Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trên thế giới, khái niệm đầu tư mạo hiểm không còn là một khái niệm mới mẻ, và hoạt động đầu tư mạo hiểm thì đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung cũng như thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân nói riêng. Tại châu Á, đầu tư mạo hiểm tuy ra đời chưa lâu nhưng ngày càng được quan tâm hơn bởi các nhà đầu tư cũng như chính phủ. Các nước khác trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, v.v…. cũng đã quan tâm đến vấn đề này. Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm đang được manh nha hình thành với một số Quỹ đầu tư mạo hiểm đã được thành lập. Tuy nhiên sự thành công của các quỹ này và nhất là tác động của các quỹ đó tới sự phát triển của nền kinh tế, và đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân là rất hạn chế. Như vậy, thực chất, để phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư cho lĩnh vực công nghệ cao, Việt nam có cần phải thúc đẩy sự hình thành và phát triển của đầu tư mạo hiểm không? Việt Nam nên lựa chọn những giải pháp nào, đâu là những yếu tố quan trọng để góp phần tạo ra thành công cho hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, v.v…? Những câu hỏi này đang cần được làm sáng tỏ. Bên cạnh đó, việc Việt Nam đã chính thức gia nhập ngôi nhà Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đang đặt ra những tiềm năng cũng như thách thức to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc mở cửa nền kinh tế sẽ kéo theo những tác động dây chuyền lan toả tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế. Và đầu tư mạo hiểm không nằm ngoài mối quan hệ đó. Thực tế của hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới nói chung và ở châu Á nói riêng đã chứng minh được những lợi ích to lớn mà nó đem lại cho nền kinh tế và cũng đã cho thấy tính tất yếu khách quan của việc hình thành và phát triển đầu tư mạo hiểm. Do vậy việc nghiên cứu những đặc điểm của đầu tư mạo hiểm cũng như vai trò của nó tới nền kinh tế sẽ giúp chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của nó để áp dụng cho phù hợp với tình hình hiện nay của Việt Nam.

Để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, em đã chọn đề tài là “Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài Khoá luận tốt nghiệp cho mình.

Nhiệm vụ chính của khoá luận là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề sau:

  • Hệ thống hoá những nội dung lý luận cơ bản của đầu tư mạo hiểm và hoạt động đầu tư mạo hiểm gắn liền với quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.
  • Phân tích thực trạng đầu tư mạo hiểm của một số nước châu Á
  • Phân tích thực trạng đầu tư mạo hiểm của Việt nam thời gian qua,
  • Dựa trên kinh nghiệm quốc tế và thực tế hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm trong thời gian tới.

Khoá luận sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp từ các tài liệu trong và ngoài nước kết hợp với phương pháp thống kê. Các số liệu sử dụng trong khoá luận chủ yếu tổng hợp từ các nghiên cứu đã được thực hiện về các vấn đề liên quan mà không qua khảo sát và điều tra riêng.

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận gồm ba chương:

  • Chương Một: Những lý luận chung về đầu tư mạo hiểm
  • Chương Hai: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á
  • Chương Ba: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

Trong đó, chương Một đề cập đến các vấn đề có tính chất tổng quan về đầu tư vốn mạo hiểm cũng như các kiến thức cơ bản về hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm và vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm đối với nền kinh tế nói. Chương Hai sẽ đi sâu nghiên cứu và phân tích thực trạng đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á, qua đó đưa ra một số nhận xét về hoạt động đầu tư mạo hiểm ở châu Á nói chung. Và chương Ba, sau khi nghiên cứu thực trạng đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam trong thời gian qua cũng như các yếu tố tác động đến đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm và tổng hợp một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới.

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo – Tiến sĩ Vũ Thị Kim Oanh, Bộ môn Đầu tư nước ngoài, Khoa Kinh tế ngoại thương, người đã trực tiếp hướng dẫn Em tận tình trong suốt thời gian qua cũng như toàn thể các thầy – cô giáo trong trường Đại học Ngoại Thương đã truyền đạt cho Em những kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập tại trường. Đồng thời, Em cũng chân thành cảm ơn Thạc sỹ Đặng Thị Thu Hoài, cán bộ Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, cũng như các anh chị cán bộ và nhân viên Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Việt Nam và Công ty giải pháp phần mềm Hoà Bình Peacesoft đã nhiệt tình cung cấp tài liệu và trả lời các câu hỏi liên quan tới khoá luận của Em.

Đầu tư mạo hiểm là một đề tài mới và khó, phạm vi nghiên cứu của đề tài tương đối rộng, những kiến thức liên quan tới vấn đề này cũng chưa được hệ thống hoá và có tính “giáo khoa”. Do kiến thức bản thân còn hạn chế, tác giả thực hiện Khoá luận này với mong muốn đem lại một cái nhìn tổng quan về hoạt động đầu tư mạo hiểm tại châu Á và Việt Nam. Khoá luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, xin trân trọng biết ơn và tiếp nhận sự góp ý chân tình của thầy cô và những người quan tâm đến đề tài này.

CHƯƠNG MỘT NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM

I. Khái niệm, đặc điểm, bản chất của đầu tư mạo hiểm

Mặc dù đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) đã xuất hiện từ lâu và không còn mới mẻ đối với nhiều người nhưng hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa chung thống nhất đầu tư mạo hiểm là gì. Hơn nữa do đặc thù kinh doanh của từng khu vực trên thế giới có sự khác biệt nên có khá nhiều cách hiểu tương đối khác nhau về đầu tư mạo hiểm.

Về mặt ngữ nghĩa học, đầu tư mạo hiểm là được sử dụng từ tiếng Anh là “Venture Capital”. Thuật ngữ venture có nghĩa tổng quát là một hành vi dám chấp nhận rủi ro, được gọi là mạo hiểm. ngoài ra, “venture” cũng được hiểu tương đương với một hành vi đầu tư dưới các hình thức của đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên, sở dĩ chúng ta cần thiết gọi tên loại hình đầu tư này là “ đầu tư mạo hiểm” là để phân biệt với hoạt đông đầu tư trực tiếp thông thường, là để nhấn mạnh tới tính rủi ro cao hơn mà các nhà đầu tư phải chấp nhận khi tiến hành đầu tư cho các dự án nhiều tính sáng tạo.

Về mặt kinh tế học: đầu tư mạo hiểm là một thuật ngữ chung nhằm miêu tả việc đầu tư cho các dự án công nghệ hay khoa học đặc bịêt đang trong tình trạng “khát vốn”, điển hình là các công ty vừa và nhỏ, mới thành lập hoặc đang trong giai đoạn khởi sự, có ý tưởng hay kế hoạch kinh doanh tốt. Nhà đầu tư sẽ được hưởng cổ phần hay lợi nhuận nếu công ty đó phát triển tốt, ngược lại nếu công ty thất bại, nhà đầu tư bị mất phần đã đầu tư vào. Do đó, đầu tư mạo hiểm nhìn chung là một hoạt động mang tính rủi ro rất lớn nhưng đồng thời cũng hàm chứa tiềm năng mang lại lợi nhuận cao.

1.1 ĐTMH ở từng khu vực mà có cách hiểu khác nhau Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Tại châu Á: thuật ngữ này đề cập đến việc đầu tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa được niêm yết chứng khoán và ở mức độ nào đó, có sự tham gia của các nhà đầu tư vào quá trình quản lý công ty.

