Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 giới thiệu tính cấp thiết của đề tài. Từ đó, chương 1 làm rõ mục tiêu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Những đóng góp của đề tài về mặt lý luận và thực tiễn sẽ được trình bày ở cuối chương.
1.1. Lý do thực hiện đề tài
Hiện nay, Du lịch cộng đồng đang trở thành xu hướng của các quốc gia không riêng gì Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam triển khai các dự án Du lịch cộng đồng khá là muộn so với các quốc gia trong khu vực. Thực tế cho thấy Việt Nam có thể trở thành một nước đứng đầu về Du lịch cộng đồng nếu được phát triển theo đúng hướng, đây là nhận định của bà Mary McKeon -một chuyên gia về lĩnh vực này.
DLCD mang lại nhiều lợi ích bền vững không chỉ bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương mà còn tạo ra sinh kế ổn định cho người dân nơi đó. Không ngoại lệ, Sở VHTT và DL tỉnh Khánh Hòa cũng vừa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Đề án phát triển Du lịch cộng đồng tại Việt Nam trên địa bàn tỉnh. Và Khánh Hòa đặt mục tiêu tới năm 2025 mỗi huyện đều xây dựng được 1 mô hình chuỗi liên kết Du lịch cộng đồng gắn với xây dựng nông thôn mới; tại các điểm Du lịch cộng đồng được công nhận cơ bản các giá trị truyền thống của các dân tộc đều được bảo tồn và phát huy; 20% điểm Du lịch cộng đồng có nhà Du lịch cộng đồng; 20% điểm Du lịch cộng đồng có đội văn nghệ truyền thống; 20% lao động Du lịch cộng đồng được tập huấn nâng cao nghiệp vụ và 30% chủ cơ sở Du lịch cộng đồng được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ quản lý.
Thông qua các cuộc khảo sát, tỉnh Khánh Hòa cũng đã xác định đảo Bích Đầm (phường Vĩnh Nguyên, TP. Nha Trang) là một trong những khu vực có tiềm năng phát triển Du lịch cộng đồng nhưng chưa được khai thác hiệu quả và hiện địa phương này đang được triển khai một số dự án phát triển Du lịch cộng đồng. Đồng thời sự tham gia của người dân địa phương là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của mô hình Du lịch cộng đồng. Chính vì vậy mà tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang” nhằm phân tích mức độ hợp tác giữa người dân và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các dự án phát triển Du lịch cộng đồng. Từ đó, đánh giá mức độ tham gia của người dân để góp phần hỗ trợ chính quyền địa phương đề ra các giải pháp nâng cao sự tham gia của người dân trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao sự tham gia của người dân để các dự án phát triển Du lịch cộng đồng được triển khai tối ưu.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang: nhận thức của người dân về du lịch, nguồn lực cá nhân, cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương, lợi ích kinh tế.
1.3.2. Phạm vi không gian và thời gian
Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu sẽ được thực hiện tại đảo Bích Đầm Nha Trang và được thực hiện với các yếu tố: nhận thức của người dân về du lịch, nguồn lực cá nhân, cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương, lợi ích kinh tế.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2024 đến tháng 05/2025.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Bắt đầu từ việc tập trung thu thập tài liệu có liên quan để tổng hợp cơ sở lý thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Để khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự tham gia của người dân, tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng theo quy trình sau:
Nghiên cứu sơ bộ: Mục đích là nhằm tìm ra những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tham gia của phát triển Du lịch cộng đồng của người dân. Tiến hành thu thập 20 phiếu khảo sát để đánh giá sơ bộ thang đo và cập nhật bảng khảo sát chính thức.
Nghiên cứu chính thức: Nhằm kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu. Thang đo được đánh giá sơ bộ từ 23 biến quan sát, qua hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA.
- Thiết kế cỡ mẫu: 200 phiếu trên địa bàn thôn Bích Đầm.
- Phương pháp thu thập dữ liệu và phòng vấ trực tiếp thông qua bảng câu hỏi được soạn sẵn.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích.
1.5. Ý nghĩa nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
1.5.1. Ý nghĩa lý luận
Giúp nâng cao kiến thức và cung cấp thêm nguồn tài liệu cho các thế hệ sinh viên của trường Đại học Nha Trang. Là cơ sở để đưa ra các nội dung giảng dạy hợp lý liên quan đến vấn đề nghiên cứu Du lịch cộng đồng.
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. Đồng thời, là tài liệu tham khảo quan trọng cho chính quyền TP. Nha Trang, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh du lịch để đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao sự tham gia của người dân trong việc phát triển Du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.
1.6. Cấu trúc nghiên cứu
Cấu trúc của luận văn được chia thành 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Chương 2 tập trung trình bày về khung lý thuyết liên quan đến đề tài. Tổng hợp những nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp.
2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm về du lịch cộng đồng
Từ đầu năm 2000, Du lịch cộng đồng bắt đầu phát triển ở nước ta nhờ phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa – xã hội, cũng như bắt kịp xu thế lựa chọn của khách du lịch. Tuy nhiên, ở các nước Châu Âu thì Du lịch cộng đồng đã xuất hiện từ những năm 1970 và đã phát triển ở hầu hết các châu lục. Chính vì vậy, việc hiểu rõ các khái niệm liên quan đến Du lịch cộng đồng là điều cần thiết.
DLCD có tên tiếng anh là Community Based Tourism (CBT) và nó nằm trong phạm vi của du lịch bền vững. Có rất nhiều khái niệm Du lịch cộng đồng được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau cùng với sự khác biệt về ngôn ngữ, tác giả đã tổng hợp và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về Du lịch cộng đồng:
Tác giả Võ Quế (2006) cho rằng: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”.
Theo NicoleHausle và Wolffgang Strasdas (2009) đã định nghĩa: “Du lịch cộng đồng là mô hình phát triển du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch ngay trên địa bàn sinh sống.
Theo quan điểm đưa ra trong bộ tiêu chuẩn ASEAN về Du lịch cộng đồng cho rằng: “Du lịch cộng đồng là một loại du lịch trao quyền cho cộng đồng quản lý sự tăng trưởng của hoạt động du lịch, đạt được những khát vọng về sự thịnh vượng của cộng đồng, đảm bảo được sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Du lịch cộng đồng là những hoạt động du lịch mà cộng đồng sở hữu, vận hành và quản lý hoặc điều phối ở cấp cộng đồng. Các hoạt động này đóng góp vào sự thịnh vượng của cộng đồng thông qua hỗ trợ các sinh kế bền vững và bảo vệ các gia trị truyền thống văn hóa – xã hội và bảo tồn các tài nguyên di sản văn hóa và thiên nhiên” (ASEAN Secretariat, 2016).
