Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất quan điểm, Giải pháp để hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Quan điểm HTPL về Phòng chống tham nhũng phải trở thành nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để các cơ quan nhà nước căn cứ vào đó nghiên cứu, xây dựng đề xuất hoàn thiện các quy định về Phòng chống tham nhũng, bao gồm cả sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, ban hành mới các quy định có liên quan đến công tác Phòng chống tham nhũng. Quá trình HTPL về Phòng chống tham nhũng cần dựa trên cơ sở các quan điểm sau:

Thứ nhất, pháp luật về Phòng chống tham nhũng phải thể chế hoá được các đường lối, chính sách của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Phòng chống tham nhũng, thể hiện trong các văn bản, quy định, nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết BCH Trung ương Đảng lần thứ 3 (khoá X).

Thứ hai, trong quá trình hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng cần quán triệt nghiêm túc các nội dung tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng phải đạt được mục tiêu phát triển KTXH. Pháp luật về Phòng chống tham nhũng phải được thiết kế làm sao để nó là công cụ kiểm soát, đồng thời, có tác dụng tạo lập môi trường pháp lý để các quan hệ KTXH phát triển mà không được bó hẹp, cản trở hoặc kìm hãm sự phát triển KTXH.

Thứ tư, quá trình hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng cần phải đề cao các biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Thực tiễn Phòng chống tham nhũng đã chứng minh, phòng ngừa là biện pháp có hiệu quả nhất và chữa được tận gốc, nguyên nhân của tham nhũng. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng cần quan tâm các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, theo đúng nguyên tắc của pháp luật quốc gia. Trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và kinh nghiệm điều chỉnh của pháp luật về Phòng chống tham nhũng của các nước trên thế giới để chọn lọc những giá trị tinh hoa, khoa học để nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình nội luật hóa các điều ước quốc tế và ứng dụng kinh nghiệm quốc tế vào Việt Nam đòi hỏi phải thận trọng và phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc của pháp luật quốc gia để không bị chệch hướng và bảo đảm được sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng

4.2.1 Thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng độc lập, có thực quyền, hoạt động hiệu quả, làm cho công chức “không dám tham nhũng”

Ở nước ta hiện nay, việc Phòng chống tham nhũng được giao cho nhiều cơ quan, tuy nhiên với những hạn chế đã được chỉ rõ đặc biệt là thiếu một số quyền hạn cần thiết và năng lực để tiến hành điều tra tội phạm về tham nhũng. Chính vì vậy, việc thành lập cơ quan có tính chuyên biệt, có thẩm quyền đủ lớn trong phát hiện, điều tra hành vi tham nhũng trong bối cảnh hiện tại là cần thiết để tạo chuyển biến căn bản cho công tác này. Học tập kinh nghiệm của một số các quốc gia trên thế giới, cơ quan này cần đảm bảo các yếu tố cơ bản sau đây:

  • Là một cơ quan độc lập, không trực thuộc Chính phủ, không chịu sự chi phối, ảnh hưởng của Chính phủ.
  • Cơ quan này phải có thẩm quyền điều tra đặc biệt, trong đó có quyền điều tra bất kì bộ trưởng hay cán bộ cấp cao nào khác của cơ quan hành chính. Đồng thời, cơ quan này cũng được sử dụng những phương thức điều tra đặc biệt ví dụ như quyền tiếp cận các báo cáo, quyết toán, giao dịch tài chính đáng ngờ và quyền được “ghi âm bí mật”…
  • Nhân sự phải đủ về số lượng, có cơ cấu phải hợp lý, có quy tắc ứng xử nghiêm ngặt, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có bản lĩnh nghề nghiệp và tư cách đạo đức tốt, có chế độ chính sách ưu đãi đặc thù, được đào tạo nghiệp vụ, được trang bị đầy đủ các phương tiện tác nghiệp.
  • Nghiên cứu hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để phát hiện tội phạm tham nhũng như sử dụng khoa học và công nghệ, phương tiện kỹ thuật giám sát, thu thập thông tin về hoạt động phạm tội; bố trí người thâm nhập tìm hiểu hoạt động phạm tội để phát hiện thông tin, tài liệu có liên quan đến tội phạm và người phạm tội…