Tại châu Âu: theo ngân hàng Natwest – Anh Quốc thì đầu tư mạo hiểm là một hoạt động được quản lý bởi các tổ chức hoặc cá nhân đầu tư dài hạn với độ rủi ro tài chính cao cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới thành lập hoặc đã phát triển, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán nhưng có tiềm năng tăng trưởng. Đây là cách hiểu chung của các nước châu Âu về đầu tư mạo hiểm và được coi là cách hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì: xét về giai đoạn đầu tư, nó bao gồm cả khoản đầu tư vào doanh nghiệp đã tăng trưởng rồi (tức là không chỉ đầu tư cho doanh nghiệp từ lúc khởi đầu) và thậm chí cả khoản đầu tư mua lại công ty (MBOs, MBIs); về lĩnh vực đầu tư, đầu tư mạo hiểm có thể đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế, kể cả những lĩnh vực không phải là những ý tưởng sáng tạo và công nghệ mới.

Tại Mỹ, theo Hiệp hội đầu tư mạo hiểm Mỹ: đầu tư mạo hiểm là đầu tư vốn vào doanh nghiệp mới khởi nghiệp, doanh nghiệp trẻ, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, có khả năng tăng trưởng nhanh, có tính sáng tạo và dựa vào công nghệ. Điểm khác biệt trong quan niệm về đầu tư mạo hiểm giữa Mỹ và châu Âu đó là: theo quan điểm của Mỹ, đầu tư mạo hiểm không bao gồm những khoản đầu tư vào doanh nghiệp đã phát triển và mua quyền quản lý công ty như ở châu Âu, và lĩnh vực đầu tư chủ yếu là những ý tưởng sáng tạo mới và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao. Đây được coi là cách hiểu theo nghĩa hẹp và được nhiều người chấp nhận.

Như vậy, có thể tổng quát lại và đưa ra một khái niệm về đầu tư mạo hiểm như sau: “ĐTMH là sự kết hợp giữa hoạt động đầu tư và tài chính. Nó không chỉ hoạt động đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao mà còn bao gồm cả mọi hoạt động khác trong nền kinh tế. Dưới góc độ đầu tư, đầu tư mạo hiểm là quá trình đưa vốn vào lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ và sản phẩm tiềm ẩn nhiều rủi ro nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình thương mại hoá để có được lợi nhuận cao. Nếu thể hiện cả quá trình thì đầu tư mạo hiểm là một phương thức đầu tư trong đó vốn được cung cấp vào công ty mới khởi nghiệp, chưa niêm yết chứng khoán, công ty có thể phải chịu rủi ro rất lớn, nuôi dưỡng doanh nghiệp phát triển nhanh chóng, sau vài năm thông qua niêm yết trên thị trường chứng khoán, hợp nhất và chuyển nhượng cổ phần để thu được sự hoàn vốn đầu tư với mức cao”.

1.2 ĐTMH có hai đặc điểm như sau: Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

ĐTMH thực chất là một dạng kinh doanh vốn. Các nhà tư bản mạo hiểm cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp mới khởi sự, thường là trong lĩnh vực công nghệ cao, có tính đổi mới mạnh mẽ, có khả năng tăng trưởng Tỉ lệ thất bại của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu có thể rất cao, tới 80 – 90%, tức là tỉ lệ thành công hoàn toàn của nó thấp hơn 30%. Tất nhiên, mức độ mạo hiểm càng cao thì khi thành công sẽ cho lợi nhuận càng lớn. Do đó, đầu tư mạo hiểm là một hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro cao nhưng hàm chứa tiềm năng lợi nhuận lớn.

Khác với ngân hàng và các quỹ tương hỗ, các nhà cung cấp vốn mạo hiểm không thu hồi vốn và lãi của công ty tiếp nhận vốn đầu tư mà thoát vốn bằng cách bán cổ phần khi công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc bán lại hay sáp nhập công ty.

ĐTMH là một khoản đầu tư mang tính chất lâu dài, là một loại hình đầu tư mang tính chất “động” hay có thể nói là mang tính chu kỳ. Tính chu kỳ của nó thể hiện ở chỗ các khoản đầu tư sẽ kết thúc trong một thời gian nhất định (thường là 7 đến 10 năm). Nếu quỹ đó hoạt động tốt, đội ngũ quản lý có năng lực thì có thể gọi vốn thêm, hoặc công ty quản lý quỹ thu hút thêm vốn đầu tư lập nên những quỹ mới.

Nhà cung cấp vốn mạo hiểm không chỉ đầu tư vốn mà còn sử dụng kinh nghiệm, tri thức và mạng lưới thông tin tích luỹ lâu năm của mình hỗ trợ cho cán bộ quản lý doanh nghiệp để tiến hành kinh doanh sao cho tốt hơn. Thay vì thu hồi vốn và lãi của khoản đầu tư, nhà cung cấp vốn mạo hiểm chỉ yêu cầu nắm giữ một số cổ phần, đôi lúc kiểm soát tổ chức và chiến lược kinh doanh của công ty nhận vốn.

ĐTMH là quá trình làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp được đầu tư không những bằng tài sản hữu hình mà còn bằng tài sản vô hình là chủ yếu, do đó yếu tố then chốt trong quá trình đầu tư là con người. Tức là các nhà đầu tư mạo hiểm quan tâm trước hết để một doanh nghiệp nhận được vốn mạo hiểm đó là ý tưởng kinh doanh khả thi, là đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực và song song với quá trình cung cấp vốn sẽ là việc đào tạo cho các cán bộ của doanh nghiệp đó. Đây là một đặc điểm nổi bật của loại hình đầu tư mạo hiểm.

Như vậy, thực chất, đầu tư mạo hiểm là một dạng kinh doanh vốn, trong đó người có vốn thông qua một người có kinh nghiệm quản lý đầu tư để đầu tư vào những doanh nghiệp chưa trưởng thành và có khả năng thu lợi nhuận cao. Xét về khả năng cung cấp vốn, đầu tư mạo hiểm chỉ là một hình thức cấp vốn mang tính chất bổ sung, không thể thay thế các loại hình cấp vốn khác (như cấp vốn qua ngân hàng, vốn từ ngân sách Nhà nước, v.v.).

  • Bảng 1 Sự khác biệt giữa đầu tư mạo hiểm và đầu tư từ vay ngân hàng

II. Các yếu tố cấu thành đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

1. Vốn mạo hiểm

Theo Ronald J.Gibson và Bernard Black – Journal of Applied Corporate Finance (Page 36 – 48, mùa đông 2019) thì “vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hoá thực hiện tới những hãng tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng”.

Khái niệm vốn mạo hiểm, theo một số tài liệu giáo khoa và nghiên cứu, được dùng để chỉ các nguồn vốn chuyên dụng được quản lý một cách độc lập, tập trung đầu tư vào vốn cổ phần hoặc liên quan đến vốn cổ phần của các công ty tư nhân tăng trưởng cao. Tuy nhiên, xét về bản chất, vốn mạo hiểm có thể hiểu một cách đơn giản là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tư nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời gian tối thiểu là một vài năm. Đầu tư vốn mạo hiểm là sự vận động của vốn (mạo hiểm) từ những người có tiền, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, dù ở mức độ khá cao, để tìm kiếm lợi nhuận sang những người có ý tưởng, cơ hội kinh doanh nhưng không có khả năng tự biến ý tưởng đó thành hiện thực. Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên, luồng chu chuyển vốn này sẽ không xuất hiện và đó chính là những yếu tố cơ bản phân biệt vốn mạo hiểm với các nguồn vốn đầu tư thông thường khác.

