Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Tàu Thủy dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Từ nhận thức như vậy nên trong thời gian thực tập tại Công ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Thủy em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Tàu Thủy ” để nghiên cứu thực tế và viết thành chuyên đề này. Với những hiểu biết thực tế còn hạn chế và thời gian thực tế quá ngắn ngủi, với sự giúp đỡ lãnh đạo của công ty và các cô chú trong phòng kế toán công ty, em hi vọng sẽ nắm bắt được phần nào về sự hiểu biết đối với lĩnh vực kế toán tiền lương trong công ty.

Bài viết được chia làm 3 chương:

  • Chương I: Những lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
  • Chương II: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Tàu Thủy.
  • Chương III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty XNK Vật Tư Tàu Thủy.

Nhờ sự chỉ bảo và giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Thạc sĩ Lê Thị Nam Phương và các cô chú trong phòng kế toán của công ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Tàu Thủy đã giúp em hoàn thành bài viết này.

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1 Khái niệm, bản chất tiền lương:

Theo khái niệm tổng quát nhất thì “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng công việc và chất lượng lao động mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp”. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương được biểu hiện một cách thống nhất như sau: “Về thực chất, tiền lương dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối kế hoạch cho công nhân viên chức, phù hợp với số lượng, chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc chi trả cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối lao động nhằm tái sản xuất sức lao động”.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót trong nhận thức về vai trò của yếu tố sức lao động và bản chất kinh tế của tiền lương. Cơ chế thị trường buộc chúng ta phải có những thay đổi lớn trong nhận thức về tiền lương. “Tiền lương phải được hiểu bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá trị của yếu tố lao động mà người sử dụng (Nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người cung ứng lao động, tuân theo nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường theo pháp luật hiện hành của Nhà nước”.

Hiện nay có nhiều ý thức khác nhau về tiền lương, song quan niệm thống nhất đều coi sức lao động là hàng hóa. Mặc dù trước đây không được công nhận chính thức, thị trường sức lao động đã được hình thành từ lâu ở nước ta và hiện nay vẫn đang tồn tại khá phổ biến ở nhiều vùng đất nước. Sức lao động là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên tiền lương, tiền công là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động. Vì vậy, việc trả công lao động được tính toán một cách chi tiết trong hạch toán kinh doanh của các đơn vị cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Để xác định tiền lương hợp lý cần tìm ra cơ sở để tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao động. Người lao động sau khi bỏ ra sức lao động, tạo ra sản phẩm thì được một số tiền công nhất định. Vậy có thể coi sức lao động là một loại hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt. Tiền lương chính là giá cả hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động.

Vì vậy, về bản chất tiền công, tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động, là động lực quyết định hành vi cung ứng sức lao động. Tiền lương là một phạm trù của kinh tế hàng hóa và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan. Nhìn chung, khái niệm tiền lương có tính chất phổ quát hơn và cùng với nó là một loạt các khái niệm như:

Tiền lương danh nghĩa: là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động căn cứ vào hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa. Song, nó chưa cho ta nhận thức đầy đủ về mức trả công thực tế cho người lao động.

Tiền lương thực tế: là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể mua được bằng lương của mình sau khi đã nộp các khoản thuế theo quy định của Nhà nước. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với tỷ số giá cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Tiền lương tối thiểu: là “ngưỡng” cuối cùng để từ đó xây dựng các mức lương khác tạo thành hệ thống tiền lương của một ngành nào đó hoặc hệ thống tiền lương chung thống nhất của một nước, là căn cứ để hoạch định chính sách tiền lương. Nó được coi là yếu tố hết sức quan trọng của chính sách tiền lương. Trên thực tế người lao động luôn quan tâm đến tiền lương thực tế hơn là đồng lương danh nghĩa, nghĩa là lúc nào đồng lương danh nghĩa cũng phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng chỉ số giá cả nhưng không phải lúc nào đồng lương thực tế cũng được như mong muốn mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

1.2 Vai trò và ý nghĩa của tiền lương:

1.2.1 Vai trò của tiền lương:

Tiền lương có vai trò như một nhịp cầu nối giữa người sử dụng lao động với người lao động. Nếu tiền lương trả cho người lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động không đảm bảo được ngày công và kỷ luật lao động cũng như chất lượng lao động, lúc đó doanh nghiệp sẽ không đạt được mức tiết kiệm chi phí lao động cũng như lợi nhuận cần có của doanh nghiệp để tồn tại, như vậy lúc này cả hai bên đều không có lợi. Vì vậy công việc trả lương cho người lao động cần phải tính toán một cách hợp lý để cả hai bên cùng có lợi.

