Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới, khủng hoảng nợ công châu Âu đang diễn ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến hầu hết các quốc gia trên thế giới cùng với xung đột vũ trang cục bộ trên thế giới đã làm gia tăng thêm những bất ổn kinh tế toàn cầu. Chịu tác động của môi trường quốc tế, từ năm 2023 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đứng trước rất nhiều khó khăn. Giai đoạn gần đây, nền kinh tế nước ta đã xuất hiện những dấu hiệu của sự bất ổn trong kinh tế vĩ mô, đó là vấn đề lạm phát, suy giảm tốc độ tăng trưởng, suy giảm thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người dân.
Khủng hoảng kinh tế xảy ra cũng đã gây tác động to lớn tới hoạt động các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Năm 2024 là một năm thực sự sóng gió và đầy biến động với ngành Tài chính Ngân hàng khi tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 20 năm, nợ xấu tăng vọt, loạn giá vàng, lợi nhuận sụt giảm, nhiều tổ chức tín dụng làm ăn thua lỗ, 9 ngân hàng yếu kém buộc phải tái cơ cấu, nhiều Tổ chức tín dụng lỡ hẹn với kế hoạch tăng vốn hoặc lên sàn, nhân viên nhiều ngân hàng mất việc, cắt giảm lương, thưởng, thậm chí không có lương thưởng Tết, nhiều cán bộ ngân hàng rơi vào vòng lao lý…Vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để vực dậy nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, tiếp cận được nguồn vốn Ngân hàng phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đồng thời giúp ngân hàng đạt được mục tiêu kinh doanh với chất lượng cho vay tốt?
Chính từ thực tế nêu trên, có thể thấy nâng cao chất lượng cho vay là một vấn đề cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Nó ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DongA Bank) nói riêng. Do vậy, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo bậc đại học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Khóa luận tập trung làm rõ ba mục tiêu chính như sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận về chất lượng cho vay và các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đông Á từ đó chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế còn tổn tại.
- Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại đó, đề tài đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay trên phạm vi hoạt động của Ngân hàng TMCP Đông Á.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay và chất lượng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đông Á.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ và chất lượng cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Đông Á trong 3 năm: 2022, 2023, 2024.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó tập trung vào các phương pháp sau: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và phương pháp phân tích tỷ số trong hoạt động cho vay của ngân hàng từ năm 2022 đến năm 2024.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục, bảng biểu và sơ đồ, kết cấu khóa luận gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Tổng quan chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á.
Chương 1. Tổng quan chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Theo “Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại” của Đại học Thăng Long xuất bản năm 2023, do PGS.TS. Mai Văn Bạn làm chủ biên định nghĩa: “Cho vay của ngân hàng thương mại là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ ngân hàng thương mại (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại ngân hàng thương mại với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.
Điều 4, luật số 47/2022/QH12 (Luật các tổ chức tín dụng) do Quốc hội ban hành cũng đưa ra một định nghĩa khác về cho vay: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, bản chất cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của Ngân sách Nhà nước.
1.1.2. Phân loại cho vay
1.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Việc căn cứ vào thời hạn cho vay giúp cho các Ngân hàng dựa vào đó quy định mức lãi suất phù hợp, đảm bảo tính an toàn, sinh lợi và phù hợp giữa nguồn vốn huy động được với số tiền cho vay.
- Cho vay ngắn hạn:
Là hình thức cho vay có thời hạn tới 12 tháng với mục đích chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc thỏa mãn nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
- Cho vay trung hạn: Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Là hình thức cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Hình thức cho vay này thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp,…
- Cho vay dài hạn:
Là hình thức cho vay có thời hạn trên 60 tháng, với mục đích chủ yếu là tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, sân bay, cầu đường, các thiết bị vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới…
1.1.2.2. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay
Đây là cách phân loại quan trọng, giúp cho các nhà làm luật có thể xây dựng nên những quy định phù hợp với thực tế về cơ chế bảo đảm tiền vay và việc xử lý tài khoản bảo đảm tiền vay.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Cho vay có đảm bảo bằng tài sản chủ yếu được thực hiện bởi các hình thức sau:
- Cho vay cầm cố bằng chứng khoán;
- Cho vay cầm cố bằng thương phiếu;
- Cho vay cầm cố bằng hợp đồng thầu khoán;
- Cho vay cầm cố bằng hàng hóa;
- Cho vay cầm cố bằng bất động sản;
- Cho vay có đảm bảo của người bảo lãnh.
Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Là việc Ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba về tài sản. Trong trường hợp này, ngân hàng cho doanh nghiệp vay chủ yếu dựa vào uy tín khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, có khả năng tài chính mạnh, Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. Mức vay tối đa không bảo đảm của mỗi loại hình tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định trong mỗi thời kỳ. Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
1.1.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
Cách phân loại này giúp cho các Ngân hàng thương mại có thể dễ dàng xác định điều kiện cho vay đối với mọi chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng, xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng.
- Cho vay tiêu dùng:
Là các khoản cho vay để tài trợ cho việc tiêu dùng nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa dịch vụ trước khi có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho người vay được hưởng mức sống cao hơn. Quy mô của những khoản cho vay này thường nhỏ, lãi suất cao do rủi ro lớn (khả năng trả nợ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập và ý thức trả nợ của khách hàng). Đối tượng được vay là các cá nhân và hộ gia đình vay để phục vụ cho mục đích mua nhà, mua ô tô, du học, đi du lịch…
- Cho vay kinh doanh:
Là loại hình cho vay của tổ chức tín dụng đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức như: cho vay công nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay thương mại… Các khoản vay này thường được sử dụng vào việc mua sắm máy móc thiết bị, tài trợ cho vốn lưu động, lãi suất thường thấp hơn trong hệ thống lãi suất, vì thường đây là những khoản vay lớn, chi phí cho quản lý thường thấp hơn cho vay tiêu dùng, và khách hàng chủ yếu của loại hình cho vay này là các doanh nghiệp.
1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay trực tiếp từng lần Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của sản xuất kinh doanh. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình bày phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký kết hợp đồng cho vay, xác định qui mô cho vay, thời hạn giả ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi một nhóm được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau. Theo từng kỳ hạn nợ tròn hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả. Nếu cảm thấy dấu hiệu vi phạm hợp đồng ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn lãi suất có thể cố định hoặ thả nổi theo thời điểm tính lãi. Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng.
Đây là nghiệp vu tín dụng theo đó ngân hàng chấp thuận cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã thu mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ ngân hàng sẽ phát tiền cho vay. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn hạn tín dụng mà sẽ thu nợ khi khách hàng thu nhập. Với hình thức này, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
- Cho vay thấu chi Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được cho trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ séc…vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Nếu khách hàng chi vượt quá hạn mức thấu chi sẽ bị phạt và đình chỉ sử dụng hình thức vay này. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cả nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để chi trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng…Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
- Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển vốn của hàng hóa áp dụng đối với các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Đầu năm hoặc quý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. NH cùng khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Khi vay khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán. Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành đảm bảo cho khoản vay. Hình thức cho vay này rất thuận tiện cho khách hàng do thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho vay nhiều lần.
- Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng theo đó ngận hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền mỗi lần trả được tính toán soa cho phù hợp với khả năng trả nợ (thường là khấu hao vào thu nhập sau thuế của dự án, hoặc thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng). Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua (qua đó đến người bán) khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp hàng hóa mau trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng trả nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Chính vì vậy rủi ro trả góp thường là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp
Là hình thức cho vay thông qua các tổ chưc trung gian như: nhóm sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… Hình thức cho vay này có hai loại:
Cho vay gián tiếp thông qua người bán lẻ sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất (nguyên liệu, cây giống…) hoặc sản phẩm tiêu dùng. Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian (Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên…). Các tổ chức trung gian này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các thành viên trong hội vay vốn của ngân hàng nhằm mục đích phát triển kinh tế cho các thành viên trong hội: xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm…
- Cho vay hợp vốn
Là hình thức cho vay gồm nhóm các tổ chức tín dụng cung cho vay đối với một dự án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối giàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Hiện nay, ở Việt Nam hình thức này tương đối phát triển, nguyên nhân là do nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn nhưng các ngân hàng bị giới hạn bởi quyết định số 475/2017/QĐ-NHNN ngày 19/4/2017 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước, theo đó qui định một ngân hàng không được cho vay đối với một khách hàng vượt quá 15% vốn điều lệ của ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Là phương thức áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
Khách hàng vay vốn phải có vốn đầu tư tham gia vào dự án. Vốn tham gia dự án có thể là tiền hoặc tài sản được đưa vào sử dụng cho dự án kể cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà xưởng, tiền thuê đất đã trả, các chi phí mà khách hàng đã đầu tư vào dự án. Vốn tham gia của chủ đầu tư phải đưa vào công trình trước khi ngân hàng cho vay sau khi hoặc cùng tham gia theo tỉ lệ:
Đối với các dự án cải tiến mở rộng sản xuất, hợp lý hóa sản xuất phải có vốn tự có tối thiểu tham gia dự án = 10% tổng mức vốn đầu tư của dự án mở rộng.
Đối với dự án đầu tư mới, khách hàng phải có vốn tham gia tối thiểu = 30% tổng mức vốn đầu tư cho dự án mới.