Vốn mạo hiểm có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó cách phổ biến nhất là phát hành cổ phiếu. Tuỳ thuộc vào tình hình phát triển với những đặc thù của nghành công nghiệp vốn mạo hiểm ở mỗi nơi khác nhau mà có sự tham gia ở mức độ khác nhau của các nhà đầu tư. Cho tới nay, một phần đáng kể nguồn vốn mạo hiểm trên thế giới là xuất phát từ các quỹ hưu trí, các ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm. Bên cạnh đó chính phủ ngày càng có những tác động tích cực vào thị trường vốn đầu tư mạo hiểm thông qua việc cung cấp các khoản vay giá rẻ cho có công ty kinh doanh nhỏ để các công ty này đem cho các doanh nhân mà họ thấy xứng đáng vay lại hoặc góp vốn trực tiếp cho các quỹ đầu tư mạo hiểm với tư cách như là một cổ đông nhưng được tư nhân quản lý một cách chuyên nghiệp. Sự can thiệp của chính phủ sẽ có những tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và đến lược nó thúc đẩy sự ra đời của các doanh nghiệp khởi sự

Cách thức huy động vốn tuỳ thuộc vào việc quỹ mạo hiểm được thành lập theo hình thức tổ chức pháp lý nào, thông thường là phát hành cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh, vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, v.v…

Quy mô vốn mạo hiểm: theo kinh nghiệm tổ chức của nhiều quỹ ở Mỹ và các nước Tây Âu, một quỹ mạo hiểm trung bình chỉ đủ khả năng cung cấp vốn và tham gia quản lý danh mục đầu tư vào khoảng 15 – 20 doanh nghiệp với tổng mức vốn cấp trên một doanh nghiệp khoảng 2 -3 triệu USD. Như vậy, tính trung bình quy mô vốn hoạt động của một quỹ mạo hiểm ước tính khoảng 30 – 50 triệu USD. Quy mô của các quỹ mạo hiểm nhỏ chỉ khoảng 10 triệu USD hoặc ít hơn, cũng có một số rất ít quỹ có vốn lớn, lên đến hàng tỷ USD. Các quỹ mạo hiểm do nhà nước thành lập thường có số vốn rất lớn.

Như vậy các nguồn tài trợ cho quỹ đầu tư mạo hiểm rất đa dạng. Tính đa dạng cũng như tỷ trọng của từng loại nguồn vốn của quỹ phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của các định chế tài chính, sự phát triển của các ngành công nghệ cao và sự quan tâm của nhà đầu tư tư nhân cũng như của chính phủ đối với hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm ở từng quốc gia.

2. Chủ thể tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

  • Tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư mạo hiểm có 3 đối tượng chủ yếu:

Các nhà đầu tư: Họ có thể là những nhà tư bản cá nhân giàu có (angle capitalist), có thể là những tổ chức lớn hoạt động trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, v.v…) hoặc phi tài chính (các tập đoàn sản xuất). Họ có lượng tiền lớn sẵn sàng để đầu tư và chấp nhận rủi ro cao, hy vọng đạt được mức lợi nhuận lớn.

Cá nhân tự đầu tư: Theo cách này, sự chủ động của người đầu tư rất cao. Họ có thể tự đánh giá các cơ hội, ý tưởng và lựa chọn đối tượng nhận đầu tư thích hợp, tự đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình đầu tư, đồng thời được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được sau này mà không phải chia sẻ với Tuy nhiên, phương pháp này có rất nhiều nhược điểm. Trên thực tế, một cá nhân khó có thể có một lượng vốn lớn cũng như được trang bị những kỹ năng, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn đủ để thu được thành công. Hơn nữa, đầu tư một mình có nghĩ là phải gánh chịu toàn bộ rủi ro có khả năng sẽ xảy ra trong tương lai.

Tổ chức đầu tư: Trong trường hợp này, nhiều nhà đầu tư cùng góp vốn với nhau để thực hiện đầu tư nhằm hướng tới mục tiêu chung. Ưu điểm của hình thức này thể hiện rõ nhất ở khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro. Sự kết hợp này có thể diễn ra dưới nhiều dạng: hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập công ty liên doanh, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm, v.v…Quỹ đầu tư mạo hiểm tuy xuất hiện sau song càng ngày càng chứng minh được nhiều điểm nổi trội so với những phương thức đầu tư vốn mạo hiểm có tổ chức khác. Các vấn đề về quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ được xem xét kỹ hơn ở phần sau.

Các nhà quản lý vốn mạo hiểm: Họ là những người hành nghề đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp, vừa có tri thức về công nghệ, vừa có tài năng quản trị, họ đảm nhiệm chức năng huy động vốn từ các nhà đầu tư, tìm kiếm và đánh giá cơ hội đầu tư, tiến hành đầu tư theo những chiến lược nhất định để làm tăng giá trị cho công ty nhận đầu tư, và cuối cùng là thực hiện thoát vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận, hoàn trả cho các nhà đầu tư.

Các doanh nhân khởi nghiệp: Họ là những kỹ sư, những nhà khoa học, nhà nghiên cứu,v.v…đang muốn biến những ý tưởng, phát minh khoa học của mình thành sản phẩm thành công trên thương trường. Để nhận được những khoản vốn đầu tư mạo hiểm, họ không chỉ cần có ý tưởng có tính khả thi, mang lại tiềm năng lợi nhuận lớn, mà còn phải tuân theo những quy định của các quỹ đầu tư cũng như phải thực hiện những cam kết về phân chia lợi nhuận và chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp với quản lý vốn mạo hiểm. Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Tại các nước có kênh lưu thông vốn mạo hiểm, mối quan hệ giữa ba đối tượng này được xử lý theo những mô hình tổ chức và hoạt động khác nhau. Một mô hình thành công là mô hình đảm bảo được những lợi ích hài hoà của cả ba đối tượng trên, nhờ đó đạt được ba mục tiêu là: (1) khuyến khích và duy trì nguồn ý tưởng sáng tạo và tinh thần kinh doanh (duy trì nhu cầu về vốn mạo hiểm), (2) tạo động lực cho người có vốn bỏ ra đầu tư mạo hiểm và lặp lại hành động đó (phát triển nguồn cung), (3) phát huy triệt để năng lực đặc biệt của các nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp (đảm bảo hiệu quả đầu tư).

3. Quy trình đầu tư mạo hiểm

a. Lựa chọn dự án

  • Cách thức tuyển chọn dự án

Thực chất, hiệu quả hoạt động của đầu tư mạo hiểm phụ thuộc vào sự thành công của các dự án đầu tư. Hay nói một cách khác, những người đầu tư và nhà quản lý sẽ được hưởng lợi nhuận nếu những dự án công nghệ mà họ đầu tư hoạt động tốt và mang lại lợi nhuận lớn. Dự án công nghệ tốt sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà quản lý từ đó sẽ khuyến khích nhiều nhà đầu tư tham gia cung cấp vốn cho đầu tư mạo hiểm và nhiều doanh nghiệp muốn nhận được nguồn vốn mạo hiểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn dự án đầu tư rất được chú trọng. Quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ căn cứ vào những tiêu chí nhất định để lựa chọn các dự án đầu tư phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao. Thường thường, những dự án được tài trợ phải có ý tưởng rõ ràng về công nghệ mới/sản phẩm mới và về thị trường.

  • Các tiêu chí thẩm định dự án
  • Mức độ hấp dẫn của thị trường (hay quy mô thị trường)
  • Tính độc đáo của sản phẩm
  • Năng lực của đội ngũ quản lý
  • Quy mô vốn đầu tư
  • Rủi ro và lợi nhuận

b. Phân đoạn cấp vốn

Cơ chế này giải quyết mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Quỹ đầu tư mạo hiểm. Quỹ đầu tư mạo hiểm không tài trợ một lần cho dự án mà giai đoạn đầu sẽ tài trợ một phần cho dự án, nếu công ty thấy khoản đầu tư mang lại những kết quả theo đúng nhận định/cam kết thì sẽ tiếp tục đầu tư trong giai đoạn tiếp theo. Có thể chia quá trình đầu tư đầy đủ thành 5 giai đoạn: tài trợ vốn mồi/ươm tạo, tài trợ khởi động, tài trợ giai đoạn đầu, tài trợ mở rộng và tài trợ tăng tốc. Trong đó:

Tài trợ vốn mồi, ươm tạo (seed financing): Quỹ cấp vốn cho những doanh nghiệp để phát triển ý tưởng sáng tạo/phát minh sáng chế của mình, hoặc cấp vốn để hỗ trợ phát triển sản phẩm. Vốn cấp ở giai đoạn này thường không lớn.