Tiền lương duy trì thúc đẩy và tái sản xuất sức lao động. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay doanh nghiệp nào có chế độ tiền lương hợp lý thì sẽ thu hút được nguồn nhân công có chất lượng tốt. Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong từng nội bộ doanh nghiệp thu nhập đối với người lao động mà còn là một vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội mà Chính phủ mỗi quốc gia cần phải quan tâm.

1.2.2 Ý nghĩa của tiền lương:

Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: trợ cấp BHXH, BHYT, BHTN, tiền ăn ca… Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động từ đó sẽ làm cho người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, tận tâm với công việc, hăng hái tham gia sản xuất, tăng lợi nhuân cho doanh nghiệp đồng thời tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương:

Người lao động đều muốn có nguồn thu nhập tiền lương ổn định và khá nhưng thực tế có rất nhiều nhân tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của họ như:

  • Năng lực, trình độ còn hạn chế
  • Tuổi tác và giới tính không phù hợp với công việc
  • Làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị
  • Vật tư, vật liệu bị thiếu hoặc kém phẩm chất
  • Sức khỏe không được đảm bảo
  • Điều kiện địa hình và thời tiết không thuận lợi

II. NỘI DUNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

2.1 Chứng từ, thủ tục kế toán:

Công việc tính lương, tính thưởng và các khoản phải trả khác cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán doanh nghiệp. Để tiến hành hạch toán, kế toán trong các doanh nghiệp phải sử dụng đầy đủ các chứng từ kế toán theo quy định, bao gồm:

  • Bảng chấm công
  • Bảng thanh toán tiền lương
  • Bảng thanh toán BHXH
  • Bảng thanh toán tiền thưởng
  • Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
  • Phiếu báo làm thêm giờ
  • Hợp đồng giao khoán
  • Bảng phân bổ tiền lương và BHXH

Sau khi đã kiểm tra các chứng từ tính lương, tính thưởng, tính phụ cấp, trợ cấp và các khoản phải trả cho người lao động theo từng hình thức trả lương đang áp dụng tại doanh nghiệp và tiến hành lập bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng. Thông thường tại các doanh nghiệp, việc thanh toán tiền lương và các khoản khác cho người lao động được chia làm hai kỳ: kỳ 1 lĩnh lương tạm ứng, kỳ 2 sẽ nhận số tiền còn lại sau khi đã trừ các khoản phải khấu trừ vào thu nhập.

Các khoản thanh toán lương, thanh toán BHXH, bảng kê danh sách những người chưa lĩnh lương cùng với các chứng từ và báo cáo thu chi tiền mặt phải chuyển kịp thời cho phòng kế toán kiểm tra.

2.2 Kế toán chi tiết tiền lương và các khoản trích theo lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Hạch toán số lượng lao động: Để quản lý lao động về mặt số lượng, doanh nghiệp lập sổ danh sách lao động. Sổ này do phòng lao động tiền lương lập (lập chung cho toàn doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận) nhằm nắm chắc tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ lao động (mở riêng cho từng người lao động) để quản lý nhân sự cả về số lượng và chất lượng lao động, về biến động và chấp hành chế độ đối với lao động.

Hạch toán thời gian lao động: Muốn quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, cần phải tổ chức hạch toán việc sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động. Chứng từ sử dụng để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công được lập riêng cho từng bộ phận, tổ, đội lao động sản xuất, trong đó ghi rõ ngày làm việc, nghỉ của mỗi người lao động. Bảng chấm công do tổ trưởng (hoặc trưởng các phòng, ban) trực tiếp ghi và để nơi công khai để công nhân viên chức giám sát thời gian lao động của từng người. Cuối tháng, bảng chấm công được dùng để tổng hợp thời gian lao động và tính lương cho từng bộ phận, tổ, đội sản xuất.

