Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập hiện nay, nền kinh tế thế giới đang vận động không ngừ. Trong tình hình chung đó, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng kể ập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2006. Việc này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là hoạt động ngoại thương trong đó dịch vụ khai thác cảng đóng vai trò hết sức quan trọng.

Giao thông vận tải thủy đóng vai trò rất quan trọng vì hầu hết hoạt động giao nhận ngoại thương đều chọn phương thức vận tải biển. Cảng biển là một bộ phân không thể tách rời, 80% hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển. Cảng vừa phục vụ cho nhu cầu đi lại cho con người vừa là nơi trao đổi hàng hoá nội địa và cho nhu cầu xuất nhập khẩu góp phần không nhỏ thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Trước tình hình chung của nền kinh tế cả nước, công ty cổ phần Cảng Nam Hải thuộc Tập đoàn Gemadept Việt Nam, cũng đang từng bước tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là cần phải có đủ lượng vốn kinh doanh để đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh.

Vốn có vai trò quan trọng, không thể thiếu của các nền kinh tế, các quốc gia, các doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn hình thành và phát triển cũng cần phải có một lượng vốn để có thể hoạt động. Vốn là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh; đặc biệt trong xu thế hiện nay, việc sử dụng vốn với hiệu quả cao nhất luôn được đặt ra với các doanh nghiệp. Nó không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn giúp cải thiện vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong khu vực, trong ngành. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Xuất phát từ đó, trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải cùng với sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các cán bộ trong công ty; em đã phân tích, đánh giá tình hình tài chính của công ty cổ phần Cảng Nam Hải để rút ra được những mặt tích cực và mặt hạn chế của công ty trong công tác sử dụng vốn. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài tốt nghiệp: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải”.

Đề tài được nghiên cứu nhằm phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về vốn kinh doanh. Từ đó đánh giá thực trạng sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp và vận dụng những vấn đề lý luận vào thực tiễn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được trình bày thành 3 phần:

Phần 1: Lý luận chung về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn.

Phần 2: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải.

  • Chương 1: Một vài nét khái quát về công ty cổ phần Cảng Nam Hải.
  • Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải.
  • Chương 3: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải.
  • Chương 4: Kết luận chung về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công

Phần 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải.

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

1.1 Khái quát chung về vốn của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về vốn

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về vốn kinh doanh, tuy nhiên khái niệm được nhiều người ủng hộ là: Vốn kinh doanh là số vốn được dung vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp (do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khái niệm này không những chỉ ra rằng vốn là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vậy yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là họ cần phải có sự quản lý vốn có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh.

Các đặc trưng cơ bản của vốn:

  • Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
  • Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh
  • Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh.
  • Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này có vai trò quan trọng khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn.
  • Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
  • Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường
  • Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật (tài sản cố định của doanh nghiệp: máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý…) mà cả các tài sản vô hình (các bí quyết trong kinh doanh, các phát minh sáng chế,…)

1.1.2 Phân loại vốn và đặc điểm của từng loại vốn Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Dựa trên những tiêu chí đánh giá khác nhau có nhiều các để phân loại vốn.

1.1.2.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành

1.1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết và thông qua đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ.

  • Vốn pháp định:

Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi muốn hình thành doanh nghiệp và số vốn này được Nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà Nước, số vốn này được ngân sách nhà nước cấp.

  • Vốn tự bổ sung:

Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận giữ lại).

  • Vốn chủ sở hữu khác:

Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi bởi vì: do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản.

1.1.2.1.2 Vốn huy động của doanh nghiệp

Ngoài các hình thức vốn do Nhà nước cấp thì doanh nghiệp còn một loại vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, đó là vốn huy động. Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không đủ vốn, thì số vốn còn lại đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất doanh nghiệp phải có sự liên doanh, liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình thức khác.

  • Vốn vay:

Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm vốn. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

Vốn vay trên thị trường chứng khoán: Tại các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một trong những hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp. Thông qua hình thức này doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để huy động các khoản vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp có thể huy động số vốn nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng sản xuất kinh doanh của mình.

  • Vốn liên doanh liên kết:

Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm,điều này cũng có nghĩa là uy tín của công ty sẽ được thị trường chấp nhận. Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này.