Tài trợ khởi động (start-up financing): cấp vốn để phát triển sản phẩm và hoạt động tiếp thị khởi đầu. Vốn này cấp cho những công ty mới được thành lập, chưa lần nào giới thiệu sản phẩm ra thị trường. Những doanh nghiệp như vậy thường đã có bộ máy quản lý, có kế hoạch kinh doanh và đã có nghiên cứu thị trường.

Tài trợ giai đoạn đầu (First-stage financing): tài trợ cho công ty thiếu vốn để sản xuất hàng hoá và tung ra thị trường.

Tài trợ giai đoạn mở rộng sản xuất (expansion financing): Quỹ đầu tư mạo hiểm tài trợ cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, mở rộng phạm vi thị trường; hoặc phát triển nâng cấp một sản phẩm và tài trợ cho công ty chuẩn bị niêm yết lần đầu trong vòng 6 tháng đến 1 năm tới. Đồng thời Quỹ cũng giúp doanh nghiệp xây dựng cơ cấu sở hữu hợp lý của doanh nghiệp. Giai đoạn này đã bắt đầu mang lại lợi nhuận tài chính cho các bên, kể cả lợi ích về xây dựng năng lực công nghệ cao, cho nền kinh tế.

Giai đoạn tài trợ tăng tốc: là giai đoạn đưa doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường bằng các hoạt động kinh doanh tăng tốc, tạo sản phẩm mới. Thị trường chứng khoán thường đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường trong giai đoạn này.

  • Bảng 2 Rủi ro và lợi nhuận dự kiến trong quy trình vốn mạo hiểm

c. Kết thúc đầu tư (hay còn gọi là thoát vốn) Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Vốn mạo hiểm hoạt động theo chu kỳ, và mỗi chu kỳ thường kết thúc bằng một đợt thoát vốn, tức là việc các nhà tư bản mạo hiểm tiến hành thanh lý các khoản đầu tư, thu hồi vốn và lãi (nếu có) để phân phối cho các bên tham gia. Thoát vốn là một khâu quan trọng, không chỉ bởi vì nó thoả mãn những lợi ích của các bên tham gia mà còn vì nó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn đóng góp tài chính và phi tài chính của các nhà tư bản mạo hiểm do việc quay vòng vốn để hỗ trợ cho một thế hệ công ty khởi nghiệp mới. Chính vì vậy đây là một nét đặc thù của kênh dẫn vốn này.

Thoát vốn cũng có tác động tới mối quan hệ giữa một quỹ mạo hiểm và các nhà đầu tư vào quỹ. Thoát vốn đáp ứng ba vấn đề trong mối quan hệ nhà tư bản mạo hiểm – nhà cung cấp vốn. Một là, những người cung cấp vốn cần có một phương thức để đánh giá kỹ năng của nhà tư bản mạo hiểm, để còn quyết định sẽ cung cấp những lượng tiền mới cho những nhà quản trị nào. Hai là, những người cung cấp vốn cần phải đánh giá rủi ro và lợi nhuận trên các khoản đầu tư vốn mạo hiểm trong tương quan với các khoản đầu tư khác, để quyết định có đầu tư hay không và đầu tư bao nhiêu. Ba là, các nhà cung cấp vốn cần có khả năng rút lại vốn từ các nhà quản trị kém thành công. Việc các quỹ mạo hiểm thoát vốn khỏi những danh mục đầu tư cụ thể sẽ tạo ra một tiêu chuẩn so sánh cho phép những nhà cung cấp vốn đánh giá cả kỹ năng của nhà tư bản mạo hiểm khác nhau cũng như khả năng thu lợi nhuận của vốn mạo hiểm so với những khoản đầu tư khác. Đồng thời, việc thanh toán số tiền nhận được sau khi thoát vốn cho các nhà cung cấp vốn sẽ cho phép họ quay vòng quỹ từ những nhà quản trị vốn mạo hiểm ít thành công sang các nhà quản trị thành công hơn.

  • Các kênh thoát vốn

Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO): là việc một công ty lần đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán và bán cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng. Nếu một công ty trẻ phát đạt và cần thêm vốn cổ phần thì đây là một việc đáng làm

Kênh thoát vốn này, mặc dù đòi hỏi những khoản chi phí không nhỏ, là kênh được ưa thích vì nói chung, nó đem lại sự định giá cao nhất đối với công ty trong khi vẫn bảo toàn được tính độc lập của ban quản lý. Tiềm năng thoát vốn thông qua hình thức IPO cho phép người khởi nghiệp và quỹ vốn mạo hiểm tham gia vào một hợp đồng ngầm tự động có hiệu lực đối với vấn đề kiểm soát, trong khi đó quỹ vốn mạo hiểm thoả thuận trả lại quyền kiểm soát cho doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, bằng cách thoát vốn thông qua hình thức IPO với giả định là người khởi nghiệp sẽ giữ lại quyền kiểm soát đối với một khối lượng cổ phần đủ lớn. Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Thông qua hình thức IPO, phần đóng góp của quỹ mạo hiểm bị giảm đi và doanh nghiệp tiếp nhận vốn sẽ không còn bị phụ thuộc vào sự tài trợ theo giai đoạn của nhà tư bản mạo hiểm nữa. IPO giảm bớt những hạn chế về tính thanh khoản của doanh nghiệp khởi nghiệp và thị trường cổ phiếu giảm bớt nhu cầu về sự giám sát chặt chẽ của nhà tư bản mạo hiểm. Cuối cùng, hợp đồng công khai giữa quỹ mạo hiểm và công ty tiếp nhận vốn đảm bảo rằng những quyền kiểm soát quan trọng mà lúc đầu được trao cho quỹ sẽ mất đi sau khi áp dụng hình thức IPO, bất kể quỹ có bán cổ phần hay không.

Bán thương mại: là kênh thoát vốn khá phổ biến, nhất là ở châu Âu nơi mà đa số các quốc gia đều có thị trường tài chính dựa vào ngân hàng là chính. Đó là việc bán (hoặc sáp nhập) một công ty mới cho công ty khác lớn hơn. Cách này hấp dẫn cả các thành viên hợp danh hữu hạn và thành viên quản lý đầu tư vốn, bởi nó là sự hoàn trả tiền hoặc các chứng khoán dễ mua bán, và kết thúc sự tham gia của thành viên hợp danh vào quỹ mạo hiểm. So với kênh thoát vốn chào bán lần đầu ra công chúng (IPO), bán thương mại được coi là phương thức nhanh và rẻ hơn.

