Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên cho trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lí do chọn đề tài

Việc định hướng và xây dựng chiến lược marketing- mix toàn diện sẽ cho phép doanh nghiệp thực hiện mục tiêu đứng vững, phát triển và mở rộng thị trường. Trung tâm ngoại ngữ- tin học Hueitc là trung tâm ngoại ngữ- tin học hàng đầu của tỉnh Thừa Thiên Huế, trung tâm luôn là sự lựa chọn cho các học viên có nhu cầu. Hàng năm, trung tâm thu hút hàng ngàn học viên tham gia đăng kí học tập. Hiện nay, nhiều công ty tuyển dụng ở Huế cũng như trên cả nước đòi hỏi hồ sơ xin việc của nhân viên phải có các chứng chỉ tin học ngoại ngữ, hồ sơ đó sẽ được ưu tiên xét tuyển. Hơn nữa, sở nội vụ đã đưa ra thông tư liên tịch yêu cầu đội ngũ giáo viên, công nhân viên chức bổ sung chứng chỉ ngoại ngữ tin học vào hồ sơ để tiến hành nâng lương, chuyển ngạch. Với những yêu cầu trên, nhu cầu cấp thiết tham gia học tập, thi lấy chứng chỉ tin học ngày càng gia tăng, điều này đồng nghĩa với việc thị trường ngày càng được mở rộng, cơ hội để trung tâm tìm kiếm học viên càng được cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay ở Huế xuất hiện thêm rất nhiều trung tâm đào tạo tin học ngoại ngữ mới. Vì vậy, để duy trì cũng như thu hút thêm nhiều học viên mới trung tâm phải có chính sách marketing phù hợp, có kế hoạch lâu dài để thích ứng với hoàn cảnh mới và phát huy thế mạnh của mình. Trung tâm ngoại ngữ – tin học HUEITC đã thực hiện nhiều hoạt động marketing, triển khai nhiều chương trình nhằm được mở rộng thị trường, chiêu sinh học viên.. Tuy nhiên, cách hoạt động đó còn thực hiện một các rời rạc, cấp trên cấp dưới chưa có sự thống nhất. Vì vậy, kết quả mang lại chưa cao.Để thực hiện một chiến lược marketing có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự đồng bộ, có chiến lược rõ ràng.

Nhận thức được sự quan trọng của marketing đối với doanh nghiệp cùng với thời gian thực tập tại trung tâm ngoại ngữ – tin học HueITC em đã chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên cho trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC” Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

Hoàn thiện chiến lược marketing- mix nhằm thu hút học viên cho trung tâm ngoại ngữ- tin học Hueitc

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Đánh giá tình hình hoạt động của trung tâm trong năm vừa qua
  • Đánh giá mức độ hài lòng của học viên với các chương trình đào tạo của trung tâm, từ đó góp ý kiến điều chỉnh các chương trình học cho phù hợp với nhu cầu của học viên.
  • Đánh giá các chính sách về sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến, nhân lực của trung tâm để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách marketing- mix của trung tâm.
  • Hoàn thiện chiến lược marketing- mix cho trung tâm ngoại ngữ- tin học Hueitc.

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và xúc tiến để phân tích thực trạng hoạt động marketing và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động marketing tại trung tâm ngoại ngữ- tin học Hueitc.

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Luận văn được thực hiện và hoàn thành trong khoảng thời gian từ 17/2/2026 đến 17/5/2026

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp và kết quả hoạt động của trung tâm từ 17/2/2026 đến nay.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp từ ngày 15/03/2026.

Không gian nghiên cứu: Luận văn được thực hiện tại trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC.

1.4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp. chí…
  • Thu thập số liệu, thông tin liên quan đến đề tài từ sách, báo, internet, tạp
  • Thu thập những ý kiến cũng như sự góp ý của các anh chị trong trung tâm.

1.4.2. Phương pháp phân tích số liệu

Phương pháp phân tích so sánh số liệu giữa các kì với nhau để phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của trung tâm.

Phương pháp so sánh số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kì phân tích so với kì gốc của các chỉ tiêu kinh tế.

Phương pháp so sánh số tương đối

Phương pháp thống kê mô tả: thống kê là tổng hợp các phương pháp lý thuyết và ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế bằng cách rút ra những kết luận dựa trên những số liệu và thông tin thu thập được. Thống kê mô tả là một trong hai chức năng chính của thống kê( thống kê mô tả và thống kê ứng dụng). Thống kê mô tả là tổng hợ tất cả các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê thông thường như số trung bình, số trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn… cho các biến số liên tục và các tỷ số cho các biến số không liên tục. Trong phương pháp thống kê mô tả, các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính với các biến định lượng.

Phân tích tần suất : là một phương pháp dùng để tóm tắt dữ liệu được xếp thành từng tổ khác nhau dựa trên tần số xuất hiện của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh tỷ lệ, phản ánh số liệu.

Phương pháp SWOT: Nhằm phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa ở trung tâm ngoại ngữ- tin học HUEITC, từ đó đưa ra các giải pháp marketing cho trung tâm.

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lí luận

1.1.1. Tổng quan marketing của doanh nghiệp

1.1.1.1. Một số khái niệm cốt lõi của marketing kinh doanh Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Quan niệm cổ điển về marketing nói rằng: “ Marketing là hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng”. Như vậy, marketing cổ điển có đặc trưng chỉ diễn ra trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm và mặt hạn chế là hoạt động marketing chỉ bắt đầu từ nhà sản xuất.

Ngày nay, lĩnh vực marketing đã phát triển rất rộng buộc các nhà quản trị phải thay đổi nhận thức của mình. Nếu như trước đây nhà kinh doanh bán “ cái mình có” thì nay phải bán “cái thị trường cần”. Nhờ nhận thức này, marketing đã bao hàm ý nghĩa rộng lớn hơn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu rộng, ứng dụng cũng rộng hơn trong thực tiễn. Marketing đã đem lại những hiệu quả kinh tế lớn lao trên nhiều mặt, nó là công cụ có vai trò và ý nghĩa quan trọng về mặt lí luận và thực tiễn, là một môn khoa học không ngừng được phát triển và hoàn thiện.

Cách hiểu về marketing hết sức đa dạng và phong phú, dưới mỗi góc độ khác nhau thì định nghĩa về marketing cũng khác nhau. ở đây chỉ nêu ra định nghĩa nhiều người sử dụng của Ph. Kotler :

“Marketing là một quá trình quản lí mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác”.

Hay hiểu một cách đơn giãn hơn thì: “Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”. Định nghĩa này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi sau: nhu cầu, mong muốn, và yêu cầu; sản phẩm, giá trị, chi phí, và sự hài lòng;trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ; thị trường, marketing và những người làm marketing.

Nhu cầu: ý tưởng cội nguồn, cơ bản của marketing là ý tưởng về những nhu cầu của con người. “Nhu cầu được hiểu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lí cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn nhu cầu xã hội, về sự thân thiện gần gũi, uy tín và tình cảm gắn bó, cũng như những nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình. Nếu nhu cầu không được thỏa mãn thì con người sẽ cảm thấy khổ sở và bất hạnh. Và nếu nhu cầu đó có ý nghĩa càng lớn đối với con người thì nó cằng khổ sở hơn. Con người không được thỏa mãn sẽ phải lựa chọn một trong hai hướng giải quyết: hoặc là bắt tay vào tìm kiếm một đối tượng có khả năng thõa mãn được nhu cầu; hoặc là cố gắng kiềm chế nó.

Mong muốn: là một nhu thiết lập mối quan hệ giữa những sản phẩm của mình và nhu cầu của con người. Họ cầu có dạng đặc thù, tương ứng với trình độ văn hóa và nhân cách của cá thể. Mong muốn được biểu hiện ra thành những đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu bằng phương thứ mà nếp sống văn hóa của xã hội đó vốn quen thuộc. các nhà sản xuất, về phía mình, luôn hướng hoạt động của mình vào việc kích thích ham muốn mua hàng. Họ cố gắng tuyên truyền hàng hóa là phương tiện thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu đặc thù. Nhà kinh doanh không tạo ra nhu cầu mà nhu cầu nó đã tự tồn tại.

