Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả

“Thống kê mô tả cho phép các nhà nghiên cứu trình bày các dữ liệu thu được dưới hình thức cơ cấu và tổng kết. Các thống kê mô tả sử dụng trong nghiên cứu này để phân tích, mô tả dữ liệu bao gồm các tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn” (Huysamen, 1990).

4.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Trong tổng số 200 người tham gia khảo sát và có số phiếu hợp lệ thì hầu hết các đáp viên ở độ tuổi 30-39 (chiếm 42,0%). Tỷ lệ đáp viên thấp nhất thuộc nhóm tuổi 50 tuổi trở lên (chiếm 8,5%). Đa số những người tham gia khảo sát có trình độ học vấn 12/12 (chiếm 41,0%), thường là những người lao động chân tay đã sinh sống và làm việc ở đảo Bích Đầm đã lâu. Còn trình độ trung cấp, cao đẳng thì chiếm khoảng 19,0%, chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ cấu này. Trình độ dưới 12 và đại học, sau đại học đều chiếm tỷ lệ ngang nhau (20,0%).

Nhóm công việc chiếm tỷ lệ cao nhất là những người làm nghề tự do như đánh bắt hải sản, làm đồ thủ công từ vỏ sò, ốc,… chiếm 53,5%; kinh doanh nhỏ lẻ như buôn bán đồ dùng sinh hoạt, bán nước, quán ăn, nhà nghỉ,… chiếm 30,5%; một số công việc khác như nội trợ, giao hàng, làm thuê,… chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5,0%.

Thu nhập trung bình của đa số các đáp viên là từ 3-5 triệu (chiếm 39,5%) phù hợp với các ngành nghề tương ứng chiếm tỷ lệ cao nhất trong thống kê bảng khảo sát, đa phần đó là những công việc lao động chân tay nặng nhọc như đánh bắt thủy hải sản, buôn bán nhỏ lẻ, thủ công mỹ nghệ,… Xếp thứ hai là khoảng thu nhập từ 5-10 triệu (chiếm 30,0%), đây được xem là mức thu nhập trung bình của dân số Việt Nam. Dưới 3 triệu là mức thu nhập thấp nhất chiếm 11,5%, thường là những người lớn tuổi hưởng lương hưu hoặc những người làm công ăn lương không bao gồm bảo hiểm. Mức lương trên 10 triệu (19,0%) thuộc những bộ phận kinh doanh buôn bán lớn hơn như quán ăn, nhà nghỉ hoặc vận chuyển.

Dưới đây là bảng thống kê mô tả các đặc điểm nhân khẩu học do tác giả tổng hợp:

  • Bảng 4.1 – Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học

4.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn là hai tiêu chí thường dùng để phân tích thống kê mô tả. Với thang đo Likert 5 điểm, có một số quy ước để thuận tiện cho việc nhận xét thang đo. Biến quan sát có giá trị trung bình càng lớn và độ lệch chuẩn càng nhỏ là những biến trội mà tác gỉa cần quan tâm. Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng: Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/5 = (5-1)/5 = 0,8

  • Bảng 4.2 – – Ý nghĩa của từng giá trị trung bình trong thang đo

Thang đo ảnh hưởng của nhận thức của người dân về du lịch đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

  • Bảng 4.3 – Thống kê mô tả thang đo ảnh hưởng của nhận thức của người dân về du lịch đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

Theo kết quả thống kê mô tả ở Bảng 4.3 cho thấy có 3/4 biến quan sát có giá trị trung bình thấp hơn 3,40, điều đó có nghĩa là những đánh giá của các biến quan sát trên đều ở mức độ trung lập. Trong đó, biến NT4 “Du lịch cộng đồng giúp người dân nâng cao nhận thức về văn hóa địa phương” có giá trị trung bình thấp nhất (3,09) phản ánh việc người dân chưa thấy rõ tác động này của Du lịch cộng đồng. Biến NT1 “Du lịch cộng đồng (DLCD) giúp bảo tồn và phát huy văn hóa địa phương” có giá trị trung bình cao nhất (3,53) được đánh giá ở mức độ đồng ý, chứng tỏ người dân đồng tình và thấy rõ được vai trò của Du lịch cộng đồng trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa. Như vậy, nhận thức về du lịch có ảnh hưởng tới sự tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân.