Hạch toán kết quả lao động: Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng các loại chứng từ ban đầu khác nhau, tuỳ theo loại hình và đặc điểm sản xuất ở từng doanh nghiệp.Mặc dầu sử dụng các mẫu chứng từ khác nhau nhưng các chứng từ này đều bao gồm các nội dung cần thiết như tên công nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn thành nhiệm thu, kỳ hạn và chất lượng công việc hoàn thành… Đó chính là các báo cáo về kết quả như “ Phiếu giao, nhận sản phẩm, phiếu khoán, hợp đồng giao khoán, phiếu báo làm thêm giờ, bảng kê sản lượng từng người…” Cuối cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm căn cứ tính lương, tính thưởng.

Hạch toán tiền lương cho người lao động: Trên cơ sở các chứng từ hạch toán kết quả lao động do các tổ gửi đến hàng ngày (hoặc định kỳ), nhân viên hạch toán phân xưởng ghi kết quả lao động của từng người, từng bộ phận vào sổ và cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên quan. Từ đây kế toán tiền lương sẽ hạch toán tiền lương cho người lao động.

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY XNK VẬT TƯ TÀU THỦY

I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY

1.1 Lịch sử hình thành công ty: Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Công ty XNK Vật Tư Tàu Thủy (Shimex) là doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Công ty được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 28/04/1994 với tên gọi là công ty XNK Vật Tư Tàu Thuỷ theo quyết định số 552/QĐ/TCCB-LĐ Ngày 28/04/1994 của Bộ giao thông vận tải. Với:

  • Tên công ty: Công ty XNK Vật Tư Tàu Thuỷ
  • Tên tiếng anh: SHIP MATERIAL EXPORT – IMPORT COMPANY
  • Tên giao dịch: SHIMEX

Đặt trụ sở chính tại: Số 4 Phan Đình Phùng, Phường Hạ Lý, Quận Hồng Bàng,Thành Phố Hải Phòng.

Căn Cứ Quyết định số 583/QĐ-CNT – ĐMDN ngày 31/03/2008 Chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam về việc thực hiện cổ phần hoá Công Ty Xuất Nhập Khẩu Vật Tư Tàu Thuỷ.

1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty:

  • Mục Tiêu hoạt động:

Công ty xuất nhập khẩu vật tư tàu thuỷ được huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong việc phát triển sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa, tạo công ăn việc làm ổn định, cải thiện đời sống cho người lao động. Đóng góp cho ngân sách nhà nước và phát triển công ty ngày càng lớn mạnh.

Ngành, nghề kinh doanh của công ty:

  • Xuất nhập khẩu và kinh doanh vật tư thiết bị cho ngành đóng tàu thuỷ.
  • Chế biến kinh doanh các mặt hàng từ gỗ.
  • Đóng mới và sửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ, phá dỡ tàu cũ, dịch vụ cung ứng hàng hải .
  • Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị xây dựng, vật tư và vật liệu xây dựng.
  • Sản xuất máy móc thiết bị, vật tư phục vụ đóng tàu mới và sửa chữa các phương tiện vận tải thuỷ.
  • Kinh doanh XNK vật tư nông nghiệp bao gồm: Phân bón các loại, máy móc công cụ phục vụ nông nghiệp.
  • Kinh doanh phát triển nhà và bất động sản, kinh doanh dịch vụ hạ tầng cơ sở khu công nghiệp.
  • Kinh doanh XNK thiết bị vật tư, phương tiện vận tải bộ phục vụ giao thông vận tải .
  • Khai thác cầu, cảng, kho, bãi, bốc dỡ hàng hoá, hàng lỏng và
  • Gia công cơ khí và nấu luyện sắt thép phế liệu.
  • Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá thuỷ, bộ.
  • Xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng, san lấp mặt bằng.

1.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp: Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Với mô hình đơn giản gọn nhẹ như trên tạo ra rất nhiều thuận lợi cho Công ty trong hoạt động kinh doanh của mình. Giám đốc trực tiếp chỉ đạo toàn bộ sẽ nhanh chóng thu hồi được thông tin phản hồi chính xác, kịp thời từ đó phát huy điểm mạnh, hạn chế những mặt yếu kém trong công tác quản lý điều hành Công ty. Mọi quyết định của giám đốc sẽ nhanh chóng thực hiện một cách có hiệu quả.

  • Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng:

Giám đốc: Là người đại diện cho công ty,quản lý công ty theo chế độ một thủ trưởng. Giám đốc phụ trách chung mọi mặt của công ty, chịu trách nhiệm trước cơ quan Nhà nước và cơ quan chủ quản cấp trên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty .

Phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc, được giám đốc phân công nhiệm vụ và công việc cụ thể.

Phòng kinh doanh : Phòng này thực hiên chức năng kinh doanh, có nghĩa vụ tìm bạn hàng, nguồn hàng để ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá một cách chủ động theo các hình thức liên doanh liên kết, ký hợp đồng hợp tác đầu tư uỷ thác và nhận uỷ thác xuất nhập khẩu. Cụ thể phòng kinh doanh trước khi xuất khẩu mặt hàng nào đó trước hết phải liên hệ ký hợp đồng trong nước nhằm thu gom hàng sau đó ký hợp đồng với đối tác nước ngoài trên hai khung hợp đồng (Hợp đồng ngoại thương và hợp đồng uỷ thác) và làm thủ tục xuất nhập khẩu và giao hàng cho khách hàng đồng thời cũng phải làm thủ tục thanh toán với nước ngoài, sau đó thanh toán hợp đồng trong nước chức năng của phòng này là tư vấn, thực hiện và dự thảo cho giám đốc các hợp đồng trong nước, hợp đồng ngoại thương.

Phòng kế hoạch kinh doanh được coi là phòng chủ lực trong công ty, kết quả kinh doanh của công ty phụ thuộc rất nhiều vào năng lực hoạt động của cả phòng, cũng như của từng thành viên. Nhiệm vụ chính của phòng là thu gom hàng hoá trong nước và làm các nghiệp vụ ngoại thương xuất khẩu hàng.

Phòng kế toán tài chính: Có chức năng thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ giúp giám đốc ra quyết định đúng đắn. Theo dõi sát sao tài sản và tình hình biến động của các loại tài sản, quản lý chặt chẽ việc dùng vật tư, tiền vốn trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Phối hợp chặt chẽ với các phòng kế hoạch kinh doanh trong việc thảo luận các kế hoạch kinh doanh, tính toán các phương án kinh doanh sao cho có lợi nhất, xác định giá cả của các mặt hàng bán ra, xác định kết quả của các hoạt động kinh doanh cuối kỳ kế toán phòng kế toán tài chính chịu trách nhiệm tổng hợp các quyết toán và duyệt quyết toán với Tổng công ty cũng như các cơ quan ban ngành khác. Phòng kế toán tài chính có thể nói là một cánh tay cố vấn quan trọng cho ban giám đốc công ty trong lĩnh vực hoạt động tài chính kế toán và lựa chọn phương hướng kinh doanh.

Phòng Kế hoạch: Là cơ quan tham mưu tổng hợp cho giám đốc công ty về công tác kế hoạch tổ chức sản xuất lao động tiền lương, chế độ về hành chính, văn thư bảo mật, đảm bảo an toàn cho công ty, đảm bảo sức khoẻ cho cán bộ công nhân, phương tiện làm việc…

Phòng quản lý dự án: Tham mưu cho Giám đốc lập báo cáo thực hiện vốn đầu tư hàng năm, báo cáo quyết toán khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng.

Như vậy, các phòng ban chức năng trong công ty có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau và cũng phối hợp thực hiên các hoạt động kinh doanh khá nhịp nhàng ăn ý, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chung của công ty, mục tiêu của công ty.

II. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY XNK VẬT TƯ TÀU THỦY Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

2.1. Tình hình quản lý lao động

Để hạch toán lao động trước hết kế toán phải nắm bắt được số lao động toàn công ty tại các phòng ban phân xưởng. Đồng thời phản ánh kịp thời chính xác tình hình sử dụng lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động. Chứng từ để hạch toán lao động là bảng chấm công. Bảng chấm công được lập riêng cho từng bộ phận, trong đó ghi rõ ngày làm việc, ngày nghỉ của từng lao động. Cuối tháng, bảng chấm công được chuyển cho cán bộ tiền lương dùng để tổng hợp thời gian lao động và tính lương cho từng phòng, từng tổ và cá nhân lao động.