4.2.2. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Luật Phòng chống tham nhũng 2018 hướng tới mục đích rà soát tổng thể tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong hệ thống làm cơ sở xây dựng hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập chung trên phạm vi cả nước, trên cơ sở đó sẽ giám sát, kiểm soát biến động tài sản gia tăng trên 300 triệu sau này. Tuy nhiên, hệ thống này chỉ phát huy tác dụng khi được thực hiện đồng bộ với kiểm soát tài sản, thu nhập của toàn xã hội. Nếu không thực hiện được, sẽ không ngăn chặn được việc cán bộ, công chức “tẩu tán” tài sản bằng cách nhờ chủ thể ngoài khu vực nhà nước đứng tên sở hữu khối tài sản của cá nhân mình hoặc chỉ kiểm soát sự biến động, di chuyển dòng tiền trong khu vực nhà nước sẽ không có căn cứ, cơ sở để so sánh, đối chiếu với khu vực ngoài nhà nước. Do vậy, không thể đảm bảo tính minh bạch trong tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

Cần nghiên cứu, quy định cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập riêng cho từng nhóm đối tượng phải kê khai với một số lĩnh vực đặc thu có nhiều cơ hội gia tăng thu nhập “bất thường” cùng với đó cơ hội tham nhũng của đội ngũ cán bộ, công chức này là rất cao. Cơ chế kiểm soát thu nhập hiện nay mang tính cào bằng, áp dụng đối với cán bộ, công chức trong toàn bộ máy nhà nước vốn dĩ có nhiều hạn chế, bất cập đế hiệu quả kiểm soát. Với một số lĩnh vực đặc thù như hải quan, quản lý thị trường, thuế… việc áp dụng cơ chế kiểm soát này là hoàn toàn bất hợp lý và không thể phát huy hiệu quả trong phòng, chống tham nhũng.

Cơ chế kiểm soát riêng không có nghĩa là cần một hệ thống quy phạm pháp luật chuyên ngành để điều chỉnh vấn đề này. Giải pháp được các nước trên thế giới áp dụng đó là xây dựng và thực hiện cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích và trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm kiểm soát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức qua đó, đảm bảo tính liêm chính, khách quan của hoạt động công vụ. Kèm theo đó là cơ chế xử lý nghiêm khắc đối với tài sản không giải trình được nguồn gốc theo hướng tịch thu hoặc đánh thuế cao đối với khối tài sản này.

Thêm vào đó, cần chi tiết hơn mẫu kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Theo Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT), mẫu bản kê khai mặc dù liệt kê khá nhiều loại tài sản mà người có chức quyền phải báo cáo nhưng chưa thể hiện rõ trách nhiệm của người kê khai về cung cấp thông tin chi tiết từng món tài sản của mình. Mẫu này bao quát cả bất động sản thuộc quyền sở hữu “trên thực tế”, tức là chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng lại chưa bao quát các loại tài sản khác như ô tô, tài khoản ngân hàng, các khoản đầu tư ủy thác… trên thực tế là của quan chức ấy nhưng lại do vợ, con, người thân đứng tên giúp.

4.2.3. Thực hiện liên thông hệ thông dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản thu nhập là một nội dung mới của Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018. Tuy nhiên, luật chưa có những quy định cụ thể về việc kết nối thông tin giữa cơ sở này với các cơ sở dữ liệu về quản lý đất, đăng ký tài sản, dữ liệu thuế, giao dịch ngân hàng… nên trong quá trình khai thác cơ sở dữ liệu sẽ có thể gặp những trở ngại nhất định, đặc biệt trong việc theo dõi biến động và xác minh tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập.

Do đó, cần có cơ chế để kết nối thông tin giữa bản kê khai tài sản, thu nhập với bản kê khai thuế thu nhập cá nhân, các giao dịch ngân hàng và các đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với bất động sản, động sản phải đăng ký của người có chức vụ, quyền hạn. Chỉ khi theo dõi được những di, biến động tài sản, thu nhập đó thì việc phát hiện các loại tài sản tăng lên bất thường mới có hiệu quả. Về lâu dài, cần nghiên cứu một thiết chế độc lập có chức năng quản lý và theo dõi việc kê khai tài sản, thu nhập; có quyền sử dụng dữ liệu của các cơ quan khác nhằm so sánh, tổng hợp thông tin về các biến động tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

4.2.4. Chống tham nhũng phải song hành với việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin

Để chống tham nhũng hiệu quả cần xác lập và thực hiện nguyên tắc: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính một cách thuận tiện nhất, đơn giản nhất, hạn chế việc trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức.