1.1.3. Nguyên tắc hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động truyền thống mang lại lợi nhuận chủ yếu, nhưng đồng thời cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất cho Ngân hàng thương mại, do đó các ngân hàng cần tuân thủ một số nguyên tắc khi tiến hành cho vay:
Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay: theo đó, mọi khoản vay đều phải được xác định trước về mục đích kinh tế. Bởi vậy, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay vốn, trước khi vay phải trình bày với ngân hàng mục đích vay vốn, gửi cho ngân hàng các kế hoạch hay dự án sản xuất kinh doanh, các hợp đồng cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, các tài liệu kế toán để ngân hàng xem xét cho vay. Khi cho vay, ngân hàng cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng vay vốn và khách hàng phải cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích và điều kiện này được ghi trong hợp đồng vay vốn. Sau khi đã nhận được tiền vay, khách hàng phải sử dụng đúng mục đích như cam kết. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát việc sử dụng vốn của khách hàng, nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích ngân hàng phải áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng.
- Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi:
Hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng, sự hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng khi cho vay. Thu hồi nợ cả gốc và lãi đúng hạn là cơ sở để các Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển. Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, ngân hàng là người đi vay để cho vay. Ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả, đầy đủ, kịp thời cho người gửi khi họ có nhu cầu rút tiền. Chính vì vậy, ngân hàng đòi hỏi người vay vốn phải hoàn trả cho ngân hàng đúng hạn. Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thể thu hồi các khoản cho vay đúng hạn thì có thể dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán và phá sản.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng của mình, ngân hàng phải bù đắp các khoản chi phí như: trả lãi tiền gửi, chi phí ẩn chỉ, trả lương cán bộ nhân viên, nộp thuế, trích lập các quỹ,… Do đó, ngân hàng phải thu thêm các khoản chênh lệch ngoài số vốn cho vay. Để có thể thực hiện nguyên tắc này trong quản lý vốn vay, ngan hàng phải xác định thời hạn cho vay, các kì hạn nợ của từng khoản cho vay, đồng thời thường xuyên theo dõi đôn đốc khách hàng trong việc trả nợ.
1.1.4. Vai trò hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại
1.1.4.1. Vai trò đối với nền kinh tế Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị cải tiến khoa học kĩ thuật, …
Những doanh nghiệp nhỏ thiếu vốn, trình độ trang thiết bị kĩ thuật còn thấp kém, chắp vá, thiếu đồng bộ sẽ ít có điều kiện để phát triển. Do vậy, thông qua vốn vay của Ngân hàng, doanh nghiệp dùng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thỏa mãn nhu cầu trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới vào các doanh nghiệp thông qua đó giúp doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế: Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng đứng giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, là cầu nối vốn cho nền kinh tế. Từ nguồn vốn đã tập hợp được, hoạt động cho vay của ngân hàng đẩy vốn này cho các dự án kinh doanh khả thi, góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,…
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn liền với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện hiện nay khi thị trường vốn của nước ta chưa thực sự phát triển thì nguồn vốn vay ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đẩy nhanh thực hiện công nghiệp hóa, đáp ứng vốn vay phát triển đối với ngành kinh tế này cũng như hạn chế phát triển đối với ngành kinh tế khác. Bằng những công cụ tín dụng của mình, Ngân hàng có thể cho vay ưu đãi những ngành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể.
1.1.4.2. Vai trò đối với Ngân hàng Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn và thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng. Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm tới 50% tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ ½ đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 70% doanh thu ở các nước phát triển,hay đến 90% doanh thu của Ngân hàng ở các nước đang phát triển. (Theo Thống kê của Ngân hàng Nhà nước)
Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của Ngân hàng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được không những doanh nghiệp đủ trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dich vụ của Ngân hàng cũng phát triển.
1.1.4.3. Vai trò đối với khách hàng
Với khách hàng doanh nghiệp: hoạt động cho vay giúp khách hàng tập trung được nguồn vốn kinh doanh đồng bộ, có điều kiện phát triển các ý tưởng, dự án kinh doanh cũng như phát triển mở rộng sản xuất, chủ động trong công việc hoàn trả gốc và lãi theo hợp đồng.
Với khách hàng cá nhân: hoạt động cho vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu, mua sắm cần thiết hay đi du học, du lịch, phát triển và hoàn thiện bản thân.
