầu hóa kinh tế.
Dù có những quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa, nhưng có thể rút ra 3 điểm cơ bản của toàn cầu hóa :
Toàn cầu hóa là một quá trình, một xu thế phát triển tất yếu gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của xã hội loài người. Quá trình này diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi toàn cầu.
Toàn cầu hóa là quá trình làm biến đổi sâu sắc, toàn diện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, môi trường.. của thế giới theo hướng loại bỏ những sự ngăn cách về vị trí địa lý, từ đó tiến tới loại bỏ sự khác biệt về thể chế, về chính trị của từng quốc gia để tạo ra một sân chơi chung với sự tác động, can thiệp mạnh mẽ của các nước phát triển, các tập đoàn xuyên quốc gia. Các nước đang phát triển sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí sẽ mất cả chính quyền nếu không có những chính sách phù hợp khi tham gia vào quá trình này.
Mục đích của toàn cầu hóa là nhằm phát triển kinh tế, do đó toàn cầu hóa kinh tế đóng vai trò chủ yếu trong quá trình toàn cầu hóa. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
1.1.2 Sơ lược quá trình hình thành của toàn cầu hóa
Quan niệm cổ điển cho rằng toàn cầu hóa bắt đầu vào khoảng thế kỷ 15 sau khi có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn, đánh dấu bởi sự kiện Christopher Columbus đi tìm Ấn Độ nhưng lại phát hiện ra Châu Mỹ. Theo Thomas Friedman, tác giả cuốn “Thế giới phẳng” toàn cầu hóa 1.0 ( hay là làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên) kéo dài từ 1492 khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế giới Cũ và Thế giới Mới cho đến khoảng 1800. Trong Toàn cầu hoá 1.0 tác nhân then chốt của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu là sức mạnh của mỗi quốc gia. Trong kỉ nguyên này, các nước và các Chính phủ (thường được tôn giáo hay chủ nghĩa đế quốc hay sự kết hợp của cả hai xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường và nối chặt thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu.
Kỉ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hoá 2.0, kéo dài từ 1800 đến 2000, bị gián đoạn bởi Đại Khủng hoảng và Chiến tranh Thế giới I và II. Trong Toàn cầu hoá 2.0, nhân tố then chốt của thay đổi, động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu là các công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia này tiến hành toàn cầu hoá vì thị trường và lao động, đầu tiên do sự bành trướng của các công ty cổ phần Hà Lan và Anh và Cách mạng Công nghiệp làm mũi nhọn. Trong nửa đầu của thời đại này, hội nhập toàn cầu được cấp lực bởi sự sụt giảm chi phí chuyên chở, nhờ động cơ hơi nước và đường sắt, và trong nửa sau bởi sự sụt giảm các chi phí liên lạc – nhờ sự phổ biến của điện tín, điện thoại, PC, vệ tinh, cáp quang, và phiên bản ban đầu của World Wide Web (WWW). Chính trong thời đại này mà chúng ta thực sự thấy sự ra đời và trưởng thành của một nền kinh tế toàn cầu, theo nghĩa rằng đã có sự dịch chuyển đủ của hàng hoá và thông tin từ lục địa này sang lục địa khác để ở đó có một thị trường toàn cầu, với sự chênh lệch giá về các sản phẩm và lao động.
Vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một kỉ nguyên mới hoàn toàn: Toàn cầu hoá 3.0. Trong khi động lực trong Toàn cầu hoá 1.0 là các nước tiến hành toàn cầu hoá và động lực trong Toàn cầu hoá 2.0 là các công ty tiến hành toàn cầu hoá, động lực trong Toàn cầu hoá 3.0 là năng lực mới tìm thấy cho các cá nhân để cộng tác và cạnh tranh toàn cầu. Song Toàn cầu hoá 3.0 không chỉ khác các kỉ nguyên trước ở chỗ nó làm thế giới co lại và phẳng thế nào và nó trao quyền cho các cá nhân ra sao. Nó khác ở chỗ Toàn cầu hoá 1.0 và Toàn cầu hoá 2.0 chủ yếu do các cá nhân và doanh nghiệp Âu Mĩ dẫn dắt. Tuy Trung Quốc thực sự là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỉ mười tám, chính các nước, các công ty, những người thăm dò phương Tây tiến hành phần lớn việc toàn cầu hoá và định hình hệ thống. Trong toàn cầu hoá 3.0, các công ty – to và nhỏ – cũng được trao quyền [14, tr.9,10].
1.1.3 Tác động của toàn cầu hóa đến nền kinh tế thế giới Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trong quá trình toàn cầu hóa, khi thế giới bắt đầu chuyển từ một mô hình tạo giá trị chủ yếu theo chiều dọc từ trên xuống (chỉ huy và kiểm soát) sang một mô hình tạo giá trị theo chiều ngang (kết nối và cộng tác), tất cả mọi thứ đều phải thay đổi, đều phải sắp xếp lại. Những ngành công nghiệp dân tộc đã bị tiêu diệt và đang ngày càng bị tiêu diệt, bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới – những ngành công nghiệp mà việc thâu nạp chúng trở thành một vấn đề sống còn đối với tất cả các dân tộc văn minh, những ngành công nghiệp không dùng những nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ ngay trong nước mà còn được tiêu thụ ở tất cả các nơi trên trái đất nữa. Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về. Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và các dân tộc vẫn tự cung tự cấp là sự phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc.
Công cụ lao động được cải tiến mau chóng, nhờ đó nên các phương tiện giao thông cũng trở nên vô cùng thuận tiện. Toàn cầu hoá thúc đẩy rất mạnh, rất nhanh sự phát triển và xã hội hoá các lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao (nửa đầu thế kỷ XX, GDP thế giới tăng 2,7 lần, nửa cuối thế kỷ tăng 5,2 lần). Toàn cầu hoá góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt tăng mạnh tỷ trọng các sản phẩm chế tác (hiện chiếm 21,4%) và các dịch vụ (hiện đã chiếm đến 62,4%) trong cơ cấu kinh tế thế giới [4, tr.6].
Toàn cầu hoá truyền bá và chuyển giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các dân tộc, tại nhiều nước, đến từng gia đình, từng người dân, dọn đường cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Do đó, tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực rất quan trọng, rất cần thiết cho các nước đang phát triển, từ các nguồn vốn vật chất đến các nguồn tri thức và kinh nghiệm cả về chiến lược dài hạn và về tổ chức tiến hành, cả ở tầm vĩ mô của quốc gia và ở tầm vi mô của từng doanh nghiệp và từng hộ.