  • Vốn tín dụng thương mại:

Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng. Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán, của chính sách tín dụng khách hàng mà doanh nghiệp được hưởng. Đây là một phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó cũng tạo khả năng mở rộng cơ hội hợp tác làm ăn của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

  • Vốn tín dụng thuê ngoài:

Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và doanh nghiệp. Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người cho thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoả thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính:

  • Thuê vận hành:

Phương thức thuê vận hành (thuê hoạt động) là phương thức thuê ngắn hạn tài sản. Hình thức này có các đặc trưng sau:

  • Thời hạn thuê ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong thời gian ngắn.
  • Người thuê chỉ việc trả tiền theo thỏa thuận, người cho thuê phải đảm bảo mọi chi phí vận hành của tài sản như phí bảo trì, bảo hiểm thuế tài sản . ..cùng với mọi rủi ro vô hình của tài sản.

Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời vụ và nó đem lại cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài sản này vào sổ sách kế toán.

  • Thuê tài chính:

Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng thưong mại trung hạn và dài hạn theo hợp đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà người cần thuê đã thương lượng từ truớc các điều kiện mua tài sản từ người cho. Thuê tài chính có hai đặc trưng sau:

  • Thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn thời gian hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ của các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
  • Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên cho thuê, bên thuê phải chịu các loại chi phí bảo dưỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với tài sản tương tự như tài sản của công ty.

Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là tiền đề để cho doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc quản lý vốn ở các doanh nghiệp trọng tâm cần đề cập đến là họat động luân chuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng vốn. Vốn cần được nhìn nhận và xem xét dưới trạng thái động với quan điểm hiệu quả.

1.1.2.2. Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển

1.1.2.2.1 Vốn cố định: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của nguồn vốn cố định được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì vậy, việc nghiên cứu về nguồn vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố định.

  • Tài sản cố định:

Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, mặc dù tư liệu lao động sản xuất có thể bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vất chất ban đầu. Tư liệu lao động sản xuất chỉ có thể được đem ra thay thế hay sửa chữa lớn khi mà chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc chúng không còn mang lại giá trị kinh tế cho doanh nghiệp.

Tài sản cố định phải là những vật phẩm thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, trong một quan hệ sản xuất nhất định. Bản thân tính sử dụng lâu dài và chi phí cao vẫn chưa có thể là căn cứ duy nhất để xác định tài sản cố định nếu nó không gắn liền với một quyền sở hữu thuộc về một doanh nghiệp, một cơ quan, hợp tác xã…

Theo quy định hiện hành thì những tư liệu lao động nào đảm bảo đáp ứng đủ hai điều kiện sau thì sẽ được coi là tài sản cố định:

  • Giá trị của chúng >= 5.000.000 đồng
  • Thời gian sử dụng >= 1 năm

Để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý tài sản cố định cũng như vốn cố định và nâng cao hiệu quả sử dụng chính thì cần có các phương án tuyển chọn và phân loại chúng. Phân loại tài sản cố định là việc chia tổng số tài sản cố định ra từng nhóm, bộ phận khác nhau dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau:

  • Tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: loại này bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình:

Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu được biểu hiện bằng hình thái vất chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc…Những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản có liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhằm một mục tiêu quan trọng nhất là đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất nhưng xác định giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc là các đối tượng phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình ví dụ như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về sử dụng đất, chi phí thu mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại… Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

  • Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng…
  • Tài sản cố định mà doanh nghiệp bảo quản và cất giữ hộ Nhà nước.

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được vị trí quan trọng của tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua đó doanh nghiệp đưa ra những chính sách hợp lý nhằm đầu tư vào tài sản một cách hợp lý.

Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp mà chúng được chia ra thành:

  • Tài sản cố định đang sử dụng.
  • Tài sản cố định chưa cần dùng.
  • Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý.

Cách phân loại này phần nào giúp cho doanh nghiệp có thể hiểu và kiểm soát dễ dàng các tài sản của mình.

  • Vốn cố định của doanh nghiệp:

Việc đầu tư thành lập một doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: xây dựng nhà xưởng, phân xưởng, nhà làm việc và nhà quản lý, lắp đặt hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm…Doanh nghiệp chỉ có thể đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh khi mà nó đã hoàn thành các công đoạn trên. Lúc này vốn đầu tư đã được chuyển sang vốn cố định của doanh nghiệp.