1.2 Chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
1.2.1. Quan điểm chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay là một trong những hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại, do đó, chất lượng cho vay luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các ngân hàng. Vậy để đánh giá được hoạt động cho vay của một ngân hàng có hiệu quả hay không cần phải tìm hiểu thế nào là chất lượng của hoạt động cho vay đó mà trước hết phải hiểu rõ được “chất lượng” là gì? Trong giáo trình “Quản lý chất lượng toàn diện” của trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 2020 đã đưa ra khái niệm về chất lượng của Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu (Europea Organizition for Quality control) như sau: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2020 (phiên bản thứ 4), thuật ngữ “chất lượng” được định nghĩa là “Khả năng thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan khác của một tập hợp các đặc tính vốn có của sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình”.
Các định nghĩa trên đã chỉ ra khái niệm về chất lượng. Tuy nhiên, cần phải xem xét trên nhiều góc độ khác nhau bởi mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những nhận định khác nhau về chất lượng cho vay.
Thứ nhất, chất lượng cho vay xét trên góc độ của Ngân hàng thương mại: Đối với Ngân hàng thương mại, một khoản vốn cho vay được coi là có chất lượng khi phạm vi, giới hạn, mức độ cho vay phù hợp với khả năng tài chính của ngân hàng, đảm bảo đúng nguyên tắc cho vay theo quy định của pháp luật và các quy định riêng của từng ngân hàng, hạn chế thấp nhất mức độ rủi ro trong suốt quá trình kinh doanh của ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng nhưng bên cạnh đó cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Do vậy việc đảm bảo an toàn vốn vay là mục tiêu quan trọng bên cạnh mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng. Chất lượng cho vay tốt là kết quả của một quá trình hoạt động có sự phối hợp giữa các phòng ban, bộ phận sao cho thu được tối đa lợi nhuận cho ngân hàng, đồng thời đáp ứng nhu cầu vay vốn của khác hàng, đem lại sự hài lòng cho khách hàng. Như vậy, chất lượng cho vay xét trên góc độ của ngân hàng có thể hiểu là: việc cho vay phải đảm bảo khả năng thu hồi nợ đúng kế hoạch đề ra, đảm bảo cân bằng 3 mục tiêu: sự lành mạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh và đảm bảo nguyên tắc sinh lời.
Thứ hai, chất lượng cho vay xét trên góc độ của khách hàng: điều này được thể hiện ở sự thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về quy mô vốn vay, lãi suất vay vốn, kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục vay vốn đơn giản, điều kiện cho vay thông thoáng. Bên cạnh đó, khách hàng mong muốn được ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn kịp thời, tiến độ giải ngân nhanh chóng để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. các khoản vay có chất lượng phải là các khoản vay có vốn vay phù hợp với mục đích sử dụng vốn, có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng và quy chế cho vay.
Một cách khái quát, chất lượng cho vay chính là sự đáp ứng về số lượng và chất lượng đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng và đảm bảo các yếu tố an toàn và lợi nhuận đối với ngân hàng. Khoản vay được coi là có chất lượng tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cho cả khách hàng, ngân hàng và cho cả xã hội. Tức là vốn đưa ra kinh doanh tạo ra số tiền lớn đủ để trang trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Đối với Ngân hàng thương mại, khi hoạt động cho vay của ngân hàng có chất lượng đồng nghĩa vói việc đồng vốn của ngân hàng bỏ ra được sử dụng hiệu quả, ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đầy đủ, đúng hạn và có được lợi nhuận từ mỗi khoản vay của khách hàng. Ngoài ra chất lượng cho vay tốt cũng phản ánh trình độ tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và trình độ của cán bộ ngân hàng. Nhờ đó, ngân hàng không những thu về lợi nhuận cao mà còn xây dựng được hình ảnh, uy tín của ngân hàng, giữ được khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới. Hiện nay các ngân hàng không chỉ cạnh tranh qua chính sách lãi suất mà còn cạnh tranh qua chất lượng sản phẩm dịch vụ, và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay là xu thế tất yếu của các Ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiên nay.
Đối với khách hàng: hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp hiện nay. Trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh, các nhu cầu về vốn thường xuyên phát sinh và để phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả lao động thì doanh nghiệp nên sử dụng nguồn vốn đi vay bởi quy mô vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp ở nước ta đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhỏ bé. Nhờ có vốn vay của ngân hàng mà các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn để đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Từ việc vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả nhất để vừa có thể thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng, vừa có thể đạt lợi nhuận cao. Từ đó, ngân hàng sẽ tạo mọi điều kiện có thể để giúp đỡ khách hàng có thể tiếp cận với nguồn vốn vay cũng là nhằm mở rộng quy mô cho vay và nâng cao chất lượng cho vay. Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Hơn thế, nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết để phát triển kinh tế. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích lũy không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệp có nhu cầu vốn rất lớn để thực hiện các dự án, kế hoạch kinh doanh của mình. Ở nước ta hiện nay chủ yếu mới chỉ có hoạt động tín dụng ngân hàng là thực hiện nhiệm vụ này. Trong điều kiên đó chất lượng cho vay ngày càng trở nên cần thiết và đáng quan tâm bởi lẽ: Đảm bảo chất lượng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò là trung tâm thanh toán, khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ làm tăng vòng quay vốn, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền. Nâng cao chất lượng cho vay còn góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế góp phần tăng uy tín quốc gia.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính
- Cơ sở pháp lý
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở là những quy định của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước: Luật các Tổ chức tín dụng, các Quy chế cho vay, các văn bản của Ngân hàng Nhà nước và các văn bản có liên quan. Hoạt động của Ngân hàng thương mại được đánh giá là có chất lượng khi ngân hàng thực hiện đúng các quy định đó. Bên cạnh đó, nếu hệ thống văn bản pháp luật đơn giản nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ, chính sách tín dụng của ngân hàng linh hoạt và phù hợp với tình hình kinh tế thì sẽ nâng cao chất lượng cho vay và ngược lại.