Những công ty lớn, đặc biệt là các công ty đã có sản phẩm hoàn chỉnh và các luồng thu nhập ổn định, thường quan tâm nhiều tới việc mua những doanh nghiệp mới khởi sự có khả năng lợi nhuận hơn là xây dựng từ đầu những doanh nghiệp mới. Phương thức này xác nhận khả năng được tái tài trợ bởi một nhà đầu tư mới tại thời điểm kết thúc một quỹ đóng, trong khi cũng đảm bảo được sự định giá độc lập. Ngoài ra, nó cho phép ban quản lý của doanh nghiệp nhận đầu tư vẫn ở lại ngay cả khi không lựa chọn IPO, và cho phép một doanh nghiệp được tái vay vốn. Tuy nhiên, kênh thoát vốn này thể hiện một bất lợi thế quan trọng của ban quản lý công ty, bởi họ sẽ mất tính độc lập khi bị thôn tính hoặc bị sáp nhập với một công ty lớn hơn

Mua lại cổ phần: là kênh thoát vốn phổ biến trong đầu tư mạo hiểm và rất quan trọng cho các nhà đầu tư. Đồng thời nó cũng cho phép công ty tiếp nhận vốn giành lại quyền kiểm soát sau khi sẽ phải chia sẻ và chịu sự chi phối của quỹ mạo hiểm. Khi tiến hành hình thức này, doanh nhân đối tác sẽ mua lại phần sở hữu của quỹ mạo hiểm trong doanh nghiệp với giá trị cao hơn mức định giá vốn cổ phần mà họ đang nắm giữ bằng cách vay vốn từ chính quỹ (cũng như từ bất kỳ nhà đầu tư mạo hiểm khác cùng tham gia). Họ sẽ trả nợ dần về sau bằng các khoản thu nhập lấy từ doanh nghiệp được mua lại và việc thanh toán nợ sẽ phải hoàn tất ở khâu kết thúc

III. Quỹ đầu tư mạo hiểm và các hình thức hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

1. Quỹ đầu tư mạo hiểm.

Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa quỹ đầu tư mạo hiểm khác nhau, nhưng một trong những định nghĩa phổ biến nhất coi quỹ đầu tư mạo hiểm là một tập hợp vốn nằm dưới sự quản lý chuyên nghiệp, được huy động vì mục đích duy nhất là thực hiện những khoản đầu tư vốn cổ phần trực tiếp, có quản lý một cách chủ động vào các công ty tư nhân tăng trưởng nhanh và với một chiến lược thoát vốn đã được xác định rõ ràng.

Quỹ đầu tư mạo hiểm là một loại hình quỹ đầu tư có tính chuyên biệt hoá (specialised funds). Điều đó thể hiện ở việc nó chuyên cấp vốn theo phương thức đầu tư mạo hiểm vào một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh và chủ yếu là các nghành công nghệ cao. Do đó, cũng có thể coi nó là một loại quỹ tăng trưởng. Ngoài ra một số quỹ ĐTMH cũng chuyên biệt cả theo hướng đầu tư vào một địa bàn nào đó hoặc một quốc gia nào đó (country fund), có quỹ chuyên đầu tư vào một quỹ mạo hiểm khác nhằm chia nhỏ rủi ro, gọi là quỹ trung gian (fund of funds).

Một điểm đáng chú ý khi đề cập tới khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm là khái niệm này cần được phân biệt với khái niệm quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân (Private equity fund). Ở Mỹ, đây là hai khái niệm tương đối độc lập và phân biệt với nhau. Quỹ cổ phần tư nhân bao gồm những quỹ mà vốn góp hình thành nên do quỹ đó được dành cho nhiều hoạt động khác nhau: đầu tư mạo hiểm, mua cổ phiếu giành quyền kiểm soát bằng cách sử dụng đòn bẩy, các vụ sáp nhập, đầu tư sử dụng nợ thứ cấp có quyền ưu tiên thấp hơn nợ ngân hàng nhưng lại cao hơn so với chứng khoán vốn cổ phần và thường gắn kèm chứng quyền, đầu tư vào chứng khoán nợ mà tổ chức phát hành có nhiều nguy cơ bị mất khả năng thanh toán (chiến lược đầu tư nhằm mua trái phiếu chiết khấu của một công ty bị cạn kiệt về mặt tài chính, sau đó chuyển các chứng khoán đang nắm giữ thành chứng khoán vốn cổ phần và chủ động tham gia vào quản lý công ty đó) và nhiều hoạt động hỗn hợp khác như cho thuê tài sản mạo hiểm và mua nợ mạo hiểm (mua các khoản phải thu của những công ty non trẻ có độ rủi ro cao). Còn khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu được dành cho những quỹ đầu tư vào vốn cổ phần và những sản phẩm có liên quan đến vốn cổ phần trong các công ty định hướng tăng trưởng. Tuy nhiên, ở một số khu vực khác, chẳng hạn như châu Âu là nơi hoạt động của các quỹ đầu tư cũng tương đối phát triển, khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ cổ phần tư nhân thường được sử dụng thay thế nhau và không được phân biệt rõ ràng.

Về nguyên tắc, quỹ cổ phần tư nhân có thể đầu tư vào một công ty ở mọi giai đoạn như: hình thành ý tưởng, khởi sự, mở rộng, mua lại hoặc sáp nhập, cứu vãn hoặc xoay chuyển tình thế, mua lại cổ phiếu đã niêm yết, v.v… Còn quỹ đầu tư mạo hiểm thường tập trung vào các công ty ở giai đoan hình thành ý tưởng, thành lập, khởi sự và mở rộng.

2. Đặc điểm của quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

  • Quỹ đầu tư mạo hiểm thường gắn liền với nguồn vốn mạo hiểm và hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Vì vậy, đặc điểm của quỹ đầu tư mạo hiểm cũng không tách rời và được bắt nguồn từ chính những đặc điểm của hoạt động trên. Có thể nêu ra ở đây ba đặc điểm nổi bật của quỹ đầu tư mạo hiểm so với các loại hình quỹ đầu tư thông thường khác.

Tính rủi ro của các khoản đầu tư: đầu tư mạo hiểm là một hoạt động có tính rủi ro rất cao do đối tượng được nhận vốn đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu là những công ty tư nhân mới thành lập hoặc hoạt động trong những lĩnh vực mới hình thành. Sự rủi ro xuất phát từ bốn yếu tố, cũng đồng thời là bốn đặc điểm của các công ty nhận đầu tư, đó là: Sự không chắc chắn, thông tin không cân xứng, tính chất của tài sản và các điều kiện trong thị trường tài chính và thị trường sản phẩm có liên quan. Các công ty được đầu tư thường có số tài sản vô hình chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản, đó là những tài sản rất khó định giá và có thể không bán được trong trường hợp hoạt động kinh doanh của công ty bị thất bại. Điều kiện thị trường của các ngành được đầu tư cũng có tính biến động rất cao. Có những ngành mà sản phẩm mới còn ở trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm chứ chưa được công chúng thừa nhận rộng rãi. Sự không chắc chắn về thành công của sản phẩm, về phản ứng của đối thủ cạnh tranh cũng như của khách hàng. Do đó, thành công của công ty nhận vốn đầu tư, và kéo theo đó là lợi nhuận mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được trong tương lai, cũng có tính không chắc chắn rất cao.

Thời hạn của các khoản đầu tư: Các khoản đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm thường là những khoản đầu tư trung đến dài hạn. Đối tượng nhận vốn đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu là các công ty cổ phần tư nhân, chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, thậm chí mới ở giai đoạn hình thành ý tưởng. Để đi đến được cái đích cuối cùng của quỹ là thực hiện một chiến lược thoát vốn hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất cho các nhà đầu tư vào quỹ từ khoản vốn bỏ ra ban đầu, các công ty đó phải đạt được sự phát triển ở mức độ nhất định sao cho cổ phiếu của chúng trở nên có sức hấp dẫn. Điều này đòi hỏi một khoảng thời gian cần thiết cho sự tích luỹ mở rộng, có thể kéo dài một vài năm, hoặc đến bảy hay mười năm.

Người đầu tư: hai đặc điểm trên dẫn đến đặc điểm thứ ba của quỹ đầu tư mạo hiểm, đó là đặc điểm về người đầu tư. Do các khoản đầu tư mà quỹ đầu tư mạo hiểm thực hiện vừa có tính rủi ro cao vừa là những khoản đầu tư dài hạn nên không phải bất kỳ ai có một khoản tiền tiết kiệm trong tay cũng có thể tham gia vào các quỹ này như trong trường hợp của quỹ tương hỗ. Người đầu tư vào quỹ thường là các định chế (nhà đầu tư có tổ chức) như các quỹ hưu trí, quỹ bảo trợ của các trường đại học, công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh thông thường hoặc một số ít những cá nhân giàu có. Đặc biệt, các nhà đầu tư có tổ chức là đối tượng có vai trò quan trọng do họ có số vốn lớn, có khả năng thực hiện sự đa dạng hoá và có thể chấp nhận đầu tư dài hạn.

