Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp 2013

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp 2013 hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quyền tự do lập hội trong Hiến pháp 2013 và các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1 Quan điểm về quyền tự do lập hội ở Việt Nam

Lập hội là việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành nhóm để hướng đến những lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung. Giống như các quốc gia khác, ở Việt Nam, các hội đã được hình thành từ rất lâu trong lịch sử. Minh chứng rõ nhất là ở các làng – đơn vị dân cư nền tảng của người Việt từ trước đến nay. Tuy lấy gia đình làm cơ sở, song làng là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước hết là dòng họ. Bên cạnh đó ở nhiều làng Việt Nam còn có phường hội là tổ chức phường hội là tổ chức nghề nghiệp của những người làm nghề thủ công và buôn bán. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Đông Dương) cũng đề cao các quyền lập hội và hội họp. Nhiều văn kiện do Đảng ban hành trong thời kỳ này đã nêu rõ những đòi hỏi về quyền lập hội, cụ thể như: đấu tranh để “dân chúng được tự do tổ chức” [27]. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền, nhận thức rõ tính tất yếu khách quan của việc hình thành các hội, Đảng ta đã đề ra quan điểm chỉ đạo nhất quán: “Hội lập ra phải xuất phát từ nhu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân, theo đúng quy định của pháp luật; không nhất thiết phải tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Hoạt động của hội theo nguyên tắc chung là: tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, tuân thủ pháp luật và điều lệ hội. Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho hội căn cứ vào hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể do Đảng, Nhà nước giao” [28]. Mặt khác, một trong những nhiệm vụ cơ bản của Hiến pháp chính là ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Do tính chất tối cao của Hiến pháp những bảo đảm trong Hiến pháp luôn được coi là những bảo đảm có hiệu lực cao nhất. Vì vậy, quan điểm trên sau đó đã được phản ánh trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946, và tái khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp tiếp theo năm 1959, 1980, 1992 và 2013.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.2 Quyền tự do lập hội là quyền hiến định

Việt Nam đã sớm là thành viên của LHQ, gia nhập Công ước ICCPR và với việc ban hành Hiến pháp 2013, lần đầu tiên khẳng định trong Hiến pháp rằng Việt Nam “tuân thủ Hiến chương LHQ và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” (Điều 12 Hiến pháp 2013) Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Tại Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”

Như vậy, mọi công dân đều có quyền lập hội theo pháp luật. Quy định tại Điều 25 Hiến pháp 2013 là bảo đảm quan trọng nhất về mặt pháp lý cho việc thực hiện quyền lập hội của người dân. Tuy nhiên, khi quy định “Việc thực hiên các quyền này do pháp luật quy định” vô hình chung biến quyền lập hội cũng như những quyền còn lại (quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, biểu tình) trở thành những quyền chỉ tồn tại trên giấy nếu không ban hành luật chuyên ngành điều chỉnh từng lĩnh vực một. Điều này cho thấy mâu thuẫn khi mà Hiến pháp luôn được coi là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất nhưng những quyền hiến định lại được thực hiện theo quy định của những văn bản pháp luật khác có giá trị pháp lý hơn.

Bên cạnh quy định trong Hiến pháp, nhà nước Việt Nam cũng từng ban hành một đạo luật riêng có tên gọi là “Luật quy định quyền lập hội” (theo Sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20/5/1957 của Chủ tịch Hồ Chí Minh), tuy nhiên các quy định của luật này chủ yếu là các quy định mang tính chất nguyên tắc, lại chưa bổ sung, sửa đổi lần nào nên không còn phù hợp với yêu cầu các hội đa dạng đang nảy nở ở Việt Nam.

Hiện nay, văn bản trực tiếp điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của các hội là Nghị định số 45/2010/NĐ-CP Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (thay thế cho Nghị định số 88/2003/NĐ-CP). Nghị định này được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ. Điều 2 Nghị định số: 45/2010/NĐ-CP Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội quy định: “1. Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. 2. Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là hội)”.Rõ ràng theo cả Hiến pháp năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, chủ thể của quyền tự do lập hội chỉ là công dân và hội bắt buộc phải có tư cách pháp nhân.