- Quy trình cho vay Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Trước khi quyết định cấp vốn vay, ngân hàng cần tiến hành thẩm định thật kỹ doanh nghiệp để đánh giá đúng khả năng trả nợ của doanh nghiệp, từ đó mới đưa ra quyết định cấp vốn cho khách hàng. Bên cạnh đó, thời gian xét duyệt hồ sơ xin vay của khách hàng có nhanh chóng hay không cũng là một yếu tố quan trọng để đánh giá mức độ chuyên nghiệp trong quá trình xem xét cho vay của ngân hàng. Bởi thời gian chính là tiền của doanh nghiệp, nếu thời gian xét duyệt kéo dài sẽ làm chậm quá trình vay vốn của doanh nghiệp, điều này có thể khiến cho doanh nghiệp tuột mất cơ hội kinh doanh hoặc không đủ vốn để đầu tư, sản xuất. Với mỗi quy trình cho vay chuẩn, thực hiện một cách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc chính là thước đo đánh giá cao chất lượng cho vay của Ngân hàng thương mại. Đây là chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng tiên quyết đến chất lượng cho vay.
- Chất lượng nhân sự
Cán bộ, nhân viên là khâu quyết định hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Kết quả này phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp, thái độ phục vụ của cán bộ ngân hàng, đó cũng là những vấn đề mà khách hàng phàn nàn nhiều nhất và mong muốn nhiều nhất từ ngân hàng. Do vậy, để chất lượng cho vay đạt kết quả tốt và tạo được hình ảnh thân thiện trong lòng khách hàng thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chính là một giải pháp rất quan trọng, có giá trị trong mọi giai đoạn phát triển của ngân hàng.
- Uy tín của ngân hàng
Uy tín của ngân hàng là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong một quá trình lâu dài. Khách hàng khi thực hiện những giao dịch của mình thường lựa chọn những ngân hàng lớn, lâu đời, có hiệu quả kinh doanh tốt, an toàn và lành mạnh chứ không phải là những ngân hàng mới thành lập, bởi họ tin rằng những ngân hàng này sẽ có nhiều kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh, chất lượng các khoản vay của họ sẽ tốt hơn. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng, là tiền đề cho việc huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết liệm thời gian. Từ việc tăng khả năng huy động vốn với chi phí rẻ, ngân hàng sẽ có thêm những nguồn lực để tiến hành hoạt động cho vay của mình, từ đó mà nâng cao được chất lượng cho vay.
- Hoạt động kiểm soát nội bộ ngân hàng Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Hoạt động cho vay của ngân hàng rất nhạy cảm và phải đối mặt với rất nhiều rủi ro. Chính vì vậy công tác kiểm soát nội bộ ra đời với các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định cụ thể giúp nhận dạng, đo lường, đánh giá thường xuyên liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngứa các hoạt động rủi ro trong hoạt động cho vay, qua đó đề xuất những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp, nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.
