Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam

Tình hình thực tế của Việt Nam đã cho thấy nhu cầu cấp bách phát triển hình thức đầu tư mạo hiểm để thúc đẩy phát triển kinh tế. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, phát triển một số ngành công nghệ cao là nhu cầu bức thiết đối với nền kinh tế Việt Nam. Tỷ trọng hàng hoá công nghệ cao trong nền kinh tế còn thấp . Định hướng phát triển những ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao là một trong những chiến lược trong định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta. Ví dụ, Việt nam đã xây dựng định hướng phát triển công nghiệp phần mềm, trong đó xác định đây là một trong những ngành mũi nhọn trong 10 năm tới. Theo chiến lược, tốc độ phát triển của ngành sẽ đạt khoảng 20-25% hàng năm từ nay đến 2025. Đến năm 2030, ngành này sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 50.000 USD. So với tiềm năng hiện có về nguồn nhân lực, mục tiêu này hoàn toàn không phải là không khả thi. Chính vì vậy, hình thành và phát triển đầu tư mạo hiểm sẽ hỗ trợ đáng kể và giúp cho Việt nam đạt được những mục tiêu nêu ra trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao của mình.

Thứ hai, hiện nay, ở Việt nam, kênh tài trợ cho những ý tưởng sáng tạo mới còn rất ít. Hàng năm, ngân sách nhà nước mới tài trợ cho các dự án nghiên cứu, mà các kết quả nghiên cứu này mới dừng lại trên giấy tờ, chưa có nguồn vốn để triển khai trên thực tế. Nhiều ý tưởng sáng tạo hiện nay không phải là hiếm nhưng lại thiếu nguồn vốn để triển khai. Ví dụ như giải thưởng VIFOTECH hàng năm nhận được 2020 dự án dự thi giải thưởng sáng tạo. Mỗi năm, Quỹ đã cấp giải thưởng cho hơn 200 dự án những trong số đó chỉ khoảng một nửa có thể tìm được nguồn vốn để thực hiện ý tưởng trên thực tế. Nhiều dự án mặc dù đã được ban giám khảo khằng định là có khả năng thương mại hoá và có khả năng ứng dụng nhưng đã không tìm được nguồn vốn tài trợ.

Thứ ba, đầu tư cho KH&CN hiện nay ở Việt nam chủ yếu là đầu tư từ nhà nước, chiếm khoảng hơn 60%, năm 2020 lên đến 90%. Đầu tư của khu vực doanh nghiệp và từ các nguồn khác cho phát triển KH&CN là rất ít. Trong khi đó, ở các nước khác nguồn đầu tư của doanh nghiệp chiếm hơn 50%, có nước lên đến 70% tổng đầu tư cho KH&CN. Trong bối cảnh đó, phát triển hình thức đầu tư mạo hiểm là một cách để đa dạng hoá nguồn vốn cho phát triển KH&CN do: (i) đầu tư mạo hiểm vào giai đoạn đầu của những dự án công nghệ mới chính là những khoản đầu tư phát triển công nghệ mới; (ii) theo kinh nghiệm của các nước, những doanh nghiệp dựa trên ý tưởng công nghệ mới này nếu phát triển thành công sẽ đầu tư nhiều hơn cho KH&CN trong quá trình phát triển của chúng. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Thứ tư, một trong những bất cập hiện nay mà Chính phủ cũng đã nhận thức được là tính hiệu quả chưa cao trong đầu tư của ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu và triển khai. Một trong những lý do mà như đã trình bày ở trên là những khoản đầu tư này chỉ dừng lại ở giai đoạn nghiên cứu ban đầu mà không có khoản vốn để triển khai những kết quả nghiên cứu đó. Trong thời gian tới, Chính phủ phải có những biện pháp để khuyến khích nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn triển khai những kết quả nghiên cứu. Một trong những giải pháp cho vấn đề này là phát triển hình thức đầu tư mạo hiểm. So với các phương án như gia tăng nguồn tài trợ cho triển khai những kết quả nghiên cứu, hay còn gọi là thương mại hoá sản phẩm nghiên cứu, việc chính phủ khuyến khích phát triển hình thức đầu tư mạo hiểm sẽ mang lại hiệu quả hơn. Bởi vì, như đã trình bày ở trên, đầu tư mạo hiểm với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận trong hoạt động của mình sẽ có cơ chế lựa chọn những dự án công nghệ cao/mới mà phù hợp với nhu cầu của thị trường và mang lại hiệu quả lớn nhất. Ngoài ra, đầu tư mạo hiểm có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là nguồn vốn nước ngoài tham gia đầu tư cho triển khai những ý tưởng sáng tạo mới. Như vậy, việc hình thành và phát triển đầu tư mạo hiểm sẽ phù hợp với chủ trương sắp tới của Nhà nước về thương mại hoá các sản phẩm khách hàng cá nhân và khuyến khích phát triển KH&CN.

Thứ năm, thực tế Việt nam cho thấy, đa số cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ hầu hết làm việc trong các Viện nghiên cứu, trường đại học. Rất ít cán bộ nghiên cứu làm việc trong các doanh nghiệp. Như vậy, những người có tiềm năng đưa ra các ý tưởng sáng tạo mới phần lớn là những người thuần tuý làm công tác khoa học và công nghệ. Những người này có kiến thức chuyên môn và các ý tưởng đổi mới sáng tạo nhưng ít có các kinh nghiệm quản lý và kinh doanh. Chính vì vậy, nếu nhận được tài trợ dưới hình thức đầu tư mạo hiểm, những người này sẽ được hỗ trợ/tư vấn cả về những kiến thức quản lý kinh doanh của các nhà quản lý đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp. Điều đó sẽ rất giúp ích rất nhiều cho những người có ý tưởng kinh doanh mới và giúp cho doanh nghiệp đó thành công.

Thứ 6, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân. Đây là lực lượng đông đảo trong nền kinh tế, chiếm số lượng lớn cả về quy mô vốn, nhân lực cũng như số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đảng và Nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm tới khu vực kinh tế này và xác định đây sẽ là một trong những động lực chính nhằm phát triển kinh tế đất nước. đầu tư mạo hiểm sẽ là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

II. Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư mạo hiểm xuất hiện đầu tiên ở Việt nam từ đầu những năm 2010, khi Việt nam đang trong cao trào của chính sách mở cửa, dòng đầu tư nước ngoài chảy ồ ạt vào Việt nam. Đây cũng là lúc các nhà đầu tư mạo hiểm nước ngoài quan tâm đến thị trường Việt nam và bắt đầu tiến hành hoạt động ở nước ta. Kể từ năm 2010 đến nay, đầu tư mạo hiểm có thể nói đã có nhiều thay đổi thăng trầm. Căn cứ vào sự thăng trầm đó và những đặc điểm của đầu tư mạo hiểm trong từng thời kỳ mà có thể chia quá trình hình thành và phát triển của đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2010-2022 và từ 2022 đến nay.

1. Giai đoạn 2010-2022

Từ năm 2010 đến năm 2012, Việt nam đã thu hút được 6 Quỹ đầu tư mạo hiểm của các nhà đầu tư nước ngoài sang hoạt động. Các quỹ này có những đặc điểm chính như sau:

Về hình thức hoạt động: Trong thời gian này, do chưa có qui định luật pháp cho loại hình đầu tư này, nên các quỹ đầu tư mạo hiểm này chỉ mở văn phòng đại diện ở Việt nam. Các quỹ này huy động vốn ở nước ngoài, niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Một số quỹ đầu tư hoàn toàn cho thị trường Việt nam, trong khi một số đầu tư cho cả một số nước trong khu vực châu á, trong đó có Việt nam.

Về qui mô: Các quỹ này có qui mô vốn trung bình, dao động từ 20-80 triệu USD mỗi quỹ. Quy mô mỗi dự án các quỹ đầu tư cũng thường nhỏ, khoảng từ 0,5 đến 2 triệu USD một dự án.

Về đội ngũ cán bộ của Quỹ: những cán bộ quản lý chủ chốt là người nước ngoài. Đây là những người có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, đã hoạt động nhiều trong ngành tài chính nói chung và đầu tư mạo hiểm nói riêng. Nhân viên Việt Nam trong quỹ ít, chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ (xem Bảng 8).

Về danh mục đầu tư: Danh mục đầu tư của Quỹ tương đối đa dạng, trong đó có Quỹ tập trung đầu tư cho doanh nghiệp qui mô lớn, có quỹ đầu tư cho doanh nghiệp qui mô nhỏ. Có quỹ chỉ tập trung đầu tư cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có quỹ đầu tư cả cho doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, trong danh mục đầu tư thực tế, các Quỹ đầu tư mạo hiểm này hầu hết chỉ tập trung vào các ngành sản xuất hàng hoá có khả năng cạnh tranh trên thị trường, không phải những ngành công nghệ cao. Các quỹ đầu tư này không xác định ngành đầu tư trọng tâm là công nghệ cao.

  • Bảng 8 Một số thông tin về 4 quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động tại Việt nam

Tuy nhiên, đến năm 2020, trong 6 Quỹ hoạt động trước đó thì 5 Quỹ đã rút vốn khỏi thị trường Việt nam, chỉ riêng Vietnam Enterprise Investment Ltd. vẫn còn hoạt động. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Cùng với xu hướng đầu tư và rút vốn khỏi thị trường Việt Nam nói trên của các Quỹ đầu tư mạo hiểm, lượng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam cũng tăng dần từ khoảng 10 triệu USD năm 2011 đến đỉnh cao là hơn 200 triệu vào những năm 2015-2019 và giảm dần trong những năm gần đây (xem Biểu đồ 8).

  • Biểu đồ 8 Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 2011-2022

Theo nghiên cứu của MPDF, nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rút vốn của các Quỹ như sau:

  • Quản lý quỹ và chiến lược đầu tư của các Quỹ chưa đảm bảo tính hiệu quả. Hầu hết các chuyên gia quản lý quỹ là người nước ngoài nên không có nhiều kinh nghiệm cũng như mối quan hệ rộng ở Việt nam. Chiến lược đầu tư của các quỹ không tập trung, bị dàn trải ra nhiều ngành do đó bị thụ động và không có chuyên gia giỏi. Các quỹ cũng bị hạn chế trong việc đầu tư vào các doanh nghiệp của người Việt nam,
  • Việt nam chưa có thị trường chứng khoán do đó các Quỹ gặp khó khăn trong việc rút vốn đầu tư trong khi đó các quỹ này đa số rút vốn thông qua trị trường chứng khoán,
  • Môi trường kinh doanh trong giai đoạn này chưa khuyến khích khu vực tư nhân, chủ yếu ưu tiên, tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp nhà nước. Khu vực tư nhân kém phát triển làm hạn chế cơ hội đầu tư của các quỹ.
  • Ngoài ra, sau cuộc khủng hoảng châu á, các nước bị ảnh hưởng của khủng hoảng trong khu vực đang có chính sách cơ cấu lại do đó tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Như vậy, có thể nói 2010-2022 là giai đoạn bắt đầu hình thành loại hình đầu tư mạo hiểm ở Việt nam. Tuy nhiên, những khoản đầu tư này mặc dù đầu tư vào những doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng đó không phải là những doanh nghiệp dựa vào công nghệ . Hay nói cách khác, đây không phải là những khoản đầu tư cho những dự án phát triển những ý tưởng công nghệ mới. Vì vậy, nếu hiểu theo định nghiã hẹp về đầu tư mạo hiểm như đã trình bày ở đầu bài viết thì những khoản đầu tư này chưa phải là đầu tư mạo hiểm, hay nói cách khác là chúng ít có tác động đến phát triển công nghệ ở Việt nam.

