Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển và đổi mới, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp không những quyết định sự tồn tại, phồn vinh của nền công nghiệp hiện đại hoá mà còn quyết định vị thế của đất nước lớn mạnh hay yếu kém. Vì vậy cần phải phát triển mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn. Để đạt được điều đó mỗi doanh nghiệp đều không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Nhưng làm thế nào để hạ được giá thành của sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, tạo được vị thế cạnh tranh, đẩy mạnh việc tiêu thụ và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp là một điều vô cùng khó khăn. Do đó các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những phần hành quan trọng của tổ chức kế toán, không chỉ có nhiệm vụ phản ánh chính xác kịp thời chi phí sản xuất, chính xác giá thành của sản phẩm mà còn phải tìm cách kiểm soát chặt chẽ các chi phí phát sinh ở từng bộ phận trong doanh nghiệp. Qua nguồn cung cấp số liệu của kế toán chi phí – giá thành các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra các phương án thích hợp giữa việc sản xuất kinh doanh cho đến việc xác định giá bán của sản phẩm được xem là một khâu quan trọng của kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất. Vì vậy việc hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.

  • Về mặt lý luận: Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.
  • Về mặt thực tế: Mô tả và phân tích thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành của sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

  • Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
  • Phạm vi nghiên cứu: Số liệu năm 2010 của phòng Kế toán tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

4. Phương pháp nghiên cứu.

  • Phương pháp chung: Bao gồm các phương pháp kế toán (phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá, …), các phương pháp phân tích kinh doanh (phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ), ngoài ra còn có phương pháp nghiên cứu tài liệu.
  • Phương pháp cụ thể: Kết hợp giữa mô tả, giải thích với bảng biểu và sơ đồ.

5. Kết cấu khóa luận.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương có nội dung như sau:

  • Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
  • Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.

1.1. Khái niệm và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.

1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.

Chi phí sản xuất kinh doanh là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp đã chi ra trong một kỳ nhất định để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh.

1.1.2. Nội dung kinh tế của chi phí sản xuất.

Chi phí sản xuất bao gồm tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ, … và chi phí nguyên vật liệu chính là những chi phí cơ bản cấu thành nên giá thành sản phẩm. Ngoài ra còn một số khoản chi phí khác như (các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản liên quan đến việc thuê tài sản.

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất, tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Để phục vụ cho nhu cầu quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất của doanh nghiệp luôn luôn được xác định một cách chính xác, cụ thể và tính toán bằng tiền được gắn với một thời gian nhất định (tháng, quý, năm).

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được xác định phụ thuộc vào hai nhân tố sau:

  • Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào việc sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định.
  • Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.

Thực chất của chi phí sản xuất là sự dịch chuyển vốn, dịch chuyển giá trị của các yếu tố đầu vào và được tập hợp cho từng đối tượng để tính giá thành sản phẩm, lao vụ hay dịch vụ.

1.2. Khái niệm và chức năng của giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

1.2.1.Khái niệm giá thành sản phẩm.

Giá thành sản phẩm được xác định bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh và những chi phí khác được dùng để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định.

Giá thành sản phẩm được xác định cho từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ cụ thể và chỉ tính toán xác định với số lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành (được gọi là thành phẩm) hay đã hoàn thành một giai đoạn công nghệ sản xuất (được gọi là bán thành phẩm).

1.2.1. Chức năng của giá thành sản phẩm.

Bản chất của giá thành sản phẩm là nội dung kinh tế chứa đựng bên trong của chỉ tiêu giá thành. Qua lịch sử về lý luận giá thành có thể thấy bản chất của giá thành được xác định theo các quan điểm sau:

  • Giá thành là sự hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được dùng để sản xuất một đơn vị hoặc một khối lượng sản phẩm nhất định.
  • Giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm.
  • Giá thành sản phẩm là biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa một bên là chi phí sản xuất, một bên là kết quả đạt được trong từng giai đoạn nhất định. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Từ các quan điểm trên ta có thể rút ra kết luận về bản chất của giá thành như sau: Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào sản phẩm, công việc lao vụ, dịch vụ nhất định đã được hành thành. Nếu chưa có sự dịch chuyển này thì không thể nói đến chi phí và giá thành sản phẩm. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ các khoản hao phí vật chất thực tế cần thiết được bù đắp, bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành giá trị sản phẩm.