Ngoài ra cần phải đổi mới phương thức thanh toán, đồng bộ hóa việc chuyển từ phương thức dùng tiền mặt, sang phương thức thanh toán qua ngân hàng, nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn các giao dịch, nhất là những khoản chi sử dụng ngân sách nhà nước hoặc liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức.

Mặc dù Luật Phòng chống tham nhũng 2018 đã có quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản thu nhập, song ở hiện tại, kỹ thuật kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức vẫn là kê khai vào mẫu giấy in sẵn. Cách làm này đã không còn phù hợp với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin, vừa gây khó khăn cho quá trình lưu giữ, bảo quản; vừa gây lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Theo quan điểm của các nhân người viết, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là hết sức cần thiết. Hiện nay, việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức có những đặc điểm cơ bản sau:

  • Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các bộ, ngành, Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập của những người thuộc diện kê khai công tác tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương; các cơ quan khác và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội chịu trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập của người kê khai công tác trong cơ quan, tổ chức mình.
  • Hình thức kê khai được tiến hành theo mẫu, kê khai trên bản giấy.
  • Bản kê khai chỉ công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc.
  • Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm xây dựng và quản lý tập trung cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập. Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác có trách nhiệm xây dựng, cung cấp, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình. Đồng thời, cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập được bảo mật, chỉ có cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập mới có quyền tiếp cận, khai thác. Việc cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập chỉ được thực hiện khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền.

Việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập chưa thực sự hợp lý, mới chỉ dừng lại ở chức năng lưu trữ tập trung các bản kê khai thu nhập, tài sản của cán bộ, công chức một cách bảo mật. Theo người viết, cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng:

  • Tiến hành kê khai online theo mẫu điện tử có sẵn. Thông tin bản kê khai này được liên thông với các cơ sở dữ liệu về quản lý đất, đăng ký tài sản, dữ liệu thuế, giao dịch ngân hàng… để dễ dàng theo dõi biến động và xác minh tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập.
  • Tạo tài khoản truy cập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập cho từng đối tượng cụ thể với những cấp độ, khả năng truy cập khác nhau.

Mỗi cán bộ, công chức theo quy định có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập đều có tài khoản riêng để truy cập hệ thống với mục đích: tiến hành kê khai online theo quy định về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập của mình để nộp lên tài khoản của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trực tiếp quản lý; đồng thời có khả năng truy cập để xem thông tin các bản kê khai của tất cả đồng nghiệp trong cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó công tác.

Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có tài khoản truy cập ở mức độ cao hơn. Thực hiện kiểm soát tàn bộ nội dung kê khai của cán bộ, công chức có nghĩa vụ kê khai thuộc phạm vi kiểm soát của mình. Rà soát, tổng hợp và nộp lên tài khoản của Thanh tra Chính phủ. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Thanh tra Chính phủ có tài khoản quản trị với trang cơ sở dữ liệu này. Có đầy đủ các quyền của tài khoản quản trị theo quy định của pháp luật hiện nay.

Từng bước tiến hành công khai bản kê khai thu nhập, tài sản của lãnh đạo Nhà nước. Theo đó, bản kê khai tài sản, thu nhập từ cấp Bộ trưởng trở lên cần được đăng tải công khai trên tảng web cơ sở dữ liệu quốc gia để mọi người dân đều có thể truy cập, tiếp cận dù không có tài khoản truy cập. Thắt chặt bước đầu việc kiểm soát tài sản, thu nhập của các quan chức cấp cao là điều tối cần thiết để phòng ngừa tham nhũng. Bởi lẽ, quyền lực càng nhiều, nguy cơ tham nhũng càng cao. Việc công khai bản kê khai thu nhập, tài sản của lãnh đạo Nhà nước sẽ góp phần nâng cao vai trò giám sát của người dân trong công tác phòng chống tham nhũng cũng như trách nhiệm giải trình của các quan chức cấp cao, lãnh đạo Nhà nước trong vai trò quản lý, điều hành đất nước.

4.2.5. Khuyến khích và có cơ chế bảo vệ người thổi còi (Whistle-blower) – người dũng cảm đưa ra thông tin, bằng chứng về việc tham nhũng

“Người thổi còi” (Whistle-blower) là cách gọi những người tố cáo hoặc cung cấp thông tin về một hành vi vi phạm pháp luật. Thông thường, “người thổi còi” là người bên trong tổ chức hoặc có mối liên hệ mật thiết với cá nhân bị tố cáo. Những thông tin của “người thổi còi” thường rất quý giá cho các cơ quan điều tra phát hiện những sai phạm.

 Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, vai trò của “người thổi còi” đặc biệt quan trọng vì tính chất bí mật và phức tạp của hành vi này. Tuy nhiên, chính vì lý do này mà “người thổi còi” cần phải được những cơ chế bảo vệ rất đặc biệt để tránh việc họ bị trả thù vì hành vi tố cáo hay cung cấp thông tin.

Không ai mong muốn trở thành “người thổi còi” – người đưa ra thông tin, bằng chứng về việc tham nhũng, nếu người đó biết rằng mình sẽ không được bảo vệ. “Người thổi còi” luôn phải đối diện với 2 rủi ro: thứ nhất là rủi ro không chứng minh được, vì không đủ bằng chứng khi đưa ra cáo buộc, thứ hai là rủi ro phát sinh đối với chính cá nhân người thổi còi (nguy cơ mất việc, mất danh tiếng, ảnh hưởng đến gia đình, người thân, nguy cơ có thể bị trả thù…).

Nhiều quốc gia đã có cơ chế rất cụ thể bảo vệ người thổi còi có thể tham khảo. Chẳng hạn, từ năm 1986 ở Mỹ đã thông qua đạo luật về bảo vệ người thổi còi, thậm chí còn đưa ra quy định tiền thưởng mà nhà nước chi trả cho thông tin có thật mà người đó đã cung cấp. Ở Anh, chính phủ đã lập ra đường dây điện thoại nóng để tiếp nhận các thông tin tham nhũng, từ đó chuyển thông tin đến những cơ quan có trách nhiệm xử lý, giải quyết, đồng thời có cơ chế cụ thể bảo vệ người thổi còi này. Trong nhóm các quốc gia thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), có 59% quốc gia thành viên có luật cho phép việc cung cấp thông tin về tham nhũng một cách ẩn danh. Ở Trung Quốc, việc cung cấp thông tin ẩn danh tuy không được quy định cụ thể, nhưng trên thực tế vẫn diễn ra và được các cơ quan phòng, chống tham nhũng xử lý rất tích cực. Ví dụ, từ tháng 9/2013, Uỷ ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cung cấp một địa chỉ website nơi người dân có thể cung cấp các thông tin về hành vi tham nhũng của quan chức chính phủ. Những thông tin này có thể cung cấp mà không đi kèm với việc tiết lộ thông tin cá nhân của người cung cấp. Đến tháng 6/2015, Uỷ ban này thậm chí còn cho ra mắt một ứng dụng điện thoại để người dân cung cấp thông tin được dễ dàng hơn. Kết quả, trung bình một ngày Uỷ ban này nhận được hơn 1.000 thông tin từ người dân.

Tại Việt Nam, trong một khảo sát của Thanh tra Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Thế giới, có đến 62% người khảo sát trả lời rằng lý do khiến họ không tố cáo tham nhũng là “sợ bị trả thù”[1]. Còn một khảo sát khác của tổ chức Hướng tới Minh bạch (đầu mối của Minh bạch Quốc tế tại Việt Nam) chỉ ra rằng chỉ có 38% số người khảo sát sẵn sàng tố cáo tham nhũng và có đến 28% người khảo sát “sợ gánh chịu hậu quả” khi tố cáo.[2]

Việc cho phép cung cấp thông tin hay tố cáo ẩn danh có thể sẽ giúp “người thổi còi” bớt được những lo sợ này và chủ động hơn. Mặc dù vậy, đây không phải là biện pháp duy nhất mà còn phải đi kèm với những biện pháp bảo vệ người tố cáo hay cung cấp thông tin từ phía chính quyền. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

4.2.6. Giải pháp phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư

Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam bước đầu đã điểu chỉnh vấn đề tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước với việc hình sự hóa một số hành vi tham nhũng trong khu vực tư và mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 sang khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, để phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư đạt hiệu quả cần tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng và pháp luật về kinh doanh trên một số khía cạnh sau:

  • Hoàn thiện quy định về tội hối lộ theo hướng chỉ xử lý người đưa hối lộ để đạt được những lợi ích bất hợp pháp, loại trừ trách nhiệm đối với những hiện tượng phải quà cáp “bôi trơn” trong khi thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp. Ngược lại người nhận hối lộ phải chịu trách nhiệm trong mọi trường hợp, bất kể hành vi của họ là dúng hay không đúng với nhiệm vụ công vụ mà pháp luật giao cho họ. Cần mô tả hành vi đưa hối lộ với biểu hiện cụ thể của nó thay vì cách hiểu được dựa trên việc mô tả hành vi nhận hối lộ như hiện nay.
  • Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp và kiểm toán bộ bộ doanh nghiệp. Hiện này, hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập trong đó đặc biệt về vấn đề kế toán, kiểm toán nhằm minh bạch hoá hoạt động kinh doanh, thương mại, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh;
  • Xây dựng cơ chế khuyến khích đồng thời phối hợp tích cực có hiệu quả với doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp xây dựng và thực hiện hệ thống quản trị nội bộ và xây dựng nguyên tắc kinh doanh minh bạch.
  • Xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp. Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện “Quy tắc ứng xử của doanh nghiệp”, trong đó bao gồm cả những nguyên tắc kinh doanh không tham nhũng, không hối lộ, chống xung đột lợi ích. Có cơ chế khuyến khích, biểu dương doanh nghiệp nói không với tham nhũng. Trao quyền cho các hội nghề nghiệp trong việc cấp th , chứng chỉ hành nghề để từ đó có cơ chế thực thi các quy định về đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử. Thiết lập “sổ đen” trong đó liệt kê doanh nghiệp có hành vi hối lộ, gian lận thương mại… trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi về cơ hội tiếp cận vốn, cơ hội đầu tư đối với doanh nghiệp không có tên trong “sổ đen”.

Qua đó, dần hình thành văn hóa phi tham nhũng trong kinh doanh.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay cần dựa trên những quan điểm: pháp luật về Phòng chống tham nhũng phải thể chế hoá được các đường lối, chính sách của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Phòng chống tham nhũng; quán triệt nghiêm túc các nội dung tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu; phải đạt được mục tiêu phát triển KTXH; đề cao, coi trọng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng; quan tâm thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia theo đúng nguyên tắc của pháp luật quốc gia và việc hoàn thiện phải được thực hiện thường xuyên.

Giải pháp HTPL về Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay phải bảo đảm tính đồng bộ, tương thích với hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó quan tâm tới việc thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng độc lập, có thực quyền, hoạt động hiệu quả; hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; thực hiện liên thông hệ thông dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; việc chống tham nhũng phải song hành với việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin; khuyến khích và có cơ chế bảo vệ người thổi còi (Whistleblower) – người dũng cảm đưa ra thông tin, bằng chứng về việc tham nhũng cũng như có những quy định cụ thể để đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng ở khu vực ngoài nhà nước.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

Hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng là yêu cầu tất yếu khách quan hiện nay để góp phần nâng cao hiệu quả Phòng chống tham nhũng. Đây là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi phải được thực hiện một cách có khoa học, trong đó, cần phải dựa vào các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến nó để bảo đảm pháp luật về Phòng chống tham nhũng đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả trên thực tế.

Mặc dù có nhiều quy định pháp luật về Phòng chống tham nhũng nhưng qua thực tiễn cho thấy các quy định này vẫn còn hạn chế, trong đó, các biện pháp phòng ngừa cũng như phát hiện xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Phòng chống tham nhũng, còn thiếu sự bảo đảm cần thiết để phát huy được tác dụng trên thực tế; các quy định của pháp luật chưa phản ánh đúng thực chất của tình hình tham nhũng hiện nay. Đồng thời, pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu phát huy hết vai trò, trách nhiệm của xã hội trong công cuộc Phòng chống tham nhũng, còn thiếu các cơ chế khuyến khích, bảo vệ công dân, tổ chức tích cực tham gia Phòng chống tham nhũng.

Hoàn thiện pháp luật về Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay cần dựa trên những quan điểm, yêu cầu, điều kiện cụ thể của đất nước, nhất là phải thể chế hoá được các đường lối, chính sách của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Phòng chống tham nhũng; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam; đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam; phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và bảo đảm công bằng xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Giải pháp HTPL về Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay phải bảo đảm tính đồng bộ, tương thích với hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó cần nghiên cứu tiến hành thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng độc lập, có thực quyền, hoạt động hiệu quả, làm cho công chức “không dám tham nhũng”; hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; thực hiện liên thông hệ thông dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; chống tham nhũng phải song hành với việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin; khuyến khích và có cơ chế bảo vệ người thổi còi (Whistle-blower) – người dũng cảm đưa ra thông tin, bằng chứng về việc tham nhũng và từng bước tiến hành phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước. Khóa luận: Giải pháp pháp luật về phòng chống tham nhũng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về phòng chống tham nhũng

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x