Ngoài Hiến pháp và các văn bản pháp luật trên, quyền tự do lập hội ở Việt Nam còn được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật sau:

  • Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015
  • Luật Công đoàn năm 2012
  • Thông tư số 03/2013/TT-BNV ngày 16/4/2013 quy định chi tiết thi hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP
  • Thông tư số 03/2014/TT-BNV ngày 19/6/2014 sửa đổi Thông tư số 03/2013/TT-BNV
  • Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
  • Thông tư số 02/2013/TT-BNV ngày 10/4/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 30/2012/NĐ-CP Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.
  • Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2018 quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội
  • Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/1/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ
  • Thông tư số 03/2014/TT-BKHCN ngày 31/3/2014 hướng dẫn điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ, văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức khoa học và công nghệ
  • Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hội có tính chất đặc thù
  • Quyết định số 71/2011/QĐ-TTg ngày 20/12/2011 về bảo đảm, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước đối với các hội có tính chất đặc thù
  • Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 1/3/2012 về đăng ký và quản lý hoạt độn của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
  • Thông tư số 05/2012/TT-BNG ngày 12/11/2012 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/2012/NĐ-CP

Tuy nhiên, các văn bản này chỉ điều chỉnh một số hội đặc thù, chưa thực sự bao quát những chế định về hội và quyền tự do lập hội nói chung. Dù số lượng văn bản không hề nhỏ nhưng chưa quy định rõ ràng, phù hợp, lại có nhiều quy định chồng chéo, gây khó khăn khi áp dụng. Chẳng hạn như quy định về đầu mối quản lý thống nhất các hội; cơ chế đánh giá, giám sát trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch của các hội; chính sách khuyến khích và ưu đãi thuế dành cho các hội hoạt động phi lợi nhuận, vì lợi ích công cộng; cơ chế đối thoại và hợp tác giữa các hội với nhà nước và khu vực tư nhân…

3.3 Chủ thể của quyền tự do lập hội

Theo cách hiểu phổ thông nhất thì công dân là khái niệm dùng để chỉ một người thuộc về một nhà nước nhất định mà người đó mang quốc tịch. Việc quy định chủ thể quyền là công dân Việt Nam thì quyền tự do lập hội của người nước ngoài sinh sống và làm việc hợp pháp ở Việt Nam không được tôn trọng và bảo vệ khi họ có nguyện vọng chính đáng như tham gia các tổ chức tình nguyện được thành lập tại Việt Nam hay những hội, nhóm được thành lập với mục đích chính đáng của người nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, quan điểm chủ thể của quyền tự do lập hội chỉ là công dân hẹp hơn quan niệm chung của luật nhân quyền quốc tế, Hiến pháp của đa số nước trên thế giới và xu thế trên thế giới. Ví dụ, tại Đức, mặc dù Hiến pháp không quy định nhưng người nước ngoài có thể thực hiện quyền tự do lập hội của mình trên cơ sở viện dẫn điều khoản về tự do lập hội của mọi cá nhân trong luật nhân quyền quốc tế. Tuy nhiên, nhận thấy vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nước ngoài đối với nền kinh tế, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính với các công ty trong nước nên trong Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 của Bộ chính trị cho phép “thí điểm việc kết nạp hội viên chính thức của hiệp hội đối với doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài hoạt động tại Việt Nam”

3.4 Tư cách pháp nhân của hội Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Về vấn đề tư cách pháp nhân của hội cần được nhìn nhận dưới góc độ luật dân sự. Bản chất của quy chế pháp nhân của một chủ thể pháp luật thể hiện ở tính chất độc lập về tài sản và độc lập về tư cách pháp lý khi tham gia các giao dịch dân sự. Theo đó, quan trọng nhất là, “pháp nhân có một khối tài sản riêng, độc lập với các khối tài sản của các thành viên tạo ra nó” [29]. Như vậy, hội không khai báo sẽ không có tư cách pháp nhân, mất đi tư cách một chủ thể độc lập của quan hệ pháp luật.

Khác với quan niệm chung của thế giới mà trong đó hội có thể tồn tại dưới nhiều dạng, có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, theo pháp luật Việt Nam, một nhóm gồm các cá nhân hoặc tổ chức tự nguyện chỉ có thể được pháp luật cho phép hoạt động khi có tư cách pháp nhân. Quy định có này có thể làm cản trở quyền lập hội của các cá nhân, khi chưa được công nhận hoặc không đủ điều kiện để được công nhận có tư cách pháp nhân. Ở một phương diện khác, khi mà thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, quyền tự do lập hội vẫn được công dân sử dụng mà không cần tới tư cách pháp nhân. Các hội đồng hương, hội cựu học sinh, hội khuyến học…là những tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của một số cá nhân. Những tổ chức này hoạt động bình thường mà không cần tới tư cách pháp nhân bởi thành viên của các hội này cũng không cảm thấy cần phải có tư cách pháp nhân của hội để thực hiện các giao dịch dân sự. Do đó, quan niệm về hội hoạt động phải có tư cách pháp nhân cần được xem xét lại.

3.5 Hình thức của hội

Tiếp cận theo tiêu chí phi lợi nhuận, có thể xác định 7 hình thức tổ chức hội ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: Hội; Hội có tính chất đặc thù; Quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Cơ sở bảo trợ xã hội; Tổ chức Khoa học và Công nghệ; Tổ chức chính trị – xã hội; Tổ chức phi chính phủ quốc tế [30].