Yêu cầu: là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của khả năng thanh toán và thái độ sẵn sàng mua chúng. Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ. Vì thế, các công ty phải lượng định xem có bao nhiêu người muốn mua sản phẩm của mình, mà điều quan trọng hơn là phải định lượng xem có bao nhiêu người thực sự sẵn sàng và có khả năng mua nó. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Sản phẩm: Người ta thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của mình bằng hàng hóa và dịch vụ, ở đây thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ cả hàng hóa lẫn dịch vụ. Do đó, sản phẩm là bất kì thứ gì có thể đem chào bán để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn. Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm bắt nguồn không phải chủ yếu từ việc sở hữu chúng mà chính là từ việc có được những dịch vụ mà nó đem lại. thực ra thì dịch vụ còn do các yếu tố khác đảm bảo như: con người, địa điểm, các hoạt động, tổ chức và ý tưởng. Các nhà sản xuất hay phạm sai lầm là chú trọng đến sản phẩm vật chất của mình hươn là đến những dịch vụ mà sản phẩm đó thực hiện. Họ chỉ nghĩ đến việc tiêu thụ sản phẩm chứ không phải là việc đảm bảo giải quyết một nhu cầu.

Giá trị, chi phí và sự thõa mãn: Trong số rất nhiều những sản phẩm có thể thỏa mãn một nhu cầu nhất định, người tiêu dùng sẽ lựa chọn như thế nào? Khái niệm chủ đạo là giá trị đối với khách hàng. Người tiêu dùng sẽ đánh giá khả năng của từng sản phẩm thỏa mãn tập nhu cầu của mình. Anh ta có thể xếp hạng sản phẩm đó từ loại thỏa mãn nhiều nhất đến thỏa mãn nhu cầu ít nhất. giá trị là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu của mình. Các nhà nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng ngày nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ chật hẹp của những giả thuyết kinh tế về cách thức người tiêu dùng xét đoán giá trị và lựa chọn sản phẩm. Những lý thuyết này có ý nghĩa quan trọng đối với những người làm marketing vì toàn bộ kế hoạch marketing vẫn dựa trên giả thuyết về cách thức người tiêu dùng lụa chọn sản phẩm. Cho nên những khái niệm về giá trị chi phí và sự thỏa mãn có ý nghĩa đối với bộ môn marketing.

Trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ: Việc con người có những nhu cầu và mong muốn và có thể gắn cho sản phẩm một giá trị vẫn chưa nói lên được ý nghĩa của marketing. Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thõa mãn những nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho người đó thứ gì đó. trao đổi chỉ xảy ra khi thõa mãn đủ năm điều kiện sau:

  • Ít nhất phải có hai bên.
  • Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị với bên
  • Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hóa của mình.
  • Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ đề nghị của bên.

Nếu có đủ 5 điều kiện này thì mới có tiềm năng trao đổi. còn việc trao đổi có thực sự diễn ra hay không là còn tùy thuộc vào vấn đề hai bên có thể thỏa thuận được những điều kiện trao đổi có lợi cho cả hai bên(hay chí ít cũng không có hại) so với trước khi trao đổi. chính vì ý nghĩa này mà trao đổi được xem như là một quá trình tạo ra giá trị, nghĩa là trao đổi thường làm cho cả hai bên đều có lợi hơn trước khi trao đổi. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Để đảm bảo các cuộc trao đổi diễn ra trôi chảy, người làm marketing phải phân tích xem mỗi bên dự kiến sẽ cho và nhận cái gì. Những tình huống trao đổi giản đơn có thể biểu diễn bằng một sơ đồ trong đó có hai người tham gia cùng những thứ mong muốn và lời mời chào lưu thông giữa họ. Đây chính là bản chất của marketing giao dịch mà marketing giao dịch là bộ phận của ý tưởng lớn hơn là marketing quan hệ. Những người làm marketing khôn ngoan đều cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, tin cậy, cùng có lợi với các khách hàng lớn, những người phân phối, đại lí và những người cung ứng. Việc này được thực hiện bằng cách hứa hẹn và luôn đảm bảo chất lượng cao, dịch vụ chu đáo và giá cả phải chăng cho phía bên kia. Nhiệm vụ đó cũng được thực hiện bằng cách xây dựng mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về kinh tế, kĩ thuật và xã hội với các bên đối tác. Marketing quan hệ sẽ làm giảm được chi phí và thời gian giao dịch và trong những trường hợp tốt đẹp nhất sẽ dịch chuyển từ chổ phải thương lượng từng lần một sang chỗ trở thành công việc thường lệ.

Kết quả cuối cùng của marketing quan hệ là hình thành một tài sản đọc đáo của công ty, gọi là mạng lưới marketing. Mạng lưới marketing bao gồm công ty và những người cung ứng, những người phân phối và khách hàng của mình mà công ty đã xây dựng mối quan hệ vững chắc, tin cậy trong kinh doanh. Marketing ngày càng có xu hướng chuyển từ chổ cố gắng tăng tối đa lợi nhuận trong từng vụ giao dịch sang chỗ tăng tối đa những mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với đối tác. Nguyên tắc làm việc là phải xây dựng được những mối quan hệ tốt rồi tự khắc các vụ giao dịch sẽ có lợi.

Thị trường: Khái niệm trao đổi dẫn đến khái niệm thị trường: “ thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó”. quy mô thị trường phụ thuộc vào số người có nhu cầu và có những tài nguyên được người khác quan tâm và sẵn sàng đem những tài nguyên đó để đổi lấy cái mà họ mong muốn. Thuật ngữ thông trường được hiểu theo nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, ở đây ta hiểu dưới góc độ của những người làm marketing thì họ coi bán tập hợp lại với nhau thành ngành sản xuất, còn người mua thì tập hợp lại thành thị trường và hệ thống marketing đơn giản vận hành theo cơ chế sau: người bán gửi hàng hóa, dịch vụ và thông tin cho thị trường và nhận lại tiền và thông tin.

Marketing và người làm marketing: Khái niệm thị trường đưa ta quay trở lại điểm xuất phát là khái niệm marketing. Marketing có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.

Nếu một bên tích cực hơn trong việc tìm kiếm sự trao đổi thì ta gọi bên thứ nhất là nhà tiếp thị(marketer) còn bên thứ hai là khách hàng hy vọng(prospest). Một nhà tiếp thị là một người đang tìm kiếm một nguồn”tài nguyên” từ người khác và sẵn sàng dâng hiến một cái gì đó có giá trị để trao đổi. nhà tiếp thị đang tìm kiếm một câu trả lời từ phía bên kia hoặc bán một cái gì đó, hoặc mua một cái gì đó. nhà tiếp thị có thể gọi khác đi là một người bán(seller) hoặc là người mua (buyer). Mỗi người mua này đều đang làm marketing. Trong trường hợp cả hai bên đều tích cực tìm cách trao đổi thì người ta nói rằng cả hai bên đều là người làm marketing và gọi trường hợp đó là marketing hai chiều (reciprocal marketing).

Sau khi nghiên cứu kĩ những khái niệm này người ta có thể định nghĩa marketing như sau: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác”. [1]

1.1.1.2. Vị trí và chức năng cơ bản của marketing trong kinh doanh

  • Vị trí của marketing trong kinh Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Marketing kinh doanh của doanh nghiệp vừa là khâu đầu tiên cũng là khâu cuối cùng trong hệ thống các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Khâu đầu tiên: Bởi lẽ, nhiệm vụ của marketing là tiếp cận, tìm kiếm, tạo ra và lựa chọn thị trường. Nó giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng từ đó doanh nghiệp biết được cái thị trường cần để cung ứng.

Khâu cuối cùng: Vì mục đích của marketing là thỏa mãn nhu cầu, thay đổi nhu cầu và kích thích nhu cầu. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trường thì vấn đề quan trọng nhất mà họ cần quan tâm chính là nhu cầu khách hàng. Nhu cầu khách hàng chính là đích cuối cùng mà doanh nghiệp cần đạt tới và để đứng vững doanh nghiêp cần phải thỏa mãn nhu cầu đó. [1]

  • Chức năng của marketing

Chức năng của marketing xuất phát từ vị trí của marketing trong hệ thống quản trị của công ty. Do vậy, marketing có một số chức năng cơ bản sau:

Chức năng thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường: một sản phẩm muốn bán chạy thì phải có sức hấp dẫn khách hàng, marketing có chức năng thích ứng sản phẩm với nhu cầu thị trường thông qua hoạt động cụ thể như: marketing tiến hành nghiên cứu nhu cầu thị trường và khách hàng để xác định những mong muốn của khách hàng về sản phẩm. Cần phải khẳng định rằng marketing không làm việc của nhà kĩ thuật mà nó chỉ ra cho nhà sản xuất phải sản xuất cái gì, như thế nào, khối lượng bao nhiêu và bao giờ thì đưa ra thị trường là thích hợp.