  • Giá thành sản phẩm có 2 chức năng chủ yếu sau: chức năng bù đắp chi phí và chức năng lập giá.

Chức năng bù đắp chi phí: Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định phải được bù đắp đúng bằng số tiền thu được và tiêu thụ sản phẩm.

Chức năng lập giá: Giá bán phải có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được hao phí để thực hiện quá trình tái sản xuất. Giá bán của sản phẩm phải được dựa trên cơ sở giá thành để xác định giá thành sản phẩm là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xác định giá bán của sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn và lao động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời phản ánh kết quả các giải pháp tổ chức, kinh tế kỹ thuật cũng như công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động. Do đó giá thành là căn cứ đánh giá chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp.

  • Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất, chi phí là biểu hiện về mặt hao phí còn giá thành là biểu hiện về mặt kết quả của quá trình sản xuất. Nó được xem là hai mặt thống nhất của một quá trình. Vì thế chúng giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. tuy nhiên chúng vẫn có sự khác biệt đó là:

Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất định mà không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Còn giá thành sản phẩm là giới hạn chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm công việc, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.

Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau. Khi có chi phí sản xuất dở dang sự khác nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện ở công thức sau: Z = Dđk + C – Dck

Trong đó:

  • Z : Tổng giá thành sản phẩm
  • Dđk: Trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ
  • Dck: Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
  • C: Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

1.3. Phân loại chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều khoản khác nhau về nội dung, tính chất và công dụng. Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cũng như việc đưa ra các quyết định kinh doanh thì chi phí sản xuất cũng phải được phân loại cụ thể và rõ ràng. Tùy theo mục đích quản lý chi phí mà có những tiêu thức phân loại chi phí cho phù hợp.

1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí.

Để phục vụ cho việc quản lý chi phí theo nội dung kinh tế, địa điểm phát sinh thì chi phí được phân theo yếu tố và được chia thành 5 yếu tố chi phí như sau:

  • Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu và các chi phí nguyên vật liệu khác.
  • Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương theo quyết định của người lao động trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, chế tạo sản phẩm, thực hiện công tác lao vụ dịch vụ trong kỳ.
  • Chi phí khấu hao tài sản cố định trong kỳ: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
  • Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp đã chi trả cho các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như điện, nước, điện thoại.
  • Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.

Từ cách phân loại này cho biết được kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá các chỉ tiêu và tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất làm căn cứ để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính phục vụ cho yêu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp và lập dự toán chi phí sản xuất cho kỳ sau.

1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí.

Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong việc tính giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính toán, dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng, toàn bộ chi phí được tính theo khoản mục. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính (kể cả nửa thành phẩm mua ngoài), vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất sản phẩm.
  • Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ chi phí về tiền lương phụ cấp và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định.
  • Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi các phân xưởng tổ đội sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp), chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, ….

Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có ý nghĩa đối với công việc xác định phương thức kế toán, tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng đúng đắn, hợp lý, phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức đồng thời là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ tiếp theo.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU HẢI PHÒNG

2.1. Đặc điểm chung ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

Trước đây trong thời bao cấp, chỉ có cửa hàng bách hóa mậu dịch của Nhà nước nhằm phân phối lương thực – thực phẩm và mọi nhu yếu phẩm khác cho nhân dân. Trải qua nhiều năm bao cấp khiến nền kinh tế nước ta càng thêm lạc hậu, cuộc sống người dân càng thêm khó khăn. Đứng trước tình hình đó, Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp để nhân dân được hưởng đúng những gì mình bỏ công sức ra làm. Do đó cửa hàng thủ công nghiệp của huyện An Dương được chuyển thành công ty sản xuất và kinh doanh thủ công nghiệp – tiểu công nghiệp theo quyết định số 105 QĐ-UB của UBND thành phố Hải Phòng ngày 22/12/1986.

Cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, ngày 18/4/1994 theo Quyết định số 631/QĐ-UB-ĐMDN đã đổi tên và thêm chức năng, nhiệm vụ mới cho công ty là công ty sản xuất và kinh doanh hàng xuất nhập khẩu Hải Phòng. Cuối thập kỷ 80 và những năm đầu thập kỷ 90 khi Liên Xô và các nước Đông Âu tan vỡ, nơi mà trước đó là thị trường chính của công ty đã khiến công ty đứng trước hàng loạt khó khăn như: việc làm, thị trường, sự giao động của cán bộ công nhân viên đã làm cho công ty ngày càng khó khăn hơn.

Song với tinh thần lao động sáng tạo, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Bộ, công ty đã tìm ra được thị trường mới, đầu tư sản xuất thêm nhiều ngành nghề, đa dạng hóa các ngành nghề sản xuất.

Đất nước ngày càng mở rộng hội nhập với Thế Giới, Việt Nam chủ trương làm bạn với các nước trên Thế Giới. Sau này chúng ta bình thường hóa quan hệ với Mĩ, mở rộng làm ăn với liên minh EU, xúc tiến việc gia nhập WTO. Do đòi hỏi của việc hội nhập WTO Nhà nước đã có quyết định cổ phần hóa các công ty của Nhà nước để các công ty này phải tự kinh doanh có lãi, cạnh tranh lành mạnh, công bằng với các công ty tư nhân. Cùng với xu thế chung đó ngày 17/09/2004 công ty đã chuyển thành Công ty Cổ Phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng theo quyết định số 2231/QĐ – UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Sau khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp, công ty đã đi vào hoạt động theo luật doanh nghiệp. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn trước sự thay đổi chung của nền kinh tế Thế Giới và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng nhưng trước tiên nó đã đem lại được những kết quả khả quan như: sản xuất phát triển nhanh đáp ứng được nhu cầu về đời sống vật chất cũng như tinh thần của cán bộ công nhân viên trong công ty.

2.2. Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

2.2.1. Đặc điểm và cách phân loại chi phí sản xuất.

Chi phí sản xuất của công ty là biểu hiện bằng tiền về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, khấu hao TSCĐ, tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng và các chi phí khác trong kỳ hạch toán của công ty phục vụ cho quá trình sản xuất.

Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất của công ty được phân loại theo các khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các khoản mục sau:

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT): là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất ra sản phẩm bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, ….
  • Chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT): bao gồm tiền lương, các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất như BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.
  • Chi phí sản xuất chung (CPSXC): là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, các tổ sản xuất: chi phí dụng cụ sản xuất, khấu hao, điện, nước, ….

Theo mô hình này chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp được căn cứ vào các phiếu xuất kho NVL, bảng chấm công, bảng thanh toán lương và các khoản trích theo lương, … để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng kế toán cho từng đơn đặt hàng. Đối với chi phí sản xuất chung trong trường hợp mỗi phân xưởng chỉ sản xuất một đơn hàng thì chi phí sản xuất chung tập hợp cho từng đơn hàng. Trường hợp phân xưởng sản xuất nhiều đơn hàng thì chi phí sản xuất chung tập hợp cho từng phân xưởng sau đó phân bổ cho từng đơn hàng theo tiêu chuẩn quy định.

2.2.2. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.  Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

  • Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:

Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất được xác định là từng phân xưởng sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh kể từ lúc bắt đầu thực hiện đơn hàng đến khi giao hàng cho khách hàng. Mỗi đơn hàng có thể là một sản phẩm hay một loại sản phẩm.