  • Bảng 9 Lĩnh vực đầu tư của một số Quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động ở Việt Nam (2010-2022)

2. Giai đoạn từ năm 2022 đến nay Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Sau một thời gian trầm lắng, từ năm 2022, đầu tư mạo hiểm lại bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu mới, tích cực hơn, có thể gọi là làn sóng đầu tư mạo hiểm thứ hai của các quỹ nước ngoài vào Việt nam (Hải Lý, 2023). Một số quỹ đã bắt đầu những hoạt động đầu tư ở Việt Nam như Mekong Enterprise Fund và Vietnam Opportunity Fund. Nhiều quỹ khác cũng tỏ rõ dự định đầu tư vào Việt nam như Phan-xi-phăng (của các nhà đầu tư châu Âu và Đông á), FMO (Thuỵ Sỹ), DEG (Đức) và một số quỹ của Hàn quốc cũng đang chuẩn bị nghiên cứu thị trường để đầu tư vào Việt nam. Các quỹ này có hình thức hoạt động giống như các quỹ đầu tư mạo hiểm trước đây, vẫn huy động nguồn vốn từ nước ngoài và niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Một số đầu tư hoàn toàn vào Việt nam, một số đầu tư chỉ một phần còn lại đầu tư vào các nước khác. Những quỹ này một số mang tính chất là quỹ đầu tư mạo hiểm còn một số đầu tư cả vào các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.

  • Bảng 10: Tình hình đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Bảng 10 cho thấy lượng vốn đã được đầu tư trong tổng số vốn mà các quỹ nắm giữ chiếm một tỉ lệ rất thấp, nếu như năm 2022 tỉ lệ vốn mà các quỹ đầu tư được là 3 trong tổng số 114 triệu USD thì đến nửa đầu năm 2026, con số này là 53 triệu USD trong tổng số là 286 triệu USD. Điều này cho thấy tỉ lệ vốn mạo hiểm được giải ngân là không đáng kể so với vốn điều lệ mà các quỹ đầu tư mạo hiểm hiện có. Giải thích cho điều này, một cán bộ của quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Việt Nam cho rằng, nguyên nhân là hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn bắt đầu và nhà đầu tư mạo hiểm chưa thật sự bị thuyết phục bởi các dự án của các doanh nghiệp trong nước.

Tính đến tháng 10/2025, tại Việt Nam đang có 10 công ty đầu tư tài chính đang điều hành 11 quỹ đầu tư ở Việt Nam, với tổng nguồn vốn đầu tư là 1158 tỉ USD, trong đó khoảng 300 triệu USD được dành cho đầu tư mạo hiểm. Trong các quỹ, quỹ có quy mô vốn lớn nhất là Prudential Vietnam Fund (500 triệu USD), thứ hai là Dragon Capital (200 triệu USD), ba quỹ tiếp theo có vốn 100 triệu USD là VinaCapital, IDG Venture và Manulife. Quỹ Aureos Capital có vốn 60 triệu USD, 4 quỹ còn lại có vốn 20 – 40 triệu USD, trong đó riêngMekong Enterprise Fund là 18,5 triệu USD. Tuy nhiên, hầu hết các quỹ này đầu tư vào lĩnh vực tài chính, bất động sản, xây dựng, hàng tiêu dùng là chủ yếu.

Quỹ đầu tư mạo hiểm có những hoạt động khá tích cực tại Việt Nam hiện nay là Mekong Enterprise Fund (do công ty cổ phần Mekong Capital quản lý), thành lập tháng 4/2022. Sau một thời gian dài thăm dò thị trường, quỹ này đã rót vốn vào một số doanh nghiệp Việt Nam, hỗ trợ các phương thức quản lý, kinh doanh theo tiêu chuẩn quốc tế. Tháng 11/2023, Mekong Enterprise Fund đã đầu tư khoảng 0,8 triệu USD vào công ty Cổ phần tin học Lạc Việt. Tháng 7/2025, quỹ này tiếp tục đầu tư 630.000 USD cho công ty cổ phần kiến trúc và trang trí nội thất AA, đưa tổng vốn vào doanh nghiệp này lên tới 1.657.740 USD. Tỉ lệ tăng trưởng doanh thu trung bình hàng năm của các công ty mà Quỹ đầu tư là 28,5% kể từ lúc được đầu tư cho đến ngày 30/6/2026. Với Quỹ Doanh nghiệp Mekong đã được đầu tư gần hết, Mekong Capital dự định khai trương quỹ đầu tư thứ 2 trong quý II/2026. Quỹ mới dự định có vốn đầu tư khoảng 50 triệu USD và có chiến lược đầu tư giống như Quỹ doanh nghiệp Mekong.

  • Bảng 11: Danh mục công ty nhận đầu tư của Mekong Enterprise Fund tính đến tháng 10/2026 Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Đặc biệt, năm 2022, tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) của Mỹ đã thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm dự định đến năm 2030 tổng vốn sẽ lên tới 100 triệu USD. Quỹ hoạt động dưới dạng công ty cổ phần, theo Luật Đầu tư nước ngoài. Quỹ có kế hoạch sẽ tập trung đầu tư chủ yếu cho các doanh nghiệp mới thành lập trong lĩnh vực công nghệ thông tin (phần mềm, bán dẫn và viễn thông), đặc biệt là doanh nghiệp của các doanh nhân trẻ, với nhiều ý tưởng sáng tạo. Theo kế hoạch, Quỹ có thể đầu tư vốn ban đầu cho các công ty này khoảng từ 500.000 đến 1 triệu USD và có thể lên đến 6 triệu USD khi đến giai đoạn cuối. Đây là Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài đầu tiên ở Việt Nam quan tâm đến lĩnh vực phát triển công nghệ cao. Hiện nay, IDG Việt Nam có hai văn phòng đại diện, một ở thành phố Hồ Chí Minh, và một tại Tầng 15, tháp B toà nhà Vincom. Hà Nội. Tỷ lệ đầu tư theo lĩnh vực của IDG là 35% cho ngành Công nghệ thông tin – phát triển phần mềm, 20% cho cơ sở hạ tầng viễn thông và dịch vụ, 15% cho Internet, 15% cho sản xuất công nghệ và 15% cho công nghệ sinh học. Một ngày, trung bình Quỹ IDG Venture Việt Nam nhận được hơn 20 kế hoạch, ý tưởng kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam gửi đến. Đến nay đã có 4 công ty nhận được sự đầu tư của Quỹ, với tổng số vốn là 5 triệu USD. Bốn công ty này là iShere Software, Peacesoft Solutions, Vietnamworks.com (Navigos Group) và Vinagame. Các công ty này đều đã thu được những thành tựu nhất định, có sản phẩm và dịch vụ đi theo xu hướng phát triển của ngành công nghệ thông tin, có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai.

Dragon Capital, tập đoàn chuyên về các dịch vụ đầu tư tài chính, hiện nay đang quản lý 145 triệu USD của Quỹ đầu tư Vietnam Enterprise Investments Ltd. Quỹ này bỏ ra khoảng 100 triệu USD cho hơn 50 doanh nghiệp trong nước, khoảng 15 doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước, có đường hướng phát triển ổn định (tính đến tháng 1/2026). Trong đó có 3 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin là Global Cybersoft Inc, SilkRoad Systems và Glass Egg Digital Media (chiếm 9,2% tổng vốn đầu tư). Còn lại là đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng, bất động sản, du lịch, ngân hàng, giao nhận vận tải, điện tử (CTCP cơ điện lạnh – REE), viễn thông (CTCP Cáp và vật liệu viễn thông – SACOM). Cuối năm 2024, Dragon Capital đã khai trương thêm một quỹ nữa là Vietnam Growth Fund Ltd với tổng nguồn vốn là 75 triệu USD.

VinaCapital, một công ty đầu tư khác, từ này đến tháng 12/2026 đặt mục tiêu thu hút thêm từ 40 đến 60 triệu USD cho Quỹ đầu tư Vietnam Oppoturnity Fund (VOF), đưa tổng số vốn mà Quỹ đang nắm giữ lên khoảng 130 triệu đến 150 triệu USD. VOF hiện nay đã được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Alternative investment market tại London. VOF đầu tư vào các lĩnh vực như dịch vụ tài chính, bất động sản và hàng tiêu dùng tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác. VOF là quỹ đầu tư hoạt động hiệu quả nhất Việt Nam năm 2024 với giá trị tài sản ròng tăng 25% và giá cổ phiếu tăng 38% (Venture Capital Journal – 11/2025).

Như vậy, có thể nói mặc dù đã có nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm hình thành tại Việt Nam trong thời gian qua nhưng hầu hết các quỹ chỉ chấp nhận tỉ lệ rủi ro thấp, đa số tìm đến các doanh nghiệp đã thành công trên thương trường, khẳng định được tên tuổi và uy tín. Trong số các quỹ đầu tư mạo hiểm hiện nay thì chỉ có IDG Ventures Vietnam là chuyên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao. Một điểm đáng chú ý nữa là tất cả các quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay đều là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Cho đến nay, thị trường vốn mạo hiểm ở Việt Nam vẫn chưa hiện diện một quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa nào theo đúng nghĩa của loại hình đầu tư mạo hiểm. Một số quỹ mới thành lập gần đây như Quỹ Thành Việt, Vietfund, Phangxipang đều là những quỹ đầu tư đơn thuần chứ chưa thực sự là quỹ đầu tư mạo hiểm với các lĩnh vực đầu tư chủ yếu là chứng khoán, bất động sản, v.v …

3. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát triển ĐTMH ở Việt Nam trong thời gian vừa qua Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Theo phân tích ở trên, việc hình thành và phát triển loại hình đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam là cần thiết. Sự quan tâm của các nhà đầu tư mạo hiểm đối với thị trường Việt nam hiện nay là những dấu hiệu cho thấy nhu cầu thị trường đối với loại hình đầu tư này. Tuy nhiên, quá trình hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thực tế liên quan đến rất nhiều khía cạnh và cần có những điều kiện nhất định, nhất là những qui định khuôn khổ pháp luật. Dưới đây sẽ xem xét những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc mở rộng và phát triển loại hình đầu tư này ở Việt Nam.