Chức năng phân phối sản phẩm: là toàn bộ các hoạt động gắn liền với quá trình vận động của hàng hóa từ khi nó được sản xuất ra cho đến khi đến được với trung gian thương mại bán buôn, bán lẻ hay người tiêu dùng cuối cùng. Đó chính là các hoạt động nhằm tổ chức vận động tối ưu sản phẩm và quá trình này gòm nhiều bước liên quan chặt chẽ đến nhau: Lựa chọn người tiêu thụ( Phải tìm hiểu người tiêu thụ để lựa chọn người có khả năng), hướng dẫn khách hàng kí hợp đồng và thuể mướn phương tiện vận tải, tổ chứ hợp lí hệ thống kinh doanh ko hàng hóa, các hoạt động hỗ trợ cho người tiêu thụ ( như: cung cấp cho họ thông tin về sản phẩm- khách hàng , tạo ra những ưu đãi thương mại như điều kiện chuyển giao hàng hóa), tổ chức bao bì bao gói tiêu thụ để vận dụng tối đa dung tích của hệ thống kho hàng hóa, nhanh chóng phát hiện ra các ách tắc, xung đợt hệ thống phân phối và điều chỉnh, giải quyết những ách tắc xung đột đó. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Chức năng tiêu thụ: Theo quan điểm của marketing tiêu thụ là hoạt động có chủ đích qua đó công ty thực hiện việc cung ứng hàng hóa- dịch vụ của mình cho khách hàng để tiêu dùng cá nhân( có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các trung gian). Nội dung của chức năng này bao gồm: nghiên cứu khách hàng và người tiêu thụ, ấn định và kiểm soát giá bán, lựa chọn các phương pháp và công nghệ bán thích hợp, tổ chức lực lượng bán để quyết định sức bán, tổ chức quảng cáo và khuyến mại, tổ chức các yếu tố hậu cần kinh doanh của công ty như: vận chuyển và quản trị bán, thực hiện các dịch vụ trước- trong- sau khi bán.

Chức năng hỗ trợ: đây là chức năng quan trọng và đặc biệt. đó chính là các hoạt động hỗ trợ liên quan đến quảng cáo, xúc tiến cho người tiêu dùng cuối cùng của mình. Một số hoạt động điển hình như: điển hình hóa phân loại sản phẩm, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, tham gia các hội chợ thương mại, các dịch vụ yểm trợ cho sản phẩm, quan hệ với công chúng- công luận, tổ chức tín dụng thương mại và dịch vụ, phát triển tổ chức môi giới và xúc tiến thương mại, tổ chức hợp lý hệ thống thông tin thị trường.

Chức năng mạo hiểm: đó là những mất mát, thiệt hại có thể do các tác động khách quan. Mạo hiểm hàm chứa sự không chắc chắn và trong quá trình thực hiện marketing cần phải biết chấp nhận và xử lí tốt nhất những mạo hiểm trong kinh doanh. Các hoạt động thường áp dụng: lựa chọn ứng xử về thế lực và giải pháp kinh doanh an toàn, xác lập giải pháp tình thế để chấp nhận xử lí mạo hiểm, xây dựng quỹ bảo hiểm, tăng cường chiến lược cạnh tranh, chấp nhận hoạt động trong giới hạn về năng lực hành vi của công ty, lựa chọn tổ chức marketing có hiệu lực và chất lượng, hoàn thiện công nghệ thông tin và tình báo trong kinh doanh.

Chức năng điều hòa phối hợp: Marketing phải thực hiện điều hòa một cách tổng hợp toàn công ty: điều hòa phối hợp các bộ phận, chức năng của công ty. điều hòa, phối hợp trong nội bộ, tổ chức vận hành chức năng của công do đó, việc điều hòa và phối hợp đòi hỏi phải vận dụng thời cơ, kết hợp các hoạt động của marketing chức năng với marketing tác nghiệp.

Như vậy, những chức năng cơ bản này đã cho thấy đươc vị trí và tầm quan trọng cả marketing kinh doanh . marketing chính là khâu kết nối giữa khách hàng với các bộ phận khác trong công ty như: tài chính, tổ chức-nhân sự và sản xuất. [1]

1.1.1.3. Quá trình marketing cuả doanh nghiệp

Để tiến hành họa động kinh doanh một cách có hiệu quả thì theo lý thuyết quá trình marketing kinh doanh của doanh nghiệp phải được tiến hành theo trình tự sau:

1/. Phân tích cơ hội marketing (hay còn gọi là SWOT) : bước phân tích này nhằm phát hiện được những cơ hội, thạch thức đối với công ty và đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của bản thân công ty. Để từ đó, công ty có thể đưa ra được những chiến lược phù hợp với thị trường trong phạm vi nguồn lực cho phép của công ty

2/. Đo lường và dự báo nhu cầu thị trường: việc đo lường nhu cầu thị trường nhằm xác định nhu cầu hiện tại của thị trường có phù hợp với mục tiêu của công ty hay không, với nguồn lực hạn hẹp của mình công ty phải tiến hành dự báo nhu cầu thị trường tương lai xem thị trường đó có quy cách đủ lớn và tăng trưởng đủ nhanh trong tương lai hay không. Công việc này hết sức quan trọng vì nếu đo lường và dự đoán đúng thì công ty sẽ tránh được tình trạng đầu tư không có trọng điểm gây nên sự lãng phí nguồn lực và dễ dẫn đến thất bại trong kinh doanh. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

3/. Phân đoạn thị trường: công việc này đòi hỏi công ty phải đưa ra được những tiêu chí rõ ràng để phân thị trường thành nhiều khúc, mỗi khúc có những đặc trưng khác nhau được xây dựng dựa trên tiêu chí mà công ty đã đưa ra. Từ đó, công ty xác định được những khúc thị trường thích ứng với sản phẩm, mục tiêu, nguồn lực công ty.

4/. Lựa chọn khúc thị trường mục tiêu: sau khi phân thị trường thành những khúc khác nhau, công ty tiến hành lựa chọn một số khúc trong đó để phục vụ. Việc lựa chọn này được dựa trên những mục tiêu mà công ty cần đạt tới ở hiện tại cũng như trong tương lai. Do vậy, công ty cần đánh giá các khúc thị trường một cách cẩn thận và đối chiếu với mục tiêu của mình để đưa ra quyết định.

5/. Chiến lược định vị sản phẩm: khi đã lụa chọn được khúc thị trường phù hợp thì công ty tiến hành xây dựng sản phẩm của mình một vị trí nhất định trên thị trường. Người ta chứng minh rằng để định vị được một sản phẩm trên thị trường công ty cần phải tạo cho sản phẩm một sự khác biệt nhất định và tạo nên một hình ảnh cho công ty. để những khác biệt này khách hàng có thể cảm nhận được công ty cần quyết định khuých trương đặc biệt với khách hàng mục tiêu.

6/. Lựa chọn chiến lược thị trường: công việc này nhằm vào việc phát triển một thị trường mới hay thay đổi thị trường đã có. Để lựa chọn một chiến lược thị trường cần phải xem xét các thông tin có liên quan như:

  • Bản chất và quy mô thị trường nên được thiết lập một cách rõ ràng.
  • Mục tiêu sản phẩm giúp doanh nghiệp xác định loại hình chiến lược cơ bản cần thiết.
  • Các nhà quản lý phải biết nắm bắt cơ hội và tận dụng ưu thế trong canh tranh.
  • Quyết định mức ngân sách cần thiết cho hoạt động marketing để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận.

7/. Xây dựng các chương trình marketing dựa vào chiến lược đã được lựa chọn: các chương trình marketing chính là hoạt động cụ thể hóa của chiến lược. Do vậy, khi chiến lược đã được lựa chọn thì công ty phải đưa ra được những quyết định để thực hiện chiến lược đó và quyết định này phải có sự phối hợp, ràng buộc với nhau để cùng thực hiện mục tiêu lâu dài của chiến lược đã được lựa chọn.

8/. Tổ chức và thực hiện các chương trình marketing: Đây là công việc quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược của công ty. Bởi công việc này mà làm tốt thì chiến lược được lựa chọn mới được coi là thành công hoàn toàn.

9/. Đánh giá và kiểm tra nô lực marketing: Đây là công việc mà bất kì một quá trình hoạt động nào cũng không thể thiếu cho dù là marketing hay hoạt động khác. Hoạt động này giúp cho công ty đánh giá được chiến lược mà mình lựa chọn có đúng đắn không? Trong quá trình thực hiện có những ưu điểm gì , có những hạn chế gì…? từ đó, công ty tìm cách khắc phục những nhược điểm, hạn chế tồn tại và phát huy điểm mạnh của mình để xây dựng được những chiến lược hữu hiệu hơn trong lần sau.