Còn theo Irene Norlund dựa vào cách phân loại của các cơ quan Nhà nước, các hội hiện nay ở Việt Nam được xếp vào 4 nhóm lớn: Các tổ chức quần chúng, Các hội nghề nghiệp và các các tổ chức bảo trợ, Các NGO Việt Nam, Các tổ chức tại cộng đồng [31].

3.6 Giới hạn của quyền tự do lập hội

Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, tại Hiến pháp 2013, lần đầu tiên vấn đề hạn chế quyền được hiến định thành nguyên tắc, những quy định này được đánh giá là một điểm sáng của Hiến pháp 2013. Cụ thể tại Khoản 2 Điều 14 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây là nguyên tắc đã được nêu trong luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của một số quốc gia. Hạn chế việc thực hiện quyền rất quan trọng bởi nó đảm bảo sự cân bằng giữa các lợi ích trong mối quan hệ giữa nhà nước – con người, công dân, cá nhân. Về cơ bản, quy định tại Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 tương thích với quy định của pháp luật quốc tế và các bản Hiến pháp tiến bộ trên thế giới về nguyên tắc hạn chế quyền, bảo đảm việc hạn chế quyền chỉ được đặt ra khi có lý do khách quan, hợp pháp và hợp lý. Như vậy, nguyên tắc hạn chế quyền góp phần bổ sung cho hệ thống cơ chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Tuy nhiên, mặc dù Hiến pháp quy định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng quyền tự do lập hội có thể bị hạn chế nhưng cách hiểu thế nào là “cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” thì các lý do này lạ khá mơ hồ và phải đặt trong những bối cảnh cụ thể để cân nhắc chính xác yếu tố nào có thể bị vi phạm nên tại Việt Nam lý do này đang bị các cơ quan nhà nước lạm dụng để thuận tiện cho việc quản lý của mình chứ không nhìn nhận dưới góc độ bảo đảm quyền. Việc nhìn nhận quyền tự do lập hội như một nguy cơ đối với trật tự công cộng, thậm chí an ninh quốc gia để từ đó đặt ra trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước vừa mang tính bất khả thi đối với khả năng của nhà nước, vừa khiến cho những xu hướng xã hội bị kìm nén dẫn đến nảy sinh và tích tụ những mâu thuẫn không đáng có. Rõ ràng, tính “cần thiết” tạo ra khoảng không lớn cho các cơ quan chức năng khi tiến hành hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình nên có thể hạn chế quyền tự do lập hội của người dân. Điều này là đi ngược lại quan điểm chung của pháp luật quốc tế khi mà bất kỳ sự hạn chế nào đối với quyền tự do lập hội cũng không được làm suy yếu bản chất tự do của quyền.

Dù đã quan tâm tới vấn đề giới hạn quyền nói chung và quyền tự do lập hội nói riêng nhưng nguyên tắc hạn chế quyền trong Hiến pháp 2013 còn thiếu vắng một số yếu tố khá quan trọng so với các nguyên tắc giới hạn quyền lập hội trong pháp luật nhân quyền quốc tế:

  • Chưa quy định hạn chế quyền khi “cần thiết trong một xã hội dân chủ”như Khoản 2 Điều 22 ICCPR mà chỉ dừng lại ở “trong trường hợp cần thiết”. “Cần thiết trong một xã hội dân chủ” là đòi hỏi cao hơn, rõ ràng hơn so với “trong trường hợp cần thiết”, bởi chỉ có thể hạn chế quyền khi đó là một đòi hỏi xã hội cần thiết và đảm bảo sự cân xứng giữa hạn chế và mục đích của nó.
  • Chưa quy định việc hạn chế quyền không được làm mất đi bản chất của quyền con người, quyền công dân (theo như quy định của pháp luật quốc tế). Thiếu nội dung này có thể dẫn đến hạn chế quá mức quyền con người, quyền công dân.
  • Chưa quy định về tạm đình chỉ quyền con người, quyền công dân trong trường hợp tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Từ đó, chưa tạo ra các ngoại lệ cho việc tạm đình chỉ thực hiện quyền.
  • Chưa quy định rõ hạn chế quyền cần đồng thời đáp ứng toàn bộ hay chỉ cần một trong số lý do hạn chế.

Bên cạnh đó, Khoản 4 Điều 15 Hiến pháp 2013 quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thắc mắc liên quan tới lợi ích quốc gia và dân tộc nên được hiểu như thế nào cho chính xác? Việc sử dụng dấu phẩy giữa hai từ này cho thấy nhà làm luật hiểu lợi ích quốc gia không bao hàm lợi ích dân tộc. Tuy nhiên, “dân tộc” ở đây hiểu như thế nào? Liệu có hàm ý dân tộc thiểu số hay không? [32] thì hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn. Do đó, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền con người nói chung và quyền tự do lập hội nói riêng của chủ thể quyền.