Thang đo ảnh hưởng của nguồn lực cá nhân đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

  • Bảng 4.4 – Thống kê mô tả thang đo ảnh hưởng của nguồn lực cá nhân đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

Theo Bảng 4.4 cho thấy có 3/4 biến quan sát có giá trị trung bình thấp hơn 3.40, điều này có nghĩa những đánh giá của các biến trên đều ở mức độ trung lập. Trong đó, NL4 “Công việc của tôi hỗ trợ cho việc phát triển Du lịch cộng đồng” có giá trị trung bình thấp nhất (3,20) thể hiện mức độ đồng thuận khá thấp của người dân, họ chưa nhận thấy sự liên quan hay hỗ trợ Du lịch cộng đồng trong công việc của mình. Đây có thể là rào cản lớn nhất vì họ không thấy Du lịch cộng đồng ảnh hưởng tới sinh kế của mình. Ngoài ra, biến NL2 “Tôi có sức khỏe để tham gia phát triển Du lịch cộng đồng” có giá trị trung bình cao nhất (3,73) thể hiện sức khỏe là yếu tố thuận lợi nhất của người dân trên đảo, họ sẵn sàng về thể chất để tham gia phát triển Du lịch cộng đồng. Có 2/4 biến ở mức độ trung lập, giá trị trung bình thấp hơn 3,40. Như vậy, yếu tố nguồn lực cá nhân có ảnh hưởng tới việc tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân.

Thang đo ảnh hưởng của cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

  • Bảng 4.5 – Thống kê mô tả thang đo ảnh hưởng của cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

Quan sát kết quả từ Bảng 4.5, có 2/4 biến trong thang đo có giá trị trung bình cao hơn 3,40, những biến trên được đánh giá ở mức độ đồng ý. Trong đó, biến CS2 “Thông tin về các quyết định liên quan đến du lịch được công khai” có giá trung bình cao nhất (3,66) cho thấy người dân đã tiếp nhận được những thông tin, dự án Du lịch cộng đồng từ chính quyền địa phương. Ngoài ra, biến CS3 “Người dân có cơ hội đóng góp ý kiến về phát triển du lịch” có giá trị trung bình thấp nhất (3,30) cho thấy việc tham vấn cộng đồng chưa thực sự phổ biến và có hiệu quả. Như vậy, yếu tố cơ chế, chính sách có ảnh hưởng tới quyết định tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương.

  • Thang đo ảnh hưởng của lợi ích kinh tế đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát đo lường mức độ ảnh hưởng của lợi ích kinh tế đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm (Bảng 4.6) cho thấy có 4/4 biến quan sát có giá trị trung bình trên 3,40, điều đó có nghĩa tất cả đánh giá của các biến trên đều ở mức độ đồng ý trở lên. Trong đó, biến KT1 “Du lịch cộng đồng tao ra việc làm cho người dân” và KT4 “Du lịch cộng đồng thúc đẩy kinh tế địa phương” có giá trị trung bình cao nhất (4,02) cho người dân có cái nhìn tích cực về vai trò tổng thể của Du lịch cộng đồng với việc phát triển kinh tế địa phương và nhìn thấy được những công việc mà du lịch tạo ra cho họ. Ngoài ra biến KT2 “DLCD góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân” có giá trị trung bình thấp nhất (3,78) thể hiện nguồn thu nhập từ Du lịch cộng đồng chưa thực sự làm tăng thu nhập hàng tháng của người dân và họ kỳ vọng cải thiện thu nhập từ hoạt động Du lịch cộng đồng.

  • Bảng 4.6 – Thống kê mô tả thang đo ảnh hưởng của lợi ích kinh tế đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang

Thang đo mức độ tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương tại đảo Bích Đầm Nha Trang:

Theo kết quả thống kê mô tả tất cả các biến quan sát trong thang đo mức độ tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương tại đảo Bích Đầm Nha Trang (Bảng 4.7) hầu hết được phản ánh theo xu hướng từ trung lập đến hơi tích cực của người dân địa phương (giá trị trung bình dao động từ 3,15 – 3,82). Điều này cũng có nghĩa hầu hết người dân có quan tâm đến việc tham gia phát triển Du lịch cộng đồng. Trong đó, Du lịch cộng đồng 1 “Tôi không biết gì về các dự án phát triển Du lịch cộng đồng của địa phương cho tới khi được chính quyền thông báo” là biến quan sát nhận được sự đánh giá cao nhất (3,82). Điều này chứng minh rằng mức độ tham vấn đối với cộng đồng trong các dự án còn tương đối thấp, người dân chỉ đứng trên cương vị người tiếp nhận và thực hiện dự án. Đồng thời, các phương tiện truyền thông chưa phát triển ổn định khiến người dân không cập nhật các thông tin liên quan đến Du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó, biến Du lịch cộng đồng 7 “Tôi sẽ chủ động tìm hiểu về việc phát triển Du lịch cộng đồng tại địa phương” ở mức độ đồng ý, có giá trị trung bình khá cao (3,72) thể hiện người dân đã có sự quan tâm đối với việc phát triển Du lịch cộng đồng tại Bích Đầm. Còn biến Du lịch cộng đồng 2 “Tôi sẽ cung cấp thông tin đến việc phát triển các dịch vụ du lịch cộng đồng khi được tham vấn” có giá trị trung bình thấp nhất (3,15), chứng tỏ người dân chưa thực sự sẵn sàng chia sẻ ý kiến hay thông tin gì có liên quan. Nguyên nhân có thể do sự thiếu tin tưởng bởi sự công bằng, minh bạch hoặc sợ lừa đảo do tình hình thực tế hiện nay lừa đảo phổ biến và tinh vi.

  • Bảng 4.7 – Thống kê mô tả thang đo mức độ tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương tại đảo Bích Đầm Nha Trang

4.2. Đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Theo Parasuraman (1991), độ tin cậy được hiểu là mức độ mà thang đo được xem xét là nhất quán và ổn định, hay “độ tin cậy của một phép đo là mức độ mà phép đo tránh được sai số ngẫu nhiên” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009).

Tổng hợp từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả biết rằng phải có tối thiểu là 3 biến quan sát cho một thang đo để tính được hệ số Cronbach’s Alpha. Và phương pháp để đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha theo Nunnally và Bernstein (1994); Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) thì hệ số Cronbach’Alpha ≥ 0,6 là độ tin cậy được chấp nhận và một biến đo lường có hệ số tương quan biến – tổng (Corrected item-total correlation) ≥ 0,3 thì biến đó đạt yêu cầu. Nếu không đảm bảo đạt được cả 2 yêu cầu này thì thang đo và các biến quan sát cần xem lại để loại trừ các biến không phù hợp nhằm tăng hệ số Cronbach’s Alpha.

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0,7 – 0,8 được xem là thang đo lường tốt và từ 0,8 trở lên là cực kỳ tốt. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu khám phá sơ bộ nên chỉ cần hệ số Cronbach’s Alpha trên 0,6 và hệ số tương quan biến – tổng trên 0,3 là thang đo được chấp nhận. Hệ số Cronbach’s Alpha càng cao thể hiện độ tin cậy của thang đo càng cao (Hair và cộng sự, 2009). Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả phân tích các nhân tố và chọn ra các nhân tố đủ điều kiện để sử dụng cho các lần phân tích tiếp theo:

  • Bảng 4.8 – Kết quả phân tích nhân tố

Kết quả phân tích cho thấy giá trị Cronbach’s Alpha của các thang đo đều đảm bảo yêu cầu và có sự đóng góp trong việc xậy dựng độ tin cậy của thang đo:

  • Cronbach’s Alpha > 0,6 (cụ thể nằm trong khoảng từ 0,771 đến 0,837)
  • Hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3
  • Cronbach’s Alpha if Item Deleted < Cronbach’s Alpha tổng

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

Phân tích EFA giúp chúng ta đánh giá chính xác các thang đo, loại bỏ biến đó lường không đạt yêu cầu và đảm bảo tính đồng nhất cho các thang đo, điều chỉnh mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Theo R. Likert (1932), phân tích nhân tố EFA đạt yêu cầu khi hệ số 1 > KMO > 0,5; kiểm định Bartlett’s Test có ý nghĩa thống kê (Sig < 0,05); hệ số tải nhân tố (factor loading) ≥ 0,5 và tổng phương sai trích (Cumulative%) ≥ 50%, “số nhân tố được trích cần đạt phần trăm phương sai tích lũy ít nhất là 50%” (Merenda, 1997). Đồng thời thực hiện phép quay Varimax và phương pháp trích Principal component với những trường hợp cần xoay.

Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA và loại các biến không đạt yêu cầu, tác giả tiến hành kiểm định KMO và Bartlett của biến độc lập. Kết quả ở Bảng 4.9 cho thấy hệ số KMO khá cao (0,842 > 0,5) với “mức ý nghĩa Sig = 0,000 cho thấy dữ liệu phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp để phân tích nhân tố” (Hair và cộng sự, 2014). Và theo Hutcheson & Sofroniou (1999) “trị số nằm trong khoảng từ 0,8 trở lên là rất tốt”. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

  • Bảng 4.9 – Kiểm định KMO và Bartlett của các nhân tố độc lập
  • Bảng 4.10 – Tổng phương sai trích của nhân tố độc lập

Với tổng là 16 biến quan sát đo lường 4 biến độc lập, tác giả thu được 16 biến quan sát hình thành 4 nhân tố (Bảng 4.10). Giá trị Eigenvalues của các nhân tố đều lớn hơn 1, tại nhân tố thứ 4 có Eigenvalues thấp nhất là 1,214 > 1. Như vậy, có 4 nhân tố được trích từ EFA có ý nghĩa tóm tắt cho các biến quan sát đưa vào tốt nhất. Đồng thời, tổng phương sai trích bằng 65,392% > 50% (đạt yêu cầu) và 65,392% biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 4 nhân tố. Các nhân tố được hình thành với độ hội tụ khá cao và đảm bảo không có sự xáo trộn các biến quan sát.

  • Bảng 4.11 – Ma trận nhân tố độc lập với phương pháp xoay Varimax

Qua bảng Bảng 4.11, tác giả đã sử dụng ngưỡng hệ số tải là 0,5 để chọn ra những biến quan sát chất lượng và so sánh kết quả thì không có biến nào cần xem xét loại bỏ khi thực hiện phép xoay. Sau khi phân tích không thấy sự xáo trộn giữa các nhân tố, vì vậy số lượng các nhân tố độc lập này được giữ nguyên, không tăng thêm hay giảm bớt.

Tác giả tiếp tục tiến hành phân tích EFA của nhân tố phụ thuộc. Theo Bảng 4.12 thì hệ số KMO = 0,835 > 0,5 chứng tỏ phân tích nhân tố là phù hợp và Sig = 0,000 < 0,05 nên các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.

  • Bảng 4.12 – Kiểm định KMO và Bartlett của nhân tố phụ thuộc
  • Bảng 4.13 – Tổng phương sai trích của nhân tố phụ thuộc

Kết quả phân tích Bảng 4.13 cho thấy có 1 nhân tố được trích tại Eigenvalue = 3,559 > 1. Nhân tố này giải thích được 50,844% (> 50%) biến thiên dữ liệu của 7 biến quan sát tham gia vào phân tích EFA (phụ lục 1).

  • Bảng 4.14 – Ma trận nhân tố phụ thuộc với phương pháp xoay Varimax

4.4. Phân tích tương quan và hồi quy Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

4.4.1. Phân tích tương quan

Hệ số tương quan dùng để lượng hóa mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng và thực hiện phân tích tương quan Pearson cho các biến đó với giá trị dao động r từ -1 đến 1 (Hair và cộng sự, 2014).

  • Nếu r càng tiến về 1 hoặc -1 thì tương quan tuyến tính càng mạnh, tiến về 1 là tương quan dương và ngược lại gần -1 là tương quan âm.
  • Nếu r càng tiến về 0 thì tương quan càng yếu.
  • Nếu r = 1 thì tương quan tuyệt đối, khi biểu diễn trên đồ thị các điểm biểu diễn sẽ thành 1 đường thẳng.
  • Nếu r = 0 thì không có mối tương quan tuyến tính, tức là 2 biến không có mối liên hệ nào hoặc đây là mối liên hệ phi tuyến.

Theo Andy Field (2009) chúng ta vẫn cần kiểm định ý nghĩa của hệ số tương quan này bằng cách “nếu Sig lớn hơn 0,05, cặp biến không có tương quan tuyến tính với nhau; nếu Sig nhỏ hơn 0,05, cặp biến có tương quan tuyến tính (giả định mức ý nghĩa 5% = 0,05)”. Sau đó ta sẽ thông qua giá trị tuyệt đối của r để xét độ mạnh yếu của mối tương quan này.