  • a. Thuận lợi

Thứ nhất, thị trường chứng khoán Việt nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2020. Cho đến nay, mặc dù thị trường chứng khoán của Việt nam chưa đóng vai trò lớn trong việc huy động nguồn vốn trong nền kinh tế nhưng bước đầu đã hứa hẹn tạo ra một kênh rút vốn tiềm năng cho các Quỹ đầu tư mạo hiểm trong thời gian tới. Gần đây, Nhà nước cũng nới lỏng những qui định về sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho các công ty nhỏ có thể niêm yết trên thị trường này.

Thứ hai, khu vực doanh nghiệp tư nhân và tinh thần kinh doanh được khuyến khích và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Một trong những dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã khơi thông những rào cản pháp lý đối với khu vực tư nhân, tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi và gia tăng số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam . Ngoài ra nhiều chủ trương, chính sách và các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển khu vực tư nhân đã thể hiện rõ ràng sự cam kết của Nhà nước trong việc phát triển khu vực này. Cũng từ đó khuyến khích tinh thần kinh doanh trong dân chúng và hứa hẹn những dự án hấp dẫn cho các nhà đầu tư mạo hiểm.

Thứ ba, trong thời gian qua, nhiều qui định của nhà nước đối với đầu tư có vốn nước ngoài cởi mở hơn. Những chính sách này có tác động đáng kể đến đầu tư mạo hiểm bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm hiện nay đang hoạt động ở Việt Nam là những Quỹ do người nước ngoài đầu tư. Chính vì vậy, việc Nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong các doanh nghiệp trong nước đã mở rộng hơn cơ hội đầu tư của các Quỹ đầu tư mạo hiểm.

Thứ tư, kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định trong khu vực, GDP tăng trung bình khoảng 7%. Nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định hứa hẹn một thị trường tốt cho các hoạt động kinh doanh.

  • b. Khó khăn Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Thứ nhất, về hành lang pháp lý, đầu tư mạo hiểm là loại hình đầu tư mới ở Việt Nam. Hiện nay, trong các văn bản pháp qui, chưa có văn bản nào đề cập trực tiếp đến hình thức đầu tư mạo hiểm mà chỉ mới có một số qui định có liên quan đến hoạt động này như qui định về hoạt động của Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đầu tư. Như trên đã trình bày, một trong những hình thức hoạt động phù hợp đối với quỹ đầu tư mạo hiểm là công ty hợp danh hữu hạn thì hiện nay Luật Doanh nghiệp đã có quy định về loại hình công ty này nhưng thành viên của công ty chỉ có thể là cá nhân. Trong khi đó, theo kinh nghiệm của các nước, các thành viên góp vốn phần lớn là các tổ chức như ngân hàng, quỹ hưu trí, các viện nghiên cứu, trường đại học, v.v… và thành viên hợp danh cũng có thể là các công ty quản lý quỹ. Chính vì vậy, chưa có qui định pháp lý phù hợp để quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động ở Việt Nam dưới hình thức công ty hợp danh hữu hạn.

Những nhà đầu tư mạo hiểm tiềm năng ở Việt Nam có thể là những nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư trong nước có thể kể đến như công ty bảo hiểm, ngân hàng, tổng công ty, các viện nghiên cứu, trường đại học và các cá nhân. Nguồn vốn tiềm năng cho hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trước mắt sẽ không nhiều. Bởi vì, ở các nước khác, nguồn vốn cho đầu tư mạo hiểm chủ yếu từ quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, từ ngân hàng, v.v… Ở Việt Nam, những thể chế tài chính này hiện đang quá trình chuyển đổi cơ chế hoạt động nên khó có thể huy động họ tham gia vào đầu tư mạo hiểm. Như vậy, Việt nam có thể huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau, như từ cá nhân, viện nghiên cứu, trường đại học, tổng công ty. Tuy nhiên, hiện nay, ngoài đầu tư của cá nhân, đầu tư của các tổ chức khó có thể thực hiện được do chưa có hành lang pháp lý cho phép các tổ chức này thực hiện hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Thứ hai, đối với các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài, một trong những qui định quan trọng, có ảnh hưởng đến hoạt động này là hạn chế cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, theo qui định, Nhà nước chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 30% vốn của công ty trong nước. Qui định này hạn chế người nước ngoài đầu tư nhiều hơn cho các dự án công nghệ và những ý tưởng sáng tạo. Thực tế ở Việt Nam, những người có ý tưởng sáng tạo khó có thể huy động được vốn từ các nguồn khác, nếu có nguồn vốn từ đầu tư mạo hiểm chắc sẽ là nguồn vốn chính. Chính vì vậy, giới hạn 30% là tương đối thấp trong hoạt động đầu tư mạo hiểm liên quan đến ý tưởng sáng tạo và công nghệ mới.

Thứ ba, một trong những yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của những khoản đầu tư vào triển khai những ý tưởng sáng tạo mới là quyền sở hữu trí tuệ được đảm bảo. Quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ thì nhà đầu tư mới yên tâm bỏ vốn phát triển ý tưởng sáng tạo/dự án công nghệ mới đó. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt nam còn nhiều bất cập. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả hàng nhái còn tràn lan. Đặc biệt, đáng báo động nhất là trong lĩnh vực phần mềm, một trong những lĩnh vực có tiềm năng huy động được sự quan tâm của các nhà đầu tư mạo hiểm.

Thứ tư, môi trường kinh doanh ở Việt nam hiện nay còn chưa khuyến khích sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh và mang tính “chụp giật”. Ví dụ, các quy định về thuế không rõ ràng và mức thuế thu nhập khá cao buộc nhiều DN trong nước có xu hướng thực hiện chế độ kế toán không minh bạch. Chính sự không minh bạch đó cũng là yếu tố làm các nhà đầu tư mạo hiểm e ngại đồng thời các doanh nghiệp cũng không muốn nhận khoản đầu tư mạo hiểm vì họ không muốn sự can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư mạo hiểm. Tính chụp giật thể hiện ở chỗ bản thân những người kinh doanh chưa có chiến lược đầu tư dài hạn mà đa phần chỉ nhìn vào ngắn hạn. Chính vì chủ yếu quan tâm đến lợi ích ngắn hạn nên đã làm trầm trọng thêm tính không minh bạch trong kinh doanh mặt khác không khuyến khích khu vực doanh nghiệp tham gia đầu tư mạo hiểm.

Thứ năm, các ngành công nghệ cao của Việt Nam hiện nay mới đang trong giai đoạn khởi đầu, nhất là so với các nước trong khu vực. Ngành này hiện tại còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh với các nước khác về nguồn nhân lực, về nắm bắt và tiếp cận các thị trường. Việt nam hiện chưa có cơ chế phù hợp để biến tiềm năng về nguồn nhân lực đó trở thành cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư mạo hiểm. Hiện nay, cơ chế quản lý các nhà nghiên cứu và phát triển công nghệ cũng như các tổ chức nghiên cứu và phát triển còn gò bó, còn mang tính bao cấp, chưa khuyến khích được các cá nhân và tổ chức phát huy tính sáng tạo của mình

Thứ sáu, nguồn nhân lực người Việt Nam phù hợp cho phát triển đầu tư mạo hiểm hiện chưa có. đầu tư mạo hiểm là lĩnh vực rất mới ở Việt nam nên nguồn nhân lực hiểu biết và có những kỹ năng cần thiết cho loại hình kinh doanh này, đặc biệt là những kỹ năng quản lý đầu tư, lựa chọn những dự án có tính khả thi và tham gia tư vấn cho doanh nghiệp có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm hầu như chưa có. Hiện nay, đa số nhân viên chính của các Quỹ đầu tư mạo hiểm là người nước ngoài, người Việt Nam chỉ đóng vai trò trợ giúp. Trong hệ thống tri thức trong trường đại học cũng chưa cung cấp kiến thức về loại hình đầu tư này.

III. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Chương hai đã nghiên cứu những bài học thành công và chưa thành công trong hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á. Tuy nhiên sẽ rất khập khiễng khi áp dụng tất cả những thành công của các nước cho sự hình thành và phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam. Do vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra phải được lựa chọn từ sự thành công cũng như thất bại của các nước và phải phù hợp với thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Từ việc nghiên cứu hoạt động đầu tư mạo hiểm của một số nước châu Á, trên cơ sở phân tích thực trạng đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam trong những năm qua và những thuận lợi cũng như khó khăn trong việc phát triển đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, tác giả xin tổng hợp các kinh nghiệm sau đây cho loại hình kinh doanh này ở Việt Nam trong thời gian tới. Những bài học kinh nghiệm này cũng đồng thời là căn cứ để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cho sự phát triển của đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm các nước cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm Việt Nam bao gồm:

1. ĐTMH chỉ có thể phát huy vai trò của chúng đối với nền kinh tế khi được phát triển dựa trên nhu cầu của thị trường

ĐTMH thực chất là một hoạt động kinh doanh vốn. Do đó, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, đầu tư mạo hiểm chỉ có thể tác động tới các khía cạnh trong nền kinh tế như phát triển công nghệ, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, kích thích sự phát triển của thị trường vốn, v.v… khi nó thực sự dựa vào tín hiệu thị trường và nhận được sự chấp nhận của thị trường để hoạt động hiệu quả . Cho dù hoạt động đầu tư mạo hiểm có được tiến hành theo hình thức này hay hình thức khác thì nó vẫn phải được vận hành dựa trên quy luật tất yếu về cung cầu, tức là ở đâu có cầu thì ở đó ắt sẽ có cung. Một khi trong xã hội còn tồn tại những ý tưởng táo bạo và có tính khả thi thì nguồn cung vốn mạo hiểm vẫn có thể phát huy tính hiệu quả của nó. Sự thành công của một số nước châu Á trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm như Singapore hay Đài Loan đã chứng minh được điều này.

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay là một nước có nền kinh tế thị trường chịu sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, hoạt động đầu tư mạo hiểm là một hoạt động mới mẻ và liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11 vừa qua, nền kinh tế của chúng ta sẽ chứng kiến một sự “đổ bộ” của các nhà Đầu tư nước ngoài ngoài, và đồng nghĩa với việc các rào cản bảo hộ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong nước sẽ được dỡ bỏ thì tính khách quan của thị trường càng phải được chú trọng hơn.