3.7. Nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do lập hội Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Hiến pháp cũng quy định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người nói chung và quyền lập hội nói riêng. Nếu Hiến pháp 1992 mới đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng quyền con người ở Điều 50 thì khắc phục những hạn chế đó, Hiến pháp 2013 ghi nhận cả ba nghĩa vụ của Nhà nước theo tinh thần chung của luật nhân quyền quốc tế về nghĩa vụ của quốc gia. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

3.7.1. Nghĩa vụ tôn trọng

Hàm ý của “tự do lập hội” có nghĩa là nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của hội và đảm bảo quyền riêng tư của hội. Nhưng quyền tự do lập hội ở Việt Nam mới được nhìn ở góc độ quản lý hơn là nhận thức về quyền con người. Do đó, nhà nước quản lý hội ngay từ khi hội được thành lập, điều lệ hội phải được phê duyệt. Đối với hoạt động nội bộ của hội, theo quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, các hoạt động nội bộ của hội như tổ chức đại hội nhiệm kỳ/đại hội bất thường, đổi tên hội; hợp nhất, sáp nhâp, chia tách hội; giải thể hội; thành lập văn phòng đại diện đều phải xin phép từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Công tác thanh tra, kiểm tra tiến hành thường xuyên để đưa các hội hoạt động vào nề nếp đúng hướng theo quy định pháp luật. Hằng năm, các hội đều thực hiện báo cáo về tổ chức và hoạt động của hội để cơ quan nhà nước thu thập thông tin về hoạt động của hội. Hoạt động của hội luôn đứng trước nguy cơ bị cơ quan nhà nước yêu cầu giải tán với các lý do mất trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng. Điều này vô hình chung khiến nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động của hội.

Thực tiễn ở Việt Nam còn có một số hội được thành lập do sự chỉ đạo có tính chất áp đặt của hội cấp trên, không thực sự xuất phát từ nhu cầu, ý nguyện của của nhân dân, hoạt động còn hình thức, chỉ có ban chấp hành, không tập hợp, thu hút được quần chúng, hội viên. Có hội ở cấp Trung ương yêu cầu các tỉnh thành phố lập hội theo hệ thống dọc từ Trung ương đến cấp cơ sở hoặc tự xem là cơ quan lãnh đạo cấp trên chỉ đạo hoạt động của các hội cấp dưới, trái với tinh thần “Hội không nhất thiết phải tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở” của Chỉ thị số 42-CT/TW và Nghị định cố 45/2010/NĐ-CP, đồng thời đi ngược với tinh thần chung của thế giới khi nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do lập hội của người dân.

3.7.2. Nghĩa vụ bảo vệ Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Đây là một nghĩa vụ chủ động, bởi để ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba. nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm. Để tất cả mọi người tự nguyện tham gia các hội, không lo sợ bất kỳ điều gì khi thực hiện quyền tự do lập hội của mình, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật để xử lý những hành vi cản trở thành lập và hoạt động của hội.

Việt Nam tôn trọng và thực hiện theo các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, theo đó Việt Nam cũng cần ưu tiên áp dụng các điều ước Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia trong trường hợp pháp luật quốc gia xung đột với pháp luật quốc tế. Như vậy, quyền tự do lập hội có thể bảo đảm bằng cách áp dụng trực tiếp các quy định của điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã tham gia. Tuy nhiên, việc áp dụng trực tiếp các quy định này đòi hỏi kiến thức pháp luật phải chắc chắn, đặc biệt là về luật điều ước quốc tế của cả cơ quan nhà nước lẫn các hội. Ngoài ra, trong bối cảnh chính trị – xã hội ở Việt Nam, khi mà vẫn còn quan điểm bảo thủ về một số vấn đề nhân quyền như tự do lập hội, khả năng áp dụng cơ chế này là rất thấp. Trên thực tế chưa có vụ việc nào được áp dụng theo phương thức này.

Trong trường hợp quyền tự do lập hội bị hạn chế, tước bỏ một cách tùy tiện, công dân Việt Nam cũng không thể áp dụng các cơ chế bảo vệ quyền con người của LHQ, bởi Việt Nam chưa tham gia Nghị định thư bổ sung thứ nhất của ICCPR cho phép người dân tại các nước thành viên nộp đơn tố cáo vi phạm quyền đến Ủy ban công ước. Việc khiếu nại theo cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN cũng không khả thi khi mà Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR) chỉ là một cơ quan tư vấn chứ không có thẩm quyền nhận các khiếu nại của các cá nhân là nạn nhân của vi phạm nhân quyền trong khu vực. Theo quy định hiện hành, công dân Việt Nam có thể bảo vệ quyền tự do lập hội thông qua cơ chế khiếu nại theo thủ tục hành chính. Tuy nhiên, một số vụ việc khiếu nại về quyền lập hội của người dân chưa được cơ quan hành chính giải quyết thấy đáo, cũng chưa có một vụ việc liên quan đến quyền này được Tòa án thụ lý. Như vậy, nghĩa vụ bảo vệ của Nhà nước chưa được thực hiện trọn vẹn.

