Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Căn cứ vào quy định của pháp luật quốc tế, kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trên thế giới và tình hình thực tế ở Việt Nam, tác giả xin đưa ra một số kiến nghị sau để tăng cường bảo đảm quyền tự do lập hội ở Việt Nam:

4.1. Ban hành Luật về Hội

4.1.1. Sự cần thiết của Luật về Hội ở Việt Nam

Khi chuyển từ nhà nước cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân thì sẽ hình thành các thiết chế xã hội đa dạng. Nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, nhờ vậy mà các hội ngày càng phát triển, do vậy mà đòi hỏi cần phải có những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh. Mặc dù đã có các Nghị định hướng dẫn về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, song các văn bản đó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sống. Một số quy định về quyền và nghĩa vụ của hội thiếu cụ thể, thường được gắn với “theo quy định của pháp luật” trong khi pháp luật chưa có quy định nên rất khó thực thi. Một số nội dung quy định tại các Nghị định này chưa phù hợp với các vấn đề nảy sinh trong thực tế, chưa bắt kịp với xu thế mở rộng dân chủ và phát huy nguồn lực từ xã hội. Ví dụ, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ với vai trò là văn bản có hiệu lực trực tiếp điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của các hội được đánh giá là khắt khe, được ban hành theo hướng quản lý hoạt động của các hội thay vì tôn trọng và bảo vệ quyền tự do lập hội của người dân. Nghị định và các văn bản liên quan còn thiếu các quy định điều chỉnh về hội không có hội viên và các tổ chức cộng đồng, quy định đầu mối quản lý thống nhất các hội; cơ chế đánh giá, giám sát trách nhiệm giải trình và tính công khải, minh bạch của các hội; chính sách khuyến khích và ưu đãi thuế dành cho các hoạt động vì mục đích phát triển cộng đồng. Mặt khác, “nhiều Nghị định được ban hành tạo sự chồng chéo do đó cần xây dựng Luật về Hội để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ” [37] Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

Hội được thành lập tức là tiếng nói của người dân được tập hợp lại với nhau để tạo thành sức mạnh, cùng nhà nước thực hiện mục tiêu của hệ thống chính trị, để kiểm soát sự lạm quyền, để bảo vệ mình, để chống lại những tiêu cực trong xã hội như tham nhũng, quan liêu, hách dịch. Nhà nước ghi nhận và tôn trọng quyền này trước hết là để đảm bảo quyền lợi cá nhân, nhưng suy cho cùng là phát huy vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội. Do vây, cùng với quy định của Hiến pháp về quyền lập hội, cần thiết phải ban hành luật để tạo cơ sở pháp lý cụ thể, đầy đủ cho công dân thực hiện quyền này. Đồng thời, Luật về Hội sẽ tạo hành lang pháp lý an toàn, khắc phục những hành vi chủ quan, duy ý chí của các cơ quan nhà nước mà cản trở việc thực hiện quyền của người dân.

Luật về Hội sẽ giúp tăng cường vị thế và năng lực cho các hội. Nếu thiếu các hội mạnh thì chủ thể chịu thiệt thòi đầu tiên là người dân. Các cá nhân đơn lẻ không thể phản hồi hiệu quả cho Chính phủ. Thực tế chắc chắn sẽ khác đi khi các hội với hàng chục, hàng trăm ngàn thành viên nêu ý kiến. Khi đó, các cơ quan nhà nước phải lắng nghe và có trách nhiệm tiếp cận, giải quyết và thay đổi.

Với khung pháp lý hiện tại, các tổ chức phi chính phủ vẫn có thể hoạt động, tham gia cung cấp dịch vụ, vận động xã hội và chính sách. Nhưng khi hoạt động của họ vươn ra các vùng bị các cơ quan nhà nước cho là “nhạy cảm”, không mong đợi, thì việc bị hạn chế hoạt động hoặc bị loại bỏ ra khỏi các cuộc tham vấn chính sách là hoàn toàn có thể. Đây chính là lý do cần phải có Luật về Hội để các tổ chức phi chính phủ có thể giám sát và phê phán chính sách của nhà nước một cách độc lập, trung thực mà không bị ngăn cản. Đồng thời, các Hội thành viên có thể được thành lập để nâng cao nhận thức xã hội, cũng như cân bằng quyền lực với các cơ quan công quyền, nhằm tạo ra các kênh đối thoại để tìm ra những giải pháp tối ưu cho sự phát triển của đất nước, song hành với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Việc ban hành Luật về Hội không chỉ đảm bảo quyền lập hội của người dân mà còn có tác dụng huy động người dân đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước, cải cách thể chế đảm bảo an ninh, ổn định của xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, người dân ngày càng được hưởng nhiều quyền lợi hơn, đặc biệt là quyền dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp. Dân chủ của người dân được đảm bảo bằng pháp luật với những điều kiện hết sức rõ ràng, cho nên khơi gợi, khuyến khích người dân mạnh dạn hơn, ý thức hơn các công việc của mình, thúc đẩy họ tham gia những công việc xã hội theo sức của mình.