  • Đối tượng tính giá thành sản phẩm.

Đối tượng tính giá thành là đối tượng hao phí vật chất mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất đã được kết tinh trong đó nhằm định lượng hao phí vật chất cần được bù đắp cũng như tính toán được kết quả sản xuất kinh doanh.

Để phù hợp với đặc điểm của tổ chức sản xuất, công ty xác định đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng.

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU HẢI PHÒNG.

3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng.

Là một công ty Nhà Nước được chuyển đổi thành công ty Cổ phần vào năm 2004. Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng đã dần từng bước thoát khỏi những khó khăn ban đầu và đang trên đà phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Cuối năm 2010 công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh với doanh thu đạt trên 19 tỷ đồng, hoàn thành tốt nghĩa vụ của Nhà nước không ngừng cải thiện và từng bước nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty. Để đạt được những thành tựu đó không thể không kể đến sự cố gắng nỗ lực trong công tác quản lý của đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty.

Bên cạnh việc tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ, hợp lý hóa sản xuất, nghiên cứu và vận dụng các biện pháp quản lý kinh tế công ty đã xây dựng được công tác nói chung và công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và trở thành một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế và quản lý doanh nghiệp.

Là một sinh viên thực tập và cũng là lần đầu tiên được làm quen với thực tế, em xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhận xét đánh giá về những ưu điểm mà công ty đã đạt được và một số những mặt hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện trong tổ chức công tác kế toán nói chung và trong kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng như sau: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

3.1.1. Những ưu điểm.

  • Thứ nhất: Về tổ chức bộ máy quản lý:

Công ty đã xây dựng bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến – chức năng. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty tương đối gọn nhẹ, hợp lý. Các phòng ban chức năng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong công tác thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng như các hoạt động khác, cung cấp kịp thời chính xác các thông tin cần thiết cho Ban lãnh đạo công ty. Mỗi nhân viên trong công ty được gắn bó vào hoạt động chuyên nghiệp, điều này cho phép họ thực hiện và tích lũy được những kinh nghiệm phát huy được năng lực sở trường để thực hiện công việc có hiệu quả cao.

  • Thứ hai: Về tổ chức công tác kế toán.

Tổ chức công tác kế toán được thực hiện theo chế độ kế toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ – BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006.

Để đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời mọi hoạt động kinh tế phát sinh nên ngay từ công việc hạch toán ban đầu, kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của các chứng từ gốc được tiến hành khá cẩn thận, đảm bảo cho các số liệu kế toán có căn cứ pháp lý, hạn chế được sự phản ánh sai lệch của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ kế toán. Hệ thống chứng từ theo đúng quy định, các yếu tố trong chứng từ đầy đủ, chính xác đảm bảo đủ căn cứ cho việc ghi chép. Chế độ lập và luân chuyển chứng từ hợp lý, gọn nhẹ.

Hệ thống tài khoản kế toán sử dụng khá linh hoạt, chi tiết, rõ ràng. Bên cạnh đó các tài khoản kế toán còn được công ty chi tiết thành các tiểu khoản một cách hợp lý phù hợp với quy mô sản xuất đặc điểm kinh doanh. Trên cơ sở hệ thống tài khoản này mà trình tự các phần hành kế toán trong công ty được xây dựng khá tách bạch, các báo cáo tài chính đã được lập kịp thời và đầy đủ phù hợp với quy định về công tác kế toán từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản lý một cách nhanh chóng, chính xác và khao học nhất.

Về hệ thống sổ sách kế toán hợp lý và khoa học trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc của chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với trình độ của đội ngũ kế toán và phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty.

  • Thứ ba: Về hình thức kế toán áp dụng. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung. Đây là hình thức phù hợp với quy mô sản xuất của công ty là hình thức vừa và nhỏ. Hình thức Nhật ký chung có ưu điểm là dễ làm, dễ hiểu, dễ đối chiếu kiểm tra, số lượng sổ sách sử dụng ít và đảm bảo tính thống nhất, dễ ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý dữ liệu kế toán.