  • Bảng 4 So sánh quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư chứng khoán

3. Chức năng của quỹ đầu tư mạo hiểm

  • Nhóm chức năng tài chính của quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Huy động vốn: tuỳ thuộc vào hình thúc tổ chức pháp lý, quỹ đầu tư mạo hiểm được lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn mà pháp luật cho phép như phát hành cổ phiếu, trái phiếu (nếu được tổ chức theo kiểu doanh nghiệp), chứng chỉ quỹ đầu tư (nếu theo kiểu tín thác đầu tư), vay vốn các tổ chức tín dụng theo quy định.

  • Cấp vốn mạo hiểm dưới các hình thức

Hợp đồng khoa học và công nghệ: Việc triển khai dự án cấp vốn mạo hiểm dưới hình thức này cho phép giải phóng tối đa các nguồn lực khoa học và công nghệ được tham gia vào hoạt động phát triển và đổi mới công nghệ. Trong hình thức hợp đồng khoa học công nghệ cần chú trọng hơn cả đến loại hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mà kết quả sẽ là cơ sở để tiến tới thoả thuận thành lập doanh nghiệp mới về công nghệ cao giữa quỹ và những nhà nghiên cứu – triển khai công nghệ được tài trợ.

  • Cấp vốn cổ phần – vốn góp: đây là hình thức phổ biến nhất và sẽ chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng vốn hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm.
  • Cho doanh nhân đối tác vay để mua lại doanh nghiệp

Doanh nhân đối tác vốn là những nhà nghiên cứu – triển khai công nghệ, những người đưa ra sáng kiến công nghệ cao và kế hoạch thương mại hoá sản phẩm, có tinh thần kinh doanh và đã đứng ra thành lập doanh nghiệp với tư cách sáng lập viên doanh nghiệp. Sau một quá trình được tài trợ bởi vốn mạo hiểm thì phần sở hữu của họ trong doanh nghiệp sẽ bị giảm sút về tỷ lệ mặc dù số tiền thực tế mà họ thu về là lớn (do giá trị gia tăng của doanh nghiệp dẫn tới phần sở hữu của họ cũng tăng lên nhiều). Tuy nhiên các doanh nhân đối tác lúc này trong vai trò nhà kinh doanh, có thể rất muốn dành lại quyền kiểm soát doanh nghiệp để tự mình quản trị một cách độc lập doanh nghiệp. Bản thân quỹ có thể cho các doanh nhân đối tác vay vốn để mua lại phần sở hữu của quỹ trong một doanh nghiệp công nghệ cao mà thường quỹ được lời với giá bán khá cao vì doanh nhân đối tác luôn muốn có phần sở hữu của quỹ để kiểm soát doanh nghiệp

  • b. Nhóm chức năng phi tài chính

Bên cạnh và không thể tách rời chức năng tài chính (cấp vốn mạo hiểm), quỹ còn phải cung cấp các dịch vụ nhằm giúp các dự án R&D và doanh nghiệp được ươm tạo, khởi sự và từng bước phát triển thành công. Đây chính là một trong những đặc trưng cơ bản của phương thức đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Hỗ trợ công tác quản trị doanh nghiệp: Vì các doanh nhân thành lập doanh nghiệp công nghệ cao thường xuất thân là một nhà công nghệ nên thiếu kỹ năng về quản trị doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng chưa đủ uy tín và các quan hệ rộng rãi trong giới kinh doanh khi bắt đầu công việc kinh doanh độc lập, mà đây là một trong những yếu tố then chốt góp phần tạo nên sự thành công của sự nghiệp kinh doanh. Bởi vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm cần tiến hành các hoạt động tư vấn về quản trị doanh nghiệp như các vấn đề về kế hoạch kinh doanh: sản xuất, tiếp thị, bán hàng, tài chính – kế toán…Ngoài ra một trong những chức năng quan trọng của quỹ là giúp doanh nghiệp tuyển mộ được một đội ngũ các nhà quản lý năng động và được đào tạo cẩn thận, từ cấp độ tổng giám đốc cho đến những người đứng đầu các bộ phận.

Tư vấn về vấn đề pháp lý: vì nhiều nhà quản lý chưa am hiểu nhiều về pháp lý, như vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, các thoả thuận li – xăng, nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, nên các chuyên gia của quỹ mạo hiểm có thể tư vấn và giúp tránh được những chi phí tốn kém nếu thuê các công ty tư vấn luật. Thêm vào đó, vì các vấn đề hợp đồng, tranh chấp thương mại, phát hành cổ phiếu, các cơ chế tháo gỡ khó khăn khác về mặt thủ tục còn quá mới mẻ và phức tạp đối với các doanh nhân nên quỹ đầu tư mạo hiểm có thể hỗ trợ đàm phán trong các lĩnh vực này.

Tổ chức, thúc đẩy quan hệ cộng tác: khi phân tích vai trò của đầu tư mạo hiểm cho thấy các quỹ đầu tư mạo hiểm có ưu thế trong việc tổ chức các quan hệ rộng rãi trong R&D và trong kinh doanh. Thực ra, một hiểm quỹ mạo tự mình cũng không thể đủ nhân lực để giúp doanh nghiệp giải quyết mọi khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thông qua việc tổ chức mạng lưới quan hệ, trong đó đặc biệt là quan hệ ba bên: trường đại học – viện nghiên cứu – và nhà kinh doanh có danh tiếng, quỹ cần tổ chức và khai thác hiệu quả tối đa mối quan hệ này để hỗ trợ doanh nghiệp do quỹ ươm tạo.

Bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thị trường công nghệ của mình cũng như tìm được tới nguồn tài trợ cho R&D công nghệ cũng như cho giai đoạn đầu của doanh nghiệp. Các trường đại học, viện nghiên cứu sẽ nắm giữ quyền sở hữu đối với thành quả nghiên cứu đổi mới và chính họ mới có quyền cấp phép quyền sử dụng cho doanh nghiệp nếu một nhà nghiên cứu – triển khai cần sự đầu tư của họ để thực hiện các ý tưởng của mình. Do đó, dịch vụ tư vấn có thể giúp các nhà nghiên cứu – triển khai hưởng và khai thác được nhiều hơn thành quả nghiên cứu của họ sau khi đã đi đến những thoả thuận với quỹ đầu tư mạo hiểm về sự tài trợ của quỹ này.

4. Các mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

  • Mô hình Limited Partnership

Mô hình quỹ mạo hiểm phổ biến nhất hiện nay ở Mỹ và được nhiều nước học tập là dạng Investment Trust (tín thác đầu tư) dưới hình thức Limited partnership theo luật Anh – Mỹ. Theo mô hình này, nguồn vốn đầu tư mạo hiểm được cấp chủ yếu bởi các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần khác nhau, với tư cách là thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn (limited partner) của quỹ. Số vốn này được giao cho một hoặc một vài thành viên quản lý đầu tư vốn (general partner) thực hiện các hoạt động đầu tư và phải chịu trách nhiệm vô hạn (hoàn toàn) bằng toàn bộ tài sản của mình.