3.7.3. Nghĩa vụ thực thi

Đây cũng được coi là nghĩa vụ chủ động, bởi nó yêu cầu các nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân có thể hưởng thụ đến mức cao nhất có thể quyền của mình. Nhà nước Việt Nam đã thúc đẩy quyền tự do lập hội thông qua việc tiến hành các biện pháp tích cực để thiết lập và duy trì môi trường thuận lợi cho các hoạt động của các hội. Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Các bộ, ngành đã quan tâm, tạo điều kiện cho hội ra đời và hoạt động đúng hướng, giao cho hội thực hiện công tác tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, cung ứng dịch vụ công. Một số Bộ, ngành đã tích cự hỗ trợ hội hoạt động, tạo điều kiện thông tin cho hội về chiến lược phát triển ngành tạo điều kiện để tham gia; mạnh dạn giao đề tài nghiên cứu khoa học cho hội như Bộ Khoa học và Công nghệ hằng năm giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nhiều đề tài, tổng trị giá trên 20 tỷ đồng/năm [33].

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong quản lý đối với hội như: thủ tục thành lập hội còn khá phức tạp, một số tiêu chí xét duyệt đơn đăng ký của các hội quá chặt chẽ quá mức cần thiết làm mất nhiều thời gian. Các tiêu chí chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn đăng ký còn thiếu minh bạch, tạo cho các cấp có thẩm quyền phê duyệt có khả Cơ chế quản lý kép đối với hội là quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ (đối với các hội có phạm vi hoạt động toàn quốc) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với các hội có phạm vi hoạt động cấp tỉnh) và một hoặc thậm chí hai hay nhiều Bộ, ngành chủ quản chưa được cụ thể hóa, do đó trong nhiều trường hợp thiếu đầu mối thống nhất quản lý, gây khó khăn cho hoạt động của hội

Về cấp kinh phí cho hội hoạt động, nhiều cơ quan địa phương chưa thực hiện đúng quy định nhà nước dẫn đến tình trạng phân biệt, không công bằng giữa các hội

Việt Nam cũng chưa có cơ quan nhân quyền quốc gia thực hiện chức năng tư vấn, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, đề xuất biện pháp thúc đẩy quyền con người.

Quyền tự do lập hội là một quyền hiến định, được ghi nhận và bảo vệ bởi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có cơ quan bảo hiến nên quyền con người nói chung và lập hội nói riêng chưa được bảo đảm theo quy định của Hiến pháp và cũng không thể đưa ra các phán quyết về những văn bản pháp luật và quyết định vi hiến có thể có của các cơ quan nhà nước liên quan đến quyền tự do lập hội.

3.8. Thực tiễn thực thi quyền tự do lập hội ở Việt Nam

3.8.1. Trong lao động Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Nhiều nước trên thế giới đã có đạo luật riêng quy định công đoàn với tư cách là một dạng hội. Chẳng hạn Luật Công đoàn 1949 của Nhật Bản quy định về trình tự, thủ tục đăng ký cũng như các vấn đề khác liên quan đến công đoàn và công nhân sẽ do Ủy ban về quan hệ lao động (Labor Relation Commission) quản lý như một dạng hội. Việt Nam cũng vậy, cũng coi công đoàn là một dạng hội vì nó mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một hội theo khái niệm chung.

Tuy nhiên, theo Hiến pháp 2013 và Luật công đoàn năm 2012 thì công đoàn ở Việt Nam có một số điểm đặc thù:

  • Công đoàn là một tổ chức chính trị – xã hội, với vai trò và ý nghĩa chính trị được đề cao trong bối cảnh nhà nước Việt Nam được xây dựng theo mô hình xã hội chủ nghĩa, trong đó vị trí, vai trò của giai cấp công nhân được đặc biệt chú trọng
  • Công đoàn là tổ chức của người lao động nhưng thẩm quyền của nó được nhà nước quy định thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
  • Một bộ phận trong bộ máy điều hành công đoàn là cán bộ, công chức, viên chức của nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cán bộ, công chức, viên chức
  • Tài chính công đoàn được hỗ trợ một phần từ ngân sách Nhà nước
  • Sự thành lập công đoàn được pháp luật dẫn chiếu sang Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Theo đó, sự thành lập của công đoàn các cấp do công đoàn cấp trên quyết định và chỉ đạo