Anuar và Sood (2017) đã phát biểu rất súc tích: “Du lịch được tiến hành bởi cộng đồng địa phương ở một vùng nông thôn được gọi là du lịch cộng đồng”. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Còn tại Việt Nam, theo Điều 3 của Luật Du lịch 2017 định nghĩa: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển dựa theo cơ sở các giá trị văn hóa cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, khai thác và hưởng lợi”. Bản chất của Du lịch cộng đồng là mô hình tương đối bền vững nhờ lợi thế gần gũi, gắn bó với môi trường sống của con người, môi trường tự nhiên và xã hội.
Có thể khái quát, Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch trong đó người dân địa phương là người cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch. Người dân địa phương phối hợp với các tổ chức, quản lý và làm chủ để tạo ra lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường thông qua việc giới thiệu nét văn hóa đặc trưng của địa phương cho khách du lịch. Mô hình Du lịch cộng đồng là một mô hình du lịch bền vững tạo cơ hội cho du khách trải nghiệm cuộc sống địa phương, thúc đẩy kinh tế cho địa phương, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của địa phương.
- Lợi ích của sự phát triển Du lịch cộng đồng
Nghiên cứu của Thái Thảo Ngọc (2016) đã chỉ ra một số lợi ích cơ bản của việc phát triển Du lịch cộng đồng đó là:
Phát triển Du lịch cộng đồng tạo thu nhập bền vững: Du lịch cộng đồng cung cấp công việc trực tiếp cho cư dân địa phương hoặc các lợi tức từ các điểm du lịch như lưu trú, thức ăn, đồ thủ công mỹ nghệ. Thực tế, Du lịch cộng đồng giúp tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, góp phần giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa, cảnh quan môi trường, quảng bá văn hóa địa phương mà lại không cần đầu tư quá nhiều kinh phí.
Bảo tồn văn hóa truyền thống: Du lịch cộng đồng mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và đồng thời góp phần bảo tồn văn hóa địa phương, cảnh quan thiên nhiên của vùng đó.
Phát triển Du lịch cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên môi: khách du lịch muốn trải nghiệm thực tế, khám phá thiên nhiên trong lành thì điều này kích thích việc tôn tạo và bảo vệ môi trường sinh thái của cả du khách lẫn người dân địa phương. Họ sẽ nhận thức được là mình đang bảo vệ chính môi trường sống và thu nhập của mình.
- Một số mô hình phát triển Du lịch cộng đồng Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Mô hình phát triển Du lịch cộng đồng có 3 loại theo Phạm Thị Hồng Cúc và Ngô Thanh Loan (2016) bao gồm:
- Cả cộng đồng cùng tham gia chính trong du lịch.
- Gồm một bộ phận cộng đồng hoặc hộ gia đình tham
- Mô hình liên doanh giữa cộng đồng hoặc một số thành viên cộng đồng và đối tác kinh doanh.
Theo Quỹ Châu Á, Du lịch cộng đồng diễn ra dưới nhiều hình thức như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch bản địa, du lịch làng, du lịch nông nghiệp. Khách du lịch tìm đến Du lịch cộng đồng thường muốn trải nghiệm đời sống văn hóa và môi trường tự nhiên hoang sơ của điểm Du lịch cộng đồng.
2.1.2. Khái niệm về sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch cộng đồng
Sự tham gia của người dân địa phương là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững. Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà (2019) cũng khẳng định: “Sự tham gia của người dân địa phương được xem là yếu tố then chốt để đạt được sự bền vững, bao gồm quá trình ra quyết định, thực hiện và chia sẻ lợi ích từ du lịch”. Một số nghiên cứu tại Mỹ Latinh chỉ ra rằng sự tham gia của cộng đồng địa phương đạt mức độ cao nhất chỉ khi du lịch đáp ứng được các đòi hỏi của người dân địa phương về lợi ích kinh tế, xã hội cho hầu hết người dân tại điểm đến. Những công trình nghiên cứu ở đây đều đưa ra sự liên kết chặt chẽ giữa mức độ tham gia của người dân địa phương. Và nhận thức của họ cũng như thái độ của họ đối với các chiến lược phát triển du lịch.
Theo Robert Chambers (1983), ông định nghĩa rằng sự tham gia của người dân địa phương là quá trình mà người dân có thể tham gia vào việc ra quyết định, quản lý và thực hiện các dự án phát triển. Tương tự với quan điểm của Tosun (2006): Sự tham gia của người dân địa phương là quá trình mà họ được cùng ra quyết định, thực hiện và chia sẻ lợi ích từ các hoạt động phát triển du lịch. Mức độ tham gia có thể là thụ động hoặc chủ động, tùy vào mong muốn và khả năng của người dân nơi đó. Sự tham gia của người dân địa phương là việc học tham gia vào xác định vấn đề và nhu cầu, đề xuất giải pháp cũng như đồng thực hiện các dự án phát triển tại địa phương. Sự tham gia này có thể bắt đầu từ việc tham gia thông qua các tổ chức xã hội, đến trực tiếp tham gia các hoạt đông cộng đồng. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Việc huy động tối đa sự tham gia tích cực của người dân địa phương trong hoạt động du lịch nói riêng và Du lịch cộng đồng nói riêng sẽ làm phong phú thêm tài nguyên và sản phẩm du lịch, đồng thời góp phần hỗ trợ đời sống cho người dân. Đặc biệt là khi họ trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển Du lịch cộng đồng, trực tiếp đưa ra ý kiến thì sẽ tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho Du lịch cộng đồng phát triển. Bởi họ chính là chủ nhân cũng là những người có trách nhiệm với khu vực mà mình đang sinh sống và làm việc.
Luật du lịch Việt Nam (2017) cũng khẳng định quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch của người dân. Nhìn chung thì tất cả các định nghĩa và khái niệm đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người dân địa phương tham gia vào quá trình phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch gắn với cộng đồng địa phương. Nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo tồn được các giá trị văn hóa và tài nguyên của địa phương.