Như vậy, vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận vốn đầu tư ứng trước của tài sản của doanh nghiệp; đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và một vòng tuần hoàn của tài sản cố định chỉ kết thúc khi mà nó hết thời hạn sử dụng đồng thời nó sẽ mang lại một phần lợi nhuận nhất định cho doanh nghiệp.Việc đầu tư để mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp phần nào phụ thuộc vào quyết định đầu tư của doanh nghiệp, đồng nó cũng mang lại một thế mạnh cho sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.

1.1.2.2.2. Vốn lưu động

  • Tài sản lưu động:

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động và vốn cố định luôn song hành trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên tài sản lưu động nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động thường chiếm một tỷ lệ khá cao thường chiếm khoảng 50% – 60% tổng tài sản của doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Tài sản lưu động khi tham gia quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thường là không giữ được giá trị hình thái vật chất ban đầu. Là bộ chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thể của sản phẩm, bộ phận khác cùng tham gia trong quá trình này bị biến đổi hay hao phí theo thực thể được hình thành. Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một quá trình, một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do đó toàn bộ giá trị của chúng được chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở hành hàng hoá.

Đối tượng lao động trong các doanh nghiệp được chia thanh hai phần:

  • Bộ phận hàng dự trữ: Đây là loại hàng dự trữ đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp không bị gián đoạn.
  • Bộ phận vật tư đang trong quá trình chuyển đến cho quá trình chế biến; bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vật tư, nguyên vật liệu khác…chúng tạo thành các tài sản lưu động nằm trong các khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh tài sản cố định nằm trong khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì cũng có một số loại tài sản khác được sử dụng trong một số khâu khác trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như; khâu lưu thông, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu…Do vậy, trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp bao giờ cũng để ra một khoản tiền nhất định dùng cho các trường hợp này, số tiền ứng trước cho tài sản người ta gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.

  • Vốn lưu động:

Có rất nhiều hình thái mà vốn lưu động có thể chuyển đổi như: T-H-T’ hoặc H-T-H’. Tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó trở về trạng thái ban đầu sau khi đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó sẽ mang lại cho doanh nghiệp số lãi hay không thì còn phụ thuộc vào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp. Vậy, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể hiểu là số tiến ứng trước về tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.

Vì vậy, vốn lưu động cần được quản lý và sử dụng một cách tốt nhất, điều này sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều điều kiện trên thị trường. Một doanh nghiệp được đánh giá là quản lý vốn lưu động tốt, có hiệu quả khi doanh nghiệp biết phân phối vốn một cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của mình và qua đó nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Để quản lý vốn đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải nhận biết được các bộ phận cấu thành của vốn lưu dộng, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp với từng loại. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động bao gồm:

  • Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm tự gia công chế biến.
  • Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dung để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dung cho hoạt động sản xuất.
  • Vốn lưu động dùng cho quá trình lưu thông: là bộ phận dùng cho quá trình lưu thông như: thành phẩm, vốn tiền mặt…

Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:

  • Vốn vật tư hàng hóa: là những khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm…
  • Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn.

Các doanh nghiệp dù hoạt động theo mô hình nào, to hay nhỏ thì một nhu cầu không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp đó là vốn. Nó là tiền đề cho quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.

Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn có giấy phép để hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải chứng minh được một trong các yếu tố cơ bản đó là vốn (điều này đã được nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp) khi đó thì địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ không đủ điều kiện để hoạt động. Tuy nhiên không phải khi đã có được giấy phép kinh doanh thì doanh nghiệp muốn kinh doanh như thế nào cũng được mà trong thời gian đó doanh nghiệp luôn phải đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn theo quy định nếu không thì doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy phép hay tuyên bố giải thể, phá sản, sát nhập… Như vậy có thể coi vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các vấn đề của doanh nghiệp nhằm đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp trước pháp luật.

Về mặt kinh tế: Khi các doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu về vốn thì doanh nghiệp đó có khả năng chủ động trong các hình thức kinh doanh, thay đổi công nghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho kinh doanh, điều này khá quan trọng vì nó sẽ giúp doanh nghiệp hạ được giá thành sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong xã hội.

Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn đối với các doanh nghiệp. Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất… trong thời gian ngắn. Nó mang lại cho doanh nghiệp được nhiều lợi thế như: cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao động cho nhân công…mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản phẩm và nhu cầu của thị trường điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn. Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư.

1.1.2.3 Phân loại vốn theo thời gian huy động và sử dụng vốn

  • Nguồn vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn.
  • Nguồn vốn tạm thời: bao gồm vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa trả tiền.

1.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Trong nền kinh tế thị trường vốn kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trường thực sự là một môi trường để cho vốn được bộc lộ đầy đủ bản chất vai trò của nó.

Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nếu không có vốn sẽ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.

Vốn kinh doanh giúp cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục và hiệu quả.

Vốn kinh doanh không những là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định chỗ đứng của mình mà còn là điều kiện tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.

Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản tức là phản ánh và kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2 Lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn

Mục tiêu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá giá trị tài sản sở hữu và một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến mục tiêu này là hiệu quả sử dụng vốn.

Hiệu quả của bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra.

Về mặt định lượng: hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế – xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu xét tổng lượng, người ta thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về cao hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.

Về mặt định tính: mức độ hiệu quả kinh tế cao phản ánh sự cố gắng, nỗ lực, trình độ quản lý trong mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu, mục tiêu kinh tế với những yêu cầu, mục tiêu chính trị – xã hội. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Do đó, hiệu quả đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên, trong những biểu hiện về mặt định lượng phải nhằm đạt được mục tiêu chính trị – xã hội nhất định.

Tóm lại, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp về hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất.

Để hoạt động được công ty cần phải có một lượng vốn nhất định và các nguồn tài trợ tương ứng. Luôn luôn đủ vốn là yếu tố quan trọng, là tiền đề của sản xuất, song việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao mới thực sự là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của công ty. Việc thường xuyên kiểm tra tình hình tài chính, tiến hành phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là nội dung quan trọng trong công tác tài chính của công ty.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo khả năng an toàn tài chính cho công ty, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Qua đó sẽ đảm bảo các nguồn cung ứng và khả năng thanh toán, khắc phục được rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn còn tạo ra lợi nhuận lớn, là cơ sở để mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao đời sống, thu nhập của cán bộ công nhân viên, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội.

1.2.2 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Để đánh giá chính xác có cơ sở khoa học hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp. Các chỉ tiêu này phản ánh được sức sản xuất, sức sinh lời cũng như sức hao phí của từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung.

  • Công thức tổng quát 1:

Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất của các yếu tố đầu vào cho thấy cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong kỳ kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng kết quả. Yêu cầu chung của sự so sánh này là hiệu quả sử dụng vốn đạt tới giá trị cực đại.

  • Công thức tổng quát 2:

Chỉ tiêu này có ý nghĩa ngược với chỉ tiêu ở công thức tổng quát 1.

Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu: Tổng doanh thu, giá trị tổng sản lượng, lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách. Nguồn lực đầu vào gồm các loại vốn. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Như ta đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho những tài sản khác nhau như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn…Do đó các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng vốn mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành vốn của doanh nghiệp.

  • Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn

Vốn ngắn hạn là phần vốn được đầu tư vào các hạng mục tài sản có tính luân chuyển nhanh với thời gian thu hồi vốn trong vòng một năm hoặc một chu kì kinh doanh, được biểu hiện thông qua tài sản ngắn hạn. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn chủ yếu giúp đánh giá tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn, từ đó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn:

  • a. Tỷ suất sinh lời của vốn ngắn hạn:

Chỉ tiêu này cho biết trong kì doanh nghiệp đầu tư 1 đồng vốn ngắn hạn vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp với giá trị vốn ngắn hạn bình quân.

Trong đó vốn ngắn hạn bình quân được tính như sau:

  • b. Số vòng quay của vốn ngắn hạn:

Chỉ tiêu này cho biết trong kì vốn ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn là tốt. Hoặc cho biết 1 đồng giá trị vốn ngắn hạn đầu tư trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của vốn ngắn hạn trong kì, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn ngắn hạn vận động nhanh, đó là nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu thuần và giá trị vốn ngắn hạn bình quân của doanh nghiệp.