Đây là trình tự các bước mà một doanh nghiệp cần thực hiện khi áp dụng marketing vào trong hoạt động kinh doanh của mình. [1] Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.1.1.4. Tư tưởng, quan điểm marketing trong kinh doanh

Trãi qua nhiều năm tồn tại đến nay người ta đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu trong kinh doanh và nó đã được nâng lên thành một môn khoa học với những tư tưởng rất đáng ghi nhận.

Marketing coi nhu cầu là thị trường và khách hàng là điểm xuất phát, là mục đích cuối cùng. Tư tưởng này được đúc kết từ việc sản xuất không xuất phát từ nhu cầu thị trường dẫn đến hiện tượng hàng cần thì không có mà hàn có thì thị trường không cần. Điều này dẫn đến một kết quả rất thông thường là công ty sẽ ế thừa hàng hóa không phù hợp với thị trường và chi phí đã bỏ ra không thu lại được dẫn đến thua lỗ và thất bại trong kinh doanh là điều không thể tránh.

Marketing ưu tiên dành vị trí cao nhất trong khâu tiêu thụ bất kì hình thái chiến lược nào. mỗi công ty khi tham gia vào thị trường đều mong muốn tồn tại và phát triển trên thị trường đó. Do vậy, họ nhất thiết phải đạt được mức lợi nhuận tối đa để chi trả cho những khoản chi phí và có lãi để tiếp tục kinh doanh. Vì thế, việc đặt khâu tiêu thụ lên hàng đầu là việc mà bất kể trong chiến lược kinh doanh nào cũng phải có.

Marketing tiếp thị cái mà thị trường cần chứ không phải cái mình có sẵn. Chính tư tưởng này làm cho nền kinh tế hàng hóa có sự phát triển vượt bậc. nó đòi hỏi các công ty phải biết được thị trường cần cái gì để mà tiếp thị, để mà bán và nó cũng phá bỏ nếp nghĩ áp đặt, cho rằng thị trường sẽ tiêu thụ tất cả những gì mình sản xuất ra.

Muốn biết thị trường và người tiêu dùng cần gì thì phải tổ chức nghiên cứu tỉ mỉ và phải có những ứng xử linh hoạt. đây là tư tưởng thể hiện được khâu nghiên cứu trong marketing quan trọng thế nào. trong khâu này công ty không những cần nghiên cứu về khách hàng tiềm năng mà còn phải nghiên cứu cả thị trường rộng lớn hơn bao gồm những vấn đề về : Nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh…. Hơn thế nữa, khi đã nắm bắt được thị trường và người tiêu dùng cần gì thì công ty còn phải đưa ra được những ứng xử linh hoạt để tận dụng được những kết quả mà nghiên cứu đem lại.

Quan điểm marketing là một luận thuyết tương đối mới mẻ và nó thách thức những luận điểm trước đây. Quan điểm marketing chủ trương rằng chìa khóa để đạt được những mục tiêu của công ty là việc xác định được những nhu cầu và mong muốn của tập khách hàng mục tiêu, đồng thời phân phối những thỏa mãn mong đợi một cách có hiệu quả và hiệu lực hơn các đối thủ cạnh tranh. Quan điểm này cũng có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau như:” hãy tìm kiếm nhu cầu và đáp ứng chúng”;” hãy làm những gì bạn có thể bán được thay vì cố bán những gì bạn làm ra”, “ hãy yêu quý khách hàng chứ không phải là sản phẩm”. Châm ngôn của J. C. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Penney:” Làm hết sức bạn để chất đầy giá trị chất lượng và sự hài lòng trọn vẹn thay vào chổ đồng tiền khách hàng”, Burger King thì nói: “ Vâng, xin tùy quý ông bà”, quan niệm của Uniled Airlines thì:” khách hàng là thượng đế”. Quan điểm marketing thể hiện sự cam kết của công ty đối với thẩm quyền người tiêu thụ. Công ty kinh doanh những gì tiêu thụ cần đến, chính nhờ vậy mà công ty làm cho khách hàng hài lòng tối đa cũng như thu được lợi nhuận cho mình. Như vậy, có bốn nguyên tắc cơ bản trong quan điểm marketing: marketing mục tiêu, định hướng khách hàng, marketing điều phối và tính sinh lợi. quan điểm marketing nhìn triển vọng từ ngoài vào, tức là nó xuất phát từ thị trường được xác định rõ ràng, tập trung vào những nhu cầu của khách hàng, phối hợp tất cả những hoạt động nào có tác động đến khách hàng và tạo ra lợi nhuận thông qua sự thõa mãn cho khách hàng.

1.1.2. Phân định các chính sách marketing- mix của doanh nghiệp

1.1.2.1. Tổng quan về chính sách marketing-mix:

a, Khái niệm chính sách và phân biệt với chiến lược marketing của doanh nghiệp:

Khái niệm chính sách: Được hiểu là các quyết định liên quan đến những chỉ dẫn thể hiện những khuyến khích, những giới hạn hoặc những ràng buộc của tổ chức.

Trong chính sách bao gồm rất nhiều các quyết định và các quyết định này có liên quan chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau để thực hiện một mục tiêu ngắn hạn nào đó với nguồn lực hạn chế cho phép.

  • Phân biệt chính sách với chiến lược marketing:

Để phân biệt hai khái niệm này, trước tiên cần tiếp cận khái niệm chiến lược marketing. Từ xưa đến nay, người ta đã đưa ra rất nhiều quan niệm về chiến lược marketing dưới nhiều góc độ khác nhau, ở đây chỉ xin giới thiệu một số khái niệm được coi là phổ biến và vẫn được sử dụng:

  • Theo Richard G. Hamer trường quản trị kinh doanh Havard quan niệm: Chiến lược là tập hợp các mục tiêu, mục đích hoặc tiêu đich và các chính sách cũng như kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó.
  • Theo quan điểm truyền thống:” chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”- Alfred Chandler. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Đây là một trong những định nghĩa truyên thống phổ biến nhất hiện nay.

  • Theo quan điểm hiện đại: “ chiến lược bao gồm 5P: kế hoạch(plan), mưu lược(ploy), mô thức dạng thứ(pattern), vị thế(position) và triển vọng(perspective) mà công ty đó có được hoặc muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Như vậy, các khái niệm này đã cho thấy chính sách chỉ là 1 yếu tố trong một tuyển tập hợp những yếu tố tạo nên chiến lược. khái niệm chiến lược rộng lớn hơn, trừu tượng hơn và nó chính là mục tiêu dài hạn có tầm nhìn sau rộng, còn chính sách lại là nhiều quyết định để thực hiện những mục tiêu ngắn hạn trong mục tiêu dài hạn đó.

Phân biệt này được biểu hiện trong bảng 1.1:

Bảng 1.1 So sánh sự khác nhau giữa chính sách và chiến lược

Chiến lược Chính sách
– Gồm các mục tiêu, các mục đích, các chính sách để đạt được mục tiêu

– Là mục tiêu dài hạn

– Chỉ ra hướng kinh doanh cho doanh nghiệp

– Gồm các quyết định

– Là mục tiêu ngắn hạn

–  Là hoạt động cụ thể của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu.

  • B, Cấu trúc chính sách marketing-mix của doanh nghiệp

Khái niệm chính sách marketing-mix: là các quyết định liên quan trực tiếp đến 4 biến số của marketing-mix: sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến nhằm mục đích đạt được các mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp dưới nguồn lực hiện hữu và ngắn hạn.

Vị trí của chính sách marketing-mix: là một bộ phận cấu thành nên chiến lược marketing-mix. Một chiến lược marketing- mix thông minh thường bao gồm các kế hoạch và các chính sách. Các kế hoạch thường thể hiện tầm nhìn lâu dài còn chính sách để đạt mục tiêu trong ngắn hạn. Phức hợp marketing là hệ thống gồm 7 yếu tố cơ bản:

Product (P1): quản lí các yếu tố của sản phẩm/ dịch vụ( thương hiệu, chức năng, chất lượng, hình thức, bao bì, dịch vụ kèm theo, chế độ bảo hành…) và lập kế hoạch phát triển sản phẩm/ dịch vụ ra thị trường.

  • => P1: sản xuất cái gì? Thế nào? bao nhiêu? Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Price (P2): quyết định về giá sản phẩm ngoại trừ các chi phí sản phẩm điều hành còn tính tới các yếu tố khác ( giá hiện tại của sản phẩm cạnh tranh, giá khuyến mãi, giá cho các đại lý, giá áp dụng cho các hình thức tanh toán khác…) để xác định giá niêm yết cho sản phẩm

  • => P2: Giá bán bao nhiêu? Khung giá?

Place (P3): chọn lựa và quản lý các kênh thương mại để sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường mục tiêu đúng thời điểm và phát triển hệ thống hâu cần ( logistics) và vận chuyển sản phẩm.