2.1.3. Các hình thức tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch
Nghiên cứu của Pretty (1995) chỉ ra rằng có tất cả 7 bậc thang tương ứng với 7 mức độ tham gia của người dân trong việc phát triển du lịch, bao gồm:
- Tham gia thụ động: Người dân không đưa ra ý kiến và không có bất kỳ vai trò gì trong việc phát triển Du lịch cộng đồng.
- Tham gia cung cấp thông tin: Người dân tham gia trả lời phỏng vấn hoặc các bài khảo sát để cung cấp thông tin cho việc phát triển Du lịch cộng đồng.
- Tham gia tư vấn: Thông qua các cuộc họp tại địa phương hoặc các buổi tư vấn, trao đổi thông tin thì những người tham gia tư vấn hoặc đại diện của cộng đồng địa phương sẽ tiếp nhận tư vấn từ những người có thẩm quyền.
- Tham gia khuyến khích vật chất: Người dân tham gia theo kiểu hình thức, tức là họ tham gia với tư cách là nguồn lực để nhận lại khuyến khích vật chất, như là người lao động nhận lương từ công việc liên quan đến Du lịch cộng đồng.
- Tham gia chức năng: Người dân tham gia theo các nhóm để đáp ứng mục tiêu từng phần liên quan đến dự án.
- Tham gia tương tác: Người dân tham gia xem như đây là một quyền lợi và phương tiện để đạt mục tiêu, họ tham gia vào việc phân tích, phát triển và kiểm soát kế hoạch. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
- Tham gia chủ động: Đây là mức độ cao nhất của thang đo, họ có quyền quyết định, đưa ra các sáng kiến cá nhân và tự tìm hiểu các thông tin liên quan đến phát triển Du lịch cộng đồng, tự phân phối nguồn lực của mình để tạo lợi ích.
Tương tự, cũng có 7 bậc trong thang đo sự tham gia của người dân địa phương theo Leksakundilok (2006): (1) Tham gia theo hướng dẫn, (2) Tham gia được thông báo, (3) Tham gia dưới sự tư vấn, (4) Tham gia có tương tác, (5) Tham gia theo dạng hợp tác, (6) Nâng cao năng lực, (7) Tự quản. Cụ thể như sau:
- Người dân thụ động trong việc tham gia phát triển Du lịch cộng đồng mà không có bất kì sự thảo luận nào.
- Người dân được thông báo về các dự án phát triển Du lịch cộng đồng và các dự án có liên quan thì mới tham gia.
- Người dân nhận tư vấn từ các cá nhân, tổ chức đại diện và họ có thể góp ý để tham gia.
- Người dân tích cực tham gia và góp ý về các dự án phát triển Du lịch cộng đồng mặc dù nhận được ít hỗ trợ từ các bên liên quan.
- Người dân thống nhất với các bên liên quan để mang lại lợi ích chung từ Du lịch cộng đồng.
- Người dân có quyền lựa chọn và quyết định đến các hoạt động Du lịch cộng đồng tại địa phương. Đây được xem là mức độ cao nhất của sự tham gia.
- Người dân chủ động trong việc phát triển du lịch, tự nắm bắt thông tin và đề xuất các dự án phát triển Du lịch cộng đồng.
Ở mức độ khái quát hơn, Tosun (1999) đã tinh gọn thang đo sự tham gia của người dân địa phương gồm 3 dạng: (1) Sự tham gia tự phát: tiếp cận từ dưới lên, người dân chủ động tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và lựa chọn các phương án, hoạt động phát triển Du lịch cộng đồng; (2) Sự tham gia mang tính hình thức: tiếp cận từ trên xuống, người dân làm theo sự chỉ bảo và không đưa ra bất kì ý kiến nào trTham giaong quá trình thực hiện, (3) Sự tham gia bắt buộc: tiếp cận từ trên xuống, người dân tham gia bị động nhưng cũng mang tính bắt buộc thực hiện, việc tham gia chỉ mang tính hình thức.
Trên cơ sở đó, sau quá trình nghiên cứu và tổng hợp, tác giả đã lựa chọn thang đo của Pretty (1995) làm căn cứ đánh giá. Và nó phổ biến rộng rãi, đặc biệt là các nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong việc phát triển Du lịch cộng đồng .
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
- Yếu tố 1: Nhận thức của người dân về du lịch
Khái niệm về nhận thức khá là trừu tượng và có rất là nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có quan điểm về nhận thức trong triết học của Mác – Lênin vô cùng nổi tiếng. Tuy nhiên để dễ hiểu hơn thì tác giả đã chọn tiếp cận theo quan điểm của Giáo sư Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt (1988): “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó”. Như vậy, nhận thức là quá trình con người nhận biết về một đối tượng nào đó từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Trong phạm vi nghiên cứu này thì tác giả tập trung đề cập đến nhận thức của người dân địa phương về du lịch và nghiên cứu xem họ có nhận biết như thế nào về du lịch. Nhận thức của người dân về du lịch và việc phát triển du lịch có mối quan hệ hai chiều. Khi nhận thức của người dân về du lịch hợp lý thì việc phát triển du lịch sẽ được thực hiện có trách nhiệm, ngược lại, các phương thức phát triển du lịch đúng đắn thì sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân. Hai yếu tố này luôn tồn tại và phát triển song song nhằm hướng đến sự phát triển bền vững. Yếu tố nhận thức và thái độ của người dân đối với du lịch đều được các học giả trong và ngoài nước công nhận và đưa vào các mô hình nghiên cứu về sự ủng hộ hay sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch. Công trình nghiên cứu của Perdue và các cộng sự về sự ủng hộ của người dân đối với việc phát triển du lịch là một trong những nghiên cứu tiên phong sử dụng mô hình có yếu tố nhận thức về du lịch của người dân.
Theo thang nhận thức 6 cấp độ của S.Bloom (1956) gồm có: (1) Biết, (2) Hiểu, (3) Ứng dụng, (4) Phân tích, (5) Tổng hợp, (6) Đánh giá. Để phù hợp với nghiên cứu này, tác giả dựa theo nghiên cứu của ThS. Lê Thị Tuyết (2017) đã điều chỉnh lại thang nhận thức thành 4 mức độ theo S.Bloom: (1) Biết, (2) Hiểu, (3) Chấp nhận và (4) Thực hiện.