2. Lĩnh vực mà các quỹ đầu tư mạo hiểm hướng đến trong giai đoạn đầu là các lĩnh vực công nghệ cao

Kinh nghiệm của các nước trong việc hình thành và phát triển đầu tư mạo hiểm đều gắn liền với mục tiêu phát triển công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế. Với thực tế Việt Nam hiện nay, đầu tư mạo hiểm gắn liền với phát triển công nghệ cần thiết phải nhận được sự quan tâm đúng mực của nhà nước và nằm trong mục tiêu của các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Trong giai đoạn đầu của việc triển khai một Quỹ đầu tư mạo hiểm, công nghệ cao mà đặc biệt là công nghiệp phần mềm sẽ là lĩnh vực trọng tâm nhằm phát huy lợi thế tiềm năng trí tuệ Việt Nam và không đòi hỏi nhiều vốn xây dựng hạ tầng, thiết bị. Lĩnh vực này cũng tạo ra nhiều việc làm và có tiềm năng xuất khẩu lớn. Ngoài ra, việc tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao sẽ đem lại cơ hội góp phần xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, tạo năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá đất nước theo xu thế hướng tới nền kinh tế tri thức.

3. Khu vực kinh tế tư nhân, lớp doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng chính của các quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Việc khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào các công ty tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao phải nằm trong chiến lược đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay các doanh nghiệp đang hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm phần đa cả về số lượng và quy mô). Đây là một lực lượng quan trọng cần được khuyến khích và phát triển nhằm tạo động lực phát triển cho nền kinh tế vì những doanh nghiệp này rất cần sự đầu tư, hỗ trợ của quỹ, đồng thời họ cũng có khả năng linh hoạt trong đổi mới công nghệ, thích ứng thị trường, nhất là trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh dựa trên tài năng, chất xám. Kinh nghiệm các nước cho thấy, qua hoạt động đầu tư mạo hiểm các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụng được nguồn vốn cũng như kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư mạo hiểm. Quỹ đầu tư mạo hiểm giúp doanh nghiệp khắc phục các trở ngại như không có khả năng đáp ứng các điều kiện đi vay từ ngân hàng hay huy động vốn từ công chúng mà dự án kinh doanh lai đòi hỏi vốn lớn. Việc các quỹ đầu tư mạo hiểm rót vốn vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghệ cao còn tạo ra động lực thúc đẩy phát triển ngành công nghệ ở nước ta trong thời gian tới.

4. Mô hình tổ chức quỹ đầu tư mạo hiểm được coi là phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là mô hình quỹ – công ty cổ phần.

Mặc dù ở châu Á, mô hình hợp danh hữu hạn là phổ biến nhưng với mô hình này, các thành viên quản lý đầu tư vốn có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, trong khi theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2025 thì thành viên hợp danh bắt buộc phải là những cá nhân. Do vậy, nếu lựa chọn mô hình này thì những quy định hiện có của pháp luật không đủ để vận dụng.

Theo kinh nghiệm tổ chức của các quỹ đầu tư mạo hiểm ở châu Á thì hình thức theo mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn này ít xuất hiện và không phát triển nhiều. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc tiếp cận mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn dường như thuận lợi hơn do dễ hiểu và có kinh nghiệm tổ chức từ thực tiễn nền kinh tế trong nước. Do thị trường chứng khoán ở nước ta chưa phát triển, cùng với tâm lý chưa quen với việc giao tiền cho người quản lý chuyên nghiệp đi đầu tư, khiến mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn dường như được tin cậy hơn (vì nhà đầu tư có thể trực tiếp quản lý vốn, tài sản của mình để đưa vào sản xuất – kinh doanh). Với những quy định mở rộng hơn của Luật Doanh nghiệp 2025 thì việc các tổ chức tài chính thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm dưới hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn là hoàn toàn có thể chấp nhận được. Bên cạnh đó, mô hình này cũng dễ dàng hơn cho việc thành lập các Quỹ liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài.

Mô hình quỹ – công ty cổ phần là một tổ chức tài chính cổ phần, có tư cách pháp nhân hoàn chỉnh, là phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay do: Mô hình này thể hiện được bản chất xã hội hoá nguồn vốn đầu tư dài hạn, với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế xã hội, vừa có thể được điều hành một cách chuyên nghiệp bởi một công ty được thuê quản lý quỹ; Các nhà đầu tư – cổ đông quỹ vẫn có thể kiểm soát dễ dàng bởi không có sự tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Như vậy, trong bốn mô hình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm thì mô hình quỹ – công ty cổ phần được coi là mô hình phù hợp nhất với các điều kiện của Việt Nam hiện nay. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

5. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của đầu tư mạo hiểm

Nhà nước có thể trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư mạo hiểm với vai trò là người đầu tư. Tuy nhiên, Nhà nước chỉ nên tham gia khi muốn cung cấp tín hiệu an toàn, khuyến khích các nhà đầu tư khác hoặc khi các nhà đầu tư khác không muốn đầu tư, đặc biệt là vào 3 trong 5 giai đoạn đầu của quá trình đầu tư mạo hiểm (vì khu vực tư nhân thường có xu hướng đầu tư vào 2 giai đoạn cuối trong giai đoạn của đầu tư mạo hiểm do tính rủi ro ít hơn). Sự tham gia của Nhà nước phải rất thận trọng bởi vì nếu nhà nước can thiệp quá nhiều có thể gây nên sự “bóp méo thị trường” và làm yếu đi sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, chúng ta cũng nên rút kinh nghiệm từ bài học của Ấn Độ khi các chính sách của chính phủ thay vì tạo ra một tác động tích cực thì lại gây lãng phí, không hiệu quả trong khi làm các nhà đầu tư tư nhân thoái lui. Nhà nước chỉ nên thực hiện trực tiếp đầu tư mạo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm khởi xướng hoạt động đầu tư mạo hiểm và phát tín hiệu an toàn cho khu vực tư nhân tham gia hoạt động này.

Nhà nước có thể tác động gián tiếp đến hoạt động đầu tư mạo hiểm thông qua việc tạo ra một môi trường kinh doanh vĩ mô ổn định, xây dựng chiến lược/kế hoạch phát triển đầu tư mạo hiểm, thiết lập các khuôn khổ pháp lý điều tiết quá trình đầu tư mạo hiểm, đồng thời ban hành các chính sách tác động đến các chủ thể tham gia như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, tín dụng, v.v…

Khung pháp lý cho hoạt động đầu tư mạo hiểm nói chung và đầu tư mạo hiểm và các lĩnh vực công nghệ nói riêng cần rõ ràng và đầy đủ và nhất quán. Trong thời gian qua việc nhận thức về vấn đề này ở các cấp bộ ngành còn nhiều hạn chế, do đó đã cản trở sự hình thành và phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm đúng với bản chất của chúng tại Việt Nam. Chúng ta nên học hỏi những kinh nghiệm của Đài Loan về phát huy vai trò của Chính phủ đối với sự phát triển của ngành đầu tư mạo hiểm. Để phát huy vai trò quan trọng của mình, Chính phủ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ thích hợp nhằm kích thích sự ra đời và phát triển của ngành nghề này như nghiên cứu sự cần thiết của việc thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm có sự hỗ trợ về vốn và quản lý của Nhà nước, định hướng cơ chế hoạt động của quỹ. Để tận dụng được nguồn vốn mạo hiểm cũng như kinh nghiệm quản lý và làm ăn của các nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ cần tạo ra các biện pháp vĩ mô an toàn và ổn định, chú ý đến lợi ích của cả hai bên để các nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư vào Việt Nam. Một mặt, Chính phủ cho phép các công ty tài chính và các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm về quản lý quỹ cũng như quy mô vốn lớn được phép tham gia phối hợp để thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm bằng cách nới lỏng các quy định, chính sách về hạn mức vốn, lĩnh vực đầu tư. Vì đặc thù của hoạt động đầu tư mạo hiểm là liên quan tới nhiều lĩnh vực như: thị trường chứng khoán, đầu tư nước ngoài, tài chính, công nghệ cao,v.v…cho nên các chính sách của nhà nước đặc biệt trong ngành đầu tư mạo hiểm cần chú ý tới sự phù hợp và nhất quán thì nhà đầu tư mạo hiểm mới có thể chọn Việt Nam làm điểm đến tốt nhất. Mặt khác, ở trong nước, Chính phủ cần có động thái nhằm bảo vệ các doanh nghiệp cũng như quỹ đầu tư mạo hiểm còn non trẻ của mình trước sự cạnh tranh khốc liệt của các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài. Chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp ở tầm vĩ mô thông qua hành lang pháp lý ổn định và thuận lợi đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ không phải là bao cấp (sự cấp, cho nếu đủ điều kiện) mà là sự mở rộng các điều kiện về vốn, thành phần tham gia cả trong nước và ngoài nước. Việc tự do hoá nội bộ cả bên trong lẫn bên ngoài sẽ bổ trợ cho nhau, việc mở rộng quyền tự do cho các nhà đầu tư mạo hiểm nước ngoài và lưu chuyển luồng vốn từ bên ngoài vào trong nước và từ trong nước ra bên ngoài sẽ giúp cho hoạt động đầu tư mạo hiểm an toàn hơn. Nghiên cứu trường hợp của Singapore cho ta thấy được tầm quan trọng của điều này. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Sự ổn định kinh tế vĩ mô trong một khoảng thời gian nhất định, tránh các cuộc khủng hoảng kinh tế hay biến động của giá tiêu dùng cũng là các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư mạo hiểm. Vì vậy Chính phủ nên có sự rõ ràng và minh bạch trong việc công bố các chính sách và quy định liên quan đến lĩnh vực hoạt động đầu tư mạo hiểm giúp cho doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư nước ngoài chủ động trong hoạt động của mình.

Chính sách thuế ưu đãi cho các công ty đầu tư mạo hiểm và các hoạt động đầu tư vào quá trình đổi mới. Những khuyến khích về thuế có thể được thực hiện bằng cách giảm thuế lợi vốn làm tăng cung vốn mạo hiểm hoặc đánh thuế đối với quyền lựa chọn cổ phiếu cũng có tác động quan trọng đối với doanh nghiệp khởi sự. Chính phủ cũng có thể giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian nhất định khi các công ty đầu tư mạo hiểm mới được thành lập hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào lĩnh vực công nghệ. Ban hành một chế độ thuế ưu đãi cho những người gánh chịu rủi ro cao nhất, đó là các doanh nhân, các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà đầu tư tư nhân (ví dụ như áp dụng mức thuế thu nhập thấp, giúp bù đắp tổn thất,các quyền lựa chọn cổ phiếu). Các doanh nhân có thể được khuyến khích tìm kiếm các nguồn vốn mạo hiểm thông qua hệ thống thuế doanh nghiệp không chủ trương ưu đãi các khoản nợ để phát triển doanh nghiệp mà thay bằng ưu đãi đầu tư vào vốn cổ phần.