Chính vì những đặc thù này mà mặc dù Điểm c Khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động năm 2012 thừa nhận người lao động có quyền “Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật” nhưng quyền thành lập, gia nhập công đoàn và hoạt động của công đoàn tại Việt Nam vẫn bị hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, pháp luật ở Việt Nam hiện nay quy định công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động, vì thế quyền thành lập và hoạt động của tổ chức đại diện của người lao động cũng chính là quyền thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn. Như vậy, nói đến tổ chức đại diện cho người lao động là nói đến một chủ thể duy nhất là công đoàn. Điều này hoàn toàn không đúng với bản chất của chủ thể đại diện của người lao động trong tuyên bố chung của Công ước số 87, 98 của Tổ chức lao động quốc tế, cụ thể là Điều 2 Công ước CO87 “Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó”. Trong đó theo Điều 10 CO87 “tổ chức” được hiểu là “là mọi tổ chức nào của người lao động hoặc của người sử dụng lao động có mục đích xúc tiến và bảo vệ những lợi ích của người lao động hoặc của người sử dụng lao động”.

Thứ hai, Luật công đoàn năm 2012 quy định công đoàn cơ sở là một cấp công đoàn, chứ không phải là một công đoàn độc lập nên việc thành lập hoặc công nhận công đoàn cơ sở là thuộc trách nhiệm của công đoàn cấp trên cơ sở. Cụ thể, một công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp được thành lập khi có sự tự nguyện gia nhập công đoàn của một số lượng tối thiểu người lao động và được công đoàn cấp trên ra quyết định thành lập hoặc công nhận. Như vậy, theo quy định quyền thành lập công đoàn cơ sở chỉ thuộc về công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở. Điều này là đi ngược với quan niệm cơ bản về quyền công đoàn (trade union/ labour union rights) là quyền của công nhân được tham gia và thiết lập những tổ chức do họ tự mình chọn lựa, mà không cần cấp phép trước [34] Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Thứ ba, quyền gia nhập công đoàn và việc thành lập công đoàn cơ sở phụ thuộc rất nhiều vào sự thiện chí và ủng hộ của người sử dụng lao động. Thủ tục và hồ sơ thành lập công đoàn cơ sở phải có chữ ký của người sử dụng lao động dẫn đến tình huống là nếu người sử dụng lao động không thiện chí và không ký vào các văn bản đề nghị thành lập công đoàn thì việc thành lập công đoàn cơ sở là điều rất khó khăn. “Người lao động chỉ có quyền gia nhập công đoàn và việc thành lập một công đoàn cơ sở (mà thực chất là thành lập ra một cấp công đoàn, chứ không phải thành lập ra một công đoàn) chủ yếu được thực hiện theo cách: Công đoàn cấp trên đến doanh nghiệp thảo luận và đề nghị người sử dụng lao động tạo điều kiện để thành lập một công đoàn cơ sở. Nếu được người lao động đồng ý tạo điều kiện, công đoàn cấp trên sẽ có buổi tiếp xúc với người lao động để tuyên truyền về việc thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp. Sau đó công đoàn cấp trên ra quyết định kết nạp đoàn viên là những người lao động tự nguyện gia nhập công đoàn; quyết định thành lập công đoàn cơ sở và chỉ định Ban chấp hành công đoàn lâm thời trên cơ sở sự chuẩn bị và giới thiệu của người sử dụng lao động. Đây là quy trình thành lập công đoàn cơ sở phổ biến nhất. Trên thực tế, việc thành lập công đoàn cơ sở có thể phải trải qua nhiều công việc hơn khi người sử dụng lao động không thiện chí hoặc cố tình gây cản trở, khó khăn cho việc thành lập công đoàn cơ sở” [35]. Trong nhiều trường hợp, người lao động muốn thành lập công đoàn cơ sở, song nếu không được người sử dụng lao động đồng ý và tiến hành các thủ tục đề nghị bằng cách ký vào các văn bản gửi công đoàn cấp trên, và/hoặc không có sự vào cuộc của công đoàn cấp trên thì công đoàn cơ sở không thể được thành lập, và do đó, quyền thành lập công đoàn của người lao động không thể thực hiện được [36]

Như vậy, từ thực tiễn và các quy định của pháp luật, có thể thấy việc gia nhập công đoàn và thành lập công đoàn cơ sở của người lao động cần có 3 điều kiện: có sự tự nguyện gia nhập công đoàn của một số lượng tối tiểu người lao động; được sự đồng ý, tạo điều kiện và phối hợp của người sử dụng lao động; được công đoàn cấp trên ra quyết định thành lập.