Hiện nay công ty có tổng số lao động là 180 người. Trong đó:

  • Lao động gián tiếp: 50 người
  • Lao động trực tiếp: 130 người

Bộ máy quản lý của công ty khá gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả, đảm bảo có sự chỉ đạo trực tiếp từ trên xuống dưới, có liên hệ từ các bộ phận với nhau nhằm mục đích quản lý, giám sát có hiệu quả công việc sản xuất kinh doanh. Hằng ngày các bộ phận là người theo dõi chấm công, theo dõi số lượng lao động, theo dõi chất lượng làm việc từng nhân viên.

Việc phân loại lao động giúp doanh nghiệp sử dụng lao động hợp lý, đúng mục đích.Tính toán hợp lý, đúng với sức lao động, tạo điều kiện nhân viên không ngừng nâng cao kỹ năng, hứng thú, thoải mái trong khi làm việc.

2.2 Quy trình hạch toán tiền lương

  • Chứng từ sử dụng:
  • Bảng chấm công
  • Bảng thanh toán tiền lương
  • Bảng thanh toán trợ cấp BHXH
  • Phiếu nghỉ hưởng BHXH

2.3 Phương pháp trả lương

Chế độ trả lương theo thời gian áp dụng cho bộ phận gián tiếp gồm tất cả nhân viên quản lý, nhân viên các phòng ban, nhân viên quản lý khu công nghiệp, quản lý các tổ, đội xây dựng. Chế độ trả lương khoán áp dụng cho bộ phận trực tiếp sản xuất.

2.3.1 Đối với bộ phận gián tiếp Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Tiền lương hàng tháng của bộ phận này được trả theo căn cứ hệ số cấp bậc, chức vụ. Mức tiền lương được hưởng của mỗi người phụ thuộc vào tiền lương cơ bản và số ngày làm việc thực tế trong tháng.

Hệ số lương theo cấp bậc, chức vụ được Nhà nước quy định. Theo quy định riêng của công ty, mức lương trên sẽ được nhận thêm với một hệ số. Đó là hệ số phụ cấp quy định như sau:

Ngày làm việc thực tế của các đối tượng nhận lương được theo dõi qua bảng chấm công. Bảng chấm công được phòng Tổ chức hành chính xác nhận. Sau đó sẽ được Giám đốc duyệt lấy đó làm căn cứ để tính lương.

2.2.1 Đối với bộ phận trực tiếp sản xuất

Do công ty thực hiện chế độ khoán đối với công nhân sản xuất nên việc tính lương cho khối này dựa trên hệ số lương cơ bản của từng công nhân và mỗi công nhân còn được nhận thêm một khoản phụ cấp hàng tháng là 300.000 đồng/người. Trên cơ sở đó kế toán tính được lương của từng đơn vị và trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của từng lao động.

VD1: Lương tháng 12/2010 của ông Trần Văn Hạnh thợ hàn bậc 4/7 hệ số lương 4,06 và là tổ trưởng có hệ số phụ cấp 0,25.

  • Lương cơ bản = 4,06 x 730.000 = 2.963.800 VNĐ
  • Phụ cấp trách nhiệm = 0,25 * 2.963.800 = 740.950 VNĐ Trích BHXH, BHYT 8,5% lương cơ bản = 251.923 VNĐ
  • Thực lĩnh = lương cơ bản – các khoản khấu trừ theo lương + phụ cấp trách nhiệm + phụ cấp khác
  • Thực lĩnh = 2.963.800 – 251.923 + 740.950 + 300.000 = 3.752.827 VNĐ

VD2: Lương tháng 12/2010 của anh Phạm Văn Thành công nhân hệ số lương 2,34

  • Lương cơ bản = 2,34x 730.000 = 1.708.200 VNĐ
  • Trích BHXH , BHYT 8,5% lương cơ bản = 145.197 VNĐ
  • Thực lĩnh = lương cơ bản – các khoản khấu trừ theo lương + phụ cấp Thực lĩnh = 1.708.200 – 145.197 + 300.000 = 1.863.003 VNĐ Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.
  • Lương ca 3 của bộ phận trực tiếp cũng được tính như công thức ở bộ phận gián tiếp.