Toàn cầu hoá một mặt gây sức ép mãnh liệt và gay gắt về sức cạnh tranh và hiệu quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, chỉ rõ vị trí hàng đầu của yếu tố chất lượng, yếu tố thời gian, yếu tố nâng cao giá trị gia tăng để có sức cạnh tranh và hiệu quả. Mặt khác, toàn cầu hoá mở ra những địa bàn và cách thức hoạt động mới, những thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước, nhất là các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, tiến trình toàn cầu hóa đặc biệt đặt các nước đang phát triển trước những thách thức to lớn của việc hội nhập và phát triển. Do yêu cầu của toàn cầu hóa là đòi hỏi các nước phải phá vỡ các hàng rào bảo hộ quốc gia, dỡ bỏ các biện pháp thuế quan và phi thuế quan cũng như các rào cản khác nên ở nền kinh tế đang phát triển, sản xuất kinh doanh trong nước luôn chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hóa – dịch vụ, công nghệ nhập khẩu và những chấn động khu vực và toàn cầu , trong đó nguy cơ lớn nhất là những chấn động về tài chính – tiền tệ thường sẽ ngay lập tức có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của mọi quốc gia. Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng “chảy máu chất xám” diễn ra nhiều và dễ dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn “săn đầu người”. Hai hiện tượng này đã góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.
1.2. NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
1.2.1. Những khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Khái niệm nhượng quyền thương mại
Vài năm trở lại đây, chúng ta thường nghe báo chí nhắc đến các thuật ngữ franchise, franchising và được dịch ra tiếng Việt là nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh. Thực chất franchise, franchising, nhượng quyền thương mại hay nhượng quyền kinh doanh đều được dùng để chỉ một phương thức kinh doanh đặc biệt – khởi nguồn và phát triển tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19. Nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh và bùng phát kể từ sau năm 1945 (khi Thế chiến II kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức này. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhượng quyền thương mại trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành công không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp… Sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn – nhà hàng đã góp phần “truyền bá” và phát triển hình thức này trên toàn thế giới. Ngày nay, franchise đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng tại châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức nhượng quyền [48].
Từ khi ra đời cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về phương thức kinh doanh đặc biệt tùy vào nền văn hóa, kinh tế hay chính trị. Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế (the International Franchise Association) đã định nghĩa: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”[22,tr.19].
Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission – FTC) định nghĩa một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng theo đó Bên giao:
- hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và
- yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu [22,tr.19].
Liên minh Châu Âu (EU) định nghĩa “quyền thương mại là một tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng”. Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được Khái niệm ở trên [22,tr.20].
Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ 6/1991 quy định:
“Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó.” [22,tr.20].
Theo quy định về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam được quy định lần đầu tiên tại Luật Thương mại 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
- Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh” [18, tr.67].
1.2.1.2. Những khái niệm liên quan
Hệ thống nhượng quyền thương mại được hình thành nên bởi các thành phần cơ bản sau:
Nhà nhượng quyền (Franchisor) là một cá nhân hoặc tổ chức sở hữu thương hiệu, sản phẩm hay dịch vụ hoặc bí quyết, có mô hình kinh doanh tối ưu… và tiến hành hình thức kinh doanh bằng cách nhượng quyền cho một hoặc nhiều đối tác qua việc thực hiện hợp động nhượng quyền thương mại.
Nhà nhận quyền (Franchisee) là cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh được bên nhượng quyền thông qua hợp đồng nhượng quyền cho phép sử dụng thương hiệu, mô hình kinh doanh, hệ thống các quy trình… để kinh doanh sản phẩm hoặc dịch vụ theo một chuẩn thống nhất được nhà nhượng quyền quy định trong cẩm nang nhượng quyền trong một khoảng thời gian, địa điểm và phạm vi nhất định. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Phí nhượng quyền ( Initial fee or Franchise fee) là khoản phí không hoàn lại mà nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền để gia nhập hệ thống nhượng quyền cho việc kinh doanh ở một địa điểm hoặc khu vực xác định trong một khoảng thời gian nhất định được hai bên thống nhất trong hợp đồng nhượng quyền. Tùy vào chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và uy tín trên thương trường của nhà nhượng quyền mà mức phí này có giá trị khác nhau. Đôi khi mức phí này cũng thay đổi tùy theo vùng miền địa lý của từng hệ thống nhượng quyền thương mại.
Phí hoạt động hay phí vận hành (Royalty fee) là khoản phí mà nhà nhận quyền phải trả hàng tháng hoặc quý hoặc năm cho nhà nhượng quyền, được căn cứ trên doanh thu thu được tại địa điểm hoạt động của mình. Mức phí này có thể là tỷ lệ phần trăm doanh thu của tất cả sản phẩm được bán tại cửa hàng hoặc là một mức phí cố định mà nhà nhận quyền phải trả cho nhà nhượng quyền khi tham gia vào hệ thống. Cũng như trường hợp phí nhượng quyền, tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, vùng miền kinh doanh hay uy tín của nhà nhượng quyền mà mức phí này có giá trị khác nhau. Thông thường phí hoạt động này được nhà nhượng quyền tái đầu tư lại hệ thống thông qua các chương trình xúc tiến bán hàng hoặc các chương trình đào tạo, khen thưởng… cho hệ thống nhượng quyền của mình.
Cẩm nang nhượng quyền (Franchise operation manuals) là tài liệu do nhà nhượng quyền biên soạn, trong đó bao gồm toàn bộ các yếu tố chuyển giao của hệ thống, các định hướng, tôn chỉ hoạt động cũng như những chuẩn mực tạo tiền đề để các yếu tố quan hệ được hình thành và phát triển. Nhà nhận quyền sẽ hoạt động tuân theo cẩm nang nhượng quyền này.
1.2.2. Đặc điểm Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Theo các định nghĩa được nêu ra ở trên, chúng ta có thể khái quát nhượng quyền thương mại có 4 đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại trong đó có việc sử dụng chung thương hiệu. Hàng hóa trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là việc sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu. Chúng ta thường quen sử dụng thuật ngữ “mua franchise” và “bán franchise” nhưng thực chất người nhận quyền không bao giờ mua được thương hiệu hay công thức kinh doanh mà chỉ “thuê” từ chủ thương hiệu trong một thời gian nhất định. Vậy nhượng quyền thương mại chỉ liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu chứ không có sự chuyển giao quyền sở hữu thương hiệu. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu vẫn có quyền tiếp tục khai thác và phát triển thương hiệu của mình và trên thực tế vẫn là chủ sở hữu đối với thương hiệu đó còn việc chuyển giao quyền sở hữu thương hiệu là việc mua đứt bán đoạn thương hiệu cho một đối tác khác, người chủ ban đầu của thương hiệu sẽ mất toàn quyền đối với thương hiệu của mình. Trên thực tế người ta thường chỉ tiến hành nhượng quyền sử dụng thương hiệu với những thương hiệu có tên tuổi nổi tiếng gắn với nó là một công thức kinh doanh đã thành công và được thừa nhận chứ ít khi những thương hiệu chưa có uy tín lại được nhượng quyền sử dụng. Chính vì thế đã có người cho rằng thương hiệu chính là “phần hồn” trong nội dung chuyển nhượng quyền thương mại.
