Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Truyền thông Marketing đang tác động đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống, là yếu tố sống còn không chỉ của các tổ chức kinh doanh mà còn ảnh hưởng rất lớn đến các tổ chức phi lợi nhuận, trong đó có lĩnh vực hoạt động thông tin – thư viện (TTTV).

Trong các yếu tố cấu thành hoạt động thông tin – thư viện, sản phẩm và dịch vụ thông tin (SP&DVTT) đóng vai trò quyết định. SP&DV Thông tin – thư viện là kết quả của quy trình xử lý, bao gói thông tin, là cầu nối giữa giá trị nguồn lực thông tin và người dùng tin (NDT). Thông qua sản phẩm và dịch vụ thông tin, các cơ quan có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí của mình trong xã hội. Bên cạnh đó nhu cầu giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các thư viện trong và ngoài nước đòi hỏi các cơ quan thông tin – thư viện cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin với chất lượng ngày một cao hơn, chính xác và kịp thời tới Người dùng tin. Đó cũng chính là lý do vì sao Sản phẩm và dịch vụ thông tin cần được truyền thông marketing nhằm thực hiện chiến lược kế hoạch hoạt động của mỗi cơ quan thông tin thư viện, hướng tới xây dựng hình ảnh của thư viện trong cộng đồng. Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Các hình thức truyền thông marketing sẽ giúp mỗi cơ quan thông tin thư viện hiểu được nhu cầu, mong muốn của người dùng tin và cách thức để đáp ứng nhu cầu thông tin của họ trong từng thời kỳ phát triển. Marketing giúp thư viện định vị hình ảnh của mình với người dùng tin (NDT), lãnh đạo các cấp và các nhà tài trợ. Hơn thế nữa, một trong những nhiệm vụ của truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin trong hoạt động Thông tin – thư viện là nghiên cứu về sự vận động, thay đổi nhu cầu thông tin cũng như sự phân bố, phát triển lượng Người dùng tin. Mục đích cuối cùng của truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ Thông tin – thư viện là kích thích có hướng đích tới nhu cầu thông tin, giúp cho thư viện thích nghi với sự thay đổi các nhu cầu của Người dùng tin để tạo lập, cung cấp những Sản phẩm và dịch vụ thông tin đầy đủ, chất lượng phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Người dùng tin. Vì vậy, truyền thông marketing được xem như hoạt động cốt lõi để nâng cao chất lượng của hoạt động Thông tin – thư viện.

Thư viện tỉnh Bắc Ninh là thư viện công cộng lớn nhất của tỉnh Bắc Ninh và đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tin của cộng đồng dân cư đa dạng phong phú về trình độ, lĩnh vực hoạt động, đặc điểm và nhu cầu sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin. Hoạt động truyền thông marketing tại thư viện tỉnh Bắc Ninh đã được ban lãnh đạo Thư viện quan tâm và đạt được nhiều thành tựu nhất định góp phần định hình hình ảnh của Thư viện với cộng đồng. Thư viện tỉnh Bắc Ninh đã, đang sử dụng kết hợp nhiều công cụ truyền thông marketing hướng tới Người dùng tin như: Mạng xã hội, trang web, sự kiện,…Chính điều đó tạo nên hình ảnh một thư viện công cộng uy tín với số lượng, chất lượng Sản phẩm và dịch vụ thông tin có khả năng đáp ứng sự đa dạng phong phú trong nhu cầu của Người dùng tin tại tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên trong thực tế hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định do ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan và khách quan. Với mong muốn giúp Thư viện tỉnh Bắc Ninh nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin, tác giả chọn đề tài: “Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Năm 1969, Tạp chí Marketing lần đầu tiên đăng bài viết “Marketing cho các tổ chức phi lợi nhuận” do Philip Kotler và Sidney Levy công bố tạo tiền đề cho các nghiên cứu marketing trong thư viện. Ngay sau đó vào những năm 70 của thế kỷ XX, đã có 02 bài bài báo, 08 bài tạp chí, 11 cuốn sách về hoạt động marketing trong thư viện được những cá nhân và tổ chức công bố, trong đó có IFLA. Trên thế giới, một số công trình nghiên cứu tại các cơ quan Thông tin – Thư viện đã nêu lên ứng dụng marketing và thực tiễn hoạt động Thông tin – Thư viện như: Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Marketing information technology (IT) product and services through libraries: Malaysia experiences – Báo cáo giới thiệu kinh nghiệm thực hiện Marketing của Thư viện Quốc gia Malaysia tại Hội nghị thường niên lần thứ 64, năm 1998 của tổ chức IFLA tại Amsterdam. Báo cáo trình bày tiến trình nghiên cứu và triển khai chiến lược Marketing các sản phẩm và dịch vụ thư viện có ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực thỏa mãn nhu cầu tin của Thư viện Quốc gia Malaysia đối với người dùng tin hiện tại và tiềm năng.

Marketing reference service of public libraries in developing regions – Báo cáo thường niên lần thứ 72 năm 2006 do IFLA tổ chức tại Seoul. Công trình này đã làm tăng số lượng người dùng tin là các doanh nghiệp cho các thư viện công cộng.

Marketing and promotion of library services (ASP conference Series, Vol 153, 1998) – Bài viết của tác giả Julie Nicholas, Đại học Cambridge, Anh Quốc đã bàn về khái niệm marketing trong thư viện và những ứng dụng của nó đối với thư viện trường đại học.

Trong các công trình trên có đề cập đến mảng truyền thông marketing. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về hoạt động truyền thông marketing như: Bài trích “Marketing the academic library on the web” của tác giả Kiran Kaur phản ánh về một số phương thức tiếp thị hoạt động thư viện trên website

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 

Tình hình nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện được đề cập tương đối đầy đủ và bao quát ở một số tài liệu như: Trần Minh Tâm [15], Thạch Lương Giang [4], Vũ Duy Hiệp [7]. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về Sản phẩm và dịch vụ thông tin, các đề tài đã phát triển một số loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả đáp nhu cầu của người dùng trong xã hội.

Vấn đề truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại các cơ quan Thông tin – thư viện đang được nghiên cứu và ứng dụng một cách nhanh chóng trong hoạt động Thông tin – thư viện. Vấn đề trên được nhiều tác giả đề cập trong các sản phẩm khoa học có giá trị như, sách, báo – tạp chí, luận văn như: Trương Thị Cúc [2]; Đào Thị Phương Thảo [16], Dương Thị Phương Chi [1],Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Các bài viết về Thư viện tỉnh Bắc Ninh gồm một số đề tài khoa học, báo cáo thực tập và những bài đăng trên các trang thông tin điện tử.  Một số công trình nghiên cứu cụ thể của các tác giả: Phạm Thị Thu Huyền [9], Nguyễn Thùy Dương [3]. Các đề tài trên tập trung vào nghiên cứu thực trạng một số hoạt động nghiệp vụ Thông tin – thư viện đặc trưng của Thư viện tỉnh Bắc Ninh như: Xử lý nội dung tài liệu, phát triển nguồn lực thông tin, các Sản phẩm và dịch vụ thông tin, nhu cầu thông tin địa chí của bạn đọc,…Với mỗi đề tài, các tác giả đã đưa ra nhận định và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Thư viện tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, một số bài viết trên trang tin điện tử của các cơ quan ngôn luận như: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Thư viện tỉnh Bắc Ninh, Sở văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Bắc Ninh,… cũng đã giới thiệu các thành tựu trong tổ chức và hoạt động của Thư viện tỉnh Bắc Ninh nhằm thông tin đến bạn đọc kịp thời.

Qua lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện về công tác truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy “Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh” là công trình đã xác định được điểm mới trong nội dung nghiên cứu, có sự kế thừa nhưng không trùng lặp với các công trình đã được công bố.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hình thức (công cụ) truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vị không gian: Thư viện tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vị thời gian: 2022 – 2023.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh, từ đó đánh giá ưu điểm và hạn chế trong triển khai hoạt động truyền thông marketing hướng đến Người dùng tin, tác giả đề xuất giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông marketing các Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh.

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

  • Hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động truyền thông marketing đối với Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh.
  • Nghiên cứu thực trạng của hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh.
  • Đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin của Thư viện tỉnh Bắc Ninh.
  • Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh.

5. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Phương pháp luận: khóa luận sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động thông tin – thư viện.

  • Phương pháp cụ thể:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

  • Phương pháp điều tra xã hội học:

Thiết kế bảng hỏi: Xây dựng phiếu hỏi trực tuyến nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh.

Tác giả đã chọn mẫu theo tỷ lệ 15% tương ứng với số lượng Người dùng tin đã đăng ký sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh (thông qua thẻ bạn đọc) tính đến thời điểm nghiên cứu.

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Xử lý các kết quả khảo sát và số liệu điều tra thực tế qua hoạt động thực tập trực tiếp tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh.

Phương pháp phân tích và tổng hợp thông tin: Phân tích và tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau như: học liệu, bài nghiên cứu và các thông tin khảo sát từ đó tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông marketing tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh có sự đối chiếu so sánh với giai đoạn trước năm 2022.

Phương pháp quan sát: Tác giả dành nhiều thời gian quan sát nhân lực thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh xây dựng chiến lược và thực hiện các hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin dành cho Người dùng tin.

Phương pháp phỏng vấn: Tác giả tiến hành phỏng vấn một số nhân lực thông tin chủ chốt nhằm tìm hiểu ưu điểm và hạn chế trong hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động truyền thông với Người dùng tin và đề xuất giải pháp phù hợp với thực trạng của thư viện tỉnh Bắc Ninh.

6. Giả thuyết nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin là hoạt động quan trọng giúp cơ quan Thông tin – thư viện thu hút Người dùng tin sử dụng nguồn lực thông tin của Thư viện. Tuy nhiên, hiệu quả truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua chưa cao. Qua đó, có thể thấy việc xác định chiến lược và phương pháp thực hiện còn hạn chế. Chính vì vậy, xây dựng một hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Tỉnh Bắc Ninh sẽ giải quyết được những tồn tại nêu trên.

7. Ý nghĩa của khóa luận

  • Về mặt lý luận:

Khóa luận làm rõ các vấn đề lý luận về truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin trong hoạt động Thông tin – thư viện.

  • Về mặt thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giúp hoàn thiện công tác truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện công cộng nói chung và Thư viện Tỉnh Bắc Ninh nói riêng.

Khóa luận có thể đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về chủ đề truyền thông marketing trong hoạt động Thông tin – thư viện của các độc giả có nhu cầu.

8. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
  • Chương 2: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh
  • Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Khái niệm marketing và marketing trong cơ quan Thông tin – thư viện

  • Marketing 

Marketing xuất hiện từ khi nền công nghiệp phát triển, thúc đẩy sản xuất tăng nhanh và làm cho cung hàng hóa có xu hướng vượt cầu. Marketing được định nghĩa dưới nhiều góc đọ khác nhau như:

Theo Philip Kotler – một chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, thương mại định nghĩa: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác” [13].

Hiệp hội Marketing Mỹ AMA lại cho rằng: “Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình nhằm tạo ra, trao đổi. truyền tải các giá trị đến khách hàng, nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và thành viên trong hội đồng cổ đông” [8].

Từ định nghĩa có thể hiểu bản chất của hoạt động marketing là một tập hợp các hoạt động nghiên cứu, phân tích, tìm ra những nhu cầu của Người dùng tin và xây dựng các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu đó.

  • Marketing trong cơ quan thông tin – thư viện 

Từ điển giải thích thuật ngữ Thư viện học và Tin học – ALA quan niệm “Marketing thông tin thư viện là tất cả các hoạt động có mục đích cổ vũ cho sự trao đổi và đáp ứng giữa nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông với những người đang sử dụng những dịch vụ này” [8]. Marketing trong cơ quan thông tin thư viện thuộc nhóm marketing phi lợi nhuận nhằm cung cấp các Sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ nhu cầu của Người dùng tin. Các Sản phẩm và dịch vụ thông tin được cung cấp tới Người dùng tin thông qua hoạt động quảng cáo thư viện.

1.1.2. Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Trong quá trình hình thành và phát triển đã có nhiều nhận định khác nhau về hai khái niệm “sản phẩm thông tin” và “dịch vụ thông tin”. Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu sau đây:

1.1.2.1. Sản phẩm thông tin 

Trong giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện”, tác giả Trần Mạnh Tuấn cũng cho rằng: “Sản phẩm thông tin – thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cá nhân/tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của Người dùng tin” [19]. Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm là quá trình xử lý thông tin bao gồm: phân loại, biên mục, định từ khóa, tóm tắt…cũng như quá trình phân tích, tổng hợp thông tin. Sản phẩm thông tin có hai loại:

  • SPTT toàn văn: dạng in (sách, báo, tạp chí, tài liệu nội sinh, đề tài nghiên cứu khoa học, tranh ảnh, bản đồ…); dạng điện tử (phim, băng, đĩa, hình ảnh động…).
  • SPTT thư mục: mục lục, thư mục, cơ sở dữ liệu…

1.1.2.2. Dịch vụ thông tin 

Theo chuyên gia thông tin người Mỹ – Stuart A. Sutton: “Dịch vụ thông tin là những dịch vụ được cung cấp để đáp ứng nhu cầu của một số tổ chức hoặc cá nhân, trong đó cần thiết phải có mối quan hệ người thực hiện dịch vụ – khách hàng và cung cấp thông tin chọn lọc thỏa mãn yêu cầu” [14].

Theo Trần Mạnh Tuấn “Dịch vụ thông tin bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin – thư viện nói chung” [19].

Như vậy, có thể khái quát dịch vụ thông tin như sau: Dịch vụ thông tin bao gồm những hoạt động của cơ quan thông tin – thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin.

Dựa vào đặc điểm và chức năng của dịch vụ thông tin, có thể chia Dịch vụ thông tin làm 3 nhóm:

  • Nhóm dịch vụ cung cấp thông tin: dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ dịch tài liệu. dịch vụ tra cứu thông tin, dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc.
  • Nhóm dịch vụ trao đổi thông tin: hội nghị, hội thảo, triển lãm.
  • Nhóm dịch vụ tư vấn: hướng dẫn sử dụng sản phẩm, đào tạo Người dùng tin,…

Dựa vào phương thức thực hiện dịch vụ, có thể chia làm 2 loại dịch vụ:

  • Dịch vụ thông tin truyền thống: dịch vụ đọc tại chỗ, dịch vụ mượn về nhà, dịch vụ tra cứu tin.
  • Dịch vụ thông tin hiện đại: dịch vụ khái thác tài liệu đa phương tiện, dịch vụ mượn tài liệu qua mạng, dịch vụ tra cứu số.

Từ những khái niệm về Sản phẩm và dịch vụ thông tin, có thể thấy mối quan hệ hết sức chặt chẽ, tác động, hỗ trợ nhau giữa hai yếu tố là sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin. Mỗi sản phẩm thông tin được ra đời đều cần có một hoặc một số dịch vụ thông tin đi kèm để giúp Người dùng tin tiếp cận và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin của các thư viện.

1.1.3. Khái niệm truyền thông marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin

Truyền thông marketing là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động thực tiễn của nền sản xuất. Một số định nghĩa về truyền thông marketing: Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Truyền thông Marketing – Marketing Communication (viết tắt: Marcom) là phương tiện được các công ty sử dụng để truyền tải thông điệp về sản phẩm và thương hiệu của họ, trực tiếp hoặc gián tiếp đến khách hàng với mục đích thuyết phục họ mua hàng. Nói cách khác, phương tiện mà một công ty sử dụng để trao đổi thông tin về hàng hóa và dịch vụ của họ cho khách hàng được gọi là Truyền thông Marketing” [5].

Truyền thông Marketing (Marketing Communication) là một phần căn bản và không thể thiếu trong những nỗ lực tiếp thị của một doanh nghiệp. Nói một cách đơn giản, truyền thông trong Marketing có thể được mô tả như là tất cả các thông điệp và phương tiện truyền thông mà doanh nghiệp có thể triển khai để tiếp cận tới thị trường tiềm năng của mình” [6]. Có rất nhiều hình thức truyền thông Marketing khác nhau như: truyền thông một cách trực tiếp (mặt đối mặt, sử dụng đội ngũ bán hàng, thông qua trung tâm dịch vụ điện thoại) hoặc truyền thông một cách gián tiếp (sử dụng hoạt động thúc đẩy thương mại, quảng cáo, truyền thông điện tử hay là các vật dụng trưng bày tại điểm bán).

Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin như sau: Truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin là hệ thống các hoạt động có mục đích nhằm quảng cáo, giới thiệu các Sản phẩm và dịch vụ thông tin làm thỏa mãn nhu cầu tin của Người dùng tin tại một cơ quan Thông tin – thư viện.

1.2. Vai trò của hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin

Marketing trong hoạt động Thông tin – thư viện là một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu của Người dùng tin, từ đó thiết kế các ấn phẩm phù hợp, cách tiếp cận phù hợp, đồng thời là biện pháp tuyên tuyền, quảng bá tài nguyên thông tin phù hợp với Người dùng tin. Marketing giúp nâng cao khả năng thấu hiểu và tiếp cận Người dùng tin của thư viện. Mục tiêu quan trọng nhất của marketing thư viện là nâng cao hiệu quả hoạt động, thông qua đó, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của Người dùng tin, mang lại giá trị lớn hơn cho xã hội.

Ở nước ta hiện nay, thư viện được xem như cơ quan văn hóa giáo dục thực hiện nhiệm vụ phổ biến thông tin, tri thức, giúp Người dùng tin tự nâng cao trình độ; tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho Người dùng tin thông qua việc tuyên truyền, giới thiệu các tác phẩm văn học nghệ thuật; đồng thời cung cấp các tài liệu giúp cho Người dùng tin giải trí một cách tích cực. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, thư viện không những cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt mà còn cần tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông marketing các dịch vụ và sản phẩm của mình. Điều đó mang lại những hiệu quả tích cực với bản thân mỗi cơ quan Thông tin – thư viện và Người dùng tin, thể hiện ở các khía cạnh sau [2]: Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Thứ nhất, truyền thông marketing sẽ làm thỏa mãn nhu cầu tin cho Người dùng tin một cách tốt nhất, từ đó xây dựng các dịch vụ và tạo ra các sản phẩm thông tin phù hợp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của họ. Với lý do này, truyền thông marketing có mối quan hệ hai chiều, một mặt giúp người làm thư viện nắm được nhu cầu tin của Người dùng tin, mặt khác giúp Người dùng tin nhận biết các dịch vụ và sản phẩm thông tin có giá trị trong thư viện.

Thứ hai, truyền thông marketing sẽ làm tăng tính cạnh tranh của các cơ quan Thông tin – thư viện. Thư viện cần tìm ra cách để Người dùng tin nhận biết được các sản phẩm và dịch vụ của mình có những yếu tố nào ưu việt hơn để tạo nên lợi thế cạnh tranh so với các nơi khác (có thể là ưu việt hơn so với việc tìm đến một cơ quan Thông tin – thư viện khác hoặc tìm kiếm trên internet). Điều này giúp cho Người dùng tin dễ dàng hơn trong việc xác định và tìm kiếm một sản phẩm tại thư viện. Nó tăng cường sự liên kết giữa một sản phẩm với một hoặc một số đặc tính của sản phẩm đó. Và nó cũng giúp Người dùng tin nhận biết được sự khác biệt giữa các sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của họ. Ví dụ: dịch vụ dịch thuật giúp Người dùng tin có thể đọc tài liệu bằng tiếng mẹ đẻ, dịch vụ tra cứu trợ giúp có thể trả lời các yêu cầu tin, dịch vụ mượn, trả sách giúp Người dùng tin có thể mang sách về nhà.

Thứ ba, thúc đẩy Người dùng tin khai thác, sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin. Truyền thông marketing giúp cho Người dùng tin nhận biết về các Sản phẩm và dịch vụ thông tin mà thư viện có và chất lượng của chúng, từ đó giúp Người dùng tin nắm bắt từng Sản phẩm và dịch vụ thông tin, hướng dẫn Người dùng tin sử dụng, khai thác sao cho đạt hiệu quả tối ưu.

Thứ tư, cơ quan Thông tin – thư viện nắm bắt tốt nhu cầu tin để từ đó tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp với từng nhóm Người dùng tin.

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ cốt lõi của mỗi thư viện là thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của bạn đọc và truyền thông marketing là bước đệm nhằm thực hiện chiến lược và kế hoạch hoạt động của cơ quan Thông tin – thư viện. Nhân lực thư viện cần tích cực, chủ động sử dụng các công cụ/kênh truyền thông khác nhau và kết hợp linh hoạt đa dạng các công cụ/kênh truyền thông nhằm giới thiệu các Sản phẩm và dịch vụ thông tin đến Người dùng tin và tạo lập mối quan hệ với họ. Với lý do này, truyền thông marketing không những giúp nhân lực nắm được nhu cầu tin của Người dùng tin mà còn giúp Người dùng tin nhận biết các Sản phẩm và dịch vụ thông tin có giá trị trong thư viện.

1.3. Hình thức truyền thông Marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

1.3.1. Truyền thông qua Internet

Internet là môi trường truyền thông marketing hiệu quả đối với các cơ quan thông tin – thư viện bởi nó có thể giới thiệu hình ảnh, chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin một cách rộng rãi tới Người dùng tin, cho phép kết nối, giao tiếp với người dùng ở mọi lúc mọi nơi. Một số kênh truyền thông trên internet như: website, facebook, youtube, zalo,…

Truyền thông marketing qua Internet có thể là những hoạt động như: Những hoạt động chia sẻ ảnh, viết blog, trò chơi xã hội, mạng xã hội, chia sẻ video, mạng lưới kinh doanh, thế giới ảo, đánh giá,… những hoạt động này sẽ giúp doanh nghiệp hay cơ quan thông tin thư viện tương tác được với  khách hàng cũng như là tương tác và quảng cáo được sản  phẩm và dịch vụ thông tin của thư viện tới Người dùng tin.

Truyền thông marketing qua internet là hình thức thực hiện các hoạt động marketing trên mạng internet thông qua việc sử dụng các kênh truyền thông nhằm mục đích xây dựng thương hiện và quảng bá sản phẩm hoặc dịch vụ. Nhận biết được sự phổ biến và phát triển của hình thức truyền thông marketing qua internet, các cơ quan Thông tin – thư viện vẫn đang trong quá trình tìm kiếm nhiều loại kênh truyền thông khác nhau để triển khai chiến lược. Dựa trên tính chất, có thể phân chia thành các loại hình truyền thông marketing qua internet như sau:

  • Truyền thông qua website

Website còn gọi là trang web hoặc trang mạng và nội dung liên quan được xác định bằng một tên miền chung và được xuất bản trên ít nhất một máy chủ web. Đây là hình thức được sử dụng khá phổ biến trong các hoạt động truyền thông marketing tại các cơ quan thông tin – thư viện nước ta hiện nay. Website được ví như “bộ mắt trực tuyến” của cơ quan Thông tin – thư viện. Đây là nơi Người dùng tin thấy được tất cả các thông tin liên quan cũng như sản phẩm, dịch vụ thông tin mà thư viện cung cấp. Để truyền thông marketing hiệu quả trên website, thư viện cần thực hiện:

Tối ưu hóa trải nghiệm trên website: cải thiện tốc độ load trang, tối ưu giao diện, website phù hợp với thiết bị di động,…

Xây dựng nội dung có giá trị: Đó là những thông tin có giá trị và cập nhật được truyền tải theo các hình thức trình bày khác nhau như: Hình ảnh, âm thanh, văn bản, clip. Muốn xây dựng nội dung có giá trị, thư viện cần có một đội ngũ nhân lực có kinh nghiệm, trình độ sử dụng công nghệ truyền thông marketing và tạo lập được các tiêu chí trong lựa chọn, xác định giá trị của thông tin sẽ được đăng tải lên trang web. Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

SEO website: quá trình tối ưu nội dung trang web giúp các công cụ tìm kiếm hiểu nội dung của trang và xếp hạng trong kết quả tìm kiếm cho các từ khóa mục tiêu của nội dung trang web.

Google Ads: chiến lược tiếp thị trả phí cho google để đứng vị trí cao trên trang tìm kiếm.

  • Truyền thông qua facebook

Với phương châm chinh phục mọi đối tượng Người dùng tin, facebook luôn được làm mới với đầy đủ những công cụ và tính năng hỗ trợ cho các công việc khác nhau. Tạo lập trang facebook cộng đồng hay còn gọi là fanpage là một trong những tính năng quan trọng giúp cho các tổ chức và doanh nghiệp cung cấp hồ sơ thông tin về mình tới các thành viên quan tâm. Và mặc dù không phải là một trang web thương mại điện tử, nhưng xây dựng và duy trì fanpage trên facebook luôn là mục tiêu mà mọi nhà quản lý và đầu tư đều hướng tới, bởi cho dù những người theo dõi fanpage không có ý định mua bán sản phẩm thì những mối quan hệ và cộng đồng đã được thiết lập đều có thể đem lại lợi ích cho tổ chức và doanh nghiệp đó.

Trong bối cảnh nguồn kinh phí dành cho các thư viện còn hạn hẹp, Người dùng tin sở hữu thiết bị thông minh và đứng trước vô vàn những nguồn thông tin phong phú trên internet, có thể thấy marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin qua mạng xã hội là hình thức tiếp thị tương đối phù hợp với đặc thù của các thư viện và trung tâm thông tin ở Việt Nam. Đây là cơ hội cũng như thách thức dành cho các thư viện trong việc thay đổi quan niệm của Người dùng tin về những hình thức phục vụ thông tin truyền thống và mô phạm [10].

Quy trình truyền thông marketing trên facebook:

Bước 1: xây dựng kế hoạch cụ thể để duy trì các hoạt động trên fanpage

Bước 2: đẩy mạnh quảng cáo chéo giữa fanpage và trang web

Bước 3: tăng cường bảo mật và chống giả mạo fanpage

  • Truyền thông qua youtube

Tại Việt Nam, youtube phổ biến ở mọi lứa tuổi. Người dùng có thể dễ dàng truy cập ứng dụng này trên các thiết bị điện tử thông minh có kết nối internet như điện thoại, tivi, máy tính bảng, laptop. Cùng với xu hướng chuyển từ “đọc’’ sang “nghe và nhìn”, youtube đang là mảnh đất màu mỡ dành cho các cơ quan Thông tin – thư viện giúp thư viện gia tăng độ nhận diện thương hiệu, tiếp cận Người dùng tin mọi lúc mọi nơi, góp phần xây dựng lòng tin và tăng kết nối đến Người dùng tin,…

Quy trình xây dựng một kênh youtube truyền thông gồm có những bước sau [21]:

Bước 1: xác định đối tượng người dùng tin mục tiêu. Đây là nhóm Người dùng tin mà mỗi thư viện xác định hướng tới theo mục tiêu và kế hoạch hoạt động của mỗi thư viện trong từng giai đoạn nhất định.

Bước 2: xây dựng bộ nhận diện thương hiệu cho kênh: ảnh đại diện, ảnh bìa, intro/ outtro,…

Bước 3: xây dựng các chuyên mục. Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Bước 4: lên ý tưởng, nội dung và phong cách cho video; Bước 5: sản xuất video.

Youtube thuộc mạng xã hội cho phép người dùng tìm kiếm, tạo và chia sẻ video trên internet. Với tính chất tập trung vào video, việc tạo các chiến lược truyền thông marketing trên youtube là phương pháp trực quan giúp cơ quan Thông tin – thư viện chia sẻ nội dung, thông điệp và thu hút Người dùng tin.

  • Truyền thông marketing qua email và dịch vụ chat online

Truyền thông marketing qua email/Email marketing là hình thức các cơ quan, tổ chức sử dụng email để giới thiệu sản phẩm/dịch vụ tới Người dùng tin mục tiêu, hỗ trợ duy trì mối quan hệ, xây dựng lòng trung thành giữa Người dùng tin và thư viện. Không giống với hình thức Spam email (Gửi email hàng loạt tới bất cứ Người dùng tin nào) khiến Người dùng tin cảm thấy khó chịu và từ chối nhận mail, email marketing hướng đến những khách hàng/NDT đã được nhắm mục tiêu và tìm hiểu kỹ trước đó.

Thống kê từ Statista chỉ ra rằng trên thế giới có khoảng ~ 4 tỷ người dùng email. Nghiên cứu của Campaign Monitor cho biết 72% số người được khảo sát thích nhận nội dung marketing từ các thương hiệu qua email, trong khi chỉ có 17% trong số đó muốn nhận qua social media, 39% số người cho hay, họ thích những nội dung email chứa nhiều thông tin và giá trị, thay vì nội dung quảng cáo thuần túy [18].  Chính vì vậy, làm email marketing tốt sẽ mang lại hiệu quả cao, khuyến khích người nhận hành động, gia tăng chuyển đổi, tạo thêm Người dùng tin.

Quy trình xây dựng email marketing hiệu quả [20]:

Bước 1: xây dựng danh sách email Người dùng tin triển vọng: tạo forrm đăng ký nhận tin trên trang web, tổng hợp thông tin Người dùng tin, yêu cầu Người dùng tin để lại thông tin và email;

Bước 2: xây dựng nội dung email hướng đến Người dùng tin. Để làm được điều đó, thư viện cần:

Phân chia danh sách email khách nhau dựa trên độ tuổi, nghề nghiệp, hành vi, cách thức liên hệ,…

Sử dụng email tự động để thu hút Người dùng tin với đúng thông điệp, đúng thời điểm.

Cá nhân hóa email thư viện bằng cách thêm tên người nhận vào dòng lời chào hoặc chủ đề.

Bước 3: tạo chiến dịch cụ thể. Để làm được điều này, thư viện cần:

Xác định mục tiêu của chiến dịch: Gia tăng nhận thức của Người dùng tin về thương hiệu, thúc đẩy sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin,… Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Quyết định người gửi email: Thư viện cần xác định người gửi email là ai, Giám đốc hay thành viên trong bộ phận/phòng ban chức năng cụ thể và họ có khả năng gây ảnh hưởng hay không?

Xây dựng chủ đề mạnh mẽ, thiết lập chế độ xem trước để thức đẩy người nhận mở email.

Thiết kế email chuyên nghiệp.

Bước 4: Theo dõi hiệu suất của chiến dịch thông qua các bước:

Ghi lại các thống kê email chính (tỷ lệ mở, tỷ lệ nhấp chuột,, spam, chặn,…).

So sánh, đánh giá hiệu suất giữa các chiến dịch khách nhau.

Điều chỉnh chiến dịch khi cần thiết.

Bước 5: xem lại danh sách Database gồm:

Loại bỏ khối lượng Người dùng tin hủy đăng ký và spam sau mỗi chiến dịch.

Loại bỏ các Người dùng tin không hoạt động mỗi 3 – 6 tháng.

Chat online là hình thức trao đổi thông tin trực tiếp thông qua mạng internet giữa Người dùng tin và cơ quan Thông tin – thư viện. Khi sử dụng hình thức này, các cơ quan Thông tin – thư viện có thể tư vấn, giải đáp thắc mắc của Người dùng tin trong quá trình sử dụng SP&DVTT thư viện. Đây là hình thức trao đổi thông tin rất phù hợp với Người dùng tin khi họ có nhu cầu cần được giải đáp/tư vấn trong thời gian ngắn nhất.

Sử dụng hình thức truyền thông marketing qua email, dịch vụ chat online còn giúp cho nhân lực thông tin có thể thống kê chi tiết được số lượng người click mở mail, click vào các đường dẫn, số lượng người phản hồi trực tiếp và nội dung phản hồi của Người dùng tin, từ đó họ nắm bắt được nhu cầu của Người dùng tin, xác định đúng được thị hiếu của Người dùng tin để có những điều chỉnh trong hoạt động của thư viện.

  • Đăng bài lên diễn đàn khoa học trực tuyến

Tại các diễn đàn, các cơ quan thông tin – thư viện sẽ tiến hành truyền thông bằng việc thu nhận những ý kiến, tư vấn, hướng dẫn bạn đọc trong việc sử dụng các Sản phẩm và dịch vụ thông tin.

Diễn đàn, thảo luận là một trong những phương tiện truyền thông marketing cũng được đánh giá là phổ biến. Tại các diễn đàn, thư viện, cơ quan thông tin có thể chia sẻ tin tức, tìm kiếm thông tin hay tương tác với những Người dùng tin hay khách hàng tiềm năng. Hình thức này là đưa ra những câu hỏi có liên quan đến lĩnh vực của thư viện, cơ quan thông tin và dựa trên kinh nghiệm của mình để trả lời câu hỏi đó cho mọi người cùng tham khảo.

  • Đường link liên kết đến các website khác

Khi đã xây dựng cho mình được một website riêng, các cơ quan Thông tin – thư viện còn đặt thêm các đường liên kết (link) có sự liên kết các website khác có nội dung liên quan đến lĩnh vực, ngành nghề thư viện. Điều này có thể giúp Người dùng tin dễ dàng tìm kiếm các Sản phẩm và dịch vụ thông tin tương tự ở các website khác.

1.3.2. Tư vấn trực tiếp tại thư viện Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Tư vấn trực tiếp là cách thức truyền thông phổ biến tại các cơ quan Thông tin – thư viện, thể hiện sự tương tác mặt đối mặt giữa cán bộ thư viện với Người dùng tin, hướng Người dùng tin sử dụng những Sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp với nhu cầu. Dưới đây là một số lợi ích của chiến lược truyền thông trực tiếp:

Nhân lực thư viện có thể tiến hành giao tiếp trực tiếp với Người dùng tin qua tiếp xúc tại trụ sở của thư viện.

Tư vấn trực tiếp giúp mỗi thư viện có thể đo lường chính xác phản hồi của Người dùng tin và trả lời Người dùng tin ngay lập tức.

Tư vấn trực tiếp tối ưu thông điệp cho từng nhóm đối tượng Người dùng tin mà thư viện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu.

Hình thức này giúp thư viện giảm thời gian, giảm chi phí, hiệu quả tư vấn cao hơn so với các hình thức tương tác gián tiếp.

1.3.3. Truyền thông qua Banner

Banner là những tấm bảng có nhiều kích thước khác nhau, được trình bày những nội dung liên quan tới sản phẩm, loại hình dịch vụ hay một thông điệp tới khách hàng mà doanh nghiêp nhắm tới, nhằm thu hút sự chú ý của họ. Banner quảng cáo hiện nay được dùng phổ biến trong loại hình online, được đăng tải trên các website nhằm lan tỏa nhân diện thương hiệu, xác định mục tiêu phát triển,… Một số loại banner được phổ biến:

Banner website: được đặt trực tiếp trên website của thư viện hoặc các trang web chia sẻ nội dung, web tin tức có trả phí

Banner đường phố: đặt ở vị trí có nhiều người qua lại làm tăng khả năng truyền tải thông điệp.

Banner báo, tạp chí: được in trực tiếp trên các mặt báo hay ấn phẩm tạp chí phù hợp nhằm tiếp cận những Người dùng tin tiềm năng.

1.3.4. Truyền thông qua tổ chức sự kiện Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.  

Marketing qua tổ chức sự kiện hay event marketing là một chiến lược truyền thông trực tiếp giữa thư viện và Người dùng tin, đối tác,… tại các sự kiện đặc biệt như hội sách, nói chuyện chuyên đề, tạo đàm, hội thảo, cuộc thi,… nhằm tạo ra các trải nghiệm cho khách hàng, qua đó quảng bá Sản phẩm và dịch vụ thông tin của thư viện mình.

Dưới đây là một số vấn đề đặt ra cho mỗi thư viện khi tổ chức sự kiện [17]:

Nhân lực: Đó là các đối tượng được phân công nhiệm vụ tham gia tổ chức sự kiện của thư viện. Đó là các phòng ban chức năng/bộ phận chuyên môn, cộng tác viên, nhà tài trợ,….

Xây dựng một kế hoạch tổ chức rõ ràng, thống nhất liền mạch, lịch trình cụ thể, đảm bảo cách yếu tố về không gian, thời gian, thời tiết,…Kế hoạch cần có sự thống nhất giữa các bộ phận/phòng ban chức năng và các thành viên của thư viện để đảm bảo sự kiện được tổ chức thuận lợi, thành công.

Địa điểm tổ chức sự kiện: Địa điểm phải thuận tiện, đảm bảo an ninh, sức chứa không gian phải cân đối với số khách mời tham sự,…

Hệ thống âm thanh – ánh sáng phục vụ quá trình diễn ra sự kiện cần đảm bảo.

Chuẩn bị phương án phòng trừ các trường hợp rủi ro.

1.3.5. Một số hình thức truyền thông marketing khác

Truyền hình: Truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin của thư viện qua tivi:

Với tính trực quan và sinh động, truyền hình cũng là phương tiện truyền thông marketing mạnh mẽ giúp thu hút sự chú ý của Người dùng tin và khiến họ nhớ đến sản phẩm, dịch vụ cũng như thương hiệu của thư viện, cơ quan thông tin một cách nhanh chóng. Hơn thế nữa, lượng người xem truyền hình tại Việt Nam là vô cùng lớn, chiếm tới 90% dân số, điều này có thể giúp việc truyền thông marketing sản phẩm, dịch vụ của thư viện được nhiều người biết đến và lan truyền thông tin nhanh hơn.

Viết bài đăng báo, tạp chí: Báo chí tuy là một phương tiện truyền thông marketing đã có rất lâu nhưng nó lại có chi phí quảng bá hợp lý và nhận được sự tin tưởng nhất định từ độc giả. Hình thức này giúp hỗ trợ thư viện, cơ quan thông tin tiếp cận với Người dùng tin khá hiệu quả. Bên cạnh đó, mức độ phủ sóng của báo chí đối với độc giả là rất lớn nên nó đã trở thành phương tiện nhận được sự ưu ái của các doanh nghiệp hay của các cơ quan tổ chức, thậm chí cả thư viện, cơ quan thông tin.

1.4. Tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Mỗi hình thức truyền thông marketing tại thư viện sẽ có những đặc thù nhất định về phương thức sử dụng, vì vậy tiêu chí đánh giá sẽ có điều chỉnh linh hoạt phù hợp với từng hình thức. Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả xin đề xuất một số tiêu chí có thể áp dụng với nhiều hình thức truyền thông Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại thư viện như sau:

1.4.1. Khả năng cập nhật thông tin 

Sản phẩm và dịch vụ thông tin là chủ thể chính của chiến dịch truyền thông marketing, vì vậy khả năng cập nhật thông tin về Sản phẩm và dịch vụ thông tin trên các nền tảng là điều hết sức quan trọng. Thường xuyên bổ sung, giới thiệu những thông tin mới về Sản phẩm và dịch vụ thông tin sẽ thúc đẩy độ nhận diện đối với Người dùng tin. Các chỉ số cần thiết để đánh giá về khả năng cập nhật thông tin thư viện gồm:

Nội dung thông tin được cập nhật có phản ánh đúng các mặt hoạt động của thư viện không, thông tin có nguồn gốc và được kiểm chứng chưa.

Hình thức trình bày: Thông tin được thể hiện bằng văn bản, hình ảnh (tĩnh, động), âm thanh,… hay là có sự kết hợp giữa các hình thức đó. Hình thức trình bày đó có phù hợp với đối tượng Người dùng tin mà thư viện hướng đến không.

Tần suất cập nhật thông tin hay chính là tính kịp thời của thông tin.

1.4.2. Mức độ nhận biết thương hiệu

Chỉ số nhận biết thương hiệu thể hiện qua việc Người dùng tin có nghĩ đến chủ thể truyền thông đó khi nhắc đến Sản phẩm và dịch vụ thông tin hay không. Ví dụ, khi nhắc đến dịch vụ mượn sách về nhà, Người dùng tin nghĩ đến Thư viện tỉnh Bắc Ninh đầu tiên. Điều này cho thấy truyền thông marketing dịch vụ thông tin tại thư viện có hiệu quả. Chỉ số nhận diện thương hiệu có thể đánh giá qua hình thức khảo sát trực tiếp hoặc khảo sát trực tiếp trên website/facebook của thư viện.

1.4.3. Chỉ số tương tác của Người dùng tin Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Đây là chỉ số được đo lường bằng các công cụ media. Nếu thư viện thực hiện truyền thông marketing trên các nền tảng như Website, facebook, youtube,… thì có thể đo lường kết quả qua các chỉ số như: lượt tiếp cận, tần suất xem, tần suất hiển thị, lượt truy cập, lượt tương tác.

1.4.4. Sự thay đổi trong hành vi của Người dùng tin

 Sự thay đổi trong hành vi của Người dùng tin của thư viện được thể hiện thông qua các chỉ số:

Tỷ lệ Người dùng tin sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin tăng hay giảm và tỷ lệ nhiều hay ít, xu hướng sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin của Người dùng tin tại thư viện.

Tỷ lệ Người dùng tin đánh giá tốt và giới thiệu cho người khác sử dụng Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại thư viện.

1.4.5. Phản hồi của Người dùng tin về phương thức truyền thông marketing

Để đánh giá hiệu quả truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại thư viện, phản hồi của Người dùng tin là một phần không thể thiếu. Thông qua các phản hồi đó, cơ quan Thông tin – thư viện có thể biết được cảm nhận của Người dùng tin khi thư viện sử dụng các hình thức truyền thông từ đó làm cơ sở thay đổi và hoàn thiện chính sách phát triển của hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại thư viện. Các chỉ số phản ánh sự phản hồi của Người dùng tin là:

Mức độ hài lòng của Người dùng tin đối với hiệu quả hoạt động truyền thông nhận biết các Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.

Mức độ không hài lòng của Người dùng tin đối với hiệu quả hoạt động truyền thông nhận biết các Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện và nguyên nhân của việc không hài lòng.

Các ý kiến đóng góp khác của Người dùng tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện như: công nghệ, nhân lực, nguồn lực thông tin,…

Các chỉ số trên có thể thu được thông qua các hình thức khảo sát khác nhau: Phiếu đánh giá, email/chat online, hộp thư truyền thống, tư vấn tại thư viện,… Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

Tiểu kết chương 1

Tác giả đã đưa ra các khái niệm về Sản phẩm và dịch vụ thông tin, truyền thông marketing và truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin, vai trò và các tiêu chí đánh giá hoạt động truyền thông marketing. Truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin là hoạt động giúp cho Người dùng tin nhận biết về Sản phẩm và dịch vụ thông tin và những lợi ích mà chúng mang lại.

Marketing còn giúp cơ quan Thông tin – thư viện nắm bắt được nhu cầu tin của Người dùng tin từ đó hoàn hiện và nâng cao số lượng, chất lượng các Sản phẩm và dịch vụ thông tin. Những cơ sở lý luận trình bày tại chương 1 sẽ là nền tảng để tác giả triển khai và phân tích thực trạng hoạt động truyền thông marketing Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện tỉnh Bắc Ninh trong chương 2. Khóa luận: Hoạt động truyền thông marketing sản phẩm thư viện.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng truyền thông marketing sản phẩm thư viện

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x