  • c. Suất hao phí của vốn ngắn hạn so với doanh thu thuần:

Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kì thì cần bao nhiêu đồng giá trị vốn ngắn hạn, là căn cứ để đầu tư vốn ngắn hạn vào tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao.Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa giá trị vốn ngắn hạn bình quân với doanh thu thuần.

  • d. Suất hao phí của vốn ngắn hạn so với lợi nhuận trước thuế:

Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận trước thuế thì cần bao nhiêu đồng vốn ngắn hạn bình quân, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao. Chỉ tiêu còn là căn cứ để các doanh nghiệp xây dựng dự toán về nhu cầu vốn ngắn hạn khi muốn đạt được một mức lợi nhuận mong muốn. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa giá trị vốn ngắn hạn bình quân với lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

1.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn dài hạn

1.2.3.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn dài hạn

Vốn dài hạn là phần vốn để đầu tư vào các tài sản dài hạn có thời gian sử dụng và thu hồi kéo dài, việc phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dài hạn cũng góp phần đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dài hạn như sau:

  • a. Tỷ suất sinh lời của vốn dài hạn

Chỉ tiêu này là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và vốn dài hạn bình quân. Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị vốn dài hạn bình quân sử dụng trong kì thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn dài hạn của doanh nghiệp là tốt, đó là nhân tố tạo sự hấp đối với các nhà đầu tư. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp với giá trị vốn dài hạn bình quân.

  • b. Hiệu suất sử dụng vốn dài hạn

Chỉ tiêu này cho biết trong kì, vốn dài hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao sẽ góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mặt khác, chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của tài sản dài hạn, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản hoạt đông tốt, hiệu quả sử dụng vốn dài hạn tăng lên, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu thuần và giá trị vốn dài hạn bình quân của doanh nghiệp.

  • c. Suất hao phí vốn dài hạn so với doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kì thì phải cần bao nhiêu đồng giá trị vốn dài hạn bình quân, đó là căn cứ để đầu tư vốn dài hạn cho phù hợp. chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt được mức doanh thu mong muốn. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa giá trị vốn dài hạn bình quân với doanh thu thuần.

  • d. Suất hao phí của vốn dài hạn so với lợi nhuận trước thuế

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng lợi nhuận trước thuế trong kì thì cần bao nhiêu đồng giá trị vốn dài hạn, chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, đó là căn cứ để đầu tư vốn dài hạn cho phù hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn đạt mức lợi nhuận mong muốn. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa giá trị vốn dài hạn bình quân và lợi nhuận trước thuế. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

1.2.3.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định

Vốn cố định hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiêp, nó đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với bất kì doanh nghiệp nào. Hiệu quả sử dụng vốn cố định ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định ta thường dùng các chỉ tiêu sau:

  • a. Tỷ suất sinh lời của vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng giá trị vốn cố định sử dụng trong kì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định là tốt, đó là nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp với giá trị vốn cố định bình quân.

  • b. Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn cố định bình quân đầu tư trong kì thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, mặt khác chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của tài sản cố định, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản cố định hoạt động tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định nói riêng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung, nó góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu thuần trong kì và giá trị vốn cố định bình quân.

  • c. Suất hao phí của vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kì thì cần bao nhiêu đồng giá trị vốn có định bình quân, đó là căn cứ để đầu tư vốn cố định cho phù hợp nhằm đạt được mức doanh thu mong muốn. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa giá trị vốn cố định bình quân với doanh thu thuần trong kì.

1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp người ta thường dùng một số chỉ tiêu tổng quát như:

  • a. Tỷ suất sinh lời của tổng vốn:

Chỉ tiêu này cho biết trong kì doanh nghiệp đầu tư 1 đồng vốn thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp với giá trị tổng vốn bình quân. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

  • b. Số vòng quay của tổng vốn

Chỉ tiêu này cho biết trong kì tổng vốn đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu càng cao chứng tỏ tổng vốn vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa doanh thu thuần trong kì và giá trị tổng vốn bình quân.

  • c. Suất hao phí của tổng vốn so với doanh thu thuần

Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tổng vốn là chỉ tiêu kinh tế cơ bản để dự kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn đạt được một mức doanh thu thuần mong muốn. Chỉ tiêu này cho biết trong kì doanh nghiệp muốn thu được 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư, chỉ tiêu càng thấp hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng tốt, góp phần tiết kiệm vốn và nâng cao doanh thu thuần cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa tổng vốn bình quân với doanh thu thuần trong kì.