Thứ hai, trong quá trình tiến hành phương thức kinh doanh này bên nhượng quyền có sự hỗ trợ và giám sát đáng kể về nhiều phương diện đối với bên nhận quyền. Có thể nói nhượng quyền thương mại là một mối quan hệ kinh doanh toàn diện không chỉ bao gồm sản phẩm hay dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa, khu vực địa lý kinh doanh mà còn bao gồm toàn bộ hệ thống và mô hình kinh doanh như quy trình hoạt động, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn, đào tạo nhân viên, giám sát tổ chức, quản lý chất lượng, hỗ trợ ban đầu và trong quá trình hoạt động… Một trong những rủi ro của công việc kinh doanh nhượng quyền thương mại đó chính là làm phá vỡ hệ thống kinh doanh. Nếu như chỉ một mắt xích trong hệ thống đó làm ăn không có hiệu quả gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của thương hiệu. Do đó “tính đồng bộ của một thương hiệu là một trong những chìa khóa thành công khi xây dựng mô hình kinh doanh nhượng quyền” [23, tr.38]. Để tránh và đối phó với hậu quả này, người nhượng quyền phải giám sát chặt chẽ tới cách thức hoạt động của nhà nhận quyền.
Thứ ba, trong hệ thống nhượng quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có sự độc lập về tài chính và địa vị pháp lý. Đây là đặc điểm đặc thù của hệ thống kinh doanh này nhằm phân biệt hình thức kinh doanh này với các hình thức gần giống khác như đại lý, chi nhánh thương mại, chuỗi cửa hàng. Tuy rằng trong hệ thống franchising có sự hỗ trợ và giám sát một cách đáng kể của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền nhưng theo luật pháp của các nước thì bên nhận quyền lại là các cá nhân độc lập hoặc các pháp nhân độc lập về mặt tổ chức lẫn tài chính, không phụ thuộc vào bên nhượng quyền. Trên thế giới, người nhượng quyền thường đóng vai trò là cầu nối giúp người “mua franchise” mượn tiền ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay nhằm phát triển và nhân rộng mô hình kinh doanh nhanh hơn. Trước khi khai trương, bên nhận quyền thường được bên nhượng quyền hỗ trợ về đào tạo, thiết kế, chọn địa điểm, nguồn hàng, quảng cáo… Những điều này không có nghĩa là bên nhận quyền bị phụ thuộc vào bên nhượng quyền, áp đặt hoàn toàn theo ý của bên nhượng quyền. Tất cả quyền cũng như nghĩa vụ của hai bên đều phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mà chủ thể của hợp đồng là những cá nhân, pháp nhân độc lập.
Thứ tư, trong phương thức kinh doanh này bên nhận quyền phải trả phí cho bên nhượng quyền. Nhượng quyền thương mại xét cho cùng cũng giống như hoạt động dịch vụ thuê-mượn. Người nhượng quyền cho người nhận quyền thuê sử dụng thương hiệu, công thức kinh doanh của mình đổi lại họ được nhận một khoản phí từ người nhận quyền. Phí này có thể là trọn gói nhưng cũng có thể trả làm nhiều lần gồm phí chuyển nhượng ban đầu và phí định kỳ. Thông thường trên thực tế thì người nhận quyền phải trả cho người nhượng quyền một khoản gồm nhiều lần. Lần thứ nhất là phí chuyển nhượng ban đầu. Có thể hiểu đây là khoản phí mà bên nhận chuyển nhượng phải trả để tham gia hoạt động trong hệ thống chuyển nhượng. Những yếu tố mà bên nhận chuyển nhượng được hưởng từ phía bên chuyển nhượng đổi lấy khoản phí này thường gồm “quyền sử dụng thương hiệu, các dịch vụ hỗ trợ như đào tạo, trang trí, tìm kiếm nguồn tài trợ, tài liệu hướng dẫn hoạt động…” Còn khoản phí định kỳ thường được bên nhận chuyển nhượng trả cho bên chuyển nhượng theo % doanh thu bán hàng của bên nhận quyền hoặc một khoản tiền cố định. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Bảng 1.1: Ưu điểm của Franchise
Ưu điểm khi bán franchise :
- Nhân rộng mô hình kinh doanh, tăng nhanh uy tín thương hiệu
- Tăng doanh thu
- Tiết kiệm chi phí
- Tận dụng nguồn nhân lực của bên nhận quyền
Ưu điểm khi mua franchise
- Đầu tư an toàn, ít rủi ro
- Được sử dụng thương hiệu có uy tín
- Thuận lợi trong việc huy động vốn
- Tiết kiệm chi phí nghiên cứu và phát triển
1.2.3. Các hình thức nhượng quyền thương mại
Từ khi hoạt động nhượng quyền thương mại ra đời cho đến nay có rất nhiều cách phân loại: phân loại theo bản chất, phân loại theo cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu, phân loại theo lĩnh vực kinh doanh… Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận này người viết chỉ xin đề cập đến hai cách phân loại: phân loại theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại và phân loại theo quy mô hay cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu.
1.2.3.1 Phân loại theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại
Theo căn cứ này, nhượng quyền thương mại được phân thành hai loại: nhượng quyền phân phối và nhượng quyền công thức kinh doanh. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhượng quyền phân phối (Product distribution franchise) : là hình thức nhượng quyền thương mại theo hệ thống nhượng quyền nhằm mục đích phân phối một sản phẩm hay một tập hợp các sản phẩm. Nhượng quyền phân phối sản phẩm tạo nên một cơ cấu trực tiếp cho phép đưa sản phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Ngoài việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, logo, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên nhượng quyền trong một phạm vi địa lý và trong một thời hạn nhất định thì bên nhận quyền hầu như không được nhận bất cứ sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía chủ thương hiệu. Bên nhận quyền sẽ quản lý cửa hàng của mình một cách khá độc lập và ít bị ràng buộc bởi những quy định của chủ thương hiệu. Hình thức nhượng quyền này thường được sử dụng trong việc phân phối nước ngọt (Cocacola, Pepsi), các đại lý bán ôtô (Ford motor company), các trạm xăng dầu (Exxon mobil). Tại Việt Nam, mô hình nhượng quyền của cà phê Trung Nguyên, công ty Kinh Đô được xem là thuộc loại này. Tuy hình thức nhượng quyền phân phối được sử dụng khá phổ biến ở các dịch vụ bán lẻ, song mô hình này chưa thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại.