6. Phát triển đầu tư mạo hiểm là cả một quá trình, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế

Xét ở tầm vĩ mô, sự phát triển của đầu tư mạo hiểm liên quan tới nhiều vấn đề khác nhau như sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của hệ thống khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, v.v… Chính vì vậy, một mặt, khi thiết kế những chính sách liên quan tới phát triển đầu tư mạo hiểm phải chú trọng sao cho mức độ phát triển của đầu tư mạo hiểm phải phù hợp với sự phát triển của các lĩnh vực khác, mặt khác, muốn phát triển đầu tư mạo hiểm cũng cần có sự kết hợp đồng bộ với các chính sách thuộc các lĩnh vực có liên quan. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Thị trường tài chính tiền tệ ổn định và phát triển, trong đó sự phát triển của Thị trường chứng khoán là yếu tố quan trọng cho việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm. Từ kinh nghiệm của các nước Đài Loan, Singapore cho thấy, các quỹ đầu tư mạo hiểm thúc đẩy sự phát hành cổ phiếu ra công chúng bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm đều tập trung đầu tư vốn lớn cho những công ty theo danh mục đầu tư và thoát vốn chủ yếu thông qua thị trường chứng khoán và mục đích cuối cùng là giúp các công ty này niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do đó, việc phát triển thị trường sơ cấp nên được chú trọng bởi vì có thể nói rằng hoạt động đầu tư mạo hiểm sẽ không thực hiện được nếu không có sự ra đời của thị trường chứng khoán. Hiện nay, Thị trường chứng khoán ở Việt Nam có thể nói là đang ở giai đoạn sơ khai và hoạt động hết sức mờ nhạt, thị trường tài chính nước ta thì chưa được mở cửa và còn nhiều bất cập với hệ thống tài chính hiện hành trên thế giới. Do vậy, khi chính phủ muốn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm thì điều đầu tiên là cần xây dựng một hệ thống thị trường tài chính ổn định ở tầm vĩ mô trong đó thị trường chứng khoán phát triển đóng vai trò quyết định sự thành công của hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy giữa thị trường vốn và hoạt động đầu tư mạo hiểm có mối quan hệ tương tác. Thị trường vốn là nguồn cung dồi dào, là nền tảng và đồng thời cũng là đầu ra cho hoạt động đầu tư mạo hiểm thông qua các sở giao dịch chứng khoán. Ngược lại đầu tư mạo hiểm phát triển cũng có tác động mạnh mẽ và kích thích sự phát triển của thị trường vốn. Trong định hướng hay các chính sách của nhà nước về phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm tại các nước nghiên cứu ở trên đều chú trọng đến sự phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nói riêng.

Cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và phát triển bao gồm: các khu công nghệ, các trường đại học, các cơ sở R&D… Đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu phát triển (R&D) sẽ góp phần tạo ra nhu cầu về vốn mạo hiểm trong tương lai. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc và ấn Độ trong việc hình thành nên các khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ cũng như các công viên công nghệ mà ở đó hội tụ cả các doanh nghiệp công nghệ cao, các quỹ đầu tư mạo hiểm và các viện nghiên cứu, trường đại học. ở Việt Nam hiện nay, chính phủ đang triển khai xây dựng khu công nghệ cao Hoà Lạc và khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên cả hai khu công nghệ này đều chưa đi vào hoạt động nên chưa phát huy được vai trò tích cực của nó đối với hoạt động đầu tư mạo hiểm và lĩnh vực khoa học công nghệ.

Đội ngũ lao động tri thức có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp. Đội ngũ này bao gồm: các chuyên gia quản lý quỹ, các doanh nhân đối tác của quỹ, lao động có trình độ kỹ thuật cao, các chuyên gia tư vấn. Có thể nói đây là yếu tố then chốt và là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của thị trường vốn mạo hiểm. Kinh nghiệm của Singapore và ấn Độ cho thấy một sô vấn đề quan tâm để đạt đựoc điều này là: đổi mới cơ chế hoạt động đào tạo tại các trường đại học và cơ sở dạy nghề phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức; Phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao theo tiêu chuẩn phù hợp với môi trường làm việc quốc tế; phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý như quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, luật, v.v…

ĐTMH là một loại hình phức tạp, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như ý tưởng về khoa học công nghệ, yếu tố về vốn, thị trường sơ cấp và thị trường OTC, bảo hiểm, v.v…Vì đầu tư mạo hiểm là một loại hình kinh doanh còn mới mẻ ở Việt Nam nên việc học hỏi kinh nghiệm thành công cũng như rút ra bài học về sự thất bại ở các nước là điều cần thiết và quan trọng để điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của nước ta trong thời điểm hiện nay.

IV. Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

1. Hoàn thiện môi trường thể chế khuyến khích phát triển hình thức đầu tư mạo hiểm

  • a. Xây dựng khung khổ pháp lý hỗ trợ hoạt động đầu tư mạo hiểm

Việc xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm xuất phát từ quan điểm: vốn đầu tư mạo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, do đó góp phần cải thiện chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Chính vì vậy nhà nước cần xây dựng một khung khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm nhằm mục đích:

  • Khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới.
  • Bảo vệ quyền và tài sản của các cổ đông/thành viên góp vốn vào các quỹ đầu tư mạo hiểm.
  • Bảo vệ quyền và tài sản của quỹ đầu tư mạo hiểm trong các đối tác được tài trợ.
  • Nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm.

Như vậy trong bối cảnh Việt Nam, nhà nước ở cấp trung ương cần đưa ra một quan điểm rõ ràng và cụ thể về việc khuyến khích phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, thông qua hệ thống văn bản pháp lý nhằm thể chế hóa hoạt động này. Đồng thời chính phủ cần thành lập riêng một Uỷ ban quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm nhằm xây dựng lộ trình và thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới. Trước mắt nhà nước cần ban hành các quy định hướng dẫn hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm. Sau đó nhà nước cần tiến tới soạn thảo riêng một đạo luật cho hoạt động này. Tại một số quốc gia như Ấn Độ thì hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm được chi phối bởi hai đạo luật riêng cho quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa và quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài. Điều này cũng hợp lý trong giai đoạn chuyển đổi của các nền kinh tế đang phát triển nhằm mục đích kiểm soát và thu hút nguồn vốn trong nước lẫn nước ngoài một cách có hiệu quả.

Một khung khổ pháp lý riêng cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm còn phải đặt trong khung khổ pháp lý chung điều chỉnh hoạt động của các quỹ đầu tư. Do đó nhà nước cần triển khai xây dựng một bộ luật chi phối hoạt động của các quỹ đầu tư nói chung chứ không riêng cho các quỹ đầu tư chứng khoán như hiện nay. Các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động của quỹ đầu tư lại bị chi phối bởi hệ thống pháp luật về kinh tế có liên quan đến luật doanh nghiệp, luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật đầu tư nước ngoài, luật liên quan đến các tổ chức tài chính… Như vậy cùng với việc xây dựng khung khổ pháp luật cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm, nhà nước cần rà soát lại tất cả các văn bản pháp lý có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển của các công ty đầu tư vốn mạo hiểm tại Việt Nam. Một số nội dung cần lưu ý khi thiết kế khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm bao gồm: Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

  • Quy định phạm vi đầu tư mạo hiểm (khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực đổi mới công nghệ, công nghệ cao).
  • Mức vốn tối thiểu mà quỹ phải huy động được trong một thời hạn nhất định.
  • Giới hạn vốn góp tối thiểu/ tối đa mà quỹ nắm giữ trong các đối tác được tài trợ.
  • Quy định về thời gian nắm giữ cổ phần/rút vốn của các thành viên trong quỹ đầu tư mạo hiểm và trong đối tác được tài trợ.
  • Các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát hành vi và trách nhiệm của nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm như: quy định chức năng giám sát của ủy ban chứng khoán nhà nước, ngân hàng, tổ chức kiểm toán, nhà đầu tư…đối với hoạt động của quỹ, trách nhiệm công bố thông tin của quỹ cho các cá nhân và các tổ chức có liên quan…

Ngoài ra một số quốc gia còn quy định thêm loại hình tài sản mà quỹ cần nắm giữ trong cơ cấu danh mục đầu tư, trong đó nhà nước khuyến khích việc nắm giữ các tài sản mang tính rủi ro cao, như Ấn Độ quy định tài sản dưới hình thức cổ phần phải chiếm 80% trong cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ. Bên cạnh đó nhiều quốc gia chỉ khuyến khích các quỹ mạo hiểm đầu tư vốn cổ phần vào các công ty chưa được niêm yết và các doanh nghiệp khởi sự trong các lĩnh vực công nghệ cao.

  • b. Hoàn thiện các thể chế trên thị trường vốn nhằm hỗ trợ hoạt động đầu tư mạo hiểm

Các thể chế trên thị trường vốn có tác động tương hỗ đối với hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm. Trong đó thị trường chứng khoán đóng quan trò quan trọng đối với sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm. Hoạt động trên thị trường chứng khoán sôi động sẻ tạo nên khả năng thanh khoản cao cho nhà đầu tư khi kết thúc doanh vụ. Đến lượt mình hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng của nhà đầu tư mạo hiểm lại có tác dụng ngược đến sự phát triển của trường chứng khoán thông qua việc phát triển và đa dạng hàng hóa cho thị trường sơ cấp và thứ cấp. Việc hạ các tiêu chuẩn niêm yết và điều kiện thực hiện IPO như hiện nay là cần thiết cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhà nước cần tiếp tục thực hiện những chính sách mạnh mẽ nhằm mang lại niềm tin cho công chúng và các nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường như giám sát chặt chẽ hoạt động của các công ty niêm yết, kiểm soát hành vi gian lận trong quá trình giao dịch chứng khoán… Sự phát triển của thị trường này sẽ tạo nên một sân chơi nhằm thu hút tốt hơn nguồn vốn cổ phần từ những nhà đầu tư cá nhân hoặc các nhà đầu tư có tổ chức ưa thích rủi ro và có tinh thần mạo hiểm trong các lĩnh vực công nghệ mới. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Đối với vấn đề cung vốn đầu tư mạo hiểm thì ưu tiên hàng đầu vẫn là nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Vì bản chất hoạt động đầu tư mạo hiểm là rủi ro, vốn đầu tư ban đầu là khá lớn. Do vậy một chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các quỹ đầu tư tại Việt Nam không những gia tăng nguồn cung vốn mạo hiểm mà còn mang lại nhiều kinh nghiệm bổ ích về các hoạt động của quỹ đầu tư. Vì vậy nhà nước cần từng bước nâng mức trần tỷ lệ cổ phiếu mà người nước ngoài được phép sở hữu trong các đối tác tại Việt Nam. Việc phá bỏ giới hạn mức trần này lại có liên quan đến lộ trình tự do hóa tài chính, tuy vậy nhà nước cần ưu tiên bãi bỏ giới hạn này riêng đối với hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm trong các lĩnh vực đổi mới công nghệ. Vì đây là hoạt động đầu tư dài hạn và sự phát triển của chúng sẻ góp phần thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực lĩnh vực công nghệ mới có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Một nguồn cung vốn đầu tư mạo hiểm khác là từ các tổ chức tài chính như công ty bảo hiểm, ngân hàng, các công ty tài chính, thậm chí từ các quỹ đầu tư khác… Trong đó huy động nguồn vốn từ các tổ chức bảo hiểm mang tính khả thi nhiều hơn vì trên thực tế một phần hoạt động đầu tư của các công ty mạo hiểm cũng tương tự như hoạt động đầu tư mạo hiểm: đó là kinh doanh vốn. Một số công ty bảo hiểm nước ngoài đóng tại Việt Nam cũng sử dụng các nguồn vốn của mình để góp vào các quỹ đầu tư ở nước ngoài như. Do vậy nhà nước cần khuyến khích các định chế tài chính này đầu tư vào các quỹ mạo hiểm hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ mới tại Việt Nam thông qua các chính sách ưu đãi về thuế.