  • Thứ tư: Về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành.

Nhận thức tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, công ty đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm quy trình và đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty.

Công việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty được giao cho nhân viên kế toán có trình độ nghiệp vụ cao, được thực hiện theo định kỳ nhằm cung cấp đầy đủ số liệu phục vụ tốt công tác chỉ đạo về chi phí sản xuất, quản lý giá thành và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

  • Thứ năm: Về công tác kế toán chi phí sản xuất – tính giá thành sản phẩm.

Đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công ty đã tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đảm bảo tuân thủ đúng chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện của công ty đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý tạo điều kiện để công ty thực hiện tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

Công ty áp dụng kỳ tính giá thành là hàng tháng để đảm bảo cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết đến chi phí giá thành cho lãnh đạo, giúp lãnh đạo nhanh chóng có những quyết định hợp lý, đúng đắn trong việc chỉ đạo sản xuất và tiệu thụ sản phẩm. Ngoài ra còn giúp cho việc phân tích giá thành nhanh chóng tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự tăng giảm giá thành giữa các tháng từ đó giúp cho nhà lãnh đạo nắm bắt được chính xác tình hình thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh và đưa ra những quyết định hợp lý.

Chi phí sản xuất được tập hợp thành 3 khoản mục là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung đã đáp ứng được các nhu cầu quản lý tổ chức tại công ty.

3.1.2. Những mặt hạn chế. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Bên cạnh nhũng ưu điểm đó, công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng có một số mặt hạn chế nhất định chưa được hoàn chỉnh, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nên cần được xem xét và có những phương hướng, biện pháp để hoàn thiện hơn nữa.

  • Thứ nhất: Về phương pháp tính giá vật liệu xuất kho.

Để tính giá xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng lựa chọn phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ. Đây là phương pháp khá phổ biến được nhiều doanh nghiệp áp dụng.

Phương pháp này giúp cho kế toán có nhiều thuận lợi cũng như đơn giản trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, song về góc độ quản lý thì phương pháp bình quân gia quyền mà công ty áp dụng không đảm bảo được tính kịp thời trong việc cung cấp thông tin. Cuối tháng, kế toán mới tính được giá trị nguyên vật liệu, công cụ xuất kho. Do vậy không thấy được sự biến động về giá trị của từng loại vật liệu xuất kho để điều chỉnh cho hợp lý. Hơn nữa với số lượng nguyên vật liệu đa dạng nên khối lượng công việc kế toán bị dồn nhiều vào cuối tháng.

Trong khi đó công ty sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho, tức là đòi hỏi phải phán ánh liên tục tình hình nhập – xuất – tồn kho vật tư trên sổ kế toán. Vì vậy việc sử dụng tính giá xuất kho như hiện nay sẽ ảnh hưởng đến tính kịp thời các quyết định quản lý từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.

  • Thứ hai: Về mặt thiệt hại trong sản xuất.

Trong quá trình sản xuất tại công ty có những phát sinh thiệt hại trong quá trình sản xuất như: thiệt hại ngừng sản xuất và thiệt hại sản phẩm bị hỏng.

Thiệt hại trong việc ngừng sản xuất do các nguyên nhân khách quan sau: mất điện, máy móc bị hỏng chưa kịp sửa chữa, …. Nhưng khi tình trạng này xảy ra, công ty có những biện pháp khắc phục tạm thời như sử dụng máy phát điện, cho công nhân làm tăng ca sau khi máy sửa chữa xong vì vậy khi phát sinh những thiệt hại này là không đáng kể. Do đó công ty không tổ chức hạch toán riêng những khoản thiệt hại này mà hạch toán chung vào chi phí chung sản xuất trong kỳ.