Việc tổ chức đầu tư vốn mạo hiểm theo mô hình này cho thấy luôn có 3 chủ thể tham gia vào quy trình vốn mạo hiểm: (1) các doanh nhân chịu trách nhiệm nhận vốn và sử dụng vốn của quỹ; ( 2) các nhà đầu tư (tài chính thuần tuý) chịu trách nhiệm hùn vốn vào quỹ có tư cách thành viên cấp vốn; (3) tổ chức hoặc cá nhân được gọi là nhà sáng lập quỹ, đứng giữa 2 chủ thể trên chịu trách nhiệm xác định, tuyển chọn, tham gia quản lý và giám sát các doanh nghiệp nhận vốn, tiến hành hoạt động, khác với tư cách thành viên quản lý vốn. Sự có mặt của hai loại chủ thể sau hợp thành Quỹ đầu tư mạo hiểm, còn danh mục đầu tư của quỹ được hình thành từ các doanh nghiệp thành lập, quản lý.

  • Hình 1 Vốn mạo hiểm được tổ chức theo hình thức Limited partnerahip

b. Mô hình đơn vị tín thác (Trust Unit)

Quỹ đầu tư mạo hiểm dưới hình thức đơn vị tín thác không có tư cách pháp nhân mà chỉ là một tổ hợp vốn dựa trên một điều lệ hoặc một hình thức pháp lí tương đương, được uỷ thác cho một tổ chức (công ty) quản lý danh mục đầu tư một cách chuyên nghiệp với một mức chi phí quản lý nhất định, theo chế định người nhận uỷ thác và được giám sát thừa nhận uỷ thác bởi một tổ chức. Mô hình này có đặc điểm chính là:

Quỹ chỉ được hình thành khi có một công ty quản lý đầu tư chuyên nghiệp (trong quy chế áp dụng cho quỹ đầu tư chứng khoán gọi là doanh nghiệp quản lý quỹ) đứng ra thành lập quỹ, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư, cử người điều hành danh mục đầu tư của quỹ và chịu trách nhiệm về hiệu quả và trách nhiệm pháp lý đối với mọi hoạt động của quỹ.

Trong quá trình hoạt động, luôn được ngân hàng giám sát, đảm nhận việc bảo quản, lưu giữ tài sản và các loại chứng từ kèm theo của quỹ, cũng như giám sát hoạt động của công ty quản lý đầu tư nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư.

Quỹ không có tư cách pháp nhân và chỉ có một cơ quan không thường xuyên duy nhất là đại hội các nhà đầu tư do công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát, triệu tập khi cần thiết theo những trường hợp đã quy định trong điều lệ. Đồng thời, các quyền và nghĩa vụ của công ty quản lý đầu tư đã thành lập quỹ có thể được chuyển giao cho một công ty quản lý khác, nếu được các nhà đầu tư đồng ý và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.

  • c. Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Theo kinh nghiệm tổ chức các quỹ mạo hiểm trên thế giới thì mô hình này ít xuất hiện và không phát triển nhiều. Do bản chất của các quỹ rất gần với tính chất xã hội hoá đầu tư, nghĩa là huy động vốn một cách rộng rãi để tập trung vào một bộ phận quản lý đầu tư chuyên nghiệp, bộ phận này với những kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm, sẽ quản lý đầu tư số vốn tốt hơn các nhà đầu tư trực tiếp thực hiện. Vì vậy, mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn không phát huy thật sự được những ưu điểm đặc trưng của quỹ đầu tư, cho dù số vốn của quỹ dưới hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn có thể rất lớn.

  • d. Mô hình công ty cổ phần

Nhìn chung, mô hình quỹ dưới hình thức công ty cổ phần có cấu trúc đơn giản như các công ty cổ phần thông thường. Các cổ đông được chia thành: cổ đông sáng lập và cổ đông thông thường. Các sáng lập viên thường nắm một tỷ lệ cổ phần đáng kể để có đủ điều kiện tham gia hội đồng quản trị với tư cách thành viên. Mô hình này cho thấy không có sự tách biệt thành bộ phận quản lý đầu tư chuyên nghiệp và các nhà đầu tư chỉ cấp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Mô hình này cũng cho phép một quỹ mạo hiểm được hình thành cả dưới dạng quỹ đóng (ngưng góp cổ phần sau một thời hạn nhất định), và quỹ mở (được phép phát hành liên tục và rộng rãi cổ phần để tăng vốn, đồng thời sẵn sàng thu mua lại các cổ phiếu đã phát hành

  • Hình 2 Mô hình quỹ – công ty cổ phần

IV. Vai trò của đầu tư mạo hiểm đối với sự tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng của đời sống kinh tế xã hội và là một trong những chỉ tiêu then chốt để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế và tuỳ vào từng giai đoạn lịch sử, các yếu tố đó được ưu tiên xem xét ở các mức độ khác nhau. Nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu được dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích luỹ tư bản và vốn vật chất, thì ngày nay, tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hoá, trong đó công nghệ và nguồn nhân lực chính là động lực góp phần tăng năng suất lao động, cải thiện lâu dài mức sống và đạt được sự tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững. Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận được vai trò của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, mà hoạt động đầu tư mạo hiểm cũng là một bộ phận không thể tách rời, đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Nếu xét như một ngành kinh tế độc lập thì đầu tư mạo hiểm có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhân tố sau:

1. Đối với doanh nghiệp.

Lịch sử phát triển của các doanh nghiệp như Intel, Microsoft, Yahoo, Apple thể hiện sự thành công của phương thúc dùng vốn mạo hiểm hỗ trợ và nuôi dưỡng doanh nghiệp công nghệ cao. Những doanh nghiệp này khi khởi nghiệp đều nhận được vốn đầu tư mạo hiểm. Công ty Apple trong thời kỳ ban đầu khởi nghiệp nhận được 400.000 USD vốn đầu tư mạo hiểm, công ty Yahoo nhận được 4 triệu USD…Trên thực tế, không chỉ có các doanh nghiệp nói trên khi thành lập và phát triển phụ thuộc vàp sự hỗ trợ của vốn mạo hiểm. ở Mỹ, ít nhất 50% doanh nghiệp công nghệ cao trong quá trình phát triển của mình đã nhận được sự giúp đỡ qua đầu tư mạo hiểm. đầu tư mạo hiểm rất quan trọng đối với quá trình đổi mới sản xuất – kinh doanh. Vì nhiều lí do khác nhau mà các tập đoàn lớn rất khó khăn trong việc triển khai các dự án đổi mới công nghệ mang nhiều rủi ro. Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại tỏ ra thành công hơn trong việc thực hiện các dự án này với sự hỗ trợ của các công cụ tài chính của nhà đầu tư mạo hiểm. Thực tế cho thấy hầu hết các hãng đi tiên phong trong việc sáng tạo và khai thác các thế hệ máy tính mới và sản phẩm phần mềm, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng công nghệ mới và sự chuyển hướng trong các nghành công nghiệp, đều đã trải qua giai đoạn được tiếp nhận đầu tư mạo hiểm, khi mới chỉ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Như vậy sự thành công của các doanh nghiệp này không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và nhà cung cấp vốn đầu tư mạo hiểm mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế nói chung. Ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm ra đời đã kéo theo sự ra đời và hoàn thiện của một loạt các ngành khác như thị trường chứng khoán, các lĩnh vực công nghệ cao. Về mặt xã hội, sự xuất hiện của ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho rất nhiều người trong xã hội.

Nếu xét riêng tác động của đầu tư mạo hiểm đối với doanh nghiệp nhận vốn mạo hiểm thì hoạt động này thúc đẩy quá trình doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường cũng như niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, quá trình đầu tư mạo hiểm cũng giúp cho các doanh nghiệp tìm kiếm và đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực và trình độ giúp doanh nghiệp vạch ra kế hoạch kinh doanh tốt trên thị trường.