CHƯƠNG III MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VẬT TƯ TÀU THỦY

I. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY XNK VẬT TƯ TÀU THỦY

Qua quá trình thực tập tại công ty XNK Vật tư tàu thủy và đi sâu tìm hiểu đề tài “Tổ chức hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty XNK Vật tư tàu thủy” em nhận thấy công tác kế toán ở công ty có những ưu điểm và nhược điểm sau:

1.1 Ưu điểm

  • Về hoạt động kinh doanh:

Trong những năm vừa qua công ty đã không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Để đạt được trình độ quản lý như hiện nay và những kết quả sản xuất vừa qua đó là cả một quá trình phấn đấu liên tục của Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên toàn thể công ty. Nó trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy quá trình phát triển của công ty. Việc vận dụng nhanh nhậy, sáng tạo các quy luật kinh tế thị trường, đồng thời thực hiện chủ trương cải tiến quản lý kinh tế và các chính sách kinh tế của Nhà nước. Công ty đã đạt được những thành tựu tương đối khả quan, hoàn thành nghĩa vụ đóng góp đối với ngân sách Nhà nước và Ban lãnh đạo công ty không ngừng nâng cao điều kiện làm việc cũng như đời sống của cán bộ công nhân viên, biểu hiện ở việc công nhân viên không những có thu nhập ổn định mà hàng tháng còn được trả lương đúng hạn.

  • Về quản lý lao động:

Công ty hiện có lực lượng lao động có kiến thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ cao. Đội ngũ công nhân trải qua nhiều năm lao động, đúc rút được nhiều kinh nghiệm và có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của công ty.

Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ của công ty không ngừng được nâng cao về kiến thức cũng như chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể: Trong những năm gần đây Công ty đã thu hút được một lực lượng đông đảo các cán bộ kỹ thuật trẻ, có năng lực cũng như trình độ cao. Chính nhờ vào sự đầu tư chất xám đó cùng với sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên đầy nhiệt huyết đã giúp cho công ty vượt qua và đứng vững trong thời kỳ nền kinh tế khó khăn.

  • Về tổ chức bộ máy kế toán: Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Trong công tác Tài chính – kế toán, Công ty đảm bảo thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, chế độ do Nhà nước quản lý.

Phòng Tài chính – Kế toán là một bộ phận quan trọng trong công ty. Công ty đã tổ chức mô hình bộ máy kế toán theo hình thức tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho hình thức kiểm tra chỉ đạo và đảm bảo sự đảm bảo của Kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo công ty với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Với hình thức này bộ máy kế toán của công ty được tổ chức gọn nhẹ, công việc và trách nhiệm được phân công rõ ràng. Điều này giúp mọi người hiểu rõ được nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của mình, góp phần nâng cao tính tự giác và thúc đẩy mọi người hoàn thành tốt, kịp thời, đầy đủ mọi nhiệm vụ được giao.

Hoạt động kế toán của công ty luôn tuân thủ chế độ Kế toán do Bộ tài chính ban hành, chế độ chính sách, thể lệ tài chính và quy định trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước. Đồng thời hoạt động kế toán của công ty thiết kế phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của chính công ty, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.

  • Về mặt chứng từ:

Với hệ thống kế toán hiện hành, công ty vận dụng vào thực tế một cách linh hoạt, hình thức kế toán Nhật ký chung được áp dụng trong công tác kế toán tương đối phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình. Hình thức kế toán cung cấp thông tin kịp thời, thuận tiện cho việc phân công công tác.

  • Về mặt hệ thống tài khoản:

Hệ thống tài khoản sử dụng đúng quy định của Bộ tài chính, ngoài ra phòng kế toán đã xây dựng hệ thống tài khoản theo đặc điểm riêng của công ty một cách đầy đủ và chi tiết, vừa đảm bảo được nguyên tắc thống nhất trong các nhiệm vụ kế toán do Bộ tài chính đề ra, vừa thích ứng với thực tiễn quản lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty.

  • Về cách thức trả lương: Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Công tác tính tiền lương cho người lao động của Công ty rất hợp lý và công việc thanh toán lương được làm tương đối tốt.

Về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương:

  • Hạch toán tiền lương:

Theo quy định của Nhà nước ban hành và những nguyên tắc hạch toán kế toán tại công ty, kế toán đã hạch toán đầy đủ, chính xác, rõ ràng theo từng nghiệp vụ cụ thể trên TK 334.

Tất cả các số liệu kế toán được lưu trữ có hệ thống, rõ ràng qua hệ thống máy vi tính, đảm bảo cho việc truy cập đối chiếu số liệu một cách nhanh chóng và tiện ích.