Nhượng quyền công thức kinh doanh (Business format franchise): là hình thức nhượng quyền thương mại mà theo đó bên nhận quyền sẽ sản xuất sản phẩm, dịch vụ theo chỉ dẫn của bên nhượng quyền và bán những sản phẩm đó dưới nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền sẽ chuyển giao cho bên nhận quyền bí quyết kinh doanh thường là các công thức sản xuất, quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và công thức điều hành quản lý. Theo phương thức này thì các chuẩn mực của mô hình kinh doanh phải tuân thủ một cách tuyệt đối. Thực chất nhượng quyền công thức kinh doanh là bước phát triển cao hơn của nhượng quyền phân phối sản phẩm, nó thể hiện đầy đủ nhất các bản chất cũng như đặc điểm của mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại. Hiện nay, trên thế giới hầu hết các mô hình nhượng quyền thương mại nổi tiếng và có giá trị như Mc Donald’s, KFC, Marriott Hotel… đều sử dụng hình thức nhượng quyền này. Tại Việt Nam, doanh nghiệp điển hình sử dụng thành công phương thức này là Phở 24.
1.2.3.2. Phân loại theo quy mô hay cách thức nhượng quyền của chủ thương hiệu cho bên nhận quyền
Nhượng quyền đơn lẻ ( Single-unit franchise): là hình thức mà chủ thương hiệu “bán” franchise cho đối tác phù hợp mở một cửa hiệu duy nhất trong một khu vực địa lý nhất định. Điểm lợi thế của hình thức này là chủ thương hiệu có thể làm việc trực tiếp và sâu sát với những bên nhận quyền tuy nhiên khi số lượng người nhận quyền là quá lớn sẽ rất khó khăn cho người nhượng quyền trong việc kiểm soát toàn bộ hệ thống. Một số hệ thống nhượng quyền theo hình thức này là: Hilton Hotel, Phở 24, Trung Nguyên…
Nhượng quyền độc quyền (Master franchise/ Sub franchising): là hình thức mà chủ thương hiệu sẽ chọn một cá nhân hay doanh nghiệp địa phương tại quốc gia hoặc khu vực mà mình muốn xâm nhập làm bên “mua” franchise độc quyền kinh doanh. Để có được franchise độc quyền, bên “mua” franchise phải trả một khoản phí chuyển nhượng cao hơn các hình thức nhượng quyền khác. Bên “mua” franchise này vừa là bên nhận quyền từ chủ thương hiệu vừa là bên nhượng quyền cho những người nhận quyền khác (bên nhận quyền thứ cấp) trong phạm vi khu vực địa lý đã thỏa thuận. Như vậy chủ thương hiệu hầu như đã chuyển toàn bộ gánh nặng của mình trong việc phát triển hệ thống franchise cũng như thương hiệu sản phẩm trong khu vực địa lý đó cho bên nhận quyền độc quyền. Phần phí nhượng quyền thu được từ những bên nhận quyền thứ cấp sẽ được chia cho chủ thương hiệu và bên nhận franchise độc quyền theo tỷ lệ thỏa thuận trước. Bên nhận franchise độc quyền phải cam kết trong một khoảng thời gian nhất định sẽ có bao nhiêu cửa hàng được mở nếu không sẽ mất độc quyền. Ví dụ: Công ty Aptech của Ấn Độ nhượng quyền độc quyền cho Tập đoàn FPT tại thị trường Việt Nam.
Nhượng quyền khu vực (Area development franchise): theo hình thức này bên nhận quyền được quyền mở nhiều cửa hiệu trong một phạm vi tương đối rộng. Họ thường phải cam kết mở được bao nhiêu cửa hàng trong thời gian nhất định nếu không sẽ mất quyền. Người nhận nhượng quyền khu vực không được phép “bán” franchise cho những người mua tiếp theo. Phí trả cho hình thức nhượng quyền này cũng tương đối cao. Trong một số trường hợp, sau một thời gian kinh doanh tốt, người “mua” nhượng quyền khu vực có thể xin chuyển thành hợp đồng nhượng quyền độc quyền nếu muốn “bán” franchise cho người thứ ba. Ví dụ: Tập đoàn 7-Eleven thực hiện nhượng quyền tại Nhật Bản.
Nhượng quyền liên doanh (Joint venture): Đây thực chất là hình thức hợp tác giữa chủ thương hiệu và đối tác mua nhượng quyền. Một bên góp vốn, sự am hiểu thị trường địa phương và một bên góp thương hiệu (có thể cùng với vốn) thành lập công ty liên doanh. Công ty này trở thành công ty thay mặt chủ thương hiệu toàn quyền kinh doanh trong khu vực địa lý nhất định. Đây là hình thức mà chủ thương hiệu không mấy ưu tiên do sẽ phải chấp nhận rủi ro tài chính một khi liên doanh thất bại. Ví dụ: McDonald’s nhượng quyền tại Anh qua công ty liên doanh Mc Donald’s Golden Arches Restaurant.
1.3. ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhượng quyền thương mại đang phát triển ngày càng mạnh mẽ nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thành công khi sử dụng phương thức này. Trước khi một công ty bắt đầu một quá trình xây dựng chương trình nhượng quyền tốn kém, cần thận trọng để kiểm tra tính khả thi của chiến lược nhượng quyền. Qua tìm hiểu nghiên cứu mô hình nhượng quyền thương mại của một số thương hiệu nổi tiếng thế giới và đọc sách báo, người viết rút ra được 5 nhân tố cần thiết để tiến hành nhượng quyền thương mại thành công: xây dựng bản sắc thương hiệu, tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ, quản lý con người, nỗ lực tiếp thị và chiến lược dài hạn.
1.3.1. Xây dựng bản sắc thương hiệu
Một doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành nhượng quyền thương mại thành công khi có bản sắc thương hiệu. Bản sắc thương hiệu chính là giá trị cốt lõi và đặc trưng của thương hiệu, là dấu ấn tồn tại trong tâm trí khách hàng một cách sâu đậm nhất, thể hiện tính khác biệt vượt trội so với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh. Xây dựng thương hiệu sẽ xoay quanh “phần hồn” là những giá trị cốt lõi đó để tạo dựng hình ảnh và những cam kết đối với khách hàng một cách nhất quán. Có thể nói, giá trị lớn nhất của hợp đồng nhượng quyền thương mại nằm ở việc chuyển tải bản sắc này đến người nhận quyền như một lợi thế cạnh tranh ưu việt giúp họ xây dựng công việc kinh doanh một cách nhanh chóng nhất.