  • d. Suất hao phí của tổng vốn so với lợi nhuận trước thuế

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận trước thuế của lượng vốn mà doanh nghiệp đang đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này cho biết trong kì doanh nghiệp thu được 1 đồng lợi nhuận trước thuế thì cần bao nhiêu đồng vốn, chỉ tiêu càng thấp hiệu quả sử dụng tổng vốn càng cao, hấp dẫn các cổ đông đầu tư. Chỉ tiêu này được xác định bằng tỷ số giữa tổng vốn bình quân và lợi nhuận trước thuế.

1.2.3.4 Các chỉ số về khả năng hoạt động

Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thức là các tài sản khác nhau.

  • a. Số vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ thu hồi các khoản phải thu của doanh nghiệp nhanh hay chậm và được xác định theo công thức:

Số vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh đó là dấu hiệu tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu. Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số vòng quay luân chuyển các khoản phải thu sẽ cao và các doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên nếu số vòng quay các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì thế có thể ảnh hưởng tới lượng hàng hoá tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

  • b. Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu hồi được các khoản phải thu (số ngày trong một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngược lại.

Chỉ tiêu này cho biết để thu hồi các khoản phải thu cần một thời gian là bao nhiêu ngày. Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán hàng chịu quy định cho khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại số ngày bán hàng chịu cho khách hàng lớn hơn thời gian này thì có dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi nợ đạt trước kế hoạch về thời gian.

1.2.3.5 Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời

  • a. Sức sinh lời của doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế. Trị số này càng lớn sức sinh lời của doanh thu thuần càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng sinh lời của doanh thu thuần càng thấp, hiệu quả kinh doanh thấp.

  • b. Sức sinh lời của tổng vốn

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị tổng vốn đưa vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế. Trị số này càng lớn, sức sinh lời của tổng vốn càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số này càng nhỏ, sức sinh lời của tổng vốn càng thấp, hiệu quả kinh doanh thấp.

  • c. Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận trước thuế. Trị số này càng lớn, sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại; trị số càng nhỏ, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu càng thấp, hiệu quả kinh doanh thấp.

1.3 Phương pháp phân tích tình hình sử dụng hiệu quả vốn của doanh nghiệp Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Phương pháp phân tích tài chính cũng như phương pháp phân tích tình hình sử dụng vốn là cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính trong tương lai. Từ đó giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn của từng đối tượng phân tích.

1.3.1 Phương pháp so sánh

Về nguyên tắc: cần phải bảo đảm các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và các đơn vị tính toán…).

  • Gốc so sánh được lựa chọn là gốc về mặt thời gian và không
  • Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch.
  • Giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.

Nội dung so sánh bao gồm:

  • So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về mặt tài chính doanh nghiệp.
  • So sánh giữa số thực hiện với kỳ này với số kế hoặch để thấy mức độ phát triển của doanh nghiệp.
  • So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành, doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp mình.
  • So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.

1.3.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

Phương pháp phân tích này giúp cho việc khai thác, sử dụng các số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích một cách có hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc gián đoạn.

Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc phương pháp này đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng và các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tính tài chính của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung có bốn nhóm chỉ tiêu cơ bản: Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán; nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư; nhóm chỉ tiêu về hoạt động; nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời. Mỗi nhóm chỉ tiêu lại bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau phản ánh riêng lẻ từng bộ phận của hoạt động tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau tuỳ theo mục tiêu phân tích người phân tích lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau.

Trên đây là một số chỉ tiêu cũng như phương pháp phân tích giúp cho việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp giữa các năm, giữa các kỳ. Từ đó doanh nghiệp có thể nhận thấy được rằng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình có xu hướng biến động, tăng giảm như thế nào qua các năm, các kì. Đồng thời để đánh giá chính xác và cụ thể hơn, người phân tích có thể đem các chỉ tiêu đó so sánh với ngành, với doanh nghiệp khác để xem xét vị trí của doanh nghiệp trong ngành và đối với doanh nghiệp khác ở mức như thế nào. Khóa luận: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cảng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x