- Hình 2.1 – Thang mức độ nhận thức của người dân theo ThS. Lê Thị Tuyết
Qua các mức độ phát triển của nhận thức, ta thấy rằng nó có khả năng chi phối đến đến thái độ và hành động của người dân địa phương. Sự phát triển của du lịch như thế nào và các tác động của nó như thế nào sẽ ảnh hướng tới nhận thức của người dân. Khi người dân có nhận thức đúng về những lợi ích mà du lịch mang lại thì họ sẽ có ý thức giữ gìn các tài nguyên du lịch từ cảnh quan đến văn hóa và có sự tích cực tham gia vào việc phát triển du lịch tại địa phương. Nắm bắt được mức độ nhận thức của người dân địa phương thì chính quyền sẽ có những giải pháp và chính sách phát triển du lịch phù hợp nhằm phát triển du lịch bền vững. Nếu nhận thức của người dân địa phương về du lịch không tốt thì sẽ gây khó khăn trong việc phát triển du lịch, đặc biệt là các hình thức du lịch có liên quan đến cộng đồng như Du lịch cộng đồng.
Quan điểm này của tác giả cũng dựa trên mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Fred Davis (1986), mô hình này giải thích nếu người dùng tin rằng công nghệ mang lại giá trị tốt thì họ sẽ có xu hương sử dụng công nghệ. Tương tự, người dân sẽ có xu hướng ủng hộ và tham gia phát triển du lịch nếu họ nhận thấy du lịch đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội mà không gây ra nhiều tác động tiêu cực. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
- Yếu tố 2: Nguồn lực cá nhân
Nguồn lực cá nhân là nguồn lực xuất phát từ mỗi cá nhân riêng biệt trong xã hội, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ tham gia và đóng góp của một cá nhân đến việc phát triển du lịch. Đó là tất cả những gì một người có thể sử dụng để phát triển bản thân và thích nghi với môi trường sống.
Hobfoll (1989) phân nguồn lực cá nhân thành bốn nhóm chính bao gồm:
- Đối tượng (Objects): là tài sản vật chất có giá trị của cá nhân như nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, các thiết bị điện tử,…
- Điều kiện (Conditions): là hoàn cảnh hiện tại của một người, thường liên quan đến địa vị xã hội và các mối quan hệ.
- Đặc điểm cá nhân (Personal characteristics): là những phẩm chất, năng lực hiện tại của người đó.
- Năng lượng ( Energies): là thể chất, tinh thần giúp cá nhân duy trì hoạt động và hiệu suất làm việc.
Quan điểm của Hobfoll khẳng định rằng nguồn lực cá nhân càng mạnh thì cá nhân càng có nhiều khả năng đóng góp cho công việc, cho xã hội. Tương tự tác giả cũng chia làm bốn nhóm: Nguồn lực xã hội, nguồn lực thể chất, nguồn lực trí tuệ và kỹ năng, nguồn lực tinh thần và cảm xúc. Nguồn lực xã hội như các mối quan hệ, tài chính, sức ảnh hưởng cá nhân. Mối quan hệ rộng, tài chính vững chắc, có tầm ảnh hưởng thì sẽ giúp cá nhân dễ dàng liên kết với các đối tác du lịch, thu hút du khách. Nguồn lực thể chất chính là ngoại hình, sức khỏe và năng lượng của họ có thể nâng cao hiệu suất làm việc, hỗ trợ phục vụ tốt du khách. Nguồn lực trí tuệ và kỹ năng bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, quản lý và kinh doanh, tư duy sáng tạo giúp phát triển các mô hình du lịch mới và tạo ấn tượng tương tác tốt với du khách. Nguồn lực tinh thần và cảm xúc chính là động lực để phát triển du lịch, đam mê du lịch giúp cá nhân chủ động khám phá, nghiên cứu, thái độ hay sự kiên trì giúp tạo ấn tượng tốt cho khách du lịch, đồng thời giúp cá nhân thích nghi với môi trường sống.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà, Lê Minh Tuấn (2019) cho thấy nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn vốn xã hội (các mối quan hệ xã hội), nguồn vốn tự nhiên (đất đai thuộc sở hữu của hộ), nguồn vốn vật chất (cơ sở vật chất, các trang thiết bị của hộ), nguồn vốn tài chính (vốn), nguồn nhân lực (chất lượng và số lượng lao động). Qua đó, tác giả tự nhận thấy nguồn lực cá nhân cũng tương tự với nguồn lực của hộ gia đình ở nghiên cứu trên.
Còn một số nghiên cứu khác lại cho rằng nguồn lực cá nhân chia làm 2 nhóm chính đó là nguồn lực con người và nguồn lực vật chất. Nguồn lực con người là những gì tồn tại bên trong người đó, bao gồm: thể chất, tinh thần, năng lực, kiến thức,… Còn nguồn lực vật chất (nguồn lực phi con người) là những tài nguyên tồn tại bên ngoài con người, được cá nhân đó kiểm soát, sở hữu hoặc sử dụng như là tiền bạc, tài sản. Dù chia làm hai nhóm hay bốn nhóm thì đều phân tích theo hai hướng đó là nguồn lực xuất phát từ con người và nguồn lực vật chất mà cá nhân sở hữu.
- Yếu tố 3: Cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Ngày 29/01/2024, tại Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định: “Thể chế, cơ chế, chính sách chính là nguồn lực của sự phát triển”. Và chính quyền địa phương đóng vai trò hợp lý hóa các cơ chế, chính sách của nhà nước để áp dụng tại địa phương của mình cho hiệu quả và thiết thực nhất.
Theo William Jenkins (1978): “Chính sách là một tập hợp các quyết định có liên quan, được thực hiện bởi một hoặc nhiều tổ chức công, liên quan đến việc lựa chọn các mục tiêu và phương tiện để đạt được chúng”. Còn cơ chế hiểu theo từ điển Oxford “là một hệ thống hoặc quá trình được thiết kế để đạt được một kết quả cụ thể”. Nói rõ hơn thì cơ chế là cách vận hành của chính quyền địa phương, còn chính sách là những quy định cụ thể được chính quyền áp dụng vào thực tế để quản lý và phát triển địa phương.