Việc hạch toán tiền lương được thực hiện một cách hợp lý, chính xác cho tập thể cán bộ công nhân viên tại công ty.

  • Hạch toán các khoản trích theo lương:

Công ty đã nộp BHXH, BHYT, BHTN theo tỷ lệ, thời gian Nhà nước quy định. Ngoài ra, công ty còn quan tâm chăm sóc đến tình trạng sức khoẻ, đau ốm… để người lao động an tâm làm việc.

1.2 Nhược điểm

  • Bên cạnh những ưu điểm này hoạt động kế toán trong công ty vẫn còn một số hạn chế như sau:

Việc thanh toán lương cho công nhân viên một lần vào ngày cuối tháng có thể không đảm bảo giải quyết nhu cầu sinh hoạt cho công nhân viên, làm họ có thể thiếu tiền tiêu dùng trong khi thời hạn lĩnh chưa tới.

Phòng kế toán chưa phân công nhiệm vụ cho các nhân viên đồng đều . Một số người có trình độ chuyên môn cao phải đảm nhiệm hơi nhiều việc hơn so với những người khác trong phòng.

Bảng tổng hợp lương cũng chỉ chia ra lương thanh toán cho bộ phận quản lý, nhân viên quản lý phân xưởng, công nhân trực tiếp mà không tổng hợp cho từng đơn vị, phòng ban trong công ty khiến cho công tác kiểm tra đánh giá, theo dõi lương chồng chéo, gây khó khăn… Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt công tác quản trị doanh nghiệp đòi hỏi phải có được thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng. Hiện nay tại phòng kế toán của công ty đã được trang bị máy vi tính phục vụ cho công tác kế toán nói chung và kế toán tiền lương nói riêng nhưng công việc chỉ dừng lại ở việc giảm bớt quá trình tính toán phức tạp và in các chứng từ kế toán nên quá trình hạch toán vẫn có thể dẫn tới sai sót và việc cung cấp thông tin cho quản lý không kịp thời nhanh chóng. Vì vậy công ty nên cài đặt hệ thống phần mềm kế toán mới giúp cho việc hạch toán đơn giản, thuận tiện, lưu trữ thông tin an toàn và đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các đối tượng quan tâm.

II. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐÓNG GÓP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY XNK VẬT TƯ TÀU THỦY

2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Nền kinh tế thị trường hiện nay đang diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, vì vậy quản lý doanh nghiệp phải tìm mọi cách để chi phí hoạt động là thấp nhất và lợi nhuận là cao nhất. Muốn làm được điều đó thì các doanh nghiệp phải cố gắng tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá thành sản phẩm. Một trong những công cụ của hệ thống quản lý kinh tế có chức năng cung cấp thông tin, kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là kế toán. Vì vậy hoàn thiện công tác kế toán luôn là mối ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp.

Trong những thông tin mà kế toán cung cấp thì tiền lương và các khoản thanh toán với cán bộ công nhân viên có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống kinh tế tài chính vì nó là bộ phận cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh. Việc tổ chức lao động phải đảm bảo hợp lý, đúng người, đúng việc…Vì vậy phải quản lý tốt lao động tiền lương và các khoản trích theo lương. Để làm được các việc trên thì đòi hỏi nhà quản lý phải nắm bắt được các thông tin về nguồn nhân lực, nắm rõ về luật lao động. Điều này chỉ có thể thực hiện qua công tác kế toán tại công ty. Bộ máy kế toán của công ty phù hợp, hiệu quả, góp phần đáng kể trong việc nâng cao lợi nhuận của công ty. Vì vậy hoàn thiện công tác kế toán nói chung không thể tách rời với việc hoàn thiện công tác tiền lương và các khoản trích theo lương.

