Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, lịch sử hình thành, phát triển và giá trị văn hóa nghệ thuật dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:
Trên đất nước Việt Nam không chỉ có người Gia Lai, Bana, Xê đăng, Giẻ Triêng, M’nông, Êđê,… sống trên mảnh đất Tây Nguyên là sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa mà còn rất nhiều dân tộc khác trên đất nước Việt Nam cũng sử dụng cồng chiêng trong sinh hoạt văn hóa của mình. Song, có thể khẳng định, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là phong phú và rực rỡ nhất. Ngay cả khi so sánh với các cộng đồng dân cư trong khu vực Đông Nam Á, thậm chí mở rộng trên thế giới cũng thấy rõ điều này. Tuy các vùng phân bố cồng chiêng lan rộng cả vùng Đông Nam Á, nhưng sự hình thành nhu cầu của nền văn hóa bản địa ở Tây Nguyên đã quy tụ cồng chiêng và trở thành một đặc điểm điển hình. Chính cái đặc điểm điển hình ấy là nguồn ánh sáng ảnh hưởng rất quan trọng để cồng chiêng du nhập đến Tây Nguyên rồi tồn tại định hình đến ngày nay và trở thành một nền âm nhạc bản địa chính thống. Nền văn hóa cồng chiêng đã được sinh ra trước những trào lưu văn hóa ngoại lai lúc bấy giờ. Vì cuộc sống các dân tộc ở đây có nhu cầu nên các dân tộc khác đi tìm thị trường và sản xuất cồng chiêng để cung cấp cho họ. Chính do nội lực của nhu cầu hưởng thụ văn hóa và bản lĩnh dân tộc nên họ đã giữ vững cho mình một loại hình âm nhạc đứng vững và tồn tại suốt thời gian lịch sử, cho dù các trào lưu văn hóa phương Bắc và phương Tây luôn tìm đủ mọi cách để xâm nhập.
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có tài liệu nào chỉ ra chính xác cồng chiêng Tây Nguyên xuất hiện trong đời sống văn hóa bản địa từ khi nào. Chỉ biết trong các trường ca, trong các câu chuyện cổ tích của các dân tộc Tây Nguyên đã xuất hiện cồng chiêng. Nhiều học giả trong và ngoài nước tin rằng nửa đầu thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 là giai đoạn cực thịnh của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Rất nhiều các nhà nghiên cứu cũng đã đi tìm nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên. Trong các di chỉ của người cổ Tây Nguyên đã tìm thấy bằng chứng xác thực về các lò đồng, lò sắt. Tuy nhiên chưa có bằng chứng cho thấy người bản địa Tây Nguyên đúc ra các bộ cồng chiêng. Trước kia có học giả người phương Tây đưa ra giả thuyết rằng cồng chiêng của đồng bào Tây Nguyên có nguồn gốc từ những nước thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo Polinedi Đông Nam Á. Giả thuyết này dựa trên cơ sở một giả thuyết khác cho rằng, nhiều tộc người ở Tây Nguyên có chung nguồn gốc với nhóm ngôn ngữ Malay Polinedi đã vượt biển Đông, mang theo chiêng cồng đến cao nguyên miền Trung cư ngụ. Nhưng đến bây giờ, người ta tạm bằng lòng với kết luận chiêng cồng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên có nguồn gốc từ khu vực người Kinh và từ Lào. Trong quá trình đi điền dã của các nhà nghiên cứu, có thể thấy các dân tộc thường gọi với một số cái tên như: Ching Lào, Ching Joăn, Ching Kur. Qua một số tên gọi như vậy chúng ta có thể biết rằng cồng chiêng không phải do đồng bào Tây Nguyên đúc lên mà được du nhập từ nhiều nơi khác đến. Bởi lẽ, ở Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc đang ở nền văn minh “lúa khô nương rẫy cao nguyên”. Họ chưa có kỹ nghệ tự đúc được cồng chiêng. Một số nhà nghiên cứu đưa ra một số giả thuyết về nguồn gốc của cồng chiêng:
- Ching Lào: đã được đưa từ Lào sang. Có người cho rằng Ching Lào được đúc từ Mayanmar, qua con đường trao đổi buôn bán đã đến Tây Nguyên. Đây là loại chiêng rất quý, được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to, vang xa.
- Ching Joăn: do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề còn nhiều bàn cãi, tranh luận khá sôi nổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng mà không sử dụng? Có lẽ thời bấy giờ người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng và sản xuất rồi đem lên Tây Nguyên buôn bán, trao đổi. Theo các nghệ nhân thì hiện nay loại Ching Joăn ở Tây Nguyên không còn nhiều. Vì qua sử dụng, âm thanh không vang nên đồng bào đã loại dần.
- Ching Kúr: loại này đã được đưa từ Thái lan, Campuchia sang.
Theo thống kê bước đầu ở các địa phương, trong các dân tộc bản địa ở Gia Lai và Kon