Nhà nước nói chung và chính quyền địa phương tỉnh Khánh Hòa nói riêng đều thực hiện cơ chế phân cấp, phân quyền như là chính quyền cấp tỉnh, thành phố sẽ ban hành chiến lược phát triển du lịch tổng thể trên địa bàn tỉnh và nhiệm vụ triển khai các hoạt động cụ thể sẽ do chính quyền cấp quận, huyện, xã đảm nhiệm. Hoặc là thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành, như là phối hợp giữa Sở VHTT và DL, Sở Văn hóa – Thể Thao với các sở ban ngành như Môi Trường, Giao thông Vận tải, Công an để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.
Một số nhóm chính sách quan trọng và thường được đề cập tới đó là chính sách phát triển cơ sở hạ tầng du lịch. Theo Báo Điện tử Đại biểu Nhân dân, Khánh hòa đã có những bước tiến đột phá du lịch nhờ hạ tầng cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Khánh Hòa. Kết quả ấn tượng là trong 9 tháng đầu năm 2024, Khánh Hòa đón 9 triệu lượt khách lưu trú, tăng 57,9% so với cùng kỳ năm trước. Minh chứng này cho thấy chính sách phát triển hạ tầng du lịch là vô cùng quan trọng. Chính sách phát triển hạ tầng du lịch bao gồm: đầu tư và nâng cấp giao thông, sân bay, bến tàu phụ vụ du khách hoặc hỗ trợ xây dựng các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí,…Chính sách bảo tồn và phát triển du lịch bền vững sẽ góp phần bảo vệ di tích, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên du lịch khác, thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái, Du lịch cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường. Chính sách quảng bá, xúc tiến du lịch sẽ tạo ra những sự kiện văn hóa, lễ hội để thu hút du khách, quảng bá du lịch địa phương, gắn kết với người dân. Bên cạnh đó, chính sách phát triển nguồn nhân lực du lịch là vô cùng cần thiết, đào tạo hướng dẫn viên du lịch, nhân viên phục vụ du khách, hỗ trợ người dân địa phương phát triển Du lịch cộng đồng. Ngoài ra, chính sách đảm bảo an ninh, an toàn du lịch vừa bảo vệ du khách vừa bảo vệ quyền và lợi ích của người dân địa phương.
- Yếu tố 4: Lợi ích kinh tế Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy các lợi ích khác phát triển. Xuất phát từ phạm trù lợi ích thì đó là sự thỏa mãn nhu cầu của con người về vật chất và tinh thần. Vậy thì lợi ích có thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần. Trên thực tế, lợi ích kinh tế sẽ là lợi ích vật chất đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi người, hay mỗi chủ thể. Theo Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên, lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, hình thành từ kết quả của quá trình sản xuất xã hội. Theo Adam Smith (1776) thì lợi ích kinh tế là giá trị mà một cá nhân hoặc quốc gia nhận được thông qua hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Nói tóm lại, lợi ích kinh tế là những giá trị mà cá nhân, tổ chức hoặc xã hội nhận được từ các quyết định, hoạt động hoặc chính sách kinh tế.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung tìm hiểu lợi ích kinh tế mà cá nhân và xã hội nhận được từ việc phát triển du lịch. Không chỉ những ngành sản xuất mà kể cả ngành dịch vụ như du lịch cũng mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể, nó còn là động lực để thức đẩy tăng trưởng kinh tế. Không chỉ với mỗi cá nhân, doanh nghiệp, địa phương, mà còn cho cả quốc gia.
Nếu du lịch góp phần làm tăng GDP quốc gia thì nó cũng góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách của địa phương thông qua các khoản thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập. Du lịch còn tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân địa phương khi tham gia vào ngành dịch vụ này dưới dạng làm việc trực tiếp trong ngành hoặc là người cung cấp các sản phẩm gián tiếp cho việc phục vụ du lịch. Việc phát triển du lịch đòi hỏi phải phát triển cơ sở hạ tầng, không chỉ là cải thiện hạ tầng để phục vụ cho du khách mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương. Nếu du lịch phát triển, khách du lịch gia tăng thì nhu cầu đối với các ngành kinh doanh khác cũng tăng theo. Không thể phủ nhận rằng, việc phát triển du lịch sẽ giúp người dân địa phương đa dạng hóa sinh kế, hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo và đặc biệt tạo ra thu nhập bền vững cho người dân nếu phát triển Du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái.
Tìm hiểu sâu hơn, tác giả đánh giá rằng lợi ích kinh tế mà Nha Trang – Khánh Hòa nhận được từ việc phát triển du lịch là rất to lớn. Hiện tại nó được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của cả tỉnh nên việc tạo ra lợi ích kinh tế lớn là không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh – Giám đốc Sở VHTT & DL tỉnh Khánh Hòa khẳng định sự tăng trưởng của ngành du lịch đã góp phần tăng tỷ trọng dịch vụ, du lịch trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, giải quyết vấn đề việc làm, bảo đảm an sinh xã hội.
2.2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
2.2.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Ngô Thị Liên (2018) đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự tham gia của người dân trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà” bằng phương pháp điều tra qua bảng câu hỏi đến từng hộ gia đình. Kết quả cho thấy ba vấn đề chính: (1) Mức độ tham gia bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố bao gồm tuổi, trình độ học vấn, trao đổi văn hóa, thời gian sinh sống; (2) Mức độ tham gia của cộng đồng còn thụ động; (3) Thái độ của cộng đồng đối với việc phát triển du lịch đa số là tích cực, người tham gia du lịch sẽ có cái nhìn tích cực hơn người không tham gia du lịch.
Năm 2019, Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà cùng thực hiện nghiên cứu “Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế” theo thang đo phân loại của Tosun (2006). Kết quả nghiên cứu từ 133 người dân và phỏng vấn sâu 25 đại diện các bên liên quan phản ánh người dân chỉ tham gia vào du lịch ở mức thụ động. Bên cạnh các đặc điểm nhân khẩu học thì quyết định tham gia vào du lịch của người dân còn chịu ảnh hưởng bởi 6 nhân tố: hiểu biết về du lịch địa phương, thái độ với phát triển du lịch, năng lực phục vụ du lịch, khả năng ra quyết định, sự công bằng và minh bạch, vốn xã hội. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà, Lê Minh Tuấn (2019) đã chỉ ra và đánh giá 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng sự tham gia của người dân địa phương vào du lịch thông qua đề tài “Sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh – Hội An”. Kết quả cho thấy sự tham gia của người dân chỉ mang tính hình thức hoặc thụ động do bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhận thức và người dân về tài nguyên và hoạt động du lịch, điều kiện về cơ chế và chính sách, nguồn lực của hộ gia đình, lợi ích kinh tế.