  • |r| < 0,1: mối tương quan rất yếu
  • |r| < 0,3: mối tương quan yếu
  • |r| < 0,5: mối tương quan trung bình
  • |r| ≥ 0,5: mối tương quan mạnh

Bảng 4.15 – Kết quả phân tích hệ số tương quan

Từ Bảng 4.15 kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson, tác giả có 4 biến độc lập gồm: F_NT, F_NL, F_CS, F_KT và 1 biến phụ thuộc là F_DLCD. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Căn cứ vào kết quả phân tích, ta thấy 4/4 nhân tố độc lập có mối tương quan cùng chiều với nhân tố phụ thuộc, các mối quan hệ này có hệ số tương quan Pearson dương (lớn hơn 0) theo thứ tự F_NT, F_NL, F_CS, F_KT lần lượt là: 0,429; 0,465; 0,334; 0,374. Và hệ số Sig trong mối quan hệ tương quan giữa nhân tố độc lập với nhân tố phụ thuộc đều nhỏ hơn 0,05 (nhỏ hơn 5%). Chứng tỏ rằng, mối tương quan giữa các nhân tố độc lập với nhân tố phụ thuộc đều có ý nghĩa thống kê.

4.4.2 Xây dựng hồi quy

Phân tích hồi quy nhằm mô tả biến phụ thuộc dựa trên một hoặc nhiều biến độc lập. Thông qua đó để tìm ra mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, sau đó đưa ra các kết luận và dự đoán (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

  • Bảng 4.16 – Phân tích các hệ số hồi quy

Kết quả phân tích hồi quy Bảng 4.16 chỉ ra độ phù hợp của mô hình hồi quy với R²= 0,521; R² hiệu chỉnh = 0,511 cho thấy 4 biến độc lập (F_NT, F_NL, F_CS, F_KT) đưa vào phân tích hồi quy ảnh hưởng đến 51,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc (F_DLCD). Còn lại 48,9% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Giá trị Durbin-Watson = 1,797 nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2,5 nên kết quả không vi phạm giả định tương quan chuỗi bậc nhất.

Bảng 4.17 cũng cho kết quả kiểm định F = 53,053 và Sig = 0,000 (<0,05). Do đó mô hình hồi quy tuyến tính có ý nghĩa, có nghĩa là sự kết hợp của các nhân tố độc lập (F_NT, F_NL, F_CS, F_KT) giải thích được sự thay đổi của nhân tố phụ thuộc (F_DLCD). Nói cách khác, các nhân tố độc lập đều ảnh hưởng đến nhân tố phụ thuộc.

  • Bảng 4.17 – Bảng kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình
  • Bảng 4.18 – Kết quả phân tích hồi quy theo phương pháp Enter

Kết quả hồi quy từ Bảng 4.18 cho thấy tất cả các biến độc lập (F_KT, F_CS, F_NT, F_NL) đều có sự tác động lên biến phụ thuộc (F_DLCD) do Sig kiểm định t của từng biến độc lập đều nhỏ hơn 0,05, tức là cả 4 nhân tố độc lập này đều có ý nghĩa ở mức 5%, hay nói cách khác đạt mức độ tin cậy 95% trong mô hình và đều tác động lên biến phụ thuộc F_DLCD (Sự tham gia của người dân điạ phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng). Đồng thời, hệ số VIF các biến độc lập (F_KT, F_CS, F_NT, F_NL) đều nhỏ hơn 10 lần lượt là 1,060; 1,073; 1,010; 1,017. Như vậy, mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra. Từ kết quả trên ta có mô hình hồi quy chuẩn hóa như sau: F_DLCD = 0,340*F_KT + 0,327* F_CS + 0,283*F_NT + 0,344*F_NL

Từ đó ta nhận thấy, sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng bị ảnh hưởng bởi nhận thức (0,340); nguồn lực cá nhân (0,327); cơ chế, chính sách (0,283); lợi ích kinh tế (0,344) và lợi ích kinh tế tác động cùng chiều dương mạnh nhất đến nhân tố phụ thuộc. Như vậy, các giả thuyết đặt ra trong mô hình nghiên cứu từ H1 đến H4 đều được chấp nhận.

  • Bảng 4.19 – Kiểm điểm giả thuyết nghiên cứu

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

5.1. Kết luận từ kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng là nhằm hướng tới du lịch bền vững, là một trong những mục tiêu quan trọng của tỉnh Khánh Hòa đối với các điểm Du lịch cộng đồng có tiềm năng đón khách như đảo Bích Đầm. Sự tham gia của người dân địa phương trong hoạt động kinh doanh du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với việc quản lý và phát triển Du lịch cộng đồng mà còn góp phần nâng cao giá trị của phát triển Du lịch cộng đồng đối với đời sống của người dân địa phương.