Nắm bắt được điều này, hầu hết các doanh nghiệp đều cố gắng không ngừng củng cố, xây dựng và phát triển thương hiệu của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp muốn tiến hành nhượng quyền thương mại. Bởi lẽ bản sắc thương hiệu chính là yếu tố đầu tiên thu hút các nhà nhận quyền đến với họ. Có thể nói sự nổi tiếng của thương hiệu nhượng quyền tỉ lệ thuận với sự thành công của bên nhận quyền. Chính bởi thế, các hãng lớn trên thế giới như Mc Donald’s, 7-Eleven, KFC, Pizza Hut… tuy đã nổi tiếng thế giới nhưng vẫn chú trọng đến công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu đến người tiêu dùng và các nhà nhận quyền. Thương hiệu mạnh không đồng nghĩa với việc thương hiệu đó được nhiều người biết đến mà là khách hàng có ưu tiên lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ đó hay không.
Tuy nhiên đồng hành với việc xây dựng bản sắc thương hiệu, khi tiến hành nhượng quyền thương mại các hãng cũng phải đặc biệt chú trọng đến việc giữ được tính toàn vẹn của hình ảnh thương hiệu ở tất cả các cửa hàng thuộc hệ thống nhượng quyền thương mại. Vì chỉ cần một sai khác nhỏ, một sự không đồng bộ, không theo đúng chuẩn của thương hiệu doanh nghiệp sẽ làm ảnh hường đến hình ảnh thương hiệu của cả hệ thống. Hệ thống nhượng quyền càng lớn thì doanh nghiệp nhượng quyền càng dễ mất kiểm soát nếu bản sắc thương hiệu không được củng cố và bảo vệ. Công việc củng cố và bảo vệ bản sắc thương hiệu khi ấy không chỉ là công việc của người nhượng quyền nữa mà nó đòi hỏi ý thức rất cao từ phía người nhận quyền. Chính bản thân bên nhận quyền cũng phải ý thức được bản sắc thương hiệu là yếu tố “sống còn” – điều kiện tiên quyết cho sự thành công cũng như nhân tố cốt lõi cho sự thất bại – đối với sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống nhượng quyền thương mại.
1.3.2. Tiêu chuẩn hóa quy trình đồng bộ Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Nhượng quyền thương mại không chỉ đơn thuần là việc bên nhượng quyền cho bên nhận quyền sử dụng chung thương hiệu với mình mà nó còn có sự chuyển giao cả một phương thức kinh doanh từ cách sản xuất, trang trí nhà hàng cho đến cung cách phục vụ… nhất loạt phải theo một bản mẫu đã đề ra của công ty. Hình ảnh đồng bộ của một thương hiệu là một trong những chìa khóa thành công khi xây dựng mô hình kinh doanh nhượng quyền. Khách hàng phải thấy chất lượng và tiêu chuẩn của tất cả các cửa hàng mang cùng một tên hiệu là giống nhau hay ít ra là tương đương nhau. Chỉ một cửa hàng trong hệ thống franchise có chất lượng phục vụ kém sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín chung của cả một hệ thống.
Nhiều hệ thống franchise lớn trên thế giới vẫn gặp vấn đề trong việc giữ được tiêu chuẩn đồng bộ trong tất cả các cửa hàng trong cùng hệ thống. Ví dụ như đối với Tập đoàn khách sạn Hilton và Sheraton, khách hàng vẫn thường xuyên than phiền về chất lượng có khác biệt giữa khách sạn thuộc sở hữu công ty mẹ và khách sạn mua franchise. Điều này dẫn đến sự hoài nghi của khách hàng khi muốn quyết định chọn Khách sạn Sheraton. Trong khi đối với Tập đoàn Marriott thì khách hàng khó có thể phân biệt đâu là khách sạn Marriott thuộc sở hữu công ty đâu là khách sạn Marrott mua franchise nhờ vào hệ thống kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống đòi hỏi nhà nhượng quyền phải chú trọng đến công tác kiểm tra, giám sát để phát hiện kịp thời những sai khác và có biện pháp khắc phục xử lý ngay. Đồng thời, ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh của bên nhận quyền về các quy trình đồng bộ cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công cho toàn hệ thống franchise.
Bảng 1.2: Yếu tố cơ bản tạo nên tính đồng bộ
Các yếu tố cơ bản làm nên tính đồng bộ của hệ thống franchise
- Mặt tiền phía trước cửa tiền
- Phần trang trí bên trong cửa hàng
- Sản phẩm và dịch vụ
- Phần quảng bá, khuyến mãi
- Đồng phục của nhân viên
- Ấn phẩm
1.3.3. Lựa chọn đối tác phù hợp
Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong suốt quá trình hoạt động. Vì thế bên nhận quyền sẽ phải tìm được đối tác để tiến hành liên hệ xin nhượng quyền phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp, cũng như lĩnh vực, loại hình mà mình muốn kinh doanh còn bên nhượng quyền cũng phải tìm hiểu kỹ đối tác nhận quyền trước khi tiến hành nhượng quyền. Chỉ cần một sự lựa chọn sai lầm đối tác tiến hành nhượng quyền sẽ gây tổn thất, ảnh hưởng đến uy tín của toàn bộ hệ thống franchising. Trong quá trình hoạt động luôn đòi hỏi có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền. Do đó đòi hỏi hai bên phải có sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Bên nhượng quyền phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời cho bên nhận quyền và bên nhận quyền phải có ý thức tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của bên nhượng quyền. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trên thế giới, các hãng lớn đều rất chú trọng đến việc tìm hiểu và lựa chọn đối tác nhượng quyền phù hợp vì chỉ cần một đối tác không phù hợp sẽ gây ảnh hưởng tới cả hệ thống franchising của hãng. 7- Eleven là một ví dụ điển hình trong việc tuyển chọn các đối tác nhận quyền. Muốn trở thành người nhận quyền của 7- Eleven thì phải có kinh nghiệm trong kinh doanh nói chung và kinh nghiệm trong lĩnh vực bán lẻ nói riêng, đồng thời những người này phải có kỹ năng dịch vụ khách hàng.
1.3.4. Nỗ lực tiếp thị
Đa số các thương hiệu nhượng quyền đều có ngân sách riêng dành cho tiếp thị và quảng cáo. Nhiều mô hình nhượng quyền đòi hỏi những quy luật tiếp thị khá đặc biệt và có sự kết hợp giữa người nhượng quyền và người được nhượng quyền. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh được chọn, bạn có thể lựa chọn phương thức tiếp thị và quảng cáo phù hợp nhất. Starbucks thành công với việc biến mỗi nhân viên của mình ở bất kể vị trí nào phải là một chuyên gia tiếp thị cừ khôi để mọi nơi mọi lúc có thể tư vấn, có thể tiếp thị trực tiếp cho thương hiệu của Starbucks.
Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa cũng rất quan trọng. Những chuỗi cửa hàng như Mc Donald’s đã xây dựng được những kế hoạch tiếp thị cấp quốc gia bên cạnh kế hoạch từng khu vực cho hệ thống hoạt động của mình. Người nhượng quyền phải hiểu rằng, sự trải nghiệm của khách hàng ở mỗi địa phương, mỗi khu vực khác nhau là một lợi thế riêng của người nhận quyền ở địa phương đó, và người nhận quyền nên tận dụng lợi thế đó để củng cố thương hiệu của mình. Nhưng khó khăn nhất của mối quan hệ nhượng quyền là làm sao kết hợp được bản sắc của thương hiệu với kế hoạch tiếp thị của từng địa phương. Chính vì thế yêu cầu các doanh nghiệp tiến hành nhượng quyền bên cạnh những chiến dịch quảng cáo chung cho toàn bộ hệ thống phải có những nỗ lực tiếp thị riêng cho từng khu vực nhượng quyền.
1.3.5. Chiến lược dài hạn
Thông thường việc nhượng quyền sẽ giúp rút ngắn được thời gian chuẩn bị những cơ sở ban đầu, nhưng không có nghĩa là không phải xây dựng một chiến lược dài hạn. Một đại lý nhượng quyền cũng cần khoảng 2 đến 3 năm trước khi thấy được lợi nhuận, và nếu không có kế hoạch đầy đủ thì đại lý này sẽ bị nuốt chửng trước khi có cơ hội thành công .
Thực tế một số doanh nghiệp nhượng quyền mới chỉ chú trọng đến việc nhân rộng mô hình kinh doanh chứ chưa thực sự chú trọng đến việc phát triển thương hiệu và một chiến lược phát triển lâu dài. Một số doanh nghiệp nhận quyền chỉ thấy lợi ích trước mắt chứ chưa quan tâm nhiều đến việc cùng phát triển thương hiệu với người nhượng quyền. Để phát triển bền vững luôn đòi hỏi doanh nghiệp có chiến lược phát triển dài hạn. Đặc biệt trong hoạt động nhượng quyền, chiến lược đó đòi hỏi phải có sự phối hợp của cả hai bên vì những mục tiêu lâu dài.
1.4. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG KHU VỰC
1.4.1. Hoa Kỳ Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Mô hình nhượng quyền thương mại được coi là khởi nguồn tại Mỹ vào giữa thế kỷ 19, khi lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy khâu Singer ký hợp đồng nhượng quyền kinh doanh cho một đối tác. Là quốc gia đầu tiên có hệ thống nhượng quyền hoàn chỉnh nhất, hiện nay Hoa Kỳ cũng là quốc gia có nền nhượng quyền mạnh nhất, không chỉ nhiều về số lượng hệ thống nhượng quyền mà còn nhiều về số lượng cửa hàng nhượng quyền trong và ngoài nước. Năm 1994, 35% tổng doanh số bán lẻ tại Mỹ là từ các cửa hàng nhượng quyền. Đến năm 2000, tỷ lệ này tăng lên 40% với doanh thu lên tới 1.530 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 8 triệu người. Bình quân cứ 12 phút lại có một cửa hàng nhượng quyền ra đời [43].
Biểu 1.1 : Tổng số cửa hàng nhượng quyền tại Mỹ qua các năm
Ở Mỹ, kinh doanh nhượng quyền được xem là “kinh tế hót bạc” bởi đây là phương thức đơn giản hóa những mối lo ngại trong kinh doanh thông thường như phá sản, thuê mướn lao động, phát triển thương hiệu … Theo thống kê của Phòng thương mại Mỹ năm 2006, tỉ lệ thành công của một doanh nghiệp, cửa hàng nhượng quyền luôn đạt trên 90% qua 10 năm kinh doanh trong khi tỉ lệ này ở các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh độc lập chỉ khoảng 15% [22, tr.112].
Biểu 1.2: Tỷ lệ thành công với doanh nghiệp kinh doanh độc lập và doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền ở Mỹ
Năm 2007, có 847.246 cửa hàng nhượng quyền ra đời với doanh thu 816 triệu USD, tạo ra 9,8 triệu việc làm. Tính đến cuối năm 2007 có khoảng hơn 370.000 hệ thống nhượng quyền tại Mỹ. Tốc độ tăng trưởng thực tế hàng năm vào khoảng 4,5% trong suốt giai đoạn 2002 -2007. Mỗi năm có thêm 15.000 đến 16.000 hệ thống nhượng quyền mới được thành lập. Hiện nay tại Mỹ có hơn 3000 nhãn hiệu thực hiện nhượng quyền và khoảng 500 nhãn hiệu khác đang trong quá trình chuẩn bị nhượng quyền; 3500 nhãn hiệu này thuộc về 2800 công ty [27, tr.2].
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế bắt đầu từ tháng 12 năm 2007 nên sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Mỹ có sự chững lại và giảm đi đôi chút.
Bảng 1.3: Franchise Business Economic Outlook, 2006-2009
Số lượng các cửa hàng nhượng quyền mới được thành lập trong năm 2008 so với 2007 chỉ tăng 2,1%. Theo Pricewaterhouse Coopers dự đoán do ảnh hưởng của suy thoái con số này sẽ giảm 1,2% trong năm 2009, xuống còn chỉ có 854,511 cửa hàng. Số lượng việc làm được tạo ra cũng giảm đáng kể (từ 9,805 năm 2007 xuống còn 9,785 năm 2008 và ước đoán chỉ còn 9,578 năm 2009) cùng với đó là doanh thu giảm đi. Do các doanh nghiệp nhượng quyền không có cách nào để chống lại sự suy giảm kinh tế đang diễn ra ở Mỹ và trên toàn cầu. Theo một nghiên cứu gần đây của FRANdata, lượng vốn vay của các doanh nghiệp franchise ở Mỹ sẽ giảm 27% trong năm 2009 (so với năm 2008), do đó sẽ giảm khả năng phát triển mở rộng của các doanh nghiệp đang tiến hành nhượng quyền cũng như các doanh nghiệp có ý định nhượng quyền.
Ở Mỹ, hệ thống nhượng quyền chiếm tỉ trọng cao nhất trong những năm qua là nhà hàng thức ăn nhanh, sau đó là dịch vụ bảo trì, bán lẻ… Trong 10 hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ có đến 7 hệ thống hoạt động trong lĩnh vực thức ăn nhanh.
Bảng 1.4: Mười hệ thống nhượng quyền hàng đầu của Mỹ
Mặc dù ngành hàng thức ăn nhanh và bán lẻ vẫn có sự tăng trưởng đều về số lượng cửa hàng nhượng quyền nhưng dường như chúng đang đánh mất dần thị phần của mình do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành dịch vụ trong suốt những năm qua.
Thay đổi này cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu ngành từ sản xuất sang dịch vụ. Đây là khuynh hướng chung của sự phát triển hệ thống nhượng quyền. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Những nhà nhượng quyền Mỹ thường đánh giá tiềm năng và năng lực làm việc cũng như nhiều điều kiện khác của các ứng viên nhận quyền một cách rất nghiêm túc. Bên cạnh việc đánh giá này, việc phân tích, đánh giá thị trường cũng được thực hiện một cách tỉ mỉ và khoa học. Đôi khi công việc này thường được tiến hành nhiều năm trước khi hệ thống xuất hiện. Một ví dụ điển hình đó là KFC. Vào Việt Nam rất sớm, từ năm 1998 nhưng đến tận năm 2007 mới thực hiện nhượng quyền.