Đỗ Huyền Trang (2021) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động du lịch ở Mù Cang Chải (Yên Bái)” dựa trên thang đo của Pretty (1995). Theo kết quả khảo sát từ 350 người dân tham gia hoạt động du lịch cho thấy nhận thức về lợi ích kinh tế mà du lịch mang lại được cải thiện nhưng sự tham gia và hiểu biết về du lịch của cộng đồng vẫn còn thấp. Thực hiện phương pháp phân tích thông kê mô tả và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng, bao gồm: nhận thức về du lịch, hiểu biết của người dân về du lịch và lợi ích kinh tế từ du lịch.
Hồ Thị Thanh Thanh và Nguyễn Thị Như Hoa (2022), đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại làng Nam Ô – Đà Nẵng”. Nghiên cứu sử dụng mô hình 7 bậc của Pretty (1995) để phân loại mức độ tham gia của người dân địa phương vào hoạt động phát triển du lịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân chỉ tham gia ở mức độ thụ động. Nguyên nhân một phần do hạn chế về nhận thức và thông tin, nghiên cứu cũng đồng ý với 3 nhân tố trực tiếp tác động vào mức độ tham gia của người dân đó là: Cơ chế, chính sách; đặc điểm hộ gia đình; lợi ích kinh tế.
Các nghiên cứu trong nước đã cung cấp cái nhìn tổng quát về tính hình nghiên cứu trong nước về sự tham gia của người dân vào du lịch.
2.2.2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc phát triển chương trình lưu trú tại nhà dân ở Malaysia do Abdul Rasid Abdul Razzaq, Mohd Yusop Hadi, Mohamad Zaid Mustafa (2011) đồng nghiên cứu đã khám phá động lực của cộng đồng địa phương và sự sẵn sàn tham gia của họ, cũng như tính phù hợp của các chính sách địa phương. Nghiên cứu sử dụng thang đo của Pretty để phân tích mức độ tham gia của người dân địa phương và cho thấy gần 54% người trả lời cho biết họ tham gia vì yếu tố thu nhập, 34% người tham gia trả lời rằng họ tham gia vì yếu tố môi trường.
Năm 2013 trong một tạp chí nghiên cứu du lịch của Mỹ đã đăng tải bài nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ra quyết định phát triển du lịch ở làng Barabarani, Mto Wa Mbu, Tanzania. Bằng cách sử dụng phần mềm SPSS, Michael Muganda và các cộng sự (2013) đã nhận thấy rằng người dân địa phương bất kể họ đến từ đâu, giới tính, nghề nghiệp hay trình độ học vấn nào thì đều mong muốn được tham gia vào quá trình ra quyết định, để đảm bảo nhu cầu và lợi ích của họ.
CĂZAN, I.-C. (2018) đã nghiên cứu tổng quan tài liệu về sự tham gia của cộng đồng vào việc phát triển điểm đến du lịch, phân tích mức độ tham gia khác nhau và các mô hình tham gia của cộng đồng bao gồm các yếu tố như quyền ra quyết định, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm trong quản lý du lịch.
Regina M. Thetsane (2019) đã thực hiện nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương vào việc phát triển du lịch tại làng Katse ở Lesotho bằng phương pháp lấy mẫu phân tầng và thuận tiện đã được sử dụng để lựa chọn mẫu 500 hộ gia đình. Dựa vào nghiên cứu thang đo nghiên cứu của Pretty (1995), đánh giá mức độ tham gia mà người dân đồng thuận là đóng vai trò lãnh đạo với tư cách là người lao động. Và mức độ tham gia của người dân bị ảnh hưởng bởi chính sách, nhận thức của người dân, lợi cihs kinh tế mà họ nhận được.
Grace Amin và các cộng sự (2020) đã nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch và phát biểu nó tại hội nghị quốc tế lần thứ 4 về doanh nghiệp gia đình và khởi nghiệp. Bằng cách thông qua cuộc phỏng vấn với đại diện chính quyền địa phương, các bên liên quan và người dân địa phương, các nhà nghiên cứu đã thu thâp được dữ liệu. Kết quả cho thấy, sự tham gia của cộng đồng địa phương là một yếu tố quan trọng với tính bền vững của du lịch, mặc dù chính quyền địa phương đã cơ chương trình mở rộng du lịch như trao quyền cho người dân, tiến hành các hoạt động văn hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng.
2.3. Mô hình nghiên cứu
- Mô hình nghiên cứu liên Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Hình 2.2 – Mô hình nghiên cứu của Đỗ Thiện Toàn, Bùi Văn Trịnh, Nguyễn Quốc Nghi
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ đã đăng tải bài nghiên cứu của Đỗ Thiện Toàn, Bùi Văn Trịnh và Nguyễn Quốc Nghi (2016) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào hoạt động du lịch vườn sinh thái của hộ gia đình tại huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ”. Bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhóm tác giả đưa ra kết quả nghiên cứu với 5 nhân tố bao gồm: Lợi ích kinh tế, chính sách địa phương, môi trường tự nhiên, văn hóa – xã hội, nguồn lực địa phương và vốn xã hội. Với tổng 23 biến quan sát nhưng chỉ có 22 biến được sử dụng, nghiên cứu chỉ ra rằng lợi ích kinh tế là yếu tố tác động mạnh nhất đến sự tham gia vào hoạt động du lịch của hộ gia đình
Mô hình nghiên cứu của Mai Lệ Quyên (2017) về đề tài “Các nhân tố tác động đến sự tham gia của người dân trong phát triển dịch vụ du lịch bổ sung tại các điểm di tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Trị” đã khái quát 3 nhóm nhân tố chính gồm nhận thức của người dân (nhận thức về giá trị tài nguyên, lợi ích du lịch,…), cơ chế chung và nguồn lực của hộ (tài chính, chi phí tham gia, nguồn nhân lực có chất lượng,…), các yếu tố tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch (thông tin đến người dân, sự hợp tác với các bên liên quan,…). Cả 3 yếu tố đều được chấp nhận và có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân. Trong đó yếu tố liên quan đến nguồn nhận lực như nhận thức về du lịch, kỹ năng ngoại ngữ hay giao tiếp gây cản trở nhiều nhất đến sự tham gia của người dân.