Đối với các ngân hàng thương mại, trước mắt nhà nước cần khuyến khích các tổ chức này tài trợ cho các doanh nghiệp thực hiện giao dịch LBO, giúp cho các doanh nghiệp được tài trợ dành lại quyền kiểm soát và giải quyết các mâu thuẫn phát sinh giữa nhà đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp khi doanh vụ kết thúc. Vì khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu ra công chúng thì giá trị tài sản của doanh nghiệp được thị trường định giá. Còn giao dịch LBO chủ yếu phụ thuộc vào thoả thuận ban đầu giữa nhà đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp. Nếu có một sự can thiệp nhất định của nhà nước (về việc định giá tài sản của doanh nghiệp) và có sự tham gia khách quan của tổ chức ngân hàng trong quá trình này thì sẻ góp phần giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó về dài hạn nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng cho các quỹ đầu tư mạo hiểm vay ở một giới hạn an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. Một vấn đề phát sinh là thường các tổ chức ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân tại một số quốc gia sẻ ưa thích cho vay hoặc góp vốn vào các quỹ đầu tư mạo hiểm hơn là các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. Vì vậy việc khuyến khích các ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia vào hoạt động đầu tư mạo hiểm phải đi đôi với việc cải thiện chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng, từng bước đa dạng hóa các hình thức sở hữu của các ngân hàng thương mại, đẩy mạnh công tác giám sát các tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng…

Cuối cùng để tăng cung vốn đầu tư mạo hiểm nhà nước cần khuyến khích các tập đoàn kinh tế lớn, các doanh nghiệp lớn thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm đa dạng hóa kênh góp vốn cho hoạt động của quỹ cũng như thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn khuyến khích thành lập quỹ mạo hiểm trong các lĩnh vực bưu chính viễn thông, hàng không, điện tử, Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng… Vốn góp cho các quỹ chuyên ngành này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau chứ không chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của các tập đoàn kinh tế. Vì vậy để thúc đẩy tăng vốn cho hoạt động của các quỹ này, các tập đoàn kinh tế trong tương lại cần đổi mới toàn bộ hoạt động theo xu hướng kinh tế tri thức, liên kết chặt chẽ với các mạng lưới đổi mới, thúc đẩy động cơ và nhu cầu đổi mới công nghệ trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo nhiều cơ hội hấp dẫn cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm.

  • c. Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc quyền

Nhà nước cần hỗ trợ và khuyến khích một môi trường cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc quyền trong kinh doanh. Chỉ có động cơ mạnh mẽ xuất phát từ nhu cầu thị trường các doanh nghiệp mới thực sự tiến hành đổi mới công nghệ. Và khi động cơ cho việc đổi mới công nghệ được thúc đẩy thì sẻ kéo theo sự phát sinh nhu cầu đầu tư vốn mạo hiểm trên thị trường. Hai chính sách cơ bản mà nhà nước cần quan tâm thực hiện khi khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ bao gồm: Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Xây dựng cơ sở pháp lý và thể chế thực thi có hiệu quả chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Thực hiện chính sách này, nhà nước phải đảm bảo mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp cận các cơ hội đầu tư mà pháp luật không hạn chế. Nếu một khu vực kinh tế tư nhân bị chèn ép và bị đánh bật khỏi thị trường nội địa bởi khu vực kinh tế nhà nước hoạt động bằng lợi thế độc quyền, dù cho nhà nước có đầu tư lớn vào hệ thống khoa học công nghệ, thì vẫn không cải thiện được năng lực đổi mới của quốc gia. Do đó, cần thực thi mạnh mẽ các chính sách nhằm hạn chế tình trạng độc quyền từ các doanh nghiệp nhà nước, đẩy nhanh việc thực hiện cổ phần hóa và các hình thức mua, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án đầu tư đổi mới công nghệ.

Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trong quá trình đổi mới công nghệ. Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò then chốt và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định tài trợ của nhà đầu tư vốn mạo hiểm. Một dự án đề nghị tài trợ dù mang ý tưởng sáng tạo và có tính khả thi, nhưng dễ bị sao chép và thiếu sự bảo hộ của nhà nước đối với những người có quyền sở hữu nó, thì cũng khó dẫn đến việc hình thành một doanh vụ đầu tư hấp dẫn. Do đó nhà nước cần tiến hành cải cách cơ chế quản lý và thủ tục đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với các hiệp ước quốc tế. Bên cạnh đó nhà nước cần thực thi chính sách xử phạt thích đáng đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo môi trường đầu tư lành mạnh khuyến khích đẩy mạnh quá trình nghiên cứu và phát minh các sản phẩm công nghệ mới trên thị trường.

  • d. Khuyến khích sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh

Nhà nước cần thực hiện các chính sách khuyến khích sự minh bạch về tài chính trong mọi hoạt động kinh tế nhằm hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư như: hoàn thiện hệ thống kế toán phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, xây dựng một hệ thống thuế hợp lý nhằm nâng cao tinh thần tự giác của nhà kinh doanh hơn là áp đặt các mức thuế suất cao và những quy định phức tạp cho việc vận dụng trong thực tiễn, khuyến khích việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế…

  • e. Nâng cao tinh thần kinh doanh trong xã hội

Nhà nước cần rà soát và bãi bỏ những rào cản cho việc khơi dậy tinh thần kinh doanh trong xã hội. Tinh thần kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong các nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm. Một khu vực khách hàng cá nhân phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu các cá nhân có tinh thần mạo hiểm trong kinh doanh thì cũng không thể tạo ra nhiều cơ hội hấp dẫn cho các nhà đầu tư mạo hiểm. Chính vì vậy nhà nước phải tiếp tục khuyến khích việc khơi dậy tinh thần kinh doanh trong xã hội thông qua các chính sách: Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

  • Khuyến khích các sự hợp tác giữa các tổ chức khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Phát triển cơ sở hạ tầng có chất lượng và giá thành thấp hoặc tương đượng các nước trong khu vực.
  • Hạn chế sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Tháo bỏ các rào cản về thủ tục trong quá trình thành lập doanh nghiệp và đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động.
  • Xóa bỏ các rào cản thủ tục khi doanh nghiệp thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư đổi mới công nghệ.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc rút lui khi nhà đầu tư “thất bại” trên thị trường thông qua việc hoàn thiện luật phá sản và các luật có liên quan.

2. Các biện pháp khuyến khích về tài chính dành cho các nhà đầu tư mạo hiểm

  • a, Đầu tư của nhà nước vào quỹ mạo hiểm

Các khoản đầu tư vào quỹ mạo hiểm bằng nguồn vốn nhà nước được đại diện bởi cơ quan Nhà nước là cách thức quan trọng để kính thích đầu tư mạo hiểm hiện đang được các nước OECD áp dụng. Việc nhà nước chủ động đầu tư vào quỹ mạo hiểm sẽ góp phần củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư tiềm năng trong và ngoài nước, thu hút họ tham gia đầu tư vào quỹ. Một số quỹ do các cơ quan chính quyền thành lập nhận được phần vốn góp từ khu vực tư nhân và được xem như một quỹ hợp doanh. Sự đầu tư vốn mạo hiểm của nhà nước có mục đích giải quyết các vấn đề liên quan đến vấn đề vốn không đủ cho các dự án đang trải qua giai đoạn ươm tạo công nghệ cao, có nguy cơ rủi ro rất cao khiến các nhà đầu tư thông thường đều e ngại. Việc sử dụng vốn của nhà nước như là vốn mồi cho quỹ mạo hiểm sẽ tác động không nhỏ đến các nhà đầu tư bởi sự giải phóng họ về mặt tâm lý trong quyết định đầu tư. Ngoài ra còn là cơ sở để thực hiện sự giám sát về mặt đinh hướng đầu tư vào những lĩnh vực và giai đoạn R&D cần ưu tiên phát triển.