Thứ tư, danh sách ban chấp hành công đoàn lâm thời do người sử dụng lao động chuẩn bị có nguy cơ sẽ là những người không thực sự đại diện cho người lao động mà nghiêm trọng hơn là những người hoạt động để bảo vệ lợi ích của người sử dụng lao động. Mặt khác, Điều 23 Luật công đoàn năm 2012 đã có quy định về bảo đảm về tổ chức, cán bộ: “1. Công đoàn các cấp được bảo đảm về tổ chức và số lượng cán bộ, công chức để thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật; 2. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và chức danh cán bộ công đoàn trình cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền; 3. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng công đoàn cơ sở và số lượng lao động trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ công đoàn quyết định bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách”. Như vậy, một bộ phận trong bộ máy điều hành công đoàn là cán bộ, công chức, viên chức của nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cán bộ, công chức, viên chức. Việc quy định như vậy là trái với tinh thần tại Điều 3 Công ước CO87: “1. Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của mình. 2. Các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó, hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó”. Do đó, trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, vai trò của công đoàn mờ nhạt, đặc biệt khi tranh chấp lao động dẫn đến hiện tượng đình công. Hầu hết các công đoàn cơ sở khu vực tư nhân được thành lập với sự tạo điều kiện của người sử dụng lao động hiện nay cũng đang rất khó hoạt động, hoạt động mang tính hình thức, rất nhiều công đoàn cơ sở trong số đó thực sự yếu kém. Theo báo cáo số 04/BC-TLĐ ngày 7/1/2010 của Ban chỉ đạo chương trình phát triển đoàn viên Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, trong khu vực doanh nhân Việt Nam chỉ có 46,98% công đoàn cơ sở được phân loại vững mạnh trở lên.

3.8.2. Trong hình sự, tố tụng hình sự Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Ở Việt Nam vẫn còn những suy nghĩ thành lập hội một cách tự do và tự nguyện không khác nào việc các cá nhân muốn liên kết và tập hợp lực lượng để tạo sức mạnh chính trị riêng, nhằm đi chệch hướng lãnh đạo của nhà nước, hay gây sức ép, thách thức quyền lực với chính quyền nhân dân. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng có nhiều quy định gây ra tâm lý e ngại cho người dân khi thực hiện quyền tự do lập hội như:

“Điều 109. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

  1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;
  2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;
  3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 115. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội

  1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
  2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
  3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

3.8.3. Trong văn hóa

Tại Việt Nam hiện nay, xuất phát từ một số đặc điểm của văn hóa, xã hội, cũng như sự lo ngại về mất kiểm soát nên quan tâm duy trì an ninh, trật tự và sự ổn định dường như đang tiếp tục được ưu tiên hơn là các quyền tự do cá nhân.

Các cơ quan nhà nước thường viện dẫn Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định về một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng để điều chỉnh, về “tập trung đông người ở nơi công cộng”. Cụ thể, việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Tuy nhiên, Nghị định này dường như có sự phân biệt đối xử khi không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.

Cạnh đó, nhiều hình thức hoạt động của hội cũng vẫn đang gặp những khó khăn, vướng mắc bởi cơ chế xin – cho. Rõ nét nhất là liên quan đến việc tổ chức các hội nghị, hội thảo có yếu tố nước ngoài, hiện nay tiếp tục có nhiều khó khăn về thủ tục. Lĩnh vực này hiện được điều chỉnh bởi Quyết định số 76/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/ 2010 của Thủ tướng về việc tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Điểm b, Khoản 1, Điều 3 Quyết định này  quy định “Hội nghị, hội thảo quốc tế có nội dung liên quan đến các vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, biên giới lãnh thổ hoặc thuộc phạm vi bí mật nhà nước”. Như vậy, các cuộc hội nghị, hội thảo phải được Thủ tướng phê duyệt có phạm vi rất rộng. Điều đó cũng có nghĩa là nhiều hội nghị, hội thảo – một hình thức quan trọng của hoạt động hội – đang phải trải qua nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian mới có thể tổ chức. Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Quyền tự do lập hội không chỉ bao gồm quyền tổ chức và tham gia các hội mà còn cả quyền được bảo vệ khỏi những can thiệp phi lý, bảo đảm quyền có các biện pháp khắc phục, chế tài hiệu quả đối với các vi phạm quyền tự do lập hội. Bên cạnh các nghĩa vụ “tôn trọng“ và “bảo vệ“ của nhà nước, việc hưởng thụ quyền tự do lập hội đòi hỏi cả nghĩa vụ “thực thi” của các cơ quan, cán bộ nhà nước trong việc tích cực tạo điều kiện cho việc thực hành quyền này. Tuy nhiên, vì những ảnh hưởng của văn hóa mà cụ thể là văn hóa xin phép trước khi thực hiện quyền tự do lập hội đang cản trở công dân thực hiện quyền này.