- Hình 2.3 – Mô hình nghiên cứu của Mai Lê Quyên
Nghiên cứu đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch sinh thái tại Rừng dừa Bảy Mẫu (Hội An) của Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà, Lê Minh Tuấn (2019) cũng chỉ ra rằng lợi ích kinh tế là điều người dân quan tâm nhất và nó gây ảnh hướng lớn nhất đến sự tham gia của người dân. Kết quả rút ra từ 130 mẫu khảo sát với 4 nhân tố tác động gồm lợi ích kinh tế, đặc điểm của hộ, cơ chế và chính sách, nhận thức của người dân về tài nguyên và hoạt động du lịch.
- Hình 2.4 – Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà, Lê Minh Tuấn
Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà (2019) đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển Du lịch tại làng Thanh Thủy Chánh, Huế” với 23 biến quan sát đã rút gọn được xây dựng trong thang đo, 133 phiếu khảo sát hợp lệ và 25 người được phỏng vấn gồm người dân, cán bộ chính quyền và đại diện doanh nghiệp. Cùng với các đặc điểm nhân khẩu học, có 6 nhân tố chi phối ý định tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch sắp xếp theo mức độ giảm dần: Hiểu biết về du lịch địa phương, thái độ với phát triển du lịch, năng lực phục vụ du lịch, khả năng ra quyết định, sự công bằng và minh bạch, vốn xã hội. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
- Hình 2.5 – Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Đoàn Hạnh Dung và Trương Thị Thu Hà
Odege Dorcas Williams (2014) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong du lịch văn hóa tại Kit Mikayi, hạt Kisumu, Kenya. Bằng phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu từ 70 dân cư tại Kit Mikayi, cùng với 6 chuyên gia nghiên cứu về du lịch cộng đồng, nghiên cứu chỉ ra rằng giới tính và trình độ học vấn là yếu tố nhân khẩu học gây ảnh hưởng nhiều nhất đến sự tham gia của cộng đồng. Mức độ tham gia hoạt động du lịch của phụ nữ cao hơn so với nam giới. Cả 3 yếu tố đặc điểm kinh tế – xã hội, trình độ học vấn, chính sách du lịch đều ảnh hưởng tới mức độ tham gia của người dân. Thông qua 24 biến quan sát, tác giả kết luận được trình độ học vấn là yếu tố tác động mạnh nhất đến sự tham gia của người dân. Ngoài ra, thu nhập của hộ gia đình ở Kit Mikayi còn thấp, hạn chế khả năng đầu tư vào các doanh nghiệp du lịch. Dưới đây là mô hình nghiên cứu mà Odege Dorcas Williams đã đề xuất dựa trên các nghiên cứu trước đó:
- Hình 2.6 – Mô hình nghiên cứu của Odege Dorcas Williams
Dưới đây là mô hình nghiên cứu của ThS.Võ Chí Linh (2024):
- Hình 2.7 – Mô hình nghiên cứu của Th.S Võ Chí Linh
ThS.Võ Chí Linh (2024) đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia du lịch cộng đồng của người dân xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi bao gồm 8 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc như trong Hình 2.7. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích 450 mẫu khảo sát khác nhau, các thang đo đều có mức trung bình từ 3.37 – 3.58 với giá trị trung bình của 8 nhân tố là 3.46, khẳng định người dân vẫn có hướng quyết định tham gia vào cộng đồng.
2.3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
- Hình 2.8 – Mô hình đề xuất
Mối quan hệ giữa nhận thức của người dân về du lịch với sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang Kavaratzis (2004) nhận định trong quá trình ra quyết định du lịch, người dân là một trong những bên liên quan quan trọng nhất. Vì vậy, nhận thức của người dân thường xuất hiện trong các mô hình nghiên cứu của các đề tài tương tự trước đó. Nếu thái độ của người dân đối với du lịch là tiêu cực thì người dân có thể phá hoại sự phát triển của du lịch, trong khi thái độ tích cực có thể biến người dân thành đại sứ có giá trị nhất của điểm đến đó (Simpson & Siguaw, 2008).
Trong nghiên cứu của Mai Lệ Quyên (2017) tại Quảng Trị, đánh giá việc nhận thức của người dân về tài nguyên du lịch chưa được cao điều này là rào cản lớn đến mức độ quan tâm của họ tới du lịch và sự tham gia cũng bị hạn chế theo. Nói cách khác thì việc nâng cao nhận thức của người dân về du lịch là vô cùng cần thiết nếu muốn gia tăng mức độ tham gia của họ vào du lịch, đặc biệt là du lịch dựa vào cộng đồng.
Nhìn chung, nhận thức của người dân về các khía cạnh khác nhau có liên quan đến du lịch đều sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và hình thức tham gia của họ. Nếu nhận thức của họ về du lịch tiêu cực thì có thể người dân sẽ không tham gia hoặc tham gia phát triển du lịch với hình thức thụ động, bị ép buộc. Ngược lại, nếu nhận thức tích cực, đúng đắn về du lịch thì việc phát triển các hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng sẽ dễ dàng hơn vì nhận được sự ủng hộ và tham gia tích cực, chủ động của người dân địa phương.
Giả thuyết H1: Nhận thức của người dân về du lịch có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.
- Mối quan hệ giữa nguồn lực cá nhân với sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Từ nghiên cứu tại Rừng dừa Bảy Mẫu ở Hội An (2018), các yếu tố về nguồn lực của hộ gia đình như tài chính, các mối quan hệ xã hội cũng như chất lượng lao động của hộ đều ảnh hưởng đến việc tham gia du lịch. Nghiên cứu chỉ ra sau khi khảo sát các hộ gia đình thấy rằng, nếu là nam giới thì sẽ có sức khỏe và nhiều mối quan hệ xã hội hỗ trợ việc tham gia các hoạt động du lịch hơn phụ nữ. Nghiên cứu tại tỉnh Quảng Trị cho thấy các kỹ năng của người dân cũng như các nguồn lực khác mà họ có đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của người dân vào hoạt động du lịch.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu ở Nam Ô, Đà Nẵng, tiêu chí “Nguồn lực của hộ gia đình” được đánh giá thấp nhất với giá trị trung bình là 3.37 đã gây ảnh hưởng đến kết quả đánh giá mức độ tham gia của người dân. Yếu tố từ nguồn lực tài chính không đáp ứng đủ để người dân tham gia vào hoạt đông du lịch một cách dễ dàng.