  • b. Tín dụng đầu tư mạo hiểm

Tín dụng đầu tư mạo hiểm là nguồn vốn cho vay để đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao, trong đó một phần quan trọng cần được lấy từ quỹ hỗ trợ phát triển và các nguồn hỗ trợ tương tự của nhà nước. Có thể áp dụng hình thức này trong các trường hợp sau đây:

  • Cho các doanh nhân vay bằng nguồn tín dụng ưu đãi để mua lại cổ phần trong các doanh nghiệp công nghệ cao đã được chuyển nhượng cho nhà đầu tư (Trong đó chủ yếu là quỹ đầu tư mạo hiểm) sau khi đã sử dụng kỹ thuật LBO nhưng vẫn không trả hết nợ cho nhà đầu tư hoặc để thực hiện chiến lược phục hồi (tunraround) đối với các doanh nghiệp công nghệ cao gặp khó khăn về tài chính. Biện pháp này chủ yếu nhằm tạo ra lối thoát cuối cùng cho nhà đầu tư trong những trường hợp LBO không thành công.
  • Cho quỹ mạo hiểm vay vốn thành lập hoặc để tăng vốn, theo một tỷ lệ nhất định trong tổng vốn hoạt động của quỹ.

c. Ưu đãi về thuế Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Nhìn chung, cần ưu đãi về thuế để khuyến khích đầu tư vào các doanh vụ mạo hiểm phát triển công nghệ cao. Tuy nhiên, kinh nghiệm của một số nước châu âu đã đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của của các kế hoạch đó về mặt chi phí từ ngân sách nhà nước, lợi nhuận đối với các nhà đầu tư và mục đính của các khoản đầu tư. Người ta cũng đang thảo luận ưu đãi về thuế chỉ áp dụng cho đầu tư mạo hiểm trực tiếp vào vốn cổ phần hay cho cả hành vi đầu tư gián tiếp thông qua hình thức quỹ mạo hiểm. Ưu đãi về thuế có thể dẫn đến sự thay đổi về mặt quan niệm và ứng xử trong hoạt động đầu tư. Các biện pháp liên quan đến thuế có thể làm đảo lộn về mặt nguyên tắc, về mặt kiểm toán chi phí và cả về mặt cơ cấu của chúng trong khung thuế. Các vấn đề then chốt trong việc soạn thảo chính sách ưu đãi về thuế đối với các dự án đổi mới và phát triền công nghệ của doanh nghiệp bao gồm:

  • Các trường hợp miễn, giảm thuế;
  • Diện miễn, giảm;
  • Loại hình đầu tư ưu đãi;
  • Mục đích ưu đãi;
  • Cơ cấu thời gian ưu đãi;

d. Trợ cấp (từ các nguồn của nhà nước, xã hội)

  • Các khoản trợ cấp từ các nguồn khác nhau hiện nay thường được thực hiện nhằm vào 2 mục đích sau đây:

Bù đắp một phần rủi ro: Hiện nay chỉ một số ít nước đang áp dụng các chương trình trợ cấp bù đắp rủi ro phát sinh từ việc đầu tư vào cổ phần của các doanh nghiệp công nghệ cao. Các kế hoạch trợ cấp cho các doanh vụ thua thiệt có mục đích chia sẻ thiệt hại với các nhà đầu tư mạo hiểm. Tỷ lệ thiệt hại phải cao đến mức nào đó để thấy rằng một sự bù đắp rủi ro là xứng đáng. Tuy nhiên, các khoản bù đắp cũng chỉ đạt đến một mức nhất định để nhà đầu tư mạo hiểm tự gánh vác lấy trách nhiệm như là để đảm bảo rằng họ sẽ sớm từ bỏ vụ đầu tư khi thấy trục trặc. Trong điều kiện nước ta, khi đầu tư vào cổ phần chưa trở thành một tập quán quen thuộc trong kinh doanh thì nhà nước nên xem xét đề ra trợ cấp, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao.

Tài trợ cho các hoạt động đánh giá dự án công nghệ cao. Một số ưu đãi được đề nghị áp dụng cho việc đầu tư phát triển và đổi mới công nghệ như các chi phí thẩm định và đánh giá doanh nghiệp công nghệ cao do chính phủ tài trợ nhằm giảm bớt các chi phí giao dịch. Nhà nước có thể khuyến khích phát triển đánh giá công nghệ bằng cách:

Hỗ trợ một phần chi phí phát triển hệ thống trợ giúp để giảm bớt chi phí đánh giá, chẳng hạn như phát triển một cơ sở dữ liệu cho các chuyên gia để tiếp cận các dự án đổi mới hoặc các hệ thống phát hiện sai sót dựa trên máy tính;

Chuẩn bị phương án trợ cấp cho các hoạt động thẩm định công nghệ và kế hoạch tiếp thị để thanh toán cho những chi phí của các tổ chức tài chính trong việc sử dụng các chuyên gia và nhà tư vấn có chứng nhận;

3. Xúc tiến đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

  1. Xây dựng Website chung về hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
  • Thiếu thông tin sẽ làm hạn chế khả năng tiếp cận của quỹ mạo hiểm với các cơ hội đầu tư phù hợp – dự án công nghệ cao tiềm năng trong khi các chủ dự án đang tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài cảm thấy thất vọng vì không thể trông cậy vào đâu cho các dự án mang tính rủi ro cao của mình, đối tượng mà các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác không muốn hướng tới. Tình trạng cho thấy rằng cần thiết lập một kênh đối thoại thông qua một công cụ như trang web về vốn mạo hiểm, được duy trì bởi hiệp hội các nhà đầu tư mạo hiểm Việt Nam (khi đã có được một số doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm nhất định tham gia) hay trước mắt có thể do phòng công nghiệp & thương mại, ban quản lý một khu công nghệ cao hay một tổ chức phi lợi nhuận nào đó với một mức kinh phí nhất định thu gom từ các nhà đầu tư mạo hiểm và nguồn tài trợ của nhà nước. Sự hiện diên một trang Web có thể làm giảm các chi phí tìm kiếm quá cao cơ hội đầu tư. Việc xây dựng trang web về đầu tư mạo hiểm có thể bao gồm các hoạt động sau:
  • Xác định một tổ chức chủ trì thiết kế và duy trì trang
  • Đưa thông tin cập nhật về tình hình các dự án cần được tài trợ.

Thiết lập hệ thống dịch vụ Hỏi – Đáp về các thông tin liên quan đến quy trình đầu tư mạo hiểm trên cơ sở phối hợp với các tổ chức tư vấn, tổ chức nghiên cứu – phát triển, tổ chức tài chính.

  • b. Đào tạo, phổ biến kỹ năng đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao

Hoạt động này cần được tiến hành bởi một cộng đồng kinh tế, khoa học và công nghệ rộng rãi trên cơ sở chủ trương của nhà nước đối với đầu tư mạo hiểm và sự vận dụng nó vào phát triển công nghệ cao. Vấn đề nan giải nhưng vô cùng quan trọng trong đầu tư mạo hiểm trước hết bồi dưỡng được một đội ngũ các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp. Người ta nhận ra rằng có thể làm được điều này trên cơ sở tận dụng những người có trình độ và kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, đang không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, đầu tư mạo hiểm vẫn là một lĩnh vực hết sức mới mẻ, do đó cần học hỏi các kỹ năng và kinh nghiệm quản lý đầu tư của chuyên gia về đầu tư mạo hiểm của nước ngoài. Quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm công nghệ và trung tâm đào tạo của Ban quản lý khu công nghệ cao cần phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về đầu tư mạo hiểm cho các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp trên cơ sở mời hoặc hợp đồng giảng dạy với các nhà quản lý quỹ có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Các lớp bồi dưỡng kiến thức lập và quản trị doanh nghiệp công nghệ cao cũng cần được triển khai cho các doanh nhân đối tác của quỹ mạo hiểm cũng như cho các đối tượng khác quan tâm. Các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đầu tư mạo hiểm cần được nghiên cứu đưa vào thử nghiệm giảng dạy cho các trường đại học trong các nghành kinh tế, luật nhằm định hướng đào tạo ra các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp cũng như các trường khối kỹ thuật với mục tiêu kích thích hoài bão tự lập doanh nghiệp công nghệ cao của các nhà sáng tạo công nghệ trẻ tương lai. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

  • c. Kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường vốn mạo hiểm ở Việt Nam

Bộ kế hoạch và đầu tư, bộ khoa học, công nghệ và môi trường, phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam sẽ là những tổ chức quan trọng trong việc xúc tiến, kêu gọi các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm của nước ngoài tham gia vào thị trường vốn mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao của Việt Nam. Các nhà đầu tư mạo hiểm có thể tham gia vào thị trường này ở Việt Nam theo hai cách:

Một là, Đầu tư vào các quỹ mạo hiểm của nước ngoài nhưng định hướng hoạt động tại Việt Nam. Cách thức này hiện đang được áp dụng cho các quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam, với cơ cấu quản lý chủ yếu nhằm thoả mãn các nhà đầu tư và các chuyên gia quản lý đầu tư quốc tế với đảm bảo rằng vốn của họ ở nước ngoài, trong môi trường pháp lý, chế độ kế toán của nước ngoài.

Hai là, đầu tư vào các quỹ được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Các quỹ nội địa có sự góp vốn của nước ngoài có lẽ là một chiến lược cần được ưu tiên trong việc xây dựng định chế trong đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao. Nó tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc phát hiện cơ hội đầu tư nhiều hơn (dễ dàng tiếp cận và thu mua các doanh nghiệp công nghệ có tiềm năng), tránh được rủi ro về tỷ giá hối đoái v.v..

Việc kêu gọi vốn đầu tư mạo hiểm nước ngoài có thể tiến hành bao gồm các hoạt động sau:

  • Tổ chức những hội thảo, hội nghị chuyên đề về đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao ở Việt Nam.
  • Xây dựng các tài liệu xúc tiến đầu tư mạo hiểm về nhu cầu vốn mạo hiểm phát triển công nghệ cao (trên cơ sở đánh giá về số lượng, quy mô, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp công nhệ cao), hệ thống định chế quỹ đầu tư mạo hiểm (Quỹ mạo hiểm), hệ thống pháp luật doanh nghiệp, chính sách thuế, chính sách phát triển công nghệ cao, sự tồn tại của thị trường chứng khoán v.v..dưới dạng báo cáo tổng hợp, danh mục cẩm nang.
  • Khảo sát thị trường vốn mạo hiểm quốc tế, thiết lập các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế và vườn ươm công nghệ.

4. Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư mạo hiểm

Nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhân tố quyết định đến sự thành công của một doanh vụ đầu tư mạo hiểm. Nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm bao gồm: các chuyên gia quản lý quỹ, các doanh nhân đối tác của quỹ, lao động có trình độ kỹ thuật cao, các chuyên gia tư vấn. Tại các nước có nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm phát triển, vấn đề phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên hàng đầu và là cơ sở tiền đề cho sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm. Do đó để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam, nhà nước cần thực hiện các chính sách:

  • Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đào tạo tại các trường đại học và cơ sở dạy nghề phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.
  • Phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ cao như Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học… theo các tiêu chuẩn phù hợp với môi trường làm việc quốc tế.
  • Phát triển đội ngũ các chuyên gia “đầu đàn” trong các lĩnh vực công nghệ then chốt, làm cầu nối cho sự phát triển công nghệ quốc gia với sự phát triển mạnh mẽ của khách hàng cá nhân quốc tế.
  • Phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực lựa chọn công nghệ, đánh giá công nghệ và môi giới công nghệ.
  • Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý như quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán, luật, thẩm định giá…
  • Thực hiện các chính sách mạnh mẽ nhằm khuyến khích đội ngũ Việt kiều có trình độ cao tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam.
  • Thực hiện một cơ chế đãi ngộ xứng đáng nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao vào khu vực nghiên cứu khoa học và công nghệ.
  • Đổi mới cơ chế quản lý lao động tại các tổ chức khách hàng cá nhân phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức nhằm khơi dậy tiềm năng sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp cho đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học.
  • Khuyến khích nguồn nhân lực từ các tổ chức khách hàng cá nhân được tự do di chuyển và kiêm nhiệm công việc (vừa thực hiện công việc nghiên cứu tại các tổ chức khách hàng cá nhân, vừa quản lý một công ty con được hình thành từ những kết quả nghiên cứu khách hàng cá nhân).
  • Khuyến khích và hỗ trợ tài chính cho các cá nhân có ý tưởng mới và mang tính khả thi.