Kết quả khảo sát thực tế cho thấy sự tham gia của người dân địa phương đối với việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm đang ở mức sơ khai. Mới chỉ là các hoạt động tự phát, quy mô buôn bán, kinh doanh nhỏ, thiếu chuyên nghiệp. Các rào cản chính cho vấn đề này gồm hạn chế về nhận thức của người dân về du lịch nói chung và Du lịch cộng đồng nói riêng, nguồn lực hạn chế của mỗi cá nhân, sự bất cập trong cơ chế, chính sách và đặc biệt, thực tiễn lợi ích kinh tế mà Du lịch cộng đồng có thể mang lại cho địa phương và người dân nơi đây là yếu tố tác động lớn nhất đến sự tham gia của người dân.

Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đánh giá người dân tham gia hoạt động du lịch trong vài năm trở lại đây tại đảo Bích Đầm đa phần là người trẻ tuổi nhưng học vấn chưa cao, những người lớn tuổi thì chưa thực sự xem du lịch là sinh kế chính của họ. Nhìn chung, người dân địa phương mới chỉ tham gia phát triển Du lịch cộng đồng ở mức tiếp nhận các thông tin từ chính quyền địa phương về các hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng và sẵn sàng tham gia hay chủ động tìm hiểu về các vấn đề phát triển Du lịch cộng đồng. Lợi ích kinh tế là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự tham gia các hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng tại Bích Đầm. Việc người dân nhận được những gì khi tham gia sẽ quyết định tới mức độ tham gia của họ. Vì vậy mà đề xuất các giải pháp dưới đây cần phải ưu tiên lợi ích mà người dân sẽ nhận được để thúc đẩy sự tham gia phát triển Du lịch cộng đồng tại Bích Đầm. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Đa số người dân tham gia khảo sát đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển Du lịch cộng đồng và các đối tượng khác nhau thì có nhu cầu tham gia ở mức độ khác nhau. Người dân tham gia một cách tự phát và sao chép lẫn nhau, họ đánh giá cao tiềm năng phát triển Du lịch cộng đồng nhưng lại ngại trong việc thực sự tham gia phát triển Du lịch cộng đồng. Lý do chủ yếu là mức thu nhập của Du lịch cộng đồng ở Bích Đầm chưa cao, chưa ổn định và khó đảm bảo lợi ích bền vững cho họ trong tương lai. Đồng thời các chính sách quản lý và quyền lợi của người dân địa phương chưa thực sự phổ biến và thực tiễn.

Nghiên cứu của tác giả tiếp tục kế thừa kết quả từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đánh giá tổng thể mức độ tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. Ngoài việc đánh giá mức độ tham gia của người dân thông qua các nhân tố tác động, đề tài nghiên cứu cũng đã giúp tác giả đưa một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương.

5.2. Hàm ý chính sách

Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp liên quan nhằm thúc đẩy sự tham gia tích cực, chủ động, bền vững của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.

  • Một là, nâng cao nhận thức và năng lực của người dân địa phương.

DLCD hoàn toàn phụ thuộc vào người dân, bởi vì những trải nghiệm của du khách sẽ phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ mà người dân cung cấp. Chính vì vậy mà việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của họ trong Du lịch cộng đồng và lợi ích mà Du lịch cộng đồng tạo ra cho địa phương là rất cần thiết. Chính quyền địa phương có thể thông qua các phương tiện truyền thông, tổ chức các cuộc họp dân tổ hoặc các hoạt động cộng đồng để nâng cao nhận thức của người dân địa phương về vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họ trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại địa phương. Có thể phân phát các sổ tay hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu để người dân tham khảo.

Việc xây dựng và phát triển năng lực cho người dân địa phương có thể thông qua các tổ chức địa phương như trường đại học, hiệp hội, các đoàn thể thôn xã,… hoặc các tổ chức có kinh nghiệm như công ty lữ hành, công ty tư vấn,… Cần triển khai thường xuyên các khóa đào tạo vừa học vừa làm, phát triển kỹ năng giao tiếp, phục vụ khách, quản lý cơ sở lưu trú, vệ sinh An toàn thực phẩm,… đồng thời đưa ra các cơ đội tham gia thực tế cho người dân địa phương. Có thể tạo ra các câu lạc bộ hoặc nhóm Du lịch cộng đồng do người dân điều hành. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Áp dụng công nghệ số vào việc phát triển Du lịch cộng đồng bằng cách hỗ trợ người dân tiếp cận với các nền tảng xã hội để hiểu rõ hơn về Du lịch cộng đồng và cách thức tham gia phù hợp, có hiệu quả góp phần phát triển Du lịch cộng đồng tại địa phương. Khuyến khích người dân chủ động tìm hiểu các kiến thức về phát triển kinh tế du lịch thông qua các hoạt động xã hội có ích cho người dân để gia tăng sự chủ động của họ. Các ban ngành, đoàn thể như Hội Phụ Nữ, Đoàn Thanh Niên trong xã  kết hợp đi vận động trực tiếp người dân để tạo sự gần gũi và tin tưởng cho người dân.