  • => P3: bán ở đâu? Lúc nào?

Promotion (P4): giới thiệu và thuyết phục thị trường tiềm năng dùng sản phẩm của doanh nghiệp thông qua các loại hình quảng bá( quảng cáo, bán hàng cá nhân, quan hệ công chúng, báo chị hoặc internet…).

  • => P4: Bán bằng cách nào?

People(P5): chiến lược nhân sự ở mỗi công ty phản được nhìn nhận dưới góc độ marketing. Ngày càng có nhiều các phương pháp tiếp thi định hướng con người.

  • => Bán với lực lượng nhân sự như thế nào?

Process( P6): Doanh nghiệp phát triển luôn đặt những quy trình quản trị làm hệ thống quản trị làm nền tảng để thể chế hóa bộ máy làm việc, nâng cao vai trò, phạm vi trách nhiệm của từng cá nhân để thấy rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong một tập thể.

  • => Bán theo trình tự như thế nào?

Physical Evidence: Là không gian sản xuất sản phẩm, là môi trường diễn ra cuộc tiếp xúc tra đổi giữa doanh nghiệp và khách hàng.

  • => Bán trong điều kiện, hoàn cảnh như thế nào? Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Do vậy, cấu trúc chính sách marketing-mix cũng bao gồm 7 chính sách: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến, chính sách nhân sự, chính sách về cơ sở vật chất, chích sách về tiến trình. Các chính sách này luôn có sự hỗ trợ, tương thích với nhau để xây dựng được một chính sách marketing- mix hoàn chỉnh và hiệu quả.[1]

  • C, Vai trò của chính sách marketing- mix đối với doanh nghiệp

Như đã nói ở trên thì chính sách là quyết định để thực hiện mục tiêu trong chiến lược của doanh nghiệp. để hoạt động tốt trên thị trường thì các doanh nghiệp nhất thiết phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh lâu dài. Nhưng nếu chỉ xây dựng chiến lược xong rồi khinh thực hiện thì cũng coi như là thất bại. Do đó, chính sách chính là khâu mà các doanh nghiệp cần phải chú ý tiếp theo. Nếu chính sách marketing-mix phù hợp với chiến lược marketing- mix, với mục tiêu của doanh nghiệp thì chính sách đó là đúng đắn và đó chính là công cụ dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên. Trong chính sách marketing-mix bao gòm 7 chính sách: chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến, chính sách nhân sự, chính sách cơ sở vật chất, chính sách quy trình. Các chính sách này có vai trò khác nhau trong từng giai đoạn của doanh nghiệp, tùy thuộc vào tình hình hiện tại của doanh nghiệp mà chính sách nào trong số đó sẽ trở nên quan trọng hơn và những chính sách khác sẽ có tính chất hỗ trợ. Các chính sách đưa ra phải có sự gắn kết nhất định, có quan hệ mật thiết với nhau để cùng thực hiện một mục tiêu chung. Hỗ trợ nhau nhằm tạo đà cho chính sách khác thực hiện một cách thuân lợi và có hiệu quả.

1.1.2.2. Phân đinh nội dung cơ bản của marketing-mix của doanh nghiệp

  • A, chính sách sản phâm:

Sự thành công trong marketing phụ thuộc vào bản chất của các sản phẩm và các quyết định cơ bản trong quản lý sản phẩm. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của chiến lược marketing-mix. Chiến lược sản phẩm bao gồm các quyết định về:

  • Quyết định về chủng loại sản phẩm.

Chủng loại hàng hóa là một nhóm hàng hóa có liên quan chặt chẽ với nhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng một khách hàng, hay thông qua cùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ và mức độ hài hòa của nó. Chính những thông số này đã mở ra cho doanh nghiệp 4 chiến lược mở rộng danh mục hàng hóa bằng cách: bổ sung hàng hóa mới; tăng mức độ phong phú của những nhóm chủng loại đã có; đưa ra nhiều phương án cho mặt hàng sẵn có hoặc có thể tăng giảm mức độ hài hòa giữa các mặt hàng thuộc loại các nhóm chủng loại khác nhau.[2]

  • Quyết định về nhãn hiệu Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Doanh nghiệp cần phải quyết định có gắn nhãn hiệu cho hàng hoá của mình hay không, ai là người chủ nhãn hiệu, đạt tên cho nhãn hiệu như thế nào? có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không, sử dụng một hay nhiều nhãn hiệu cho các hàng hóa có những đặc tính khác nhau của cùng một mặt hàng? Điều này phụ thuộc vào đặc điểm hàng hóa của doanh nghiệp, cách lựa chọn kinh phân phối, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.[2]

  • Quyết định về bao gói và dịch vụ đối với sản phẩm hàng hóa.

Ngày nay, bao gói đã trở thành công cụ đắc lực của marketing. Doanh nghiệp phải quyết định về: kích thước, hình dáng, vật liệu, màu sắc, nội dung, trình bày, thông tin trên bao gói.

Dịch vụ khách hàng: doanh nghiệp phải xác định được khách hàng muốn dịch vụ ở mức độ nào mà doanh nghiệp có thể cung cấp, chi phí cho dịch vụ là bao nhiêu và lựa chọn hình thức cung cấp cho dịch vụ nào so với các đối thủ cạnh tranh.

Quyết định tạo ưu thế cho sản phẩm: là cách gây ấn tượng với người tiêu thụ về sản phẩm của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh, có thể là việc thiết kế những điểm khác biệt ( dị biệt hóa sản phẩm) để tạo sự thu hút cho khách hàng. Nhưng doanh nghiệp cần phải chú ý sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn quan trọng đặc biệt, tốt hơn, đi trước, vừa túi tiền và có lời. sau đó doanh nghiệp xây dựng chiến lược định vị và đưa ra quyết định. [2]

  • Quyết định về thiết kế và phát triển sản phẩm mới.

Do thay đổi nhanh chóng về thị hiếu , công nghệ, tình hình cạnh tranh nên doanh nghiệp phải quan tâm thiết kế sản phẩm mới. để có sản phẩm mới doanh nghiệp có thể mua doanh nghiệp khác, mua bằng sáng chế, giấy phép sản xuất và cách thứ hai là ta tự nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới. đây có thể là một vấn đề mạo hiểm đối với doanh nghiệp. để hạn chế rủi ro, các nhà quản trị phải tuân thủ đầy đủ các bước sau: hình thành ý tưởng- lựa chọn ý tưởng- soạn thảo, thẩm định dự án sản phẩm mới- soạn thảo chiến lược marketing phân tích khả năng sản phẩm và tiêu thụ- thiết kế sản phẩm hàng hóa- thử nghiệm trong điều kiện thị trường- triển khai sản phẩm đại trà. Người tiêu dùng có phản ứng ở những mức độ khác nhau đối với mỗi sản phẩm mới nên doanh nghiệp phải tìm cách thu hút sự chú ý của họ và lắng nghe những ý kiến phản hồi. ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải chú ý đến từng chu kì sống của sản phẩm để có những điều chỉnh chiến lược nhất định.[2]

Để lựa chọn một chính sách sản phẩm, doanh nghiệp còn cần phải nắm được:

  • Đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm doanh nghiệp, hiểu được điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh.
  • Thông tin về sản phẩm trên thực tế và những đặc tính của sản phẩm tiên liệu dựa vào các tiêu chí như: doanh số, lợi nhuận, thị phần. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Nói chung, chiến lược sản phẩm với các vai trò lớn nhất trong các trường hợp cung trên thị trường chưa đáp ứng được nhu cầu về sản phẩm.

  • B, Chính sách giá:

Trong các biến số của marketing-mix chỉ có biến số giá cả là trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế. giá cả được coi là phương tiện cạnh tranh có hiệu quả đặc biệt là trong những thị trường mà mức độ cạnh tranh chung về giá cả còn thấp.

  • Có 3 phương án chiến lược giá cả:

Chiến lược” hớt váng sữa” được thiết kế nhằm thu mức chênh lệc cao. Theo định nghĩa này, giá” hớt vánh sữa” là mức giá:hời” được xây dựng trong điều kiện người mua chấp nhận sản phẩm thanh toán. Vì vậy, chiến lược này được thực hiện trong điều kiện ít cạnh tranh và khi lợi nhuận từ việc bán hàng nhằm vào đối tượng ở phân khúc cao nằm ngoài các phân khúc thông thường ở trên thị trường rộng hơn mà thông thường chỉ chấp nhận mức giá thấp.

Chiến lược “ giá bám sát” nhằm tạo ra mức giá thật sát, dù thấp để hấp dẫn và thu hút một số lượng lớn khách hàng. Chiến lược này được thiết kế để gia tăng sản phẩm bán trong điều kiện co dãn của cầu cao và cạnh tranh mạnh mẽ, thậm chí giá bán còn nho hơn cả chi phí.