Trên đây là những mặt tích cực mà công ty đã đạt được cần tiếp tục hoàn thiện và phát huy. Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên quá trình kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở công ty XNK Vật tư tàu thủy vẫn không tránh khỏi những tồn tại, những vấn đề chưa hoàn toàn hợp lý và chưa thật tối ưu. Thời gian thực tập tuy ngắn nhưng đã giúp em tìm hiểu tình hình thực tế của công ty và mạnh dạn đưa ra một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tiên lương và các khoản trích theo lương của công ty XNK Vật tư tàu thủy. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

2.2 Một số ý kiến đóng góp:

2.2.1 Về hệ thống kế toán

Cần tổ chức phân công đúng người đúng việc một cách đồng đều, tránh tình trạng công việc bị trùng lặp, chồng chéo. Công ty XNK Vật tư tàu thủy là một công ty kinh doanh thương mại có rất nhiều nghiệp vụ kế toán, nếu ta chỉ sử dụng phần mềm excel thì khối lượng công việc rất nhiều, đôi khi các công thức tính toán khi sao chép từ nơi này sang nơi khác có thể lệch dòng: đưa ra báo cáo không chính xác, báo cáo không được đưa ra kịp thời do đó cần thiết sử dụng phần mềm kế toán.

Với phần mềm chỉ cần nhập dữ liệu đầu vào thì chương trình sẽ tự chạy các báo cáo. Một số phần mềm kế toán phổ biến hiện nay như: Fast Accounting, VietSun, METADATA, SAS INNOVA phiên bản 10.1R3….

Giảm bớt khối lượng công việc khối lượng ghi chép thông tin. Tạo điều kiện cho việc thu nhập, xử lý cung cấp thông tin nhanh chóng. Tạo niềm tin vào báo cáo tài chính mà công ty cung cấp.

Giảm sức lao động, giải phóng các kế toán viên khỏi việc tìm kiếm và kiểm tra việc thông tin số liệu, tăng giảm nhằm tiết kiệm nhiều thời gian.

Đồng thời công ty cũng phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ kế toán để có thể đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thời đại công nghệ phát triển, nâng cao hiệu quả và tính chính xác trong công việc.

2.2.2 Về công tác tổ chức tiền lương:

Việc chấm công cần phải quan tâm chặt chẽ tới đội ngũ lao động gián tiếp hưởng lương theo ngày công , nếu rõ trường hợp đi muộn về sớm thậm chí làm việc nửa ngày để đảm bảo sự công bằng cho những ngươì thực hiện nghiêm chỉnh giờ hành chính tại cơ quan.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Để xây dựng và phát triển một nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tiền lương và các khoản trích theo lương thực sự phải làm được chức năng là đòn bẩy kinh tế, phải trở thành động lực chính thúc đẩy tăng năng suất lao động, hiệu quả công việc. Mỗi hình thức trả lương đều có ưu điểm, nhược điểm riêng tuỳ từng ngành nghề, từng doanh nghiệp chọn cho mình một hình thức phù hợp nhất đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, tổng hoà giữa các lợi ích: Nhà nước, Doanh nghiệp và Người lao động.

Công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương đóng góp rất lớn trong quản lý lao động tiền lương. Nếu ta hạch toán đúng, đủ, chính xác sẽ là động lực thúc đẩy người lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy tính sáng tạo, góp phần hoàn thành kế hoạch được giao – là phương cách đúng đắn nhất để tăng thu nhập cho chính mình, tích luỹ cho doanh nghiệp và cho xã hội.

Trong điều kiện hiện nay việc nâng cao chất lượng công tác trả lương theo thời gian là nhiệm vụ lâu dài của các doanh nghiệp nói chung và công ty XNK Vật tư tàu thủy nói riêng để ngày càng hoàn thiện, phù hợp với công tác quản lý và hạch toán lao động.

Tuy nhiên trong tình hình kinh tế hiện nay, các chế độ ngân sách luôn thay đổi để phù hợp với tình hình kinh tế mới. Để thích nghi với sự thay đổi đó buộc các đơn vị, các doanh nghiệp cũng phải có những thay đổi theo để ngày càng hoàn thiện công tác quản lý và xây dựng tiền lương.

Vì thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế đặc biệt là thời gian tiếp xúc làm việc thực tế ít nên không tránh khỏi những sai sót và những biện pháp đưa ra chưa hoàn hảo. Kính mong được sự quan tâm, chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên để bài viết hoàn thiện hơn. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Công ty XNK.

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sĩ Lê Thị Nam Phương và các cô chú phòng Tài chính Kế toán công ty XNK Vật tư tàu thủy đã giúp đỡ em hoàn thành bài cáo thực tập của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Bảng cân đối kế toán tại Công ty Cảng Đoạn Xá

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x