Tóm lại, việc liên kết lại với nhau là một đặc tính xã hội xuất phát từ nhu cầu tồn tại của con người. Tự do lập hội được coi là một quyền tự nhiên của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người như UDHR, ICCPR và hiến pháp của nhiều quốc gia. Thế nhưng, các quy định về quyền tự do lập hội trong pháp luật hiện nay chưa hoàn toàn tương thích với các quy định quốc tế. Do vậy, việc ban hành Luật về hội để mau chóng thực hiện hóa quyền này trên thực tế là một việc làm cần thiết để tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhất bảo đảm quyền tự do lập hội theo tinh thần tôn trọng quyền con người theo Hiến pháp 2013 và các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống thể chế pháp luật về hội cần một chiến lược tổng thể và những bước đi phù hợp, phải có sự chuẩn bị, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức cá nhân liên quan bởi “chỉ khi nào luật gần với ý nguyện của dân thì dân mới sử dụng đến luật” [38]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

4.1.2. Luật về Hội nên được quy định như thế nào? Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

  1. Về tên gọi Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

Nên được gọi là Luật về lập hội để nêu bật được quyền và sự tự chủ của người dân khi tham gia vào việc thành lập, quản lý hoạt động của hội, thể hiện trong các nội dung: điều kiện thành lập hội, quyền nghĩa vụ của hội, xử lý trách nhiệm đối với hội và sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhà nước đối với hội. Nói cách khác, nội dung của luật phải theo hướng tạo điều kiện, thúc đẩy quyền được lập hội của công dân, và tạo điều kiện cho các hoạt động của hội được độc lập, tự chủ, không nên thiết lập các quy định mang tính hành chính nhà nước cho các hoạt động thành lập, tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội.

  1. Về cách tiếp cận

Nên xác định đây là đạo luật để bảo vệ và bảo đảm thực thi quyền tự do lập hội, chứ không phải là đạo luật đơn thuần chỉ để quản lý hội. Do đó, cần xác định các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng (không cản trở), bảo vệ (xử lý các vi phạm) và thúc đẩy (hỗ trợ các điều kiện thực thi) quyền này của mọi cá nhân, tổ chức bởi hội là tổ chức của dân, hội hoạt động phục vụ phát triển xã hội và đáng được khuyến khích để hoạt động. Xác định việc tăng cường tự do lập hội như là một trong những ưu tiên trong chính sách tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân hiện nay.

Cần thấy rằng, việc thành lập các hội đoàn là nhu cầu chính đáng của con người và là xu thế phát triển tất yếu của tiến trình phát triển xã hội. Do đó, viêc duy trì khuôn khổ pháp lý cứng nhắc, thiên về tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước là không còn phù hợp với thực tế nước ta, cũng như với những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về tự do lập hội mà Việt Nam đã ký kết. Các biện pháp cấm đoán, hạn chế quyền tự do lập hội là kiểu quản lý đã lỗi thời, thiếu hiệu quả. Đổi mới phương thức quản trị công, thiết lập và thực thi chính sách theo lăng kính quyền con người là cách thức đúng đắn để thực hiện nghĩa vụ của quốc gia trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền tự do lập hội.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước về hội. Không nên áp đặt ý chí chủ quan, một chiều từ phía cơ quan quản lý mà ít hoặc không quan tâm đến nguyện vong của đối tượng bị điều chỉnh và nhiều khi xa rời thực tế sinh động. Theo đó, Luật về Hội cần có những quy định bắt buộc các cơ quan chức năng nhà nước phải tạo điều kiện cho việc thực thi quyền tự do lập hội và ngăn ngừa sự tùy tiện khi thi hành công vị trong quản lý các hội. Cần xem xét mức độ riêng tư của hội, loại bỏ những rào cản kỹ thuật đối với thực hành quyền lập hội, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào tổ chức và hoạt động của hội. Tôn trọng nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hội. Nhà nước cũng cần có các chính sách cụ thể nhằm tạo dựng một môi trường bình đẳng, thuận lợi cho các hội, tạo điều kiện cho hội hoạt động nhằm phát huy vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

  1. Về phạm vi chủ thể tham gia Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

Cần quán triệt quan điểm quyền lập hội là quyền cơ bản của con người chứ không phải riêng của công dân. Cần mở rộng chủ thể quyền từ công dân sang con người. Trước mắt nếu chưa thể mở rộng đối tượng áp dụng của luật thì trong điều khoản thi hành có thể ghi nhận quyền tự do lập hội của người nước ngoài, người không có quốc tịch sinh sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam, hoặc quy định tương tự như luật của một số nước (chẳng hạn như CHLB Đức), theo đó người nước ngoài có thể thực hiện quyền tự do lập hội của mình trên cơ sở viện dẫn điều khoản về tự do lập hội của mọi cá nhân trong luật nhân quyền quốc tế.