3.9. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do lập hội ở Việt Nam

Thứ nhất, duy trì khuôn khổ pháp lý cứng nhắc, thiên về tạo điều kiện quản lý hội cho cơ quan quản lý nhà nước. Nhìn chung các quy định hiện hành về quyền tự do lập hội được các nhà làm luật tiếp cận theo hướng luật để quản lý hội, với nhiều quy định và nhiều cơ quan quản lý tạo thuận lợi cho cơ quan hành chính. Vẫn còn tư tưởng lo sợ sự phát triển của hội dẫn đến sự thay đổi chế độ, nên chưa nhìn nhận đúng đắn đây là quyền tự do của con người và trách nhiệm của nhà nước là phải tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do đó. Cụ thể:

  • Về điều kiện thành lập hội: được quy định tại Điều 5 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP với 4 điều kiện.
  • Về trình tự, thủ tục thành lập hội (theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP):
  • Thủ tục công nhận ban vận động thành lập hội: Khoản 1 Điều 6
  • Thủ tục thành lập hội: Điều 14
  • Thủ tục phê duyệt điều lệ hội: Điều 13 Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

Tuy nhiên các thủ tục này rất phức tạp, nặng về thủ tục hành chính, các tiêu chí đòi hỏi cao. Các hội lại ở địa vị thấp hơn cơ quan nhà nước, điều này dễ tạo điều kiện cho sự quan liêu, hạch sách, gây cản trở cho việc thực hiện quyền lập hội của người dân. Hoặc phải chờ rất lâu để được cấp phép đồng ý thành lập. Hoạt động hội vì thế gặp khó khăn, giảm hiệu quả và hạn chế những đóng góp của hội vào công cuộc phát triển xã hội. Đây là lý do không chỉ các tổ chức xã hội trong nước mà còn nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra khuyến nghị với nhà nước về sự cần thiết cải thiện khuôn khổ pháp lý về quyền tự do lập hội.[1]

Thứ hai, hệ thống các văn bản chủ yếu là của Chính phủ, chưa thể hiện rõ và đầy đủ quyền của công dân được Hiến pháp năm 2013 quy định. Nhiều văn bản quy định nhưng chưa đáp ứng nhu cầu lập hội đa dạng của người dân. Ví dụ, pháp luật Việt Nam chưa có quy định đối với các hội không đăng ký nên các quy định liên quan đến hoạt động của các hội này cũng vắng bóng trong các văn bản pháp luật hiện hành. Sự vô thừa nhận đối với các hội không đăng ký có thể dẫn đến hậu quả các hội này không được bảo vệ, trở thành đối tượng bị vi phạm quyền bởi các cơ quan nhà nước. Thực tiễn hoạt động hội ở Việt Nam chỉ ra rằng, nhiều hội nhóm ở Việt Nam gặp khó khăn trong việc thành lập, không thể thành lập dẫn đến không được pháp luật Việt Nam thừa nhận, hoạt động hội vì thế cũng bị cản trở hoặc các hội viên trở thành đối tượng của luật hình sự.

Thứ ba, đối với hoạt động liên quan đến tài chính của hội có những quy định rất khắt khe và đặt ra thủ tục hành chính rất phức tạp, thể hiện qua các điều khoản về chuẩn bị hồ sơ dự án nhận viện trợ, chuẩn bị vốn đối ứng, các quy định về thẩm định phí dự án với sự tham gia của các cơ quan nhà nước khác nhau, các nguyên tắc và quy định thực hiện và giám sát thực hiện viện trợ phi chính phủ nước ngoài, các quy định về quản lý nhà nước đối với viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Thực tế cho thấy việc xin tài trợ từ các tổ chức và cá nhân nước ngoài đã khó nhưng thủ tục nhận tiền từ nhà nước còn khó hơn.

Thứ tư, nhận thức về vai trò của hội trong phát triển còn hạn chế, nhiều khi còn e dè do nhạy cảm. Nhận thức về vai trò của hội trong điều kiện mới chưa chuyển kịp với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và xu thế thời đại.

Thứ năm, các cơ chế chính sách chưa đủ để động viên, huy động người dân tham gia thành lập hội mới hay gia nhập các hội có sẵn. Sự thiếu minh bạch trong cách thức làm việc của cơ quan nhà nước khó tạo lòng tin đến các hội viên, các nhà tài trơ và đối tác của hội, từ đó gây khó khăn cho cho hoạt động huy động nguồn lực phục vụ cho hoạt động của hội cũng như hội khó lòng nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng của hội đến công chúng. Như vậy, sự thiếu minh bạch tác động tiêu cực đến hoạt động của hội Khóa luận: Pháp luật quyền tự do lập hội trong Hiến pháp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do lập hội

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x