5. Phát triển các mạng lưới hỗ trợ hoạt động đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

  • a. Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin

Thông tin đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ chu trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm. Quá trình gia tăng giá trị tài sản của nhà đầu tư mạo hiểm trong đối tác được tài trợ chủ yếu đến từ sự đóng góp của hai loại tài sản vô hình: kinh nghiệm và kỹ năng của các chuyên gia quản lý quỹ và những luồng tin có giá trị đến từ nhiều nguồn khác nhau. Cũng tương tự như các tổ chức tài chính ngân hàng, hiệu quả của hoạt động đầu tư mạo hiểm cũng đòi hỏi phải có sự hiện hữu của một hạ tầng cơ sở thông tin có khả năng cung cấp các dữ liệu khá hoàn hảo về toàn bộ các lĩnh vực kinh tế và khoa học công nghệ trong mối quan hệ mật thiết với hệ thống thông tin toàn cầu. Mục đích của sự hiện hữu này là nhằm hạn chế rủi ro do sự không chắc chắn về công nghệ và thị trường của dự án đề nghị tài trợ và thậm chí do cả tình trạng thông tin bất cân xứng gây ra trong quá trình thẩm định dự án đầu tư. Chính phủ tại một số quốc gia đã thực hiện chính sách nhằm giảm chi phí thẩm định của nhà đầu tư vốn mạo hiểm thông qua việc tài trợ xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan đến hoạt động đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó nhà nước còn tài trợ chi phí đánh giá công nghệ trong giai đoạn thẩm định dự án của nhà đầu tư mạo hiểm. Trong bối cảnh Việt Nam, nhà nước cần thực hiện mạnh mẽ các chính sách nhằm xây dựng và nâng cao hiệu quả của cơ sở hạ tầng thông tin như:

  • Phát triển cơ sở dữ liệu thông tin về khoa học công nghệ quốc gia bao gồm cả các thông tin dự báo về xu hướng phát triển công nghệ.
  • Thành lập các trung tâm đánh giá công nghệ nhằm hạn chế rủi ro và giảm chi phí thẩm định cho hoạt động đầu tư mạo hiểm.
  • Nâng cao khả năng ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động trao đổi các sản phẩm công nghệ (chợ công nghệ trên mạng).
  • Nâng cao hiệu quả (bao gồm cả chất lượng và giá thành) của cơ sở hạ tầng truyền thông và internet.
  • Thực hiện chính sách miễn phí truy cập cho người sử dụng internet đối với các thông tin có liên quan đến luật pháp, giáo dục, công nghệ…

Đẩy mạnh các mối liên kết giữa các trung tâm thông tin nhằm giảm thiểu chi phí cho xã hội và hạn chế tình trạng phân tán thông tin như: liên kết các thông tin giữa các định chế công, giữa các tổ chức khách hàng cá nhân, giữa các tổ chức tài chính, giữa các hiệp hội, doanh nghiệp…

  • b. Phát triển các mô hình vườn ươm công nghệ Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Các vườn ươm ngày càng bùng nổ trong thời đại phát triển mạnh mẽ của khách hàng cá nhân và đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới. Tại các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ … chính phủ đều có những chính sách và hành động cụ thể nhằm phát triển các mô hình này và trên thực tế hầu hết các nhà đầu tư mạo hiểm đều tập trung phần lớn vốn của mình về các vườn ươm công nghệ. Do đó nhà nước cần đẩy mạnh đầu tư phát triển các mô hình vườn ươm công nghệ, cụ thể là các khu công nghệ cao, công viên công nghệ phần mềm… Mục tiêu chính của các vườn ươm này phải hướng tới việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong khi khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, các cá nhân…trong và ngoài nước, trên cơ sở cung cấp đầy đủ các chính sách ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng thiết yếu và dịch vụ hiện đại cho hoạt động R&D và thương mại hóa các sản phẩm công nghệ. Khi thực hiện đầy đủ chức năng của mình, các vườn ươm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp khởi sự, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên nền tảng công nghệ mới. Do đó sẽ thúc đẩy nhu cầu đầu tư vốn mạo hiểm cho quá trình đổi mới công nghệ tại các vườn ươm.

  • c. Phát triển thị trường dịch vụ tư vấn

Tại các nước có nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm phát triển, quá trình gia tăng giá trị tài sản của nhà đầu tư trong các đối tác được tài trợ không thể thiếu vai trò của các nhà tư vấn. Hơn nữa hoạt động tư vấn phát triển sẽ tạo ra mạng lưới thông tin hiệu quả giúp các nhà đầu tư mạo hiểm hạn chế được rủi ro và có thể dự báo hợp lý về xu hướng phát triển của các lĩnh vực công nghệ mới. Để hoạt động tư vấn phát triển và góp phần hỗ trợ cho hoạt động đầu tư mạo hiểm, nhà nước cần ưu đãi về thuế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động tư vấn phát triển, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin về luật pháp, công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và sử dụng các dịch vụ trên thị trường tư vấn…

  • d. Thành lập hiệp hội đầu tư mạo hiểm

Hiệp hội đầu tư mạo hiểm đóng vai trò rất quan trọng thông qua việc cung cấp các thông tin có giá trị đến các thành viên nhằm giảm thiểu rủi ro trong các giai đoạn của quá trình đầu tư vốn mạo hiểm. Hơn nữa, hiệp hội còn mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư mạo hiểm có thể tham gia hợp tác kinh doanh trong cùng một doanh vụ nhằm chia sẻ rủi ro, và đây cũng là một xu thế phổ biến trên thế giới hiện nay. Trong bối cảnh của Việt Nam, nhà nước cần khuyến khích các nhà đầu tư mạo hiểm hình thành hiệp hội đúng với bản chất của nó, thông qua chính sách miễn thuế cho hoạt động của hiệp hội, khuyến khích các cá nhân có kinh nghiệm về đầu tư mạo hiểm tham gia quản lý hiệp hội, nhà nước “đặt hàng” cho hiệp hội thông qua các hợp đồng tư vấn thiết kế và xây dựng khung khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm tại Việt Nam.

Chương Ba đã đề cập hệ thống các giải pháp nhằm khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam. Nhà nước cần tạo môi trường thể chế thuận lợi cho hình thức đầu tư vốn mạo hiểm phát triển trong nền kinh tế thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, môi trường định chế công, các thể chế tài chính… Để tạo nhiều cơ hội hấp dẫn cho hoạt động đầu tư mạo hiểm nhà nước cần thực hiện các chính sách nhằm nâng cao năng lực đổi mới công nghệ quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng, thủ tục đầu tư, hỗ trợ hoạt động R&D, nâng cao năng lực của các tổ chức khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó việc phát triển hệ thống thông tin tri thức và nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hình thức đầu tư mạo hiểm phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Đi đôi với với các chính sách hỗ trợ gián tiếp đó thì việc sử dụng những đòn bẩy khuyến khích về thuế, tín dụng, hình thành các công ty đầu tư mạo hiểm thuộc sở hữu nhà nước sẽ trở nên rất cần thiết cho giai đoạn sơ khai của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm hiện nay tại Việt Nam.

KẾT LUẬN Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

Qua ba chương, khoá luận đã làm rõ được những đặc điểm và cơ chế hoạt động của đầu tư mạo hiểm, tổng hợp kinh nghiệm quốc tế, phân tích thực trạng của Việt Nam và nêu lên một số bài học kinh nghiệm cũng như đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới.

Khoá luận đã chỉ rõ bản chất của đầu tư mạo hiểm là một dạng kinh doanh vốn và phù hợp với nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án công nghệ mới và công nghệ cao. đầu tư mạo hiểm có những đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác nên cần có những qui định hành lang pháp lý nhất định để điều tiết hoạt động này. Phát triển loại hình đầu tư mạo hiểm sẽ tạo ra một kênh cấp vốn hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như khuyến khích sự thành lập khu vực kinh tế tư nhân

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy đầu tư mạo hiểm đã đóng vai trò nhất định trong phát triển kinh tế nói chung và công nghệ nói riêng của các nước. Tuy nhiên, ở một số nước khác đầu tư mạo hiểm chưa đóng vai trò đáng kể hay đầu tư mạo hiểm không phát triển nhưng nước đó vẫn có trình độ cao về công nghệ. Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, Nhà nước đóng vai trò nhất định trong quá trình hình thành và phát triển loại hình đầu tư mạo hiểm. Sự tác động của Nhà nước lên loại hình đầu tư mạo hiểm rất đa dạng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước.

Đối với Việt Nam, hình thức đầu tư mạo hiểm mới đang bắt đầu manh nha hình thành. Sự xuất hiện của hình thức đầu tư này ở Việt Nam do các nhà đầu tư nước ngoài đã chú ý đến tiềm năng của thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, để loại hình đầu tư này phát triển và đóng góp vào thúc đẩy phát triển công nghệ và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, trong thời gian tới đòi hỏi phải có sự quyết tâm và nỗ lực lớn của Nhà nước. Trước hết là việc hình thành các cơ sở pháp lý để tạo điều kiện cho loại hình đầu tư này hoạt động. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu và ban hành những chính sách khuyến khích đầu tư mạo hiểm phát triển theo hướng đóng góp nhiều cho phát triển công nghệ. Đi đôi với những biện pháp chính sách đó là các chính sách khác trong lĩnh vực KH&CN, chính sách phát triển thị trường vốn,v.v.

Phát triển loại hình đầu tư mạo hiểm đòi hỏi phải có thời gian và phải phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. đầu tư mạo hiểm liên quan đến rất nhiều vấn đề và phải có các nghiên cứu nhìn nhận từ các góc độ khác nhau. Đây chỉ là nghiên cứu rất ban đầu. Do thời gian và trình độ có hạn, khoá luận này không thể nghiên cứu sâu vào từng vấn đề cụ thể liên quan đến phát triển đầu tư mạo hiểm mà chỉ hy vọng cung cấp một bức tranh tổng quát về đầu tư mạo hiểm cũng như nêu lên những phân tích tổng hợp mở đường cho các nghiên cứu sau. Khóa luận: Biện pháp thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x