  1. Về phạm vi điều chỉnh

Việc quy định công dân chỉ có thể thực hiện quyền lập hội khi thành lập thành một nhóm, một tổ chức nhất định và phải được công nhân là có tư cách pháp nhân là không phù hợp. Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các cá nhân và giữa các hội, nên mở rộng đối tượng điều chỉnh của luật đến mọi tổ chức trong xã hội, trong đó xác định rõ có loại hội không cần đăng ký và có loại hội cần đăng ký (có tư cách pháp nhân).

Đồng thời, nhằm khuyến khích các hội đăng ký khi thành lập nên quy định rõ những ưu đãi khi hội đăng ký trở thành pháp nhân như: được mua sắm bất động sản, được nhận trong và ngoài nước, được nhân danh tổ chức tham gia quan hệ dân sự theo luật dân sự…

  1. Về thủ tục thành lập

Bảo đảm quyền tự do lập hội của công dân theo Hiến pháp là tạo điều kiện cho hoạt động của hội bao gồm thực hiện đơn giản hóa về thủ tục lập hội. Đối với thủ tục đăng ký cần gọn nhẹ, một cửa, thuận tiện, tối thiểu hóa các thủ tục hành chính, các tiêu chí thành lập vừa phải, đảm bảo rõ ràng và nhanh chóng để mọi tổ chức, cá nhân đều có thể hiểu và thực hiện.

Phù hợp xu hướng chung của cải cách hành chính và hướng tới xây dựng chính phủ điện tử, Việt Nam có thể quy định thủ tục đăng ký thành lập hội thông qua Internet. Quy trình thành lập hội nên đơn giản, dễ tiếp cận, không phân biệt đối xử, không phiền hà hoặc miễn phí. Cần đơn giản hóa tối đa để thủ tục đăng ký thành lập hội theo hướng thông báo thay vì xin phép để tránh tình trạng xin – cho. Việc đăng ký phải được phúc đáp kịp thời, không quá lâu. Nên quy định quyền được khiếu nại để xem xét lại quyết định của cơ quan cấp đăng ký.

  1. Về quản lý, giám sát Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

Xác định rõ quy định quản lý về hội, trong đó có quản lý nhà nước về hội. Chỉ nên quy định một cơ quan là đầu mối quản lý việc thành lập và hoạt động của hội, bỏ chế độ bộ chủ quản. Nên có các quy định cụ thể, rõ ràng về nghĩa vụ công khai, cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các hội, đặc biệt là các hội nhận ngân sách công và tài trợ, quyên góp của công chúng để cơ quan công quyền không lợi dụng việc giám sát, quản lý hội mà xâm phạm quyền tự do lập hội. Bởi hoạt động của hội phụ thuộc vào các nguồn hỗ trợ tài chính trong và ngoài nước nên để hoạt động các hội được thuận tiện, cũng là để tôn trọng quyền tự do lập hội, cần tạo điều kiện cho các hội tiếp cận các nguồn quỹ đó mà không buộc phải có quyết định phê duyệt trước đó của cơ quan có thẩm quyền. Các quy định về gây quỹ, nhận tài trợ, về triển khai các hoạt động hội (nhất là hội thảo, tập huấn), có hoặc không liên quan đến nước ngoài, nên được điều chỉnh theo hướng tôn trọng quyền tự chủ của các hội.

Đối với các chủ thể trung gian, pháp luật cũng cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ/ trách nhiệm của báo chí trong việc đưa tin về hội, cũng như của cơ quan nhân quyền quốc gia (nếu có) trong việc giám sát và giải quyết những khiếu nại, tố cáo vi phạm quyền tự do lập hội.