Sự hình thành và phát triển của đầu tư mạo hiểm đã làm biến đổi một cách mạnh mẽ cách thức tiến hành đổi mới ở các nước công nghiệp phát triển, đưa đến sự xuất hiện mô hình tổ chức đổi mới, cho phép kết hợp hai mô hình đổi mới công nghệ phổ biến đó là: Mô hình dựa trên động cơ thúc đẩy của năng lực kinh doanh cá nhân; và Mô hình dựa trên khả năng đổi mới của một tập đoàn công nghiệp. Mô hình đổi mới dựa vào vốn mạo hiểm có thể giúp vượt qua những hạn chế phát sinh từ hai mô hình nói trên. Theo mô hình đầu, đổi mới được tạo ra theo một phương thức không được dự tính trước và không được tổ chức một cách chặt chẽ vì một cá nhân kinh doanh khi tiến hành hoạt động của mình luôn ở trong tình trạng đối phó trước những đòi hỏi và biến động của thị trường, phải tự mình tìm kiếm các nguồn tài chính, đầu tư vào cơ sở vật chất, trả nợ, v.v… Nguồn vốn mạo hiểm có thể khắc phục tình trạng này, cho phép doanh nghiệp dựa vào công nghệ, có đủ các nguồn lực và dịch vụ cần thiết để duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục mà không lo phải quay vòng vốn; tạo điều kiện giảm các chi phí thuộc về vốn cố định của doanh nghiệp trong khi tổng quy mô vốn của doanh nghiệp vẫn tăng lên đều đặn với các đợt cấp vốn kế tiếp.

Mô hình đổi mới dựa vào phương thức đầu tư mạo hiểm cho phép thay thế sự chuyên môn hoá chức năng và đặc tính phân tán nguồn thông tin trong các hãng lớn bằng một môi trường tổ chức linh hoạt, đặc trưng bằng sự điều chỉnh thường xuyên, phi tập trung hoá quá trình ra quyết định và lưu lượng trao đổi thông tin mạnh mẽ, điển hình ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ về công nghệ cao.

2. Đối với thị trường tài chính Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

ĐTMH là một dạng kinh doanh vốn nên nó là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời với thị trường tài chính. Với đặc thù là rút vốn và thu lợi nhuận thông qua thị trường chứng khoán là chủ yếu, đầu tư mạo hiểm đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. đầu tư mạo hiểm góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường IPO. Một trong những phương thức thoát vốn quan trọng và phổ biến nhất của đầu tư mạo hiểm là chào bán cổ phiếu của công ty nhận đầu tư ra công chúng, tức là biến các công ty đó từ hình thức công ty cổ phần tư nhân trở thành công ty đại chúng. Đây là một cách thoát vốn đặc thù của loại hình đầu tư mạo hiểm, xuất phát từ một đặc điểm của loại quỹ này là lấy các công ty cổ phần tư nhân mới thành lập hoặc đang trong thời kỳ tăng trưởng làm mục tiêu đầu tư chủ yếu. Thậm chí, việc một công ty cổ phần tư nhân được tài trợ bằng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm được chuyển thành công ty đại chúng còn được xem như một trong những yếu tố chứng minh cho sự thành công của bản thân quỹ đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, quan hệ giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và thị trường IPO không chỉ đơn thuần là quan hệ một chiều mà trái lại, chúng có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Muốn chuyển công ty từ hình thức sở hữu tư nhân thành công ty đại chúng đòi hỏi phải có một thị trường IPO hoạt động tích cực. Ngược lại, thị trường IPO phát triển cũng là một trong những điều kiện cần thiết để tạo tiền đề cho hoạt động đầu tư mạo hiểm phát huy được vai trò của nó.

Ngoài ra, đầu tư mạo hiểm còn có mối quan hệ tương hỗ qua lại với các thể chế tài chính khác như ngân hàng, bảo hiểm, v.v… Cho nên, nếu đầu tư mạo hiểm hoạt động tốt thì cũng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức tài chính này và kéo theo đó là sự ổn định của thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung.

3. Đối với quá trình đổi mới công nghệ

Mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và việc đổi mới công nghệ xuất phát từ đặc điểm của đầu tư mạo hiểm là chuyên đầu tư vào những dự án có ý tưởng táo bạo, cần nhiều vốn lớn, mà công nghệ cao là một lĩnh vực đạt được những tiêu chuẩn này. Có nhiều yếu tố góp phần tăng trưởng kinh tế như chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế, v.v… trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò quan trọng. Thật vậy, nó góp phần tăng năng suất lao động của yếu tố lao động và vốn, nếu việc đầu tư cho khoa học công nghệ là hiệu quả, và do đó, tất yếu dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, việc đầu tư đổi mới công nghệ đòi hỏi phải gia tăng nguồn vốn đầu tư. . ở các nước đang phát triển vấn đề thiếu vốn để phát triển khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trở thành một vòng lẩn quẩn. Thật vậy, vốn ít dẫn đến mức đầu tư cho khoa học công nghệ thấp, từ đó dẫn đến năng suất thấp và tốc độ tăng trưởng thấp. Đến lượt tốc độ tăng trưởng thấp tất yếu dẫn đến mức độ tích lũy vốn cho nền kinh tế thấp. Để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn đó đòi hỏi nhà nước cần có chính sách thu hút vốn đầu tư đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả nhất. Có nhiều nguồn vốn khác nhau tài trợ cho việc đổi mới công nghệ. Trong đó vốn mạo hiểm là một trong những nguồn tài trợ then chốt thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ, làm tăng nhân tố năng suất tổng hợp TFP và do đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế. Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

Việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm, nhất là từ các nguồn nước ngoài và từ khu vực tư nhân trong nước, trước hết sẽ làm giảm áp lực về vốn đầu tư cho hoạt động đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó kỹ năng cũng như kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư mạo hiểm sẽ dẫn đến vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cho quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ vào các hoạt động kinh tế. Ngoài ra việc đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển các ngành nghề mới, các doanh nghiệp mới, do đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững.

Bên cạnh đó vốn đầu tư mạo hiểm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức như các định chế tài chính, các trường đại học, các doanh nghiệp định hướng công nghệ, các tập đoàn công nghiệp và tạo thành một “mạng lưới phức tạp”. Các mắc xích trong mạng lưới này liên kết chặt chẽ nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Sự phát triển về chiều sâu và chiều rộng của mạng lưới này góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ, đổi mới hệ thống giáo dục, phát triển thị trường tài chính, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phát triển và ứng dụng công nghệ và do đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Hơn nữa sự vận hành có hiệu quả của tổ chức đầu tư mạo hiểm và các tổ chức trong mạng lưới sẽ hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng, góp phần giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế trong quá trình đổi mới.

Đối với các nước đang phát triển, khi mà thị trường tài chính chưa phát triển, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ chưa được chú trọng và đầu tư, và nguồn lực khoa học công nghệ đang bị lãng phí ghê gớm thì có thể nói đầu tư mạo hiểm là một giải pháp quan trọng nhằm phát triển các yếu tố này để đạt được sự tăng trưởng kinh tế tốt nhất.

Chương Một đã đề cập đến các vấn đề có tính chất tổng quan về đầu tư vốn mạo hiểm cũng như các kiến thức cơ bản về hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm và vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm đối với nền kinh tế nói chung . Đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức toàn cầu. Với đặc điểm chỉ tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao đồng thời với mức độ rủi ro lớn, vốn đầu tư mạo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân có tinh thần mạo hiểm và sáng tạo tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ. Sự tạo dựng và phát triển các mối quan hệ song hành giữa những nhà đầu tư mạo hiểm có vốn và kinh nghiệm quản lý với các tổ chức, cá nhân có tinh thần kinh doanh và năng lực công nghệ đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm. Và đến lượt mình sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm sẽ có những đóng góp tích cực vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của quốc gia thông qua việc gia tăng tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp trong cơ cấu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế. Những lý luận tổng quan này và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu trong chương Hai sẽ là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho việc khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm tại Việt Nam trong chương Ba. Khóa luận: Hoạt động đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x