Chiến lược “ giá trung hòa” là không sử dụng giá để dành thị phần, điều kiện thị trường thường không chấp nhận giá cao hoặc giá thấp nên doanh nghiệp thường chọn chiến lược này. Đặc biệt, chiến lược giá” trung hòa” thường được chấp nhận trong các ngành công nghiệp mà khách hàng nhạy cảm về giá đối thủ cạnh tranh nhạy cảm về sản lượng.[4]

Khi đưa ra các quyết định về giá, các doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố sau:

  • Các yếu tố bên trong doanh nghiệp:

Các mục tiêu marketing: các mục tiêu marketing đóng vai trò định hướng trong việc xác định vai trò và nhiệm vụ của giá cả. do đó, doanh nghiệp phải xem xét các mục tiêu: tối đa hóa lợi nhuận hiện hành, dẫn đầu thị phần thị trường, dẫn đầu về chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn sống sót hay các mục tiêu khác để quyết định chiến lược giá.

Phải xem xét mối quan hệ giữa giá cả và các biến số khác trong marketing – mix, chúng phải có sự hỗ trợ lẫn nhau. Sự lựa chọn về giá phải được đặt trên cơ sở các lựa chọn về các biến số khác của marketing- mix đã được thông qua.

Chi phí sản xuất: chi phí là nền của giá, quyết định giới hạn thấp nhất của giá để doanh nghiệp hoàn vốn và khi xác định được giá thành, các nhà sản xuất có thể tìm ra các giải pháp thay đổi điều chỉnh để tăng lợi nhuận và tránh mạo hiểm.

Tổ chức định giá: xác định xem ai là người chịu trách nhiệm định giá? Thuộc cấp quản trị nào? ở phòng kinh doanh hay phòng tiếp thị? Ngoài ra, còn phải xem xét các yếu tố khác ví dụ như đặc tính của sản phẩm.[4]

  • Các yếu tố bên ngoài: Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Khách hàng và yêu cầu hàng hóa: khách hàng thường là người có tiếng nói quyết định mức giá thực hiện. Mặt khác, cầu thị trường quy đinh mức giá trần của sản phẩm vì vậy người định giá phải quan tâm đến mối quan hệ tổng quát giữa cầu và giá, sự nhạy cảm về giá và yếu tố tâm lí của khách hàng khi định giá.

Đối thủ cạnh tranh: doanh nghiệp sẽ phải xem xét phản ứng của các đối thủ cạnh tranh khi doanh nghiệp đặt giá; tương quan giữa giá thành, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh sẽ gây nên bất lợi hay lơi thế cho doanh nghiệp. để biết được điều này, doanh nghiệp phải tìm hiểu xem mình đang ở thị trường nào? thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh có độc quyền, độc quyền nhóm hay độc quyền? Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải xem xét các yếu tố như môi trường kinh tế, thái độ của chính phủ, tình hình lạm phát để quyết định giá.[4]

  • Lựa chọn những phương pháp định giá:

Mô hình 3C để định giá( đó là đồ thị cầu của khách hàng- consumer, hàm chi phí- cost, giá của đối thủ cạnh tranh- compertitor).

  • Giá dự kiến có thể
Giá quá thấp( có thể không có lãi) Giá thành Giá của đối thủ cạnh tranh và  hàng  hóa thay thế Phẩm chất đặc biệt của hàng hóa Giá quá cao

Từ mô hình 3C rút ra được những phương pháp định giá cơ bản như sau: theo lãi cộng với chi phí; theo lợi nhuận mục tiêu; theo giá trị và định giá theo mức giá hiện hành. Căn cứ vào đó mà doanh nghiệp định giá cuối cùng cho sản phâm sau đó điều chỉnh lại mức giá cho phù hợp với các loại thị trường. thứ nhất là doanh nghiệp phải điều chỉnh giá cho phù hợp với khách hàng ở các địa phương khác nhau, thứ hai là chiết giá và bớt giá, thứ ba là định giá khuyến mại để lôi kéo khách hàng, thứ tư là định giá phân biệt cho các nhóm khách hàng khác nhau và cuối cùng là định giá cho toàn danh mục sản phẩm.

Sau khi định giá, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp còn phải đối mặt với những tình huống mà họ có thể nâng giá hay giảm giá tùy theo điều kiện thị trường, năng lực sản xuất và tình hình của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần phải xem xét thận trọng phản ứng của đối thủ cạnh tranh, phản ứng của nhà cung ứng, thị trường trung gian để điều chỉnh cho phù hợp.[4]

Khi phải đương đầu với việc tha đổi giá cho đối thủ canh tranh khởi xướng doanh nghiệp phải hiểu được ý đồ của họ và luôn có phản ứng đi trước một bước so với đối thủ. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

  • C, Chính sách phân phối

Phân phối là cách thức mà người sản xuất đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp là tiêu thụ sản phẩm.

Kênh phân phối là một chuỗi các tổ chức hoăc cá nhân cùng thực hiện các khâu chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa cụ thể hay dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.

Cấu trúc của một kênh phân phối thường bao gồm:

Nhà sản xuất à người bán buôn à người bán lẻ à người tiêu dùng

Có thể các nhà sản xuất dùng các kênh phân phối song song để đạt mức bao phủ thị trường nhanh chóng hoặc sử dụng kênh marketing trực tiếp để khai thác người mua. Giữa các thành viên trong kênh được kết nối với nhau qua các dòng chảy là: dòng chuyển quyền sở hữu, dòng thanh toán, dòng vận động của sản phẩm, dòng thông tin và dòng xúc tiến.[4]

  • D, Chính sách xúc tiến:

Xúc tiến hỗn hợp được hiểu là bất cứ hoạt động nào mà doanh nghiệp tiến hành để đưa ra những thông tin hữu ích và có thính thuyết phục về sản phẩm của mình tới khách hàng mục tiêu. Xúc tiến hỗn hợp gồm các công cụ chủ yếu là quảng cáo, kích thích tiêu thụ, quan hệ công chúng và tuyên truyền, bán hàng trực tiếp và marketing trực tiếp.

Để xây dựng và phát triển một chương trình xúc tiến hỗn hợp, doanh nghiệp cần phải xem xét các bước sau:

Xác định rõ khách hàng mục tiêu: khách hàng có thể là người mua tiềm năng về các sản phẩm của doanh nghiệp, người đang sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp, người quyết định hoặc người có ảnh hưởng đến quyết định mua hàng.

Xác định mục tiêu giao tiếp: nó tạo nên một sự nhận biết về hàng hóa, sự hiểu biết về sản phẩm, mối thiện cảm, sự ưa chuộng, tin tưởng hay hành vi mua hàng.

Thiết kế thông điệp một cách lý tưởng: thông điệp phải dành được sự chú ý, sự quan tâm, kích thích được sự mong muốn và thúc đẩy được hàng động mua hàng. Việc soạn thảo thông điệp đòi hỏi phải giải quyết 4 vấn đề: nói gì? ( nội dung thông điệp), nói như thế nào cho hợp logic?( kết cấu của thông điệp), cách nói biểu trưng ra sao? (định dạng thông điệp) và ai nói? (nguồn phát thông điệp).

Lựa chọn kênh truyền thông: trực tiếp hay không trực tiếp( có hay không sự tiếp xúc cá nhân cũng như mối quan hệ ngược trong quan hệ giao tiếp). Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Xây dựng ngân sách chung cho kho khuyến mại: doanh nghiệp xác định mức kinh phí cho khuyến mại theo 4 phương pháp phổ biến: phương pháp căn cứ vào khả năng, phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh số bán, phương pháp cân bằng cạnh tranh và phương pháp căn cứ mục tiêu nhiệm vụ.

Hình thành hệ thống khuyến mại hợp lý để các công cụ phát huy hiệu quả và từ đó hình thành cân đối hệ thống khuyến mại.

Đo lường kết quả sau khi khuyến mại: sau khi thực hiện kế hoạch khuyến mãi, người truyền thông phải đo lường tác dụng của nó đối với khách hàng mục tiêu. Người truyền thông phải theo dõi xem có bao nhiêu người biết đến sản phẩm, mua và dùng nó, thích và hài lòng.