Với nền kinh tế có GDP lớn nhất thế giới này, hệ thống nhượng quyền Mỹ không ngừng phát triển và dần chinh phục thế giới bằng sức mạnh và sự chuyên nghiệp của mình.
1.4.2. Singapore
Hoạt động nhượng quyền thương mại bắt đầu du nhập và phát triển ở Singapore vào thập niên 70 của thế kỷ XX. Đến những năm 1980, nhiều công ty nội địa Singapore đã thỏa thuận và giành quyền kinh doanh nhượng quyền đối với các nhãn hiệu quốc tế như KFC, McDonald’s, Pizza Hut và 7-Eleven. Từ đó đến nay, hình thức nhượng quyền thương mại đã trở thành một trong những hình thức chủ yếu cho các doanh nghiệp Singapore muốn thiết lập kinh doanh, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường. Theo thống kê của Hiệp hội Nhượng quyền Singapore (Franchising and Licensing Association – FLA), tổng doanh thu trong hoạt động nhượng quyền ở Singapore trong năm 2005 là 3,6 tỷ USD, chiếm 18% tổng doanh thu bán lẻ trong nước, trong đó 70% doanh số là của các hệ thống nhượng quyền nước ngoài (đặc biệt là Mỹ) [28, tr.3]. Tuy nhiên, các hệ thống nhượng quyền nội địa cũng đang phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh. Có thể kể đến các thương hiệu nội địa thành công và nổi tiếng nhờ nhượng quyền thương mại như Charles & Keith, Bread Talk, Cavana… Điển hình như thương hiệu Bread Talk, một hệ thống các cửa hàng bán bánh rất nổi tiếng ở Singapore. Chỉ mới thành lập khoảng 6 năm nhưng Bread Talk đã nhượng quyền rất thành công ở nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Philippines, Đài Loan và cả một số nước ở khu vực Trung Đông như Kuwait, Ả Rập Saudi…
Theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới (WFC) thì đến năm 2007, tại Singapore có 420 hệ thống nhượng quyền với hơn 3000 cửa hàng [28, tr.5]. Sở dĩ số lượng hệ thống nhượng quyền tại Singapore không cao như nhiều nước khác trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Thái Lan… vì đảo quốc này có diện tích rất nhỏ bé, hòn đảo chính có diện tích 682 km2 và dân số chỉ gần 5 triệu người (2007) [28,tr.3]. Một nguyên nhân khác nữa là do mỗi công ty chỉ sở hữu một hệ thống nhượng quyền dù rằng số công ty áp dụng hình thức nhượng quyền ở Singapore ngày càng nhiều.
Biểu 1.3: Cơ cấu hệ thống nhượng quyền thương mại tại Singapore, 2007
Trong số các doanh nghiệp nhượng quyền thì có đến 80% doanh nghiệp là thành viên của FLA. Hiện FLA có 150 thành viên bao gồm các nhà nhượng quyền trong và ngoài nước [22, tr.139]. FLA chủ động tìm kiếm và phát triển nền tảng tinh thần doanh nghiệp và tính quốc tế trong ngành công nghiệp nhượng quyền Singapore. Bên cạnh đó, FLA khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhượng quyền thương mại để kinh doanh, tổ chức các chương trình giáo dục hướng nghiệp, các sân chơi cho doanh nghiệp nhằm trao đổi ý tưởng và tìm kiếm cơ hội hợp tác, hỗ trợ các thành viên tiếp cận các chương trình tiếp thị quốc tế thông qua mối quan hệ với các cơ quan Chính phủ và các hiệp hội, tổ chức về nhượng quyền thương mại.
Chính phủ Singapore cũng rất quan tâm đến ngành công nghiệp nhượng quyền. Chính phủ nước này đã áp dụng rất nhiều biện pháp và chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động nhượng quyền diễn ra mạnh mẽ như thành lập các hiệp hội tư vấn chuyên nghiệp như FLA, Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế Singapore (International Enterprise Singapore – IES) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nội địa xây dựng năng lực kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại và thu hút công ty nhượng quyền quốc tế đến kinh doanh tại Singapore dưới hình thức nhượng quyền. Đồng thời Chính phủ Singapore cũng tạo môi trường kinh doanh có cơ chế pháp lý thông thoáng để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhượng quyền thương mại hiện có và doanh nghiệp nhượng quyền thương mại tiềm năng. Song song đó, họ cũng tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhượng quyền tiềm năng tìm kiếm và mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh.
Chẳng hạn như, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp địa phương Singapore SPRING (LETAS) được khởi động từ năm 2001 nhằm khuyến khích doanh nghiệp khởi sự và nâng cấp hoạt động kinh doanh của mình bằng nhượng quyền thương mại với tổng kinh phí khoảng 250,000 đô la Singapore, hay việc tổ chức các sự kiện liên quan đến nhượng quyền thương mại như là hội thảo, triển lãm thường xuyên… Điển hình là hội thảo “ Nhượng quyền toàn cầu – Global Franchising” đã thu hút nhiều nhà kinh doanh thương mại từ các quốc gia trên thế giới đến Singapore đầu tư dưới hình thức nhượng quyền. Ngoài ra, còn có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức nhượng quyền như “Kế hoạch hỗ trợ phát triển nhượng quyền thương mại – Franchise Development Assistant Scheme – FRANDAS” được bắt đầu từ năm 1990.
Với kế hoạch này các công ty nội địa có kết quả hoạt động tốt và có cơ sở để phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại sẽ nhận được sự hỗ trợ để phát triển hệ thống của mình và quảng cáo về hệ thống nhượng quyền thương mại ra thị trường quốc tế. FRANDAS cũng hỗ trợ cả các nhà nhượng quyền thương mại nước ngoài nếu họ muốn tìm đối tác nội địa.
Trong tương lai, Hiệp hội các doanh nghiệp quốc tế Singapore (IES) sẽ cùng liên kết chặt chẽ với Hiệp hội nhượng quyền Singapore (FLA) nhằm thúc đẩy và định vị phát triển Singapore thành một “cứ địa nhượng quyền thương mại” của toàn khu vực Đông Nam Á.