Có thể nói, những chỉ tiêu định tính phản ánh chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại là căn cứ để đánh giá chất lượng cho vay một cách khái quát. Tuy nhiên, để có những kết luận chính xác hơn nữa thì phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng đo lường tốc độ luân chuyển vốn cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này thường được các Ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn cho vay và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nếu vòng quay càng lớn thì ngân hàng sẽ có số vốn lớn và từ đó mà thu lãi được từ vốn vay cũng cao hơn. Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng vốn hiệu quả hơn, chất lượng cho vay từ đó cũng được nâng cao. Khả năng quay vòng vốn càng nhanh, ngân hàng càng có thể đáp ứng được nhiều và kịp thời nhu cầu cho vay với các khách hàng có nhu cầu về vốn. Chỉ tiêu này càng cao kết hợp với các chỉ tiêu khác dẫn đến chất lượng cho vay đối với khách hàng càng cao. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp báo động cho ngân hàng về những bất ổn có thể xảy ra trong quá trình thu hồi vốn, thông qua đó có những biện pháp nhắc nhở, đôn đốc khách hàng, kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
- Chỉ tiêu tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả sử dụng vốn để đầu tư của ngân hàng thương mại. Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn 1. Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì ngân hàng thương mại phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn để đề phòng mất khả năng thanh toán. Nếu tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn vốn thấp phải tăng trưởng dư nợ hoặc giảm vốn huy động bằng cách hạ lãi suất huy động, hạn chế rủi ro nguồn vốn tác động đến chất lượng tín dụng. Qua đó ta thấy rằng việc vận dụng một cách linh hoạt giữa nguồn vốn đi vay và sử dụng vốn đó để cho vay góp phần không nhỏ trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ xấu: Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Theo Thông tư số 02/2025/TT-NHNN về phân lọai nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, cộng với các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn cùng với nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): bao gồm nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày, các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, nợ gia hạn lần đầu và nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): sẽ bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được…
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
Nợ quá hạn: đó là một khoản nợ mà người đi vay đến hạn phải trả cho ngân hàng thương mại cả vốn và lãi theo cam kết, nhưng doanh nghiệp không trả được cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ chuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn có tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn.
Tỷ lệ nợ quá hạn so với dư nợ cho vay, phản ánh mức độ cho vay của ngân hàng đối với khách hàng có khả năng hoàn trả thấp, được tính bằng công thức sau: Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt. Nếu tỉ lệ này có xu hướng tăng theo thời gian, cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng thấp, công tác quản trị rủi ro không đạt hiệu quả cao và còn nhiều thiếu sót. Tuy nhiên, nợ quá hạn là một vấn đề khó tránh khỏi trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Do đó, điều quan trọng là ngân hàng cần duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp nhất là có thể chấp nhận được.
- Nợ xấu: nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng công thức:
Nợ xấu là những khoản nợ mà khả năng thu hồi thấp. Đây là những khoản nợ mà ngân hàng không hề mong muốn. Chỉ tiêu này phản ánh các khoản cho vay của ngân hàng được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi. Từ đó ta có thể đánh giá được chất lượng cho vay. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng thể hiện chất lượng cho vay càng tốt. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phản ánh tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân hàng lớn. Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu, tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mà ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại tài sản đảm bảo.
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro (DPRR) cho vay được trích
Khoản mục dự trữ mất vốn, được thể hiện trong bảng cân đối kế toán, là số cộng dồn của khoản mục dự phòng rủi ro rín dụng (được coi như là chi phí trong báo cáo thu nhập) trừ đi nợ quá hạn được xóa.
Tỷ lệ này cho biết Dự phòng rủi ro trong cho vay được trích so với tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân hàng chưa tốt, vẫn phải trích lập dự phòng nhiều
- Thu nhập từ hoạt động cho vay
Khoản vay được đánh giá là có chất lượng khi khoản vay đó tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động với mục đích lợi nhuận. Nguồn thu từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Hoạt động cho vay có lãi chứng tỏ ngân hàng không chỉ thu được vốn, đủ khả năng chi trả cho các khoản chi phí mà còn có thêm lợi nhuận.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay của ngân hàng, nó cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ hoạt động cho vay trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu. Với cùng một mức thu nhập, nếu ngân hàng nào giảm được chi phí đầu vào càng nhiều thì tỷ lệ thu nhập càng lớn, chứng tỏ ngân hàng hoạt động tốt, điều này góp phần tạo nên chất lượng cho vay tốt.
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Chất lượng cho vay chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.3.1. Những nhân tố chủ quan
1.3.1.1. Các nhân tố từ phía Ngân hàng
- Chính sách cho vay
Chính sách cho vay của ngân hàng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hoặc hạn chế cho vay nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng đó trong từng thời kì. Với ý nghĩa như vậy, chính sách cho vay có tác động rất lớn đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Các ngân hàng lập ra chính sách cho vay nhằm mục đích: Xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động cho vay, đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động cho vay. Ngoài ra, chính sách cho vay của ngân hàng còn bao gồm các vấn đề như quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng, lĩnh vực tài trợ, biện pháp bảo đảm tiền vay, quy trình quản lý tín dụng, lãi suất…
Nếu chính sách cho vay được xây dựng và thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ, kết hợp được lợi ích của ngân hàng, khách hàng và xã hội thì sẽ hứa hẹn một chất lượng cho vay tốt. Ngược lại, nếu việc xây dựng và thực hiện chính sách cho vay không hợp lý, không khoa học thì chắc chắn chất lượng cho vay của ngân hàng sẽ không cao.