Tổ chức quản lý hệ thống truyền thông marketing tổng hợp: là khái niệm lập kế hoạch truyền thông marketing thừa nhận giá trị tăng thêm của một kế hoạch toàn diện, đánh giá các vai trò chiến lược của những công cụ truyền thông khách nhau như quảng cáo chung, phản ứng đáp lại trực tiếp, kích thích tiêu thụ, quan hệ quần chúng và kết hợp các công cụ này để đảm bảo tính rõ ràng, xúc tích và tiêu dùng tối đa của truyền thông bằng cách nhất thể hóa các thông điệp rời rạc. tất cả các hoạt động truyền thông phải được quản lý và phối hợp đồng nhất để đảm bảo sự nhất quán, phân bố thời gian hợp lý, chuyển đúng thông điệp tới khách hàng. [3]

Tóm lại, bốn biến số của marketing – mix có liên quan chặt chẽ với nhai, tương hỗ giúp đỡ nhau phát triển. Vì vậy , chỉ có thực hiện hài hòa cả bốn biến số nói trên mới làm nên sức mạnh tổng hợp của chiến lược marketing.

  • E, Mối quan hệ và sự phối hợp chính sách marketing- mix của doanh nghiệp: Các chính sách trong marketing-mix luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Người ta không thể tách rời chính sách sản phẩm với chính sách giá vì nguoi tiêu dùng rất nhạy cảm về giá, với những sản phẩm cùng loại, cùng mẫu mã, chất lượng cũng tương đương thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn sản phẩm có mức giá thấp hơn.

Do đó, nếu chỉ chú ý đến sản phẩm mà không để ý đến chi phí cho mỗi sản phẩm đó làm cho giá thành cao hơn so với sản phẩm cùng loại thì chính sách marketing-mix đó là không hiệu quả. Cũng như vậy, đối với các chính sách sách khác nếu không có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để tạo ra một chính sách marketing-mix hiệu quả thì cho dù doanh nghiệp có các chiến lược hay đến mấy cũng sẽ thất bại trên thương trường. không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ mà chính sách này còn phải có sự phối hợp với nhau để thực hiện một mục tiêu ngắn hạn nào đó của doanh nghiệp. giả sử doanh nghiệp mới thành lập và mục tiêu là có được thị phần vững chắc trên thị trường. đó là mục tiêu lâu dài còn trước mắt thì sản phẩm của doanh nghiệp cần phải được thị trường chấp nhận đã, do đó trong chính sách marketing-mix của doanh nghiệp lúc này cần phải điều chỉnh giá ở mức cần bù đắp chi phí, sản phẩm phải hoàn toàn đảm bảo chất lượng tốt, mẫu mã phù hợp… để tạo được uy tín trên thị trường. xây dựng kênh phân phối rộng khắp mang tính đại trà chưa có chọn lọc. Tăng cường quảng cáo trên các phương tiện có hiệu quả nhưng phải phù hợp với sản phẩm.v.v… Như vậy, các chính sách marketing-mix không những có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà còn phải có sự phối hợp nhất định để đạt mục tiêu của doanh nghiệp.

1.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá chiến lược các chính sách marketing-mix của doanh nghiệp Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.1.3.1. Môi trường vĩ mô

Là nơi công ty phải bắt đầu tìm kiếm những cơ hội và phát hiện những đe dọa, nó bao gồm tất cả những nhân tố và lực lượng có ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty. các lực lượng bên ngoài không thể kiểm soát được. các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố về kinh tế, yếu tố văn hóa xã hội, yếu tố chính trị và pháp luật, yếu tố công nghệ và các yếu tố về môi trường tự nhiên.

Môi trường vĩ mô ảnh hưởng tất cả đến các ngành kinh doanh, nhưng không nhất thiết theo một cách nhất định.

Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời câu hoi: doanh nghiệp đang trực diện với những gì?

Các yếu tố kinh tế: các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, lực lượng lao động…

Yếu tố chính trị và pháp luật:các yếu tố thuộc môi trường này chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kì doanh nghiệp nào. Phân tích môi trường chính trị cũng như các mức độ hoàn thiện thực thi pháp luật trong nền kinh tế. Môi trường chính trị bao gồm: các chính sách, quy chế, định chế luât, chế độ đãi ngộ, thủ tục và quy định Nhà nước.

Yếu tố văn hóa xã hội; hoạt động marketing dưới hình thức này hay hình thức khác đều nằm trong phạm vi xã hội và từng xã hội có một nền văn hóa của hướng dẫn cuộc sống hàng ngày của nó. Văn hóa là tất cả mọi thứ gắn liền với xu thế hành vi cơ bản của con người từ lúc được sinh ra, lớn lên… Những yếu tố của môi trường văn hóa gồm: nhân khẩu học, phong cách sống, xu hướng của nền văn hóa, tỷ lệ tăng dân số.

Yếu tố tự nhiên: đó là những vấn đề như ô nhiễm môi trường, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, nhiên liệu bị khai thác bừa bãi…

  • Yếu tố công nghệ: máy móc hiện đại, tiến bộ khoa học kĩ thuật…

Mỗi yếu tố môi trường vĩ mô nói trên có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong một mối liên kết với các yếu tố khác.[2]

1.1.3.2. Môi trường vi mô Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Bao gồm các nhân tố môi trường của công ty, có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục vụ của công ty đối với thị trường. Các yếu tố của môi tường vi mô gồm: các nhà cung ứng, các khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế, các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của công ty. Phân tích môi trường vi mô để nhận ra những mặt mạnh và mặt yếu của công ty để có các chính sách phù hợp.

Môi trường vi mô được xác định đối với một ngành công nghiệp cụ thể, với tất cả các hãng trong ngành chịu ảnh hưởng của môi trường vi mô trong ngành đó.

Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. có 5 yếu tố cơ bản là:

  • Đối thủ cạnh tranh: là các công ty khác đang hoạt động cùng ngành nghề với công ty trên thị trường.
  • Khách hàng: là những người tiêu thụ hàng hóa.
  • Nhà cung cấp: là những người cung ứng hàng hóa cho công
  • Các đối thủ tiềm ẩn: bao gồm các công ty chưa ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn có khả năng cạnh tranh trong tương lai.

Ảnh hưởng của những yếu tố này thường là một sự thực phải chấp nhận đối mặt với tất cả doanh nghiệp, để đề ra được một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó.

Sự hiểu biết các yếu tố này giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải.[2]

1.1.3.3. Nhân tố môi trường nội tại:

Môi trường nội tại của doanh nghiệp: chính xác là các yếu tố tồn tại bên trong doanh nghiệp- các đơn vị của doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc ra việc ra quyết định của ban lãnh đạo. Các yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp gồm: tổ chức hệ thống, nhân sự, tài sản vô hình, khả năng tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất kinh doanh. Trong đó, yếu tố nhân sự ảnh hưởng sâu rộng đến các chính sách marketing- mix, nó được thể hiện trong việc phân công lao đọng trong công ty- chính điều này tạo nên hiệu quả cho hoạt động marketing công ty, mỗi bộ phận trong công ty do được phân công lao động rõ ràng nên họ luôn ý thức được nhiệm vụ của mình trong vấn đề chuyên môn hay còn gọi là chuyên môn hóa, ví dụ như: bộ phận nghiên cứu marketing sẽ chuyên môn nghiên cứu nhu cầu khách hàng, thị trường, đối thủ cạnh tranh,… chính sự chuyên môn làm cho hiệu quả hoạt động công việc cao hơn và dẫn đến các quyết định trong marketing- mix hiệu lực hơn. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Khả năng tài chính của công ty cũng ảnh hưởng lớn đến các quyết định marketing của công ty. Nó được thể hiện ở khả năng huy động vốn cho sản xuất công ty.

Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố nội lực không thể thiếu đối với bất kì một công ty nào. Cơ sở vật chất có thể được coi là nền tảng cho sự phát triển của công ty. Với một công ty thì cơ sở vật chất kém thì khả năng tồn tại và phát triển là không thể.

Ngoài ra sự hợp tác hiệu quả giữa các lĩnh vực quản trị, marketing, tài chính- kế toán, sản xuất, nghiên cứu và phát triển cũng tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ đến doanh nghiệp.

Đồng thời, bản sắc văn hóa của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng khá quan trọng trong doanh nghiệp bởi nó tạo cho doanh nghiệp có một không khí làm việc riêng có, nó là cái để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Như vậy, những nhân tố nội tại của bản thân công ty có ảnh hưởng đến vấn đề điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp luôn phấn đấu không ngừng tăng cường điểm mạnh và loại trừ bớt những điểm yếu.