1.4.3. Thái Lan Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hiện nay, ngành công nghiệp nhượng quyền thương mại rất phổ biến và thành công ở thị trường Thái Lan. Nhiều nhà đầu tư đã và đang tìm kiếm cơ hội ở lĩnh vực này bởi sự hấp dẫn của thị trường và những thủ tục thông thoáng, an toàn từ phía Chính phủ. Theo thống kê của Phòng Thương mại Mỹ, năm 2006 Thái Lan có 435 hệ thống nhượng quyền với hơn 30,000 cửa hàng hoạt động, trong đó có 350 hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan, 85 hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp nước ngoài. Doanh thu từ các doanh nghiệp nhượng quyền nội địa đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 45% tổng doanh thu ngành công nghiệp nhượng quyền [22,tr.144]. Đây là những con số rất ấn tượng bởi trong bối cảnh các thương hiệu nhượng quyền nước ngoài “xâm nhập” một cách ồ ạt vào thị trường nội địa các nước châu Á thì Thái Lan đã có một sự phát triển tích cực hệ thống nhượng quyền trong nước của mình. Nếu như vào năm 2000, thị phần giữa các nhà nhượng quyền Thái Lan và các nhà nhượng quyền nước ngoài là 30:70 thì đến năm 2006 tỉ lệ đó đã là 45:55.
Biểu 1.4: Doanh thu giữa hai khu vực : nhà nhượng quyền nội địa và nhà nhượng quyền nước ngoài tại Thái Lan từ 2004-2006
Sở dĩ có sự phát triển nhảy vọt trong hệ thống nhượng quyền Thái Lan là do các nhà nhượng quyền Thái Lan cạnh tranh rất mạnh mẽ với các hệ thống nhượng quyền nước ngoài muốn nhượng quyền tại thị trường trong nước với những lợi thế của nguồn nhân lực rẻ, sản phẩm có sự khác biệt, chi phí đầu tư ban đầu rẻ hơn, phí nhượng quyền thấp hơn cũng như gia tăng các chương trình hỗ trợ các nhà nhận quyền trong nước.
Ngoài ra một nguyên nhân quan trọng khác là do Chính phủ Thái đã có những động thái tích cực để phát triển hoạt động nhượng quyền nội địa, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như công nhận nhượng quyền thương mại là con đường nhanh nhất để phát triển đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, Chính phủ thông qua các tổ chức quản lý nhượng quyền cung cấp kiến thức, kỹ năng, đưa ra các chương trình đào tạo cũng như hợp tác với các ngân hàng nhà nước để cho vay đối với các doanh nghiệp muốn khởi sự bằng con đường nhượng quyền.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các nhà đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực nhượng quyền; khuyến khích các nhà nhượng quyền trong và ngoài nước thực hiện nhượng quyền tại nước mình cũng như phát triển ra các nước trong khu vực; tổ chức các cuộc hội thảo trong nước cũng như nước ngoài để xúc tiến việc phát triển nhượng quyền thương mại. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hiện nay, Bộ Thương mại Thái Lan đang có kế hoạch thúc đẩy những công ty quy mô lớn tạo ra những hoạt động nhượng quyền để cạnh tranh với những thương hiệu quốc tế. Theo Bộ Thương mại Thái Lan, các doanh nghiệp Thái Lan sẽ đạt thêm lợi nhuận nếu họ kiểm soát việc kinh doanh theo phương cách chuyển nhượng thương hiệu. Có một thực tế là hiện nay có nhiều doanh nghiệp lớn của Thái sở hữu khối lượng tài sản lớn, có lợi thế khác biệt nhưng không kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại. Do vậy, để tăng thu nhập quốc gia, theo Chính phủ, các công ty này phải điều chỉnh việc kinh doanh theo hình thức nhượng quyền để thương hiệu của họ được biết đến nhiều hơn và giá trị hơn không những ở trong nước mà còn trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, Chính phủ Thái cũng triển khai dự án “Nhượng quyền thương mại Thái Lan tiến tới nhượng quyền toàn cầu” do Viện Kenan Châu Á (KIAsia) giúp xúc tiến mở rộng mạng lưới 25 công ty nhượng quyền Thái Lan ở các quốc gia láng giềng, thực hiện từ tháng 8 năm 2006. Với ngân sách khoảng 16 triệu baht, KIAsia huấn luyện miễn phí cho các cuộc quảng bá lưu động. Vào năm 2007, chương trình này cũng đã được triển khai lần hai. Ngày 27 tháng 9 năm 2007, “Ngày nhượng quyền thương hiệu Thái Lan 2007” đã được tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam, với sự tham gia của 9 thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng nhất Thái Lan như K.Santaifood, xúc xích EZ’S, nhà hàng Thái Chokdee Dimsum, To-sit, Neo Suki, cửa hàng cà phê Black Canyon…
Biểu 1.5: Cơ cấu hệ thống nhượng quyền thương mại ở Thái Lan, 2006
Ngành công nghiệp nhượng quyền ở Thái Lan tập trung vào một số ngành tiêu biểu như thực phẩm (44%), giáo dục (15%), dịch vụ chung(14%), bán lẻ (10%), mỹ viện và spa (10)%, công nghệ thông tin (7%). Tuy thực phẩm đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu các ngành nhượng quyền tại Thái Lan nhưng triển vọng nhất lại là ngành giáo dục, dịch vụ ô tô, trung tâm thể dục kết hợp chăm sóc sức khỏe, thức ăn dinh dưỡng, thẩm mỹ viện, phòng cho thuê, cửa hàng bán lẻ, dịch vụ quét dọn và bảo trì, dịch vụ môi giới bất động sản, hệ thống bảo an. Những lĩnh vực này đang từng bước khẳng định vai trò của mình trong bản đồ nhượng quyền của Thái.
Tuy năm 2006 là một năm có nhiều biến động chính trị tại Thái Lan, nhưng tốc độ tăng trưởng của ngành nhượng quyền thương mại vẫn đạt khoảng 34%. Doanh thu của các doanh nghiệp thực hiện nhượng quyền thương mại ở Thái Lan năm 2006 là vẫn đạt 2,3 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2005 [29, tr.3].
Bảng 1.5: Doanh thu nhượng quyền thương mại ở Thái Lan (triệu USD)
Có thể thấy tham vọng trở thành “nơi hội nhập các hệ thống nhượng quyền thế giới” của người Thái đang đạt được những kết quả đáng khích lệ và họ cũng đang nỗ lực không ngừng cho tham vọng đó. Mặc dù vẫn còn đối diện rất nhiều thách thức mà đặc biệt là nạn làm nhái, làm giả nhãn hiệu, sao chép hệ thống… nhưng với nỗ lực của Chính phủ, của các doanh nghiệp với hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, vùng đất này đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của thế giới. Không những thế, nhiều doanh nghiệp tại đất nước này đang có những kế hoạch phát triển hoạt động của mình trong nước và ra nước ngoài. Tương lai không xa trên bản đồ nhượng quyền khu vực sẽ xuất hiện nhiều hệ thống nhượng quyền xuất phát từ đất nước này. Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