Thiệt hại sản phẩm bị lỗi là do các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Sản phẩm bị hỏng là những sản phẩm đã sản xuất xong nhưng có những sai phạm về mặt kỹ thuật liên quan đến chất lượng, mẫu mã, quy cách. Sản phẩm bị hỏng tại công ty có những sản phẩm sửa chữa được nhưng cũng có những sản phẩm không sửa chữa được. Công ty đã xây dựng được định mức chi phí hợp lý nên sản phẩm hỏng được hạn chế. Do đội ngũ công nhân trong công ty có tay nghề cao nên khoản thiệt hại này trong công ty không xảy ra thường xuyên và phát sinh ít nên công ty không tổ chức hạch toán riêng mà hạch toán chung vào chi phí sản xuất chung trong kỳ.

Tuy nhiên các khoản thiệt hại này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, vì vậy phải yêu cầu giảm bớt tối đa các khoản thiệt hại là rất cần thiết. Kế toán nên tổ chức hạch toán đầy đủ các khoản thiệt hại xảy ra, nguyên nhân gây ra thiệt hại và người chịu trách nhiệm gây thiệt hại, có thể xử lý đúng người đúng việc nâng cao ý thức của người lao động trong quá trình sản xuất nhằm góp phần hạn chế những khoản thiệt hại đó.

3.2. Tính tất yếu phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay, cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt hơn. Để cạnh tranh và tạo chỗ đứng trên thị trường các doanh nghiệp phải đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã sao cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, quan trọng hơn là giá cả của sản phẩm không quá cao. Sản phẩm đạt chất lượng tốt, giá thành hạ sẽ là tiền đề tích cực giúp cho danh nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay vốn và đem lại lợi nhuận ngày càng nhiều, từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng tích lũy và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên.

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu quan trọng, là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nó cũng là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh, là căn cứ đẻ lựa chọn và quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra để đem lại lợi nhuận lớn nhất cho công ty. Thông qua chỉ tiêu này các nhà quản lý sẽ nắm bắt được chi phí, giá thành sản phẩm thực tế của từng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có thể phân tích nhận xét và đánh giá tình hình thực hiện các định mức, tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn để kịp thời đưa ra biện pháp nhằm hạ thấp chi phí tăng thu nhập cho doanh nghiệp, định hướng cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn. Với vai trò như trên kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đã trở thành một khâu quan trọng trong toàn bộ công tác hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất.

Trước yêu cầu đổi mới, công ty nên có biện pháp hạch toán phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp, cập nhật các chuẩn mực kế toán mới, các thông tư hướng dẫn và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong công tác kế toán. Như vậy, sự hoàn thiện của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm góp phần không nhỏ vào sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm để tăng cường hiệu quả kế toán cũng như quản trị doanh nghiệp, góp phần tăng sức mạnh của doanh nghiệp.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ quá trình hạch toán kế toán của mỗi doanh nghiệp. Hạch toán đầy đủ, kịp thời, chính xác các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ tạo điều kiện cho việc tính giá thành chính xác, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời nhằm đưa ra các biện pháp thiết thực để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đó chính là mục tiêu mà mọi doanh nghiệp cần hướng tới và cũng là những nhân tố chính giúp doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường như hiện nay.

Việc nghiên cứu tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng đã giúp em hiểu thêm thực tế về công tác hạch toán chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm tại công ty và tầm quan trọng của nó. Khóa luận đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất, nghiên cứu và đánh giá chân thực nhất về tổ chức kế toán này tại công ty đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại công ty.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do trình độ lý luận cũng như thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có thể khắc phục được những thiếu sót đó.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Ths. Nguyễn Đức Kiên và các cô, chú cán bộ phòng kế toán của Công ty Cổ phần sản xuất và xuất nhập khẩu Hải Phòng đã hướng dẫn tận tình và tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Thành Hưng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x