- Quy trình cho vay Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Quy trình cho vay là quy định về các bước cần thiết phải thực hiện trong quá trình cho vay bắt đầu từ khi phân tích nhu cầu cho đến khi thu hồi đủ nợ vay gồm cả vốn lẫn lãi. Quy trình cho vay thường gồm 5 bước: Nhận và lập hồ sơ, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát và thanh lý tín dụng. Trong đó phân tích tín dụng, ký hợp đồng chính là khâu quan trọng nhất ảnh hưởng chính đến chất lượng của khoản vay đó. Công việc này cần tính chặt chẽ, chính xác, thực tế, nhưng cũng rất cần sự linh hoạt, sự nhạy cảm nghề nghiệp để có thể ra quyết định cho vay một cách đúng đắn. Việc thẩm định mà quá nguyên tắc, cứng rắn, kém linh hoạt có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội. Do vậy, ngân hàng luôn phải cân nhắc giữa tính an toàn với tính sinh lời trong mọi công việc.
- Quy mô và kỳ hạn của nguồn vốn huy động
Muốn cho vay được thì điều kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn. Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa đủ, nguồn vốn cho vay phải đáp ứng được với khoản cho vay. Ví dụ: Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng cần phải được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn trung và dài hạn, bao gồm nguồn vốn có thời hạn từ một năm trở lên và các nguồn vốn huy động có thời hạn dưới một năm nhưng có tính ổn định cao trong thời gian dài.
Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, không ổn định thì không thể mở rộng cho vay trung và dài hạn được. Nếu cố tình cho vay thì vô hình chung, ngân hàng đã tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm vì có thể bị suy giảm khả năng thanh khoản của mình. Qua đó, chất lượng cho vay của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng lớn.
- Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự
Yếu tố con người luôn được coi là giữ vai trò quyết định, có tính ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và sinh lời của mỗi ngân hàng. Đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ nghiệp vụ tốt, thái độ làm việc có trách nhiệm là một trong những yêu cầu hàng đầu đối với mỗi ngân hàng, đặc biệt là với hoạt động cho vay. Chất lượng nhân sự ở đây không chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyên môn mà còn bao gồm cả lương tâm, đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động của người cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng. Chất lượng nhân sự tốt biểu hiện ở sự năng động, sáng tạo trong công viêc, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao của các cán bộ, trong một chừng mực nào đó có thể giúp ngân hàng bù đắp những hạn chế về công nghệ, kỹ thuật, nhờ đó mà ngân hàng vẫn có thể tồn tại và phát triển được cho dù phải cạnh tranh với những đối thủ có tiềm lực mạnh hơn về công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật. Bên cạnh chất lượng nhân sự thì công tác quản lý chất lượng nhân sự cũng cần đặc biệt chú ý, bởi lẽ không phải cứ có cán bộ tín dụng giỏi là có chất lượng cho vay tốt. Mỗi cán bộ tín dụng đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, điều quan trọng là phải bố trí sắp xếp công việc của họ sao cho phát huy hết thế mạnh và hạn chế điểm yếu của từng người, đồng thời có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của từng thành viên trong một guồng máy thống nhất cùng hướng tới một mục tiêu chung là chất lượng cho vay của ngân hàng. Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ của ngân hàng
Công nghệ ngân hàng, cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng là một nhân tố tác động nhiều đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Nếu một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn. Điều đó giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay. Hơn nữa, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến các ngân hàng có thể quản lý danh sách khách hàng một cách dễ dàng hơn, tiết kiệm được thời gian, nhân công cũng như chi phí quản lý. Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, qua đó các công tác quản lý điều hành cho vay cũng diễn ra một cách suôn sẻ hơn.
1.3.1.2. Các nhân tố từ phía khách hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp sử dụng vốn của mình dưới hình thức gián tiếp, đó là: giao vốn cho khách hàng, mà không trực tiếp quản lý vốn của mình mà thông qua hình thức giám sát việc sử dụng vốn của khách hàng. Vì vậy, chất lượng cho vay của ngân hàng chịu nhiều chi phối từ bản thân hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn. Các yếu tố của khách hàng có ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đó là:
Năng lực về vốn và tài sản của doanh nghiệp, doanh nghiệp có nguồn vốn cố định và vốn lưu động dồi dào, ít bị phụ thuộc vào ngân hàng, vào các chủ nợ khác thì khả năng hoàn trả vốn cho ngân hàng là cao hơn so với doanh nghiệp có vốn chủ yếu là do đi vay.