  • Hai là, tăng cường vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương.

Chính quyền địa phương phải đưa ra các cơ chế cụ thể nhằm phối hợp đa ngành hỗ trợ cho phát triển Du lịch cộng đồng bao gồm các bên liên quan như người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,  góp phần phát triển toàn diện và bền vững. Khi thực hiện quy hoạch và phát triển các hạ tầng du lịch phải đảm bảo giữ gìn cảnh quan, văn hóa bản địa và tránh tình trạng làm mất cân bằng môi trường sống của người dân địa phương.

Chính quyền địa phương nên có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ ưu tiên các sản phẩm Du lịch cộng đồng như du lịch làng chài, du lịch trải nghiệm các hoạt động truyền thống như đánh bắt cá, tạo đồ thủ công mỹ nghệ từ vỏ sò ốc, chế biến hải sản, nhằm tạo động lực tham gia vào các hoạt động Du lịch cộng đồng. Hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào các mô hình Du lịch cộng đồng. Hỗ trợ, khuyến khích người dân cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ du lịch để đảm bảo an toàn cho du khách cũng như người dân, đặc biệt là mỗi khi đi thuyền sang đảo. Đồng thời, khuyến khích, biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tổ chức tham gia phát triển Du lịch cộng đồng tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự tham gia sâu rộng của họ.

Ngoài ra, cần công khai, minh bạch các dự án, chính sách hỗ trợ người dân tham gia các hoạt động Du lịch cộng đồng tạo lợi ích kinh tế và tối ưu các quyền lợi mà người dân nhận được khi tham gia phát triển Du lịch cộng đồng như trao đổi, đóng góp ý kiến, cùng ra quyết định, giám sát các dự án Du lịch cộng đồng và nhận được những lợi ích xứng đáng. Các bên tham gia vào hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng phải được chính quyền địa phương đảm bảo minh bạch trong việc phân chia lợi ích theo quy định. Đảm bảo công bằng, đúng với luật pháp cũng như chính sách phát triển du lịch và mối quan hệ hài hòa giữa các bên tham gia. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

  • Ba là, tăng cường liên kết giữa người dân doanh nghiệp du lịch.

Thiết lập mối quan hệ có hiệu quả giữa người lao động bản địa và doanh nghiệp du lịch nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phát triển sản phẩm Du lịch cộng đồng và chia sẻ lợi ích giữa các bên. Thông qua các buổi tọa đàm giữa hai bên, người dân và doanh nghiệp sẽ hiểu biết lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi trong các hoạt động Du lịch cộng đồng. Ký kết các hợp đồng hợp tác đôi bên để bán các sản phẩm dịch vụ do người dân địa phương cung cấp như tour trải nghiệm, nhà nghỉ, ẩm thực,… Bên cạnh đó, chính quyền địa phương có thể hỗ trợ kết nối giữa người dân địa phương với các doanh nghiệp du lịch để dễ dàng thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và bảo vệ người dân của mình. Tạo sự tin tưởng và động lực để người dân tham gia vào các hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng.

  • Bốn là, tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh đảo Bích Đầm.

Bích Đầm là một trong những hòn đảo có tiềm năng phát triển Du lịch cộng đồng nhưng còn tương đối mới mẻ chưa được nhiều người biết đến. Vì vậy, việc tăng cường công tác xúc tiến, đẩy mạnh việc quảng bá hình ảnh Bích Đầm thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet sẽ giúp gia tăng độ nhận diện, mở rộng thì trường khách du lịch. Việc thu hút đa dạng nguồn khách là một trong những yếu tố kích thích ý định tham gia của người dân vào Du lịch cộng đồng.