Tổng hợp từ các nghiên cứu mà tác giả điều tra được cho thấy, nguồn lực cá nhân sẽ tác động tới mức độ tham gia của người đó vào du lịch tùy theo từng khía cạnh. Nếu cá nhân có khả năng tài chính càng cao thì mức độ tham gia sẽ từ gián tiếp sang trực tiếp kinh doanh, đề xuất các dự án liên quan đến phát triển du lịch. Nếu người dân không đủ tài chính nhưng lại có kĩ năng, kiến thức phục vụ du lịch thì họ là nguồn lao động tiềm năng của ngành du lịch tại địa phương, đặc biệt sẽ hỗ trợ nhiều hơn cho du lịch cộng đồng.
Giả thuyết H2: Nguồn lực cá nhân có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.
- Mối quan hệ giữa cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương với sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang
Chính sách của chính quyền địa phương đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch (Hall, 1999). Ở một số nước đang phát triển, chính quyền kiểm soát tài nguyên du lịch quá mức đã khiến người dân gặp khó khăn trong việc khai thác tài nguyên du lịch, nếu không có cơ chế sự dụng tài nguyên hợp lý cho người dân thì họ sẽ bị hạn chế tham gia vào các mô hình du lịch cộng đồng (Tosun, 2000). Quan điểm của Murphy (1985) về việc phát triển du lịch từ cấp cơ sở cho rằng nếu không phân chia lợi ích công bằng cho người dân thông qua các chính sách thì người dân cũng sẽ không có động lực để tham gia phát triển du lịch. Còn Okazaki (2008) nhận định người dân sẽ không đủ tự tin và năng lực để tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng nếu chính quyền không có các chính sách đào tạo và cập nhật thông tin cho người dân phù hợp với thực tế. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Đối với yếu tố cơ chế, chính sách trong nghiên cứu tại Rừng dừa Bảy Mẫu thì kết quả người dân yêu cầu rất cao về tiêu chí “Chính sách phát triển phù hợp với thực tiễn của địa phương” với giá trị trung bình là 4.43. Từ kết quả này cho thấy, chính quyền phải có những chính sách cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn để đáp ứng mong muốn của người dân, nhằm hỗ trợ người dân tham gia phát triển du lịch tại địa phương một cách tích cực.
Vì vậy, cơ chế và chính sách của chính quyền địa phương sẽ tác động tới mức độ tham gia vào du lịch cộng đồng của người dân địa phương. Một cơ chế, chính sách phù hợp sẽ khiến người dân tích cực tham gia vào phát triển du lịch một cách bền vững, vừa mang lại lợi ích cho người dân vừa mang lại lợi ích cho nền kinh tế địa phương. Nhưng nếu địa phương không đưa ra các chính sách rõ ràng cho người dân hoặc các chính sách áp dụng không sát với tình hình thực tế sẽ khiến người dân không hài lòng và chủ động tham gia phát triển du lịch.
Giả thuyết H3: Cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.
- Mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang
Quan điểm của Murphy (1985) cho rằng người dân chỉ tham gia vào du lịch nếu học thấy được lợi ích trực tiếp. Tosun (2000) lại chỉ ra rào cản du lịch từ lợi ích kinh tế, người dân sẽ không duy trì sự tham gia du lịch lâu dài nếu thu nhập từ du lịch không ổn định được cuộc sống của họ. Khi nghiên cứu về du lịch bền vững, Scheyvens (1999) cũng cho rằng lợi ích kinh tế chỉ tập trung vào doanh nghiệp lớn hay chính quyền địa phương mà không lấy người dân làm ưu tiên thì động lực tham gia của cộng đồng địa phương sẽ giảm đi. Quan điểm của Goodwin (2006), lợi ích kinh tế không chỉ là tiền bạc mà còn là việc làm và chất lượng cuộc sống mà người dân nhận được. Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
Kết quả nghiên cứu yếu tố “Lợi ích kinh tế” trong nghiên cứu tại Rừng dừa Bảy Mẫu là cao nhất với 4 biến có giá trị trung bình lần lượt là 4.62; 4.42; 4.50; 4.0. Điều này cho thấy, nhân tố đóng vai trò quyết định sự tham gia của người dân vào hoạt động du lịch là lợi ích kinh tế. Hầu như không có sự khác biết về giới tính, độ tuổi, trình độ và nghề nghiệp giữa các mẫu khảo sát khi đánh giá về tầm quan trọng của lợi ích kinh tế khi tham gia hoạt động du lịch.
Tương tự, lợi ích kinh tế cũng được đánh giá là cao nhất với giá trị trung bình lần lượt của các biến là 4.22; 4.21 và 4.17 trong nghiên cứu tại làng Nam Ô, Đà Nẵng. Và cũng không có sự khác biệt giữa các mẫu khảo sát khi đánh giá nhân tố này. Kết quả này cho thấy lợi ích kinh tế là động lực để người dân tham gia phát triển du lịch và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Vì vậy, nếu hiệu quả kinh tế từ du lịch của người dân được nâng cao thì sẽ tạo ra sinh kế bền vững và sự tham gia của người dân vào du lịch cũng sẽ được tăng lên.
Từ đó, tác giả nhận thấy lợi ích kinh tế là nhân tố thúc đẩy khả năng tham gia của người dân vào hoạt động du lịch cộng đồng. Lợi ích kinh tế càng lớn thì mức độ tham gia của người dân vào hoạt động du lịch cộng đồng càng cao. Người dân có thể chủ động tìm hiểu và trực tiếp tham gia vào các chức năng du lịch để nhận lại lợi ích kinh tế tương ứng. Ngược lại, nếu lợi ích kinh tế không đủ đáp ứng thì càng làm giảm mức độ tham gia của người dân trong hoạt động Du lịch cộng đồng.
Giả thuyết H4: Lợi ích kinh tế có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang.
Những giả thuyết nghiên cứu được tổng hợp tại Bảng 2.1 dưới đây:
| STT |
Giả thuyết |
| 1 | Nhận thức của người dân về du lịch có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. |
| 2 | Nguồn lực cá nhân có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. |
| 3 | Cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. |
| 4 | Lợi ích kinh tế có ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm Nha Trang. |
Bảng 2.1 – Giả thuyết nghiên cứu đề xuất Khóa luận: Đánh giá phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Bích Đầm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: PPNC phát triển du lịch cộng đồng đảo tại Bích Đầm