1.1.3.4. Tiêu chí đánh giá

  • Có triết lý khách hàng:

Người ta dựa vài triết lý khách hàng để đánh giá hiệu quả của các chính sách marketing- mix. Ngày nay, doanh nghiệp phải coi “khách hàng là thượng đế” do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp phải hướng vào khách hàng. Việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng là mục tiêu luôn luôn tồn tại trong chiên lược của doanh nghiệp. vì vậy, tiêu chí đo lường đánh giá chính sách marketing-mix quan trọng nhất là triết lý khách hàng hay sự thỏa mãn khách hàng của doanh nghiệp. Để đánh giá được chính sách marketing-mix của doanh nghiệp có hiệu quả không doanh nghiệp phải dựa trên các tiêu chí trong triết lý khách hàng như:

  • Khách hàng có thực sự thỏa mãn khi mua sản phẩm của doanh nghiệp không?
  • Tại sao khách hàng quyết định mua sản phẩm của doanh nghiệp?
  • Sản phẩm của doanh nghiệp có điểm gì nổi bật hơn so với đối thủ cạnh tranh?

Như vậy, triết lý khách hàng chính là tiêu thức để doanh nghiệp tự so mình sau khi thực hiện các chính sách mà doanh nghiệp đã áp dụng.

  • Sự sắp xếp, phối hợp với nhau của các chính sách trong marketing

Một chính sách marketing-mix được coi là hiệu quả khi nó thực hiện hiệu quả mục tiêu của doanh nghiệp. Tùy từng thời điểm khác nhau mà công ty có những mục tiêu khác nhau, do vậy trong từng thời điểm công ty có thể coi trọng biến số nào đó hơn nhưng nhất thiết các biến số khác vẫn phải được sử dụng đồng thời. Một chính sách marketing-mix hoàn thiện khi tất cả các chính sách trong marketing-mix đều được vận hành và cùng thực hiện một mục tiêu nhất định nào đó của công ty.

  • Có định hướng chiến lược. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Như đã nói, chính sách là những quyết định cụ thể để thực hiện chiến lược. Do đó, để đánh giá chính sách đó có hiệu quả hay không thì người ta có thể sử dụng chiến lược để đánh giá. Cho dù chính sách marketing-mix có được xây dựng hay đến mấy, hợ lý đến mấy mà không theo chiến lược của doanh nghiệp thì chính sách đó cũng không giúp ích gì cho doanh nghiệp đó nó không được coi là chính sách có hiệu quả.

  • Có chiến lược tác nghiệp

Thật vậy, mỗi chính sách cấu thành nên chính sách marketing – mix đều phải dựa trên một chiến lược chung lâu dài của doanh nghiệp. Nhưng trong mỗi chính sách đó cũng phải dựa trên những chiến lược riêng của biến số đó.

Ngoài ra, khi xây dựng các chính sách này doanh nghiệp cần phải đưa ra được phương hướng để thực hiện các quyết định trong chính sách đó. Với những quyết định đúng đắn mà phương hướng, chương trình thực hiện sai- quá dài, quá ngắn, không kịp thời, không khả thi… thì cũng được coi là chính sách đó, quyết định đó không hiệu quả.[2]

1.1.3.5. Phân tích SWOT

Các cơ hội: là sự xuất hiện những khả năng cho phép người ta làm một việc gì đó. Trong thương mại, cơ hội thể hiện sự xuất hiện nhu cầu của khách hàng và theo đó là việc xuất hiện khả năng bán được hàng để thỏa mãn nhu cầu của cả người sản xuất lẫn tiêu thụ. Cơ hội xuất hiện khắp mọi nơi, nó rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, dù một tổ chức có lớn đến đâu cũng không khai thác tất cả các cơ hội xuất hiện trên thị trường mà chỉ có thể khai thác được các cơ hội phù hợp với khả năng và mục tiêu của mình.

Phân tích các cơ hội là nhằm xác định đâu là cơ hội tốt, cơ hội hấp dẫn để từ đó có những hướng triển khai nhằm kha thác nhanh và có hiệu quả hơn những doanh nghiệp khác.

Các đe dọa: song song với các cơ hội là sự xuất hiện của các mối nguy cơ, đe dọa đối với doanh nghiệp. Các nguy cơ xuất hiện ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp, tổ chức. Họ chỉ có thể tránh những nguy cơ có thể xảy đến với mình, và phải đối mặt với nó thì cố gắng giảm thiệt hại mức thấp nhất.

Phân tích nguy cơ doanh nghiệp thực hiện những thay đổi, điểu chỉnh cần thiết với những thay đổi, biến động có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của mình. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Các điểm mạnh: là tất cả những đặc điểm, việc làm đúng tạo nên năng lực cho công ty. Nó có thể là sự khéo léo, sự thành thạo, là nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh…

Phân tích điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm xác định xem doanh nghiệp có lợi thế gì hơn đối thủ cạnh tranh, từ đó sử dụng có hiệu quả lợi thế đó để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.

Các điểm yếu: là tất cả những gì doanh nghiệp thiếu hoặc thực hiện không tốt bằng các đối thủ kha chay bị đặt vào vị trí bất lợi. Điểm yếu có thể có hoặc có thể không làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà tùy thuộc vào có bao nhiêu điểm yếu thể hiện trong thị trường.

Phân tích điểm yếu để thấy rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện chưa tốt, cần có những thay đổi kịp thời, khắc phục hoặc hạn chế điểm yếu trong thời gian trước mắt và trong tương lai.[1]

1.2. Cơ sở thực tiễn Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện chiến lược marketing mix của trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC. 

Chính sách marketing là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp, thủ tục được thiết lập gắn với hoạt động marketing nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đã xác định. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải có một chính sách marketing phù hợp, kết hợ được những điểm mạnh và cơ hội của mình để phát triển. Trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC cũng như các doanh nghiệp khác, thị trường luôn biến động nên cần phải biết cách thay đổi các chính sách của mình cho phù hợp với thị trường. Mặc dù trung tâm cũng có nhiều chính sách marketing mới, tuy nhiên các chính sách này vẫn chưa được thực hiện một cách khoa học và đồng bộ nên cần phải hoàn thiện chính sách marketing để đưa trung tâm ngày càng phát triển hơn.

1.2.2. Nhu cầu thị trường hiện tại Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.2.2.1 Nhu cầu thị trường ở Việt Nam

Ngày nay, tiếng Anh được công nhận là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng chung và phổ biến trên toàn thế giới. Kể từ khi Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, ngày càng nhiều tập đoàn, công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam mở rộng thị trường và hợp tác kinh doanh. Vì vậy, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực bắt buộc ngoài trình độ có chuyên môn cao thì khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phải chuyên nghiệp, đây chính là vấn đề mà cả người lao động và sử dụng lao động đều quan tâm. Vì vậy, việc giao tiếp tốt bằng tiếng Anh sẽ giúp mọi người có nhiều cơ hội làm việc tại công ty nước ngoài với mức lương cao và có thể thăng tiến nhanh hơn trong công việc. Còn các doanh nghiệp trong nước có đối tác làm ăn nước ngoài cũng yêu cầu nhân viên của mình cần phải có trình độ ngoại ngữ cao.

Bên cạnh đó, công nghệ thông tin cũng đóng một vai trò quan trọng không kém, nó là công cụ hữu ích cho công việc được xử lí, tính toán nhanh chóng hơn và ít sai sót hơn.

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khi tuyển nhân sự đều yêu cầu có các chứng chỉ ngoại ngữ tin học này.

Chính đều những nhu cầu tất yếu trên, nhiều trung tâm đào tạo và tổ chức thi các chứng chỉ ngoại ngữ tin học ra đời, trong đó có trung tâm ngoại ngữ- tin học HueITC. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

1.2.2.2. Nhu cầu taị trường tại Huế

Nhu cầu thị trường của cả nước về các chứng chỉ ngoại ngữ tin học là rất lớn, nhưng ở trường thì trang bị các kiến thức vẫn còn cơ bản và chưa chuyên sâu được. Nên để nâng cao kiến thức sinh viên nên tìm đến các trung tâm có chất lượng, uy tín để học.

Huế được xem là vùng đất hiếu học, ở đây có rất nhiều trường đại học và cao đẳng được thành lập nên số lượng sinh viên rất đông. Đây có thể xem là thị trường đầy tiềm năng cho các trung tâm ngoại ngữ, tin học.

Hơn nữa, ở Huế cũng có rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập cần có một đội ngũ lao động không chỉ giỏi về kiến thức chuyên môn mà còn giỏi về ngoại ngữ, tin học. Khóa luận: Chính sách marketing- mix nhằm thu hút học viên.

Ngoài ra, chủ tịch nước đã có thông tư liên tịch yêu cầu các cán bộ công nhân viên chức bổ sung các chứng chỉ ngoại ngữ, tin học vào hồ sơ để nâng lương, chuyển ngạch nên nhu cầu của thị trường rất lớn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Phân tích chính sách marketing mix trung tâm tin học

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x