Khối lượng và chất lượng tài sản của doanh nghiệp nói lên sự thận trọng và tháo vát của nhà quả lý doanh nghiệp, đồng thời một số hoặc tất cả các tài sản có thể được đảm bảo cho khoản Điều đó có nghĩa là các khoản vay sẽ được hoàn trả. Các tài sản đó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng, tuy nhiên, ngân hàng vẫn mong muốn vốn vay sẽ được trả từ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khả năng xử lý và sử dụng vốn vay có hiệu quả của doanh nghiệp: Như ta đã nói ở trên, khi cho vay thì ngân hàng mong muốn khoản trả nợ sẽ được lấy từ chính kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng chứ không phải bằng cách phát mại tài sản, thế chấp, cầm cố. Điều này lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố cần thiết để bảo đảm cho việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, trong đó quản lý nguồn vốn là nhân tố rất quan trọng. Nếu vốn vay của ngân hàng được giao cho nhà quản lý biết nắm bắt cơ hội, thực hiện tốt việc sản xuất kinh doanh, quản lý tốt các nguồn nhân lực thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phát triển trên đà thuận lợi. Nhờ vậy, vốn của ngân hàng sẽ được hoàn trả cùng với lãi, chất lượng tín dụng cũng sẽ cao hơn, ngân hàng ít chịu rủi ro hơn so với cho vay một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
1.3.2. Những yếu tố khách quan Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Những yếu tố khách quan đối với ngân hàng làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bao gồm: các nhân tố từ phía khách hàng, nhân tố môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý…
- Chủ trương chính sách của Nhà nước
Từ khi Nhà nước có chính sách cho phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, ngân hàng có thêm một lượng khách hàng lớn để mở rộng cho vay. Nhưng trên thực tế, chưa có nhiều chủ trương chính sách ưu đãi thích hợp đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt trong mấy năm gần đây, sau nhiều vụ lừa đảo chiếm đoạt tín dụng nghiêm trọng, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp thắt chặt điều kiện cho vay. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đã khó tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng nay lại gặp nhiều khó khăn hơn. Như vậy, những chính sách của Nhà nước có thể là động lực nhưng cũng có thể cản trở để doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện vay vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Môi trường kinh tế
Ngân hàng là một thành phần góp mặt trong môi trường kinh tế nhiều thành phần. Môi trường kinh tế có phát triển thì các quan hệ kinh tế mới phát sinh. Chính vì thế, ở đâu có sản xuất hàng hóa, dịch vụ phát triển thì ở đó mới tạo điều kiện để phát triển hoạt động tín dụng và ngược lại. Kinh tế phát triển, tăng trưởng ổn định thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng mới đạt được hiệu quả cao. Còn nền kinh tế trì trệ, thiếu sức cạnh tranh sẽ không tạo được động lực cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, không tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư. Hay nói cách khác, đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người đi vay. Và ngược lại, nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh, lợi nhuận thu về cao và từ đó nâng cao khả năng trả nợ, thời hạn trả nợ, khoản cho vay của ngân hàng sẽ có chất lượng tốt.
- Môi trường pháp lý Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
Nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng tín dụng, nó tạo môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của ngân hàng. Nhân tố này bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, thống nhất của các văn bản pháp luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành luật pháp và trình độ dân trí. Do vậy, môi trường pháp lý là cơ sở để cho các thành phần kinh tế hoạt động một cách hợp pháp và có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, như vậy, muốn các Ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả thì các văn bản pháp luật này phải đầy đủ, đồng bộ, tránh sự chồng chéo gây cản trở cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại nói chung và cho hoạt động cho vay nói riêng.
- Môi trường tự nhiên
Là nhân tố khách quan gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Trong thực tế, nhân tố này không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất trong lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều nhất của yếu tố môi trường đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nhiều năm vừa qua, các ngân hàng thường xuyên phải giãn nợ hoặc gia hạn nợ cho các cá nhân hoặc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này vì thời tiết có nhiều biến động bất lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra. Như vậy có thể thấy được môi trường tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đối với chất lượng cho vay của ngân hàng.
- Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng
Hoạt động cho vay phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ cho ngân hàng cả gốc và lãi. Nếu trình độ của người lãnh đạo còn bị hạn chế về nhiều mặt thì rất dễ bị thua lỗ dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của ngân hàng.
- Doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích
Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng phương án, mục đích vay vốn. Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng khối lượng các khoản vay đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác,…). Cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn. Tất cả những nguyên nhân trên gây khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng.
Kết luận chương 1: Trong chương 1 khóa luận đề cập đến một số nội dung lý luận liên quan đến hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về chất lượng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại. Ngoài ra chương 1 cũng đề cập đến những chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và những yếu tố ảnh hưởng để từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu thực trạng chất lượng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đông Á. Khóa luận: Nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng cho vay tại Ngân hàng Đông Á
