Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện hoạt động Markeing mix cho công ty TNHH JOLLIBEE Việt Nam chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
Xã hội ngày nay càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng cao, nhịp sống của con người cũng tăng nhanh. Từ đó, con người phát sinh thêm những như cầu mới. Một trong số những nhu cầu về thời gian rất được chú trọng. Do xã hội phát triển, thì đời sống của người dân cũng trở nên nhanh và gấp. Mà quỹ đạo thời gian chỉ có 24h/ngày, vì thế việc sử dụng thời gian sao cho hợp lí với công việc hàng ngày của mình là rất cần thiết. Việc tiêu thụ thời gian cho các hoạt động hàng ngày bao gồm nhiều việc trong đó có thể kể đến bữa ăn của con người. Ngoài việc phải được ăn ngon, có đủ chất để đảm bảo sức khỏe thì phải đòi hỏi phải tốn ít thời gian hơn nữa. Việc này góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của công nghệ thức ăn nhanh trên toàn thế giới. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Tại Việt Nam, thị trường thức ăn nhanh đã xuất hiện những năm 1996 và thật sự có những thay đổi khá bất ngờ, người tiêu dùng hầu như ít quan tâm đến vấn đề thời gian mà họ đến với thức ăn nhanh chủ yếu vì hương vị, giá cả hợp lí hầu như không tăng giá trong mùa lễ, tết, không gian thì thoải mái hợp vệ sinh và tiện lợi vì các cửa hàng thức ăn nhanh bao phủ hầu như cả trung tâm. Đến nay đã xuất hiện những chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh theo phong cách Âu, Mỹ, Á pha trộn với thói quen ẩm thực kiểu Việt Nam. Bên cạnh bánh mì kẹp thịt hamburger, gà chiên, khoai tây chiên,… Hiện nay thị trường thức ăn nhanh gà rán tại Việt Nam đang diễn ra những cuộc cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt của ba thương hiệu lớn là KFC, Lotteria và Jollibee.
Vì vậy đối hầu hết doanh nghiệp Việt Nam muốn thành công, phát triển trên thị trường thì Marketing mix luôn là chiến lược hàng đầu đúng đắn và có vai trò vô cùng quan trọng. Đa số các công ty đều sử dụng để thu hút khách hàng, cái quan trọng phải đưa ra Marketing mix như thế nào để chiếm ưu thế trên thị trường, và phải có sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn định vị được vị thế cạnh tranh của mình, phân khúc đối tượng khách hàng, cũng như muốn đưa hình ảnh công ty đến với khách hàng thì cần phải dựa vào Marketing mix.
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên sau thời gian thực tập, nghiên cứu, và trực tiếp tham gia vào các hoạt động tại Công ty TNHH Jollibee Việt Nam chi nhánh Hải Phòng, em đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiệt hoạt động Marketing mix của công ty TNHH Jollibee tại Việt Nam trong thức ăn nhanh gà rán.” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Đề tài nghiên cứu được trình bày ba phần chính:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Marketing mix
- Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing mix của công ty TNHH Jollibee Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
- Chương ba: Giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing mix tại Công ty TNHH Jollibee Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MARKETING MIX
1.1 Tổng quan về Marketing
1.1.1 Khái niệm cơ bản về Marketing
Định nghĩa Marketing theo quan điểm truyền thống: Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Marketing là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận một cách tối ưu các loại hàng hóa hoặc dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích lợi nhuận”.
- Định nghĩa Marketing theo quan điểm hiện đại:
Theo Philip Kotler “Marketing là hoạt động của con người hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến tình tromh trao đổi”.
- Theo viện nghiên cứu Marketing của Anh:
Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát triển nhu cầu và biến sức mua của người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty được thu lợi nhuận như dự kiến.
Theo hiệp hội Marketing của Mỹ, phân phối hàng hóa, dịch vụ và tư tưởng hành động để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn các mục tiêu đã định nghĩ: “Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các quyết định về sản phẩm, định giá, xúc tiến cá nhân và tổ chức.
Từ định nghĩa trên có thể nhận thấy rằng: Marketing là toàn bộ những hoạt động của một doanh nghiệp nhằm xác định những nhu cầu chưa được thỏa mãn của khách hàng, những thị hiếu đòi hỏi của họ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, nhằm đáp ứng thỏa mãn nhu cầu và đòi hỏi có thể hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò, chức năng và đặc điểm của Marketing Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.1.2.1 Vai trò của Marketing
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế. Cơ thể đó cần có sự trao đổi chất với , môi trường bên ngoài-thị trường. Quá trình trao đổi chất đó càng diễn ra thường xuyên, liên tục với quy mô càng lớn thì sức sống và sự trường tồn của cơ thế đó càng mãnh liệt. Ngược lại, sự trao đổi đó diễn ra yếu ớt thì cơ thể sẽ ốm yếu. Sự trao đổi của doanh nghiệp với môi trường bên ngoài chính là sự trao đổi hàng hóa. Trong kinh doanh hiện đại, Marketing đóng vai trò quan trọng , thể hiện một số khía cạnh:
Đối với doanh nghiệp, Marketing góp phần hướng dẫn , chỉ đạo phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhờ đó mà các quyết định đề ra trong sản xuất kinh doanh có cơ sơ khoa học. Hơn nữa, giúp doanh nghiệp nhận được thông tin phản hồi từ khách hàng để kịp thời bổ sung , cải tiến , nâng cao đặc tính sử dụng để thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Ngoài ra còn ảnh hưởng lớn đến tiết kiệm chi phí, doanh số bán và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đối với người tiêu dùng, Marketing là hoạt động để phát hiện và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng do đó người tiêu dùng được đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi về hàng hóa và dịch vụ một cách tốt nhất.
Đối với xã hội, hoạt động Marketing được triển khai rộng rãi ở nhiều doanh nghiệp làm cho của cải xã hội tăng lên với chất lượng tốt hơn, sản phẩm đa dạng phong phú, giá thành hạ sẽ kiềm chế được lạm phát, bình ổn giá cả trong và ngoài nước. Hơn nữa, giúp tăng lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo thêm công ăn việc làm, đời sống đươc nâng cao. Ngoài ra, hoạt động Marketing giúp thúc đẩy doanh nghiệp cạnh tranh để thu hút khách hàng, đó cũng là động lực để xã hội phát triển.
1.1.2.2 Chức năng của Marketing
Thứ nhất, chức năng nghiên cứu thị trường, phân tích các tiềm năng và nhu cầu tiêu dùng để thỏa mãn chúng ở mức độ cao nhất. Thị trường rất phức tạp , gồm nhiều loại khách hàng, với nhu cầu tiêu dùng đa dạng phong phú. Có nhu cầu đã xuất hiện, nhu cầu đang tiềm ẩn, nhu cầu đang tàn lụi. Do đó, nhiệm vụ của Marketing phải phát hiện được nhu cầu và tìm ra các giải pháp thích hợp để khai thác , định hướng phát triển thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường ở mức độ cao nhất.
Thứ hai, chức năng thích ứng sản phẩm, từ đó tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong thị trường thường xuyên biến động. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Thứ ba, chức năng tổ chức và hoàn thiện phân phối sản phẩm, để đưa sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng thì doanh nghiệp phải thông qua các hoạt động phân phối. Nó không chỉ đưa sản phẩm hàng hóa đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất mà còn tiết kiệm chi phí một cách thấp nhất.
Thứ tư, chức năng tiêu thụ hàng hóa, trong kinh doanh hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ nhanh chóng sẽ trực tiếp kích thích sản xuất phát triển, đẩy nhanh vòng quay của vốn và tránh rủi ro. Muốn đẩy nhanh quá trình tiêu thụ, ngoài việc thực hiện tốt chính sách sản phẩm và chính sách phân phối hàng hóa, các doanh nghiệp cần chú ý tới chính sách định giá và các phương pháp thúc đẩy tiêu thụ cùng nghệ thuật bán hàng.
1.1.2.3 Đặc điểm của Marketing
Thứ nhất, nhu cầu cơ bản (needs), điểm xuất phát của tư duy chiến lược Marketing là những nhu cầu mong muốn của con người.
Thứ hai, mong muốn (wants), khi xã hội phát triển thì sự quan tâm và mong muốn của con người càng tăng lên. Các nhà sản xuất phải đưa ra chiến lược phù hợp để kích thích ham muốn mua hàng và thiết lập mối quan hệ thích ứng giữa những sản phẩm với nhu cầu cấp thiết của con người.
Thứ ba, nhu cầu (demands), là những mong muốn kèm thêm điều kiện có khả năng thanh toán. Sản phẩm càng thỏa mãn mong muốn và nhu cầu của khách hàng mục tiêu bao nhiêu thì người làm Marketing thành công bây nhiêu.
Thứ tư, sản phẩm (product), là bất cứ những gì có thể đưa ra thị trường, gây sự chú ý, được tiếp nhận, được tiêu thụ hay sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người.
Thứ năm, lợi ích (benefit), là toàn bộ những lợi ích như lợi ích sản phẩm, lợi ích từ các dịch vụ kèm theo, thái độ người phục vụ, uy tín của doanh nghiệp,…mà khách hàng mong đợi ở mỗi sản phẩm hay dịch vụ nhất định.
Thứ sáu, chi phí (cost), toàn bộ chi phí mà khách hàng bỏ ra để có được sản phẩm bao gồm các chi phí thời gian, sức lực và tinh thần để tìm kiếm và chọn mua sản phẩm. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Thứ bảy, sự thỏa mãn của khách hàng (customer’s satisfaction), là trạng thái cảm nhận của một người qua việc tiêu dùng sản phẩm về mức độ lợi ích mà một sản phẩm thực tế đem lại so với những gì mà người đó kỳ vọng.
Thứ tám, trao đổi (exchange), hoạt động Marketing diễn ra khi người ta quyết định thỏa mãn các mong muốn của mình thông qua việc trao đổi.
Thứ chín, giao dịch (transaction), khi hau bên cam kết trao đổi thành công thì đó gọi là giao dịch hay giao dịch kinh doanh là một vụ buôn bán các giá trị giữa hai bên.
1.1.3 Tầm quan trọng của Marketing
Marketing là cầu nối trung gian giữa thị trường khách hàng và doanh nghiệp, đảm bảo cho các thị trường doanh nghiệp hướng đến đúng thị trường mục tiêu đặt ra. Một số lợi ích mà marketing mang lại cho doanh nghiệp có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng của mình , thông qua các hoạt động Marketing doanh nghiệp sẽ hiểu rõ và xác định được khách hàng của doanh nghiệp này là ai, những đăc điểm của khách hàng mục tiêu và khám phá ra được những nhu cầu , mong muốn của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Thứ hai, hiểu rõ về môi trường kinh doanh, thực hiện các hoạt động nghiên cứu marketing doanh nghiệp sẽ hiểu rõ và xác định được khách hàng của doanh nghiệp là ai, những đặc điểm về khách hàng mục tiêu và khám phá ra được những nhu cầu và mong muốn của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Thứ ba, hiểu rõ môi trường kinh doanh, thực hiện các hoạt động nghiên cứu marketing doanh nghiệp có thể hiểu được môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và xác định được môi trường đó có tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đối với doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Thứ tư, hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh, các hoạt động nghiên cứu marketing cũng giúp bạn nhận rõ đâu là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, những điểm mạnh và những điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh. Nhờ đó doanh nghiệp của bạn sẽ đưa ra những phương hướng hoạt động hiệu quả nhất tạo nên lợi thế cạnh tranh cao.
Thứ năm, giúp doanh nghiệp xác định được những chiến lược marketing hỗn hợp, sản phẩm – giá – phân phối – xúc tiến để tạo bước đà tốt nhất giúp những doanh nghiệp mới xâm nhập thị trường và những doanh nghiệp đã và đang hoạt động trên thị trường có những điều chỉnh thích hợp tạo nên lợi thế cạnh tranh.
Marketing là một hoạt động then chốt quyết định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tuy nhiên nếu doanh nghiệp của bạn không biết làm marketing hay bạn đã tốn quá nhiêu chi phí vào marketing nhưng lại không mang lại hiệu quả, chính vì thế doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược marketing cùng những hoạt động marketing mang lại những hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
Thứ sáu, tạo dựng thương hiệu chuyên nghiệp, hoạt động marketing đóng vai trò quan trọng nhằm mục đích đưa thương hiệu đến gần hơn với khách hàng và giúp khách hàng nhận biết rõ ràng hơn. Quá trình xây dựng và lan tỏa thương hiệu cần thực hiện thường xuyên, xuyên suốt và có sự hộ trợ các hoạt động marketing.
Thứ bảy, nâng cao doanh số bán hàng, mọi chiến lược kinh doanh đều hướng tới mục đích cuối cùng là nâng cao lợi nhuận . Muốn làm điều đó, các hoạt động marketing phải được triển khai hiệu quả , đúng hướng để khách hàng biết sản phẩm và dịch vụ của bạn nhiều hơn.
1.2 Marketing mix Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.2.1 Khái niệm về Marketing mix
Marketing hỗn hợp (Marketing – mix): là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu (Philip Kotler,1997). Marketing hỗn hợp (Marketing – mix) tại doanh nghiệp: là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vững chắc vị trí của doanh nghiệp trên thương trường. Nếu sự phối hợp hoạt động những thành phần marketing được nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với tình huống của thị trường đang diễn tiến thì công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trôi chảy, hạn chế sự xuất hiện những khả năng rủi ro và do đó mục tiêu sẽ đạt được là lợi nhuận tối đa.
Nhà quản trị tài năng là nhà tổ chức, điều hành phối hợp các thành phần marketing trong một chiến lược chung đảm bảo thế chủ động với mọi tình huống diễn biến phức tạp của thị trường. Marketing – mix hay còn gọi là marketing hỗn hợp bao gồm bốn yếu tố chính sau: Sản phẩm, giá cả, phân phối, chiêu thị.
Ngoài ra, còn có ba yếu tố phụ sau: con người, quy trình, môi trường vật chất. Marketing nổi tiếng đề nghị phân theo 4P là công cụ được sử dụng rộng rãi ngày nay.
1.2.2 Vai trò trong Marketing mix
Marketing-mix là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá – dịch vụ từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ, duy trì và phát triển thị trường.
+) Vai trò và ý nghĩa của marketing-mix trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Marketing-mix có vai trò có thể giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vì nó cung cấp khả năng thích ứng cũng như những thay đổi của thị trường và môi trường xung quanh. Bên cạnh đó nó có thể tạo ra sự liên kết các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
+) Vai trò và ý nghĩa của Marketing-mix đối với người tiêu dùng
Marketing-mix không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà nó còn đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, giúp tìm kiếm và khám phá ra nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng hiện tại và trong tương lai, giúp tạo điều kiện tốt cho cung cầu gặp nhau qua thông tin hai chiều: Từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và ngược lại từ người tiêu dùng đến doanh nghiệp.
+) Vai trò và ý nghĩa của Marketing-mix đối với xã hội
Marketing-mix giúp thúc đẩy hoạt động trong doanh nghiệp mà nó còn thể hiện thông qua trong xã hội. Nó có rất nhiều tác dụng trong xã hội, được kể đến như là cung cấp mức sống cho xã hội. Khi xem xét toàn bộ hoạt động Marketing của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng tiêu dùng, ngoài yếu tố hiệu quả về mặt kinh tế. Các doanh nghiệp này đang có các hoạt động vì cộng đồng vì mục đích xã hội ví dụ như:
Các thông tin về quảng cáo, sản phẩm, truyền thông phản ánh đúng bản chất và trung thực về chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm để người tiêu dùng không bị che mắt hoặc mù quáng vào sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp như trước đây.
Đặc biệt trong tình hình toàn cầu hóa như hiện nay. Vai trò của marketing lại càng được thể hiện quan trọng. Nó giúp cho người tiêu dùng trong nước tiếp cận được các sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ của nước ngoài nhanh và hiệu quả nhất. Ngược lại nó cũng thúc đẩy cho các doanh nghiệp trong nước đưa các sản phẩm tiêu dùng của mình để giới thiệu, trao đổi thương mại với bạn bè và khách hàng quốc tế.
1.3 Các thành phần của Marketing mix
Các thành phần trong Marketing – mix của Borden (1953) bao gồm 12 thành phần:
| 1. Hoạch định sản phẩm | 7. Khuyến mại |
| 2. Định giá | 8. Đóng gói |
| 3. Xây dựng thương hiệu | 9. Trưng bày |
| 4. Kênh phân phối | 10. Dịch vụ |
| 5. Chào hàng cá nhân | 11. Kho bãi và vận chuyển |
| 6. Quảng cáo | 12. Theo dõi và phân tích |
E.Jerome McCathy (1960) đã nhóm gọn các thành phần này vào 4 yếu tố được áp dụng phổ biến ngày nay trên thế giới và tên gọi mô hình 4P: Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Phân phối (Place), Chiêu thị (Promotion).
Hình 1.1 Mô hình 4P trong Marketing mix theo McCathy
Các khái niệm 4P trong mô hình Markting mix được Philip Kotler diễn giải như sau:
- Sản phẩm (Product) Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing mix. Theo quan điểm Marketing, sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để đạt được sự chú ý, sự chấp thuận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thỏa mãn được một ước muốn hay một nhu cầu. Đó có thể là sản phẩm hữu hình của công ty đưa ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm, hình dáng thiết kế, đặc tính, bao bì và nhãn hiệu. Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh vô hình như các hình thức dịch vụ giao hàng, sửa chữa, huấn luyện,… (Kotler, 1999).
- Giá (Price)
Là thành phần không kém phần quan trọng trong Marketing mix. Giá cả là tổng số tiền mà người tiêu dùng phải chi trả để có được hàng hóa. Giá bao gồm: giá bán sỉ, giá bán lẻ, chiết khấu, giảm giá, tín dụng. Giá cả phải tương xứng với giá trị nhận được của khách hàng và có khả năng cạnh tranh (Kotler, 1999).
- Phân phối (Place)
Cũng là một thành phần chủ yếu trong Marketing mix. Đó là những hoạt động làm cho sản phẩm có thể tiếp cận với khách hàng mục tiêu. Công ty phải hiểu rõ, tuyển chọn và liên kết những nhà trung gian để cung cấp sản phẩm đến thị trường mục tiêu một cách có hiệu quả (Kotler, 1999).
- Chiêu thị (Promotion)
Chiêu thị gồm nhiều hoạt động để thông đạt và thúc đẩy sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Công ty phải thiết lập những chương trình như: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, Marketing trực tiếp. Công ty cũng phải tuyển mộ, huấn luyện và động viên đội ngũ bán hàng (Kotler, 1999).
Các biến số trên của Marketing – mix luôn tồn tại độc lập và có mối quan hệ mật thiết với nhau yêu cầu phải được thực hiện đồng bộ và liên quan.
Chúng được sắp xếp theo một kế hoạch chung. Tuy nhiên không phải tất cả các biến trên đều có thể điều chỉnh được sau một thời gian ngắn. Vì thế các Công ty thường ít thay đổi Marketing – mix của từng thời kỳ trong một thời gian ngắn, mà chỉ thay đổi một số biến trong Marketing – mix.
1.4 Các hoạt động Marketing mix Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.1 Hoạt động sản phẩm Khái niệm về sản phẩm
Sản phẩm là những hàng hóa hay dịch vụ mà doanh nghiệp đưa vào thị trường mục tiêu với mong muốn đạt được sự chấp nhận, sự tiêu dùng hay sự thỏa mãn một ước muốn hay một nhu cầu từ khách hàng mục tiêu.
- Các chiến lược sản phẩm
Chiến lược về sản phẩm là nền tảng của chiến lược Marketing hỗn hợp, được xác định dựa trên kế hoạch kinh doanh quy mô lớn hơn dành cho sản phẩm mới và chiến lược Marketing tổng thể cho mọi sản phẩm đang có của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, vấn đề cần quan tâm khi xem xét chiến lược sản phẩm đó là quản lý chất lượng tổng hợp, quản lý nguồn cung cấp sản phẩm: Việc nghiên cứu thị trường và khách hàng không chỉ trả lời câu hỏi khách hàng cần gì, cần bao nhiêu, cần vào thời điểm nào và khả năng thanh toán của họ ra sao, mà còn phải biết họ đòi hỏi mức độ họ thỏa mãn nhất. Tuy nhiên, sự đòi hỏi về các yếu tố đó của khách hàng là không có giới hạn, để quyết định mực định lượng thích ứng thì công ty phải nghiên cứu mức chất lượng của những sản phẩm cạnh tranh thay thế. Từ đó xác định những yếu cầu trọng tâm nhất để đáp ứng và phục vụ kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian sản phẩm tồn tại trên thị trường, trong đó các giai đoạn trong lịch sử thương mại của một sản phẩm được mô tả khác nhau, nhờ đó các công ty có thể hoạch định được tốt hơn các kế hoạch Marketing. Một chu kỳ sống điển hình của sản phẩm gồm bốn giai đoạn: giai đoạn mở đầu, giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn suy thoái. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Các nhà làm Marketing cần nghiên cứu kỹ lưỡng chu kỳ sống của sản phẩm thường là bao lâu và tập trung chú ý đến những thách thức khác có thể phát sinh khi sản phẩm rút khỏi thị trường. Đồng thời xem xét các loại sản phẩm, có thể mở rộng danh mục sản phẩm hiện tại bằng cách gia tăng chiều sâu của một dòng sản phẩm nào đó hoặc bằng cách tăng số lượng các dòng sản phẩm. Nhà làm Marketing cũng cần nghiên cứu các biện pháp làm thế nào để định vị sản phẩm, khai thác thương hiệu, làm thế nào để khai thác nguồn tài nguyên của công ty và làm thế nào để kết hợp các sản phẩm lại với nhau (kết hợp sản phẩm này với sản phẩm khác); xem xét các chiến lược phát triển sản phẩm.
Các chiến lược sản phẩm bao gồm: chiến lược tập hợp sản phẩm, chiến lược dòng sản phẩm và chiến lược cho từng sản phẩm cụ thể (Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010).
Chiến lược tập hợp sản phẩm
- Chiến lược mở rộng tập hợp sản phẩm: tăng thêm các dòng sản phẩm mới thích hợp.
- Chiến lược kéo dài các dòng sản phẩm trong một tập hợp: tăng thêm số mặt hàng cho mỗi dòng sản phẩm, giúp công ty có được các dòng sản phẩm hoàn chỉnh.
- Chiến lược tăng chiều sâu của tập hợp sản phẩm: tăng số mẫu biến thuế của mỗi sản phẩm như thay đổi kích cỡ, mùi vị cho một sản phẩm.
- Chiến lược tăng giảm tính đồng nhất của tập hợp sản phẩm: tùy thuộc doanh nghiệp muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực hay tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Chiến lược dòng sản phẩm
Các doanh nghiệp thường có cả một dòng sản phẩm thay vì một sản phẩm duy nhất nhằm phân bổ rủi ro tốt hơn. Vì thế doanh nghiệp cần có một chiến lược về dòng sản phẩm, bao gồm:
- Chiến lược thiết lập các dòng sản phẩm: để việc kinh doanh được an toàn, có hiệu quả cần phải thiết lập các dòng sản phẩm thích hợp và từng bước củng cố các dòng đó về lượng cũng như về chất để thế lực của doanh nghiệp ngày càng tăng. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
- Chiến lược phát triển dòng sản phẩm: thể hiện bởi sự phát triển các món hàng trong các dòng sản phẩm đó, có thể thực hiện theo hai cách: dãn rộng và bổ sung.
Chiến lược cho từng sản phẩm cụ thể
- Chiến lược đổi mới sản phẩm: nhằm tạo ra những sản phẩm mới để bán trên thị trường hiện có hoặc thị trường mới. Theo Choffray và Dorey có hai chiến lược đổi mới sản phẩm là: chiến lược đổi mới phản ứng và chiến lược đổi mới chủ động.
- Chiến lược bắt chước sản phẩm: thực hiện khi doanh nghiệp không dám đổi mới vì sợ rủi ro nhưng lại không muốn sản ohaamr của mình bị già cỗi đi, vì thế doanh nghiệp tìm cách thay đổi sản phẩm bằng cách bắt chước các sản phẩm mới mà các doanh nghiệp khác phát hành có hiệu quả.
- Chiến lược thích ứng sản phẩm: nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá bán đáp ứng sự chờ đợi của khách hàng.
- Chiến lược tái định vị sản phẩm: trao một vị trí mới cho một sản phẩm hay một nhãn hiệu trên thị trường hiện có vào tâm trí của người tiêu dùng.
Chiến lược Marketing mix theo chu kỳ sống sản phẩm
Giai đoạn mở đầu: Trong giai đoạn này, khối lượng hàng hóa tăng lên một cách chậm chạp do ít người biết đến, chưa có nhiều đối chứng trong việc tiêu thụ. Chiến lược Marketing mix thường là:
- Sản phẩm: quan tâm đến việc hiệu chỉnh kỹ thuật và thương mại sản phẩm, tăng cường kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Giá cả: giá hớt váng thi trường đối với sản phẩm độc đáo chưa từng có trên thị trường; giá thâm nhập thị trường đối với sản phẩm phổ biến, giá khu vực (mỗi nơi có giá khác nhau); giá hạ thấp nhất thời.
- Phân phối: có giới hạn (độc quyền hay chọn lọc), phụ phí cao.
- Chiêu thị: để tạo sự biết đến sản phẩm và các lợi ích của nó. Ưu điểm nhắm tới người tiên phong và người khuyến khích tiêu dùng.
Phương tiện chiêu thị là bán hàng cá nhân.
Giai đoạn tăng trưởng: Trong giai đoạn này, khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên nhanh chóng do thị trường đã chấp nhận. Chiến lược Marketing mix thường là:
- Sản phẩm: sản xuất hàng loạt, đa dạng hóa sản phẩm; tăng cường cải tiến kỹ thuật.
- Giá cả: xu hướng giảm giá nhằm mở rộng thị trường. Sử dụng thang giá rộng theo nghĩa các bản địa khác nhau.
- Phân phối: phân phối mở rộng và mạnh; tồn kho dự trữ lớn và nguồn tiếp tế nhanh chóng.
- Chiêu thị: tạo sự ưu thích cao nhất của đa số khách hàng bằng cách sử dụng mạnh các phương diện thông tin đại chúng.
Giai đoạn trưởng thành: Trong giai đoạn này khối lượng bán ra tăng chậm lại vì sản phẩm đã được hầu hết khách hàng tiềm năng chấp nhận. Chiến lược Marketing mix thường là:
- Sản phẩm: phân biệt hóa sản phẩm nhằm đáp ứng với việc phân khúc thị trường sâu hơn bằng cách đa dạng hóa nhãn hiệu và kiểu dáng Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
- Giá cả: có sự cạnh tranh mạnh về giá, có sự co dãn chéo rất cao.Vì vậy, có xu hướng đi đến thỏa thuận ngầm hoặc công khai giữa những người bán này với những người khác hay chống lại người mua.
- Phân phối: vẫn còn mở rộng và mạnh.
- Chiêu thị: củng cố lòng trung thành với nhãn hiệu bằng cách sử dụng thông tin đại chúng hay tăng cường thuyết phục, khuyến mại, quảng cáo nhắm đến các thị trường phân biệt.
Giai đoạn suy thoái: Giai đoạn này khối lượng bán ra giảm xuống, nguy cơ tồn kho tăng nhanh. Nguyên nhân là do có sự tiến bộ về công nghệ, sự thay đổi sở thích của khách hàng và cạnh tranh tăng lên. Chiến lược Marketing mix thường là:
- Sản phẩm: giảm bớt các mặt hàng xét ra không còn hiểu quả nữa.
- Giá cả: giảm, đôi khi tăng giá vì chi phí tăng do giảm khối lượng sản xuất.
- Phân phối: chọn lọc và chuyên môn hóa ➢Chiêu thị: giảm các chi phí đến ít nhất.
(Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010)
1.4.2 Giá Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.2.1 Khái niệm về giá
Giá cả là những gì mang lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp và tạo ra chi phí cho khách hàng để họ có được sản phẩm hay dịch vụ từ doanh nghiệp. Nói theo cách khác thì giá là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết mà khách hàng phải bỏ ra để có được một sản phẩm với một chất lượng nhất định, vào một thời điểm nhất định, ở một nơi nhất định.
Giá là một yếu tố cơ bản, là một trong bốn biến số quan trọng của Marketing mix mang lại thu nhập cho doanh nghiệp trong khi tất cả những biến số còn lại chỉ sinh ra đầu tư và chi phí.
Trên thị trường hiện nay, mặc dù cạnh tranh về giá đã nhường vị trí hàng đầu cho cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ, nhưng giá vẫn có một vai trò rất quan trọng trong kinh doanh.
1.4.2.2 Các chiến lược về giá Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Ngày nay, giá cả không phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầu những vẫn luôn được coi là yếu tố cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút khách hàng đặc biết là ở những thị trường mà thu nhập của cư dân còn thấp. Trong việc phát triển sản phẩm mới doanh nghiệp phải có chính sách giá thích hợp để tạo cho sản phẩm có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Chiến lược định giá luôn xoay quanh ba yếu tố then chốt là: chi phí, khách hàng và cạnh tranh nên trong quá trình thiết kế, xây dựng một chiến lược giá thích hợp cho sản phẩm mới, doanh nghiệp nên có chiến lược định giá tổng hợp dựa trên cả ba yếu tố trên, không nên bỏ quên bất cứ yếu tố nào.
Chiến lược giá là những định hướng dài hạn về giá nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Các chiến lược về giá cần liên kết chặt chẽ với việc thiết kế sản phẩm, phân phối và chiêu thị nhằm hình thành một chương trình Marketing thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả (Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010).
1.4.2.3 Các phương pháp định giá
- Định giá dựa vào chi phí: hướng vào mục tiêu chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp, theo đó người ta sẽ cộng thêm một mức lời dự kiến vào chi phí của một sản phẩm.
- Định giá dựa theo người mua: việc định giá không căn cứ vào chi phí để sản xuất ra sản phẩm mà dựa trên sự cảm nhận về giá trị của người mua đối với sản phẩm.
- Định giá dựa vào cạnh tranh: gồm 2 phương pháp là định giá theo thời giá (chủ yếu dựa vào giá cả của đối thủ cạnh tranh) và định giá đấu thầu kín (dựa vào giá của đối thủ cạnh tranh hơn là chi phí và cầu của mình).
1.4.2.4 Các chiến lược định giá điển hình
Chiến lược định giá cho tập hợp sản phẩm Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
- Định giá dòng sản phẩm: doanh nghiệp triển khai sản phẩm đa dạng, sau đó định các bậc giá cho những sản phẩm khác nhau trong cùng một dòng ấy. Các bận giá đó có tính đến những khác biệt về chi phí, đánh giá của khách hàng về các đặc điểm khác nhau và giá cả của đối thủ cạnh tranh.
- Định giá sản phẩm tùy chọn: nhiều doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm với những đặc tính tự chọn. Doanh nghiệp sẽ xác định phần nào là phần tự chọn và quyết định giá cho phần đó.
- Định giá sản phẩm bổ sung: các doanh nghiệp trong những ngành nào đó sản xuất các sản phẩm phải được dùng với các sản phẩm chính yếu khác, khi đó doanh nghiệp định giá sản phẩm thấp vì kiếm lợi nhuận từ sản phẩm chính yếu đi kèm khác.
Chiến lược điều chỉnh giá
- Định giá chiết khẩu và các khoản giảm giá: phần lớn các doanh nghiệp sẽ định giá căn bản của họ để thưởng cho các hoạt động của khách hàng như thanh toán sớm hóa đơn, mua khối lượng lớn, mua ngoài mùa,…
- Định giá phân biệt: nhiều doanh nghiệp thường hay thay đổi giá căn bản cho phù hợp với từng đối tượng khách hàng, phù hợp với từng sản phẩm, khu vực tiêu thụ,…
Chiến lược thay đổi giá
- Chủ động giảm giá: để đối phó với các trường hợp nhà máy còn công suất hoạt động hay quá thừa năng lực, đối phó với đối thủ cạnh tranh để tăng thị phần, thị phần đang suy giảm, muốn khống chế thị trường,…
- Chủ động tăng giá: xuất phát từ các yếu tố như gia tăng chi phí kéo dài dẫn đến giảm dần lợi nhuận biên chế, lượng cầu quá lớn… Việc tăng giá thành công có thể làm gia tăng lợi nhuận một cách đáng kể.
Chiến lược định giá sản phẩm mới
- Định giá thâm nhập thị trường: doanh nghiệp định giá sản phẩm tương đối thấp nhằm thu hút lượng khách mua đủ lớn và đạt được thị phần lớn.
- Định giá nhằm chắt lọc thị trường: doanh nghiệp định giá cao ngay từ đầu cho sản phẩm mới để “chớp” thị trường. Sau khi lượng tiêu thụ chậm lại doanh nghiệp mới hạ giá sản phẩm xuống để lôi kéo lớp khách hàng kế tiếp vốn nhạy cảm với giá.
Chiến lược định giá tâm lý
Giá cả thường phản ảnh chất lượng chất lượng sản phẩm, do đó nhiều khách hàng dùng giá cả như một chỉ báo chất lượng sản phẩm. Khi áp dụng chính sách giá tâm lý, nhà sản xuất xem xét yếu tố tâm lý của giá cả chứ không đơn thuần về khía cạnh kinh tế.
1.4.3 Phân phối Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.3.1 Khái niệm về phân phối và kênh phân phối
Phân phối trong Marketing là một quá trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến nhà tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau.
Vai trò của phân phối trong Marketing mix là cách thức mà doanh nghiệp sẽ sử dụng để có thể đưa sản phẩm đến được thị trường và khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp. Những quyết định phân phối sẽ có ảnh hưởng lớn đến các nỗ lực Marketing.
Kênh phân phối là đường đi của sản phẩm hàng hóa dịch vụ từ nhà cung ứng đến tay người tiêu dùng thông qua sự tham gia của các chủ thể khác nhau có sức mạnh và uy tín khác nhau. Nói cách khác, kênh phân phối kaf tập hợp các tổ chức và cá nhân làm nhiệm vụ chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
1.4.3.2 Chiến lược về phân phối Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Vai trò của phân phối trong Marketing mix là đưa sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Những quyết định phân phối có ảnh hưởng ngay đến các quyết định khác của Marketing. Chẳng hạn một quyết định về giá của công ty phụ thuộc vào việc công ty sử dụng nhiều hay ít trung gian phân phối.
Sự lựa chọn hệ thống phân phối là một trong những quyết định quan trọng nhất của công ty. Nếu giữa các thành viên phân phối có những ràng buộc chặt chẽ, doanh nghiệp mới sẽ gặp nhiều khó khăn khi thâm nhập. Khi đã xây dựng được những liên minh trong phân phối, sản phẩm mới sẽ dễ dàng tung ra thị trường hơn. Những nhà phân phối mạnh mẽ sẽ tăng cường khả năng Marketing của công ty. Với chiến lược phân phối hợp lý, thuận tiện cho người mua sẽ góp phần làm cho sản phẩm lưu thông suốt, nhanh chóng, dễ xâm nhập thị trường.
Khi sử dụng trung gian, tổng lợi nhuận của công ty có thể tăng nếu mức bán của trung gian vượt cao hơn mức bán do công ty tự phân phối. Tuy nhiên sử dụng quá nhiều trung gian sẽ làm nhà sản xuất giảm hẳn những mối liên hệ với người tiêu dùng, đồng thời phải tăng cường giám sát kênh.(Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010)
1.4.3.3 Cấu trúc kênh phân phối
Một kênh phân phối có thể đơn giản hoặc phức tạp, có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau. Đối với sản phẩm tiêu dùng, dạng kênh này thường phức tạp và phong phú. Tùy theo từng loại sản phẩm, từng thị trường, từng doanh nghiệp mà số lượng kênh và cấu trức kênh cũng khác nhau. Tuy nhiên những cấu trúc khác nhau đó đều dựa trên những kênh cơ bản được thể hiện ở hình dưới đây:
Hình 1.2 Cấu trúc kênh phân phối sản phẩm người tiêu dùng.
Kênh không trung gian gọi là kênh trực tiếp hay kênh không cấp (kênh số 1).
Kênh có trung gian gọi là kênh gián tiếp bao gồm các kênh có từ 1 đến 3 cấp ( các kênh số 2,3,4,5,6).
Kênh trực tiếp hay kênh có một trung gian được xem là kênh ngắn. Kênh có từ hai trung gian trở lên là kênh dài (Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010).
Một khóa phân loại khác về kênh phân phối gồm 3 hình thức: Kênh truyền thống, kênh hiện đại và các kênh khác nhau như Horeca. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
- Kênh truyền thống (general trade – GT) gồm các chợ, đại lý, tiệm bán lẻ.
- Kênh hiện đại (modern trade – MT) gồm các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi,…
- Kênh Horeca (viết tắt của các từ Hotel, Restaurant, Catering) gồm các hoạt động cung cấp trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống cho ngành nhà hàng, khách sạn và các sịnh vụ ăn uống liên quan (căn tin nơi trường học, bệnh viện,…). Thuật ngữ Horeca được cho là có nguồn gốc từ Hà Lan, tuy nhiên nó cũng được sử dụng rộng rãi tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ và hầu hết các công ty chuyên về lĩnh vực này trên toàn thế giới.
1.4.3.4 Các chiến lược phân phối
- Chiến lược phân phối rộng rãi: các nhà sản xuất hàng tiêu dùng và các loại nguyên liệu thường được sử dụng chiến lược này, khi đó lượng hàng dự trữ của họ ở càng nhiều cửa hàng càng tốt. Những mặt hàng này cần đáp ứng việc lưu trữ thời gian khá lâu.
- Chiến lược phân phối chọn lọc: thường được áp dụng cho các mặt hàng có giá trị cao. Doanh nghiệp chỉ lựa chọn một số trung gian ở một số nơi nhất định để tiêu thụ sản phẩm không cần phân tán lực lượng ra nhiều điểm bán, nhằm giành được thị phần cần thiết với sự kiểm soát chặt chẽ và tiết kiệm chi phí.
- Chiến lược phân phối độc quyền: Doanh nghiệp chỉ sử dụng một số trung gian rất hạn chế ở một khu vực thị trường để tiêu thụ sản phẩm. Họ yêu cầu đại lý chỉ được bán hàng của mình, không được bán hàng của đối thủ cạnh tranh.
(Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010)
1.4.4 Chiêu thị Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.4.1 Khái niệm về chiêu thị
Chiêu thị là chức năng cung cấp thông tin về thương hiệu cho khách hàng mục tiêu và đóng một vai trò quan trọng trong công việc đưa thương hiệu đến tay khách hàng, thuyết phục, nhắc nhở và khuyến khích khách hàng mua sản phẩm, cũng như hiểu rõ về doanh nghiệp. Có rất nhiều hình thức chiêu thị như: quảng cáo, khuyến mại, chào hàng cá nhân, Marketing trực tiếp, quan hệ cộng đồng,…
Chiêu thị là một yếu tố trọng yếu của Marketing mix. Chiến lược chiêu thị hiệu quả sẽ đóng góp quan trọng cho sự thành công của chiến lược Marketing. Tất cả các hoạt động: phân khúc thị trường, thúc đẩy tiêu thụ,… đều cần đến những hoạt động chiêu thị. Hiện nay, chiêu thị có vai trò giúp ích cho doanh nghiệp trong việc truyền thông trực tiếp với khách hàng.
1.4.4.2 Các chiến lược về chiêu thị Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Đây là hoạt động giúp doanh nghiệp truyền thông trực tiếp đến khách hàng. Theo William và cộng sự (1994), mỗi hỗn hợp chiêu thị (Promotion mix) gồm năm công cụ chủ yếu là quảng cáo, tuyên truyền và quan hệ công chúng, khuyến mãi, bán hàng cá nhân và Marketing trực tiếp.
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện thông tin để truyền đạt tin tức về chất lượng hay ưu điểm của sản phẩm đến khách hàng.
Tuyên truyền là hình thức truyền thông không mang tính cá nhân cho một sản phẩm hay một doanh nghiệp bằng cách đưa các tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các phương tiện thông tin mà không phải trả tiền.
Quan hệ công chúng là những hoạt động truyền thông để xây dựng và bapr vệ danh tiếng của công ty, sản phẩm trước các giới công chúng.
Khuyến mãi là công cụ kích thích tiêu thụ của marketing, nó làm thay đổi giá hoặc giá trị của sản phẩm trong một thời gian cụ thể, ở một thị trường cụ thể.
Khuyến mãi có 3 đặc trưng: truyền thông, kích thích và chào mời.
Marketing trực tiếp là việc sử dụng điện thoại, thư điện tử, và những công cụ tiếp xúc khác (không phải là người) để giao tiếp và dẫn dụ được đáp ứng từ những khách hàng riêng biệt hoặc tiềm năng. Marketing trực tiếp là để dẫn đến bán hàng trực tiếp không qua trung gian.
Bán hàng trực tiếp là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày, giới thiệu và bán sản phẩm.
Một hỗn hợp chiêu thị hiệu quả sẽ đóng góp quan trọng cho sự thành công của chiến lược Marketing. Đối với những sản phẩm mới, trước hết cần phải thông tin về kiểu dáng và những đặc trưng để xây dựng nơi khách hàng một thái độ tốt đối với sản phẩm. Đối với sản phẩm thông dụng, cần nhắc nhở để gia tăng sự tin cậy đã có ở người tiêu dùng.
Hình 1.3 Mô hình truyền thông Marketing
Các đối tượng tiếp nhận những nỗ lực chiêu thị của một doanh nghiệp rất da dạng, bao gồm tiêu thụ, cổ đông, nhóm bảo vệ người tiêu dùng, chính phủ, các thành viên phân phối, nhân viên, cạnh tranh,… Sự giao tiếp với mỗi đối tượng khác nhau do những khác biệt về mục tiêu, sự hiểu biết và nhu cầu. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
Mỗi kế hoạch chiêu thị của doanh nghiệp thường nhấn mạnh đến sản phẩm và công ty nhằm dẫn khách hàng đến ý định mua hàng. Tuy nhiên công ty cũng có thể lồng thêm vào hình ảnh của công ty, quan điểm phục vụ, hoạt động hỗ trợ cộng đồng, hay những hiệu quả mang đến cho xã hội.
Nhà sản xuất có thể hướng các nỗ lực chiêu thị vào cả trung gian phân phối và người sử dụng cuối cùng. Có hai chiến lược chiêu thị chủ yếu là chiến lược đẩy và chiến lược kéo (Quách Thị Bửu Châu và cộng sự, 2010).
Chiến lược đẩy: nhà sản xuất hướng tới các hoạt động chiêu thị chủ yếu vào các nhà phân phối để tạo liên hệ về phía trước trong kênh phân phối. Nhà sản xuất xúc tiến mạnh đến các trung gian phân phối để thúc đẩy họ mua sản phẩm và iếp tục xúc tiến để bán cho người tiêu dùng. Chiến lược đẩy thường tập trung vào bán hàng cá nhân và khuyến mãi cho các trung gian, kể cả nhân viên bán hàng.
Chiến lược kéo: các hoạt động chiêu thị hướng đến người tiêu dùng cuối cùng. Người tiêu dùng sẽ yêu cầu sản phẩm từ các nhà phân phối và những người này sẽ đặt hàng lại nhà sản xuất. Những hoạt động chiêu thị trong chiến lược kéo được thiết lập để “kéo” sản phẩm thông qua các kênh phân phối. Chiến lược này sử dụng nhiều quảng cáo và khuyến mãi cho người tiêu dùng.
Trong thực tế, các công ty có thể sử dụng một trong hai chiến lược hoặc kết hợp cả hai.
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing mix Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.5.1 Yếu tố môi trường
Tương tự các hoạt động sản xuất kinh doanh khác của doanh nghiệp, hoạt động Marketing mix cũng chịu tác động mạnh mẽ của các yếu tố từ môi trường.
1.4.5.2 Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là môi trường bên ngoài bao trùm lên hoạt động của tất cả các tổ chức, có ảnh hưởng lâu dài, trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của tổ chức. Môi trường vĩ mô luôn chứa những cơ hội và đe dọa đối với doanh nghiệp. Mức độ và tính chất tác động của loại môi trường này khác nhau theo từng ngành, từng doanh nghiệp, thậm chí từng hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả hoạt động Marketing mix (Nguyễn Hữu Nam và cộng sự, 2011).
Các yếu tố môi trường vĩ mô theo mô hình PEST bao gồm 4 yếu tố chính: chính trị pháp luật (political), kinh tế (economic), văn hóa xã hội (sociocultural), kỹ thuật công nghệ (technological). Mỗi yếu tố trong môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến doanh nghiệp một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yêu tố khác.
Doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được môi trường này, do đó các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung, các nhà làm Marketing nói riêng cần phải nghiêm cứu các yếu tố của môi trường vĩ mô để nhận biết sớm, phản ứng kịp thời, điểu chỉnh các hoạt động Marketing mix cho phù hợp.
1.4.5.3 Môi trường vi mô
Môi trường vi mô gắn liền và tác động trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp, nó quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó.
Michael Porter đã đưa ra mô hình năm áp lực cạnh tranh chi phối mạnh trong mỗi ngành kinh doanh, bao gồm: đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành, sức mạnh mặc cả của người mua, sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp, mối đe dọa từ sự xuất hiện của các đối thủ mới, mối đe dọa từ các sản phẩm thay thế (Nguyễn Hữu Nam và cộng sự, 2011).
Các doanh nghiệp cần nghiên cứu hiện trạng và xu hướng của các áp lực cạnh tranh, căn cứ vào các điều kiện bên trong của mình để xác minh vị trí trong ngành và có các chiến lược hoạt động Marketing mix thích hợp để đối phó với các lực lượng cạnh tranh một cách tốt nhất. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
1.4.5.4 Các yếu tố khác
Hoạt động Marketing mix không theo một khuôn mẫu chung nào cho mọi trường hợp mà nó được vận dụng một cách uyển chuyển, linh hoạt, thay đổi dưới tác động của các yêu tố ảnh hưởng mang tính quyết định, bao gồm:
- Vị trí và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường: Nếu doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được thị phần cao thì lúc đó không cần tốn nhiều chi phí cho các hoạt động chiêu thị nhưng vẫn bán được sản phẩm.
- Tình huống thị trường: Tùy thuộc vài khả năng mua hàng của từng thị trường mà doanh nghiệp phải có hoạt động Marketing mix khác nhau. Ví dụ sức mua của thị trường thành thị cao hơn sức mua của thị trường vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, chiến lược Marketing cho các thị trường này phải khác nhau.
- Tính chất sản phẩm: Sản phẩm khác nhau phải có cách bán hàng , chiêu thị khác nhau.
- Vòng đời sản phẩm: Mỗi giai đoạn chu kỳ sống sản phẩm sẽ có những đặc điểm khác nhau, do đó doanh nghiệp cần phải có hoạt động Marketing mix phù hợp. Khóa luận: Hoạt động Marketing mix cho công ty Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động Marketing mix công ty Việt Nam