Việc này không chỉ cần tới các cá nhân, tổ chức và chính quyền địa phương tại đảo Bích Đầm mà còn cần sự hợp tác từ chính quyền tỉnh thành phố, các phương tiện truyền thông của Nha Trang – Khánh Hòa để gia tăng hiệu quả hoạt động, tận dụng thương hiệu du lịch biển nhất nhì Việt Nam để truyền thông cho Du lịch cộng đồng của đảo Bích Đầm. Cần đề xuất các giải pháp, yêu cầu với chính quyền tỉnh thành phố nhằm hợp tác tối ưu, xây dựng hình ảnh mang tính tập thể và thống nhất, tránh các trường hợp không đáng có. Có thể hợp tác với các travel bloggers hoặc KOLs chuyên về du lịch để chia sẻ, lan tỏa tới cho nhiều người hơn, tận dụng sự ảnh hưởng của họ để quảng bá cho Bích Đầm. Phối hợp với các doanh nghiệp, trường học và các tổ chức khác để làm các tour trải nghiệm dành cho học sinh, sinh viên. Tận dụng các hội chợ, sự kiện tại Quảng trường 2/4 Nha Trang để trưng bày các sản phẩm du lịch cộng đồng, tour trải nghiệm của Bích Đầm đến mọi người.

Sự tham gia của người dân địa phương đóng vai trò then chốt trong việc phát triển du lịch bền vững. Triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo động lực tham gia phát triển Du lịch cộng đồng của người dân địa phương tại đảo Bích Đầm và nâng cao hiệu quả phát triển Du lịch cộng đồng, tiến tới phát triển du lịch bền vững. Các giải pháp, chính sách càng thực tế, triển khai có hiệu quả thì mức độ tham gia càng sâu rộng, hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng càng thuận lợi và bền vững.

5.3. Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

Mặc dù đề tài nghiên cứu “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang” đã cố gắng kế thừa, tiếp cận thực tế và phản ánh thực trạng một cách toàn diện nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Việc phát triển Du lịch cộng đồng cần có sự tham gia của nhiều tác nhân bao gồm chính quyền, doanh nghiệp, hộ gia đình, khách du lịch,… Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở đối tượng là người dân địa phương mà chưa xem xét sự tham gia của các đối tượng khác. Đó là một trong những hạn chế và cũng là hướng cần nghiên cứu tiếp theo để hỗ trợ phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.

Trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả cũng chỉ tập trung nghiên cứu tại một địa phương nhỏ cụ thể là đảo Bích Đầm Nha Trang – mang tính đặc thù của cư dân vùng đảo nên kết quả không thể phản ánh khái quát cho các địa phương khác thuộc tỉnh Khánh Hòa. Vì vậy, các nghiên cứu kế tiếp có thể tiến hành so sánh giữa đảo Bích Đầm với các điểm Du lịch cộng đồng khác trên địa bàn tỉnh như Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa), Vạn Thắng (huyện Vạn Ninh), thôn Hòn Lay (huyện Khánh Vĩnh)… để làm rõ sự khác biệt về mức độ tham gia.

Bên cạnh đó, do giới hạn về thời gian và nguồn lực nên việc tiếp cận mẫu khảo sát vẫn còn hạn chế về quy mô và tính đa dạng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp… Vậy nên, nghiên cứu cũng không thể đi sâu vào việc phân tích mức độ tham gia và đề xuất các giải pháp cụ thể cho từng nhóm đối tượng khảo sát. Có thể xem như đây là hướng nghiên cứu tiếp theo để đánh giá và đưa ra biện pháp cụ thể cho nhóm đối tượng nhất định.

5.4. Kết luận

Thông qua nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang”, nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng, vai trò cũng như mức độ tham gia của người dân địa phương trong hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng. Kết quả khảo sát và phỏng vấn cho thấy người dân trên đảo Bích Đầm có nhận thức tích cực về du lịch, sẵn sàng tham gia nếu được hỗ trợ, nhưng còn gặp nhiều hạn chế về thông tin, kỹ năng, nguồn lực và các chính sách chưa rõ ràng của địa phương.

Từ đó, khóa luận đề xuất một số hàm ý chính sách như: nâng cao nhận thức và kỹ năng của người dân địa phương, nâng cao vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên kết, sự hỗ trợ từ các bên liên quan, cụ thể hóa các chính sách phát triển Du lịch cộng đồng.

Các nghiên cứu đề xuất trong nghiên cứu này góp phần xây dựng mô hình Du lịch cộng đồng bền vững cho đảo Bích Đầm, đồng thời có thể trở thành tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương nhằm đề ra các dự án phát triển Du lịch cộng đồng phù hợp với thực tiễn. Hoặc nghiên cứu cũng sẽ hỗ trợ phần nào cho các địa phương ven biển khác, đặc biệt là các đảo đang hướng tới phát triển Du lịch cộng đồng. Khóa luận: Kết quả NC phát triển du lịch cộng đồng đảo Bích Đầm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x