4.2 Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính cần sửa đổi, bổ sung các chế tài với những hành vi từ chối, ngăn cản và các hành vi khác vi phạm quyền tự do lập hội của người dân

Những hành vi vi phạm pháp luật về hội cũng nên được cụ thể hóa trong Luật xử lý vi phạm hành chính và Bộ luật hình sự. Cần sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung thêm các chế tài áp dụng với những hành vi từ chối, ngăn cản và các hành vi khác vi phạm quyền tự do lập hội của người dân, đồng thời xóa bỏ những quy định trái với tinh thần bảo đảm quyền tự do lập hội. Nói cách khác, luật cần quy định rõ ràng và cụ thể cơ chế và biện pháp bảo vệ quyền tự do lập hội khỏi các can thiệp vô lý, tùy tiện của cơ quan, cán bộ Nhà nước ở bất kỳ cấp nào. Cần đảm bảo các công chức hành chính và thi hành luật được đào tạo thích đáng về việc tôn trọng quyền tự do lập hội, nếu vi phạm quyền này sẽ phải chịu trách nhiệm đầy đủ trước pháp luật. Đồng thời, luật cần đảm bảo các biện pháp hay cơ chế khắc phục hậu quả và bồi thường đối với nạn nhân bị vi phạm các quyền tự do lập hội.

Các hội nhìn chung là ôn hòa, tuy nhiên cũng có những hội cực đoan, có hành động quá khích, ảnh hưởng đến trật tự trị an. Hành động của những hội này phải được điều chỉnh bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng trong quá trình điều chỉnh có thể dấn tới những hạn chế, can thiệp tùy tiện, trái pháp luật vào hoạt động của hội. Chính vì vậy, Tòa án và cơ quan nhân quyền quốc gia có vai trò quan trọng trong vấn đề này. Cần quy định rõ thẩm quyền tài phán của cơ quan thụ lý, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện độc lập với cơ quan quản lý hành chính để bảo đảm tính khách quan, độc lập và hiệu quả trong việc bảo vệ quyền tự do hiệp hội của người dân. Quyết định đình chỉ, chấm dứt hay giải tán không tự nguyện một hội phải được đưa ra từ một tòa án vô tư và độc lập. Tòa án có nghĩa vụ xử lý một cách công bằng, khách quan những vi phạm pháp luật tự do lao hội, bao gồm vi phạm của người tổ chức, người điều hành, thành viên các hội và của có quan nhà nước có trách nhiệm quản lý hội. Các cơ quan nhân quyền quốc gia có vai trò bảo đảm quyền tự do lập hội thông qua tư vấn, hướng dẫn cho các cơ quan nhà nước, tiếp nhận và giải thích những đơn tố cáo vi phạm quyền tự do lập hội của công dân, tổ chức. Mặc dù không phải là cơ quan tư pháp, song ý kiến của cơ quan nhân quyền quốc gia về một khiếu nại, tố cáo vi phạm quyền tự do lập hội thường sẽ được các cơ quan nhà nước liên quan lắng nghe, tôn trọng và thực hiện

5.3 Bảo đảm sự kế thừa và tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật và quản lý hội phù hợp với thông lệ quốc tế

Pháp luật về hội ngoài đảm bảo tính chính xác, chuẩn mực cần phải đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong hệ thống pháp luật và phải phù hợp, hợp lý với hệ thống pháp luật quốc tế. Đây là điều hết sức cần thiết để bảo đảm tính tương thích của pháp luật quốc gia so với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế nói chung và so với Công ước ICCPR nói riêng.

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội, ngăn ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật của tất cả các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện các hoạt động xã hội. Mặt khác, pháp luật là công cụ đảm bảo quyền tự do bình đẳng của mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động đó. Nếu yếu tố pháp luật không được đề cao sẽ lúng túng trong quản lý nhà nước, các quyền của người dân rất dễ bị xâm hại. Mặt khác, quyền tự do lập hội lại là quyền cơ bản của con người nên với tư cách là chủ thể quyền lực công, nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm quyền tự do lập hội của công dân. Do vậy, để bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 thì hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quyền tự do lập hội ở nước ta trong thời gian tới là rất cần thiết.

Mặc dù hiện nay, pháp luật về tự do lập hội ở nước ta chưa hoàn toàn tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế nhưng so với trước thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về quyền tự do lập hội đã có những thay đổi lớn, theo hướng có coi trọng, cởi mở hơn, đây là yếu tố thúc đẩy việc thực hiện quyền. Căn cứ vào tình hình nước ta hiện nay, việc nhà nước đẩy nhanh việc xây dựng Luật về Hội để làm cơ sở pháp lý nền tảng cho việc bảo đảm quyền này, sau đó ban hành các văn bản pháp quy cụ thể hóa các quy định của luật là cần thiết. Pháp luật về hội phải phản ánh một cách khách quan những yêu cầu của xã hội, sự phát triển của đời sống xã hội, có như vậy quyền tự do lập hội mới được bảo đảm. Nếu xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do lập hội và coi quyền tự do lập hội như là quyền của người dân được đóng góp sức lực và trí tuệ cho sự phát triển của đất nước thì nội dung của Luật về Hội chắc chắn sẽ tạo thêm sự đồng thuận cao trong xã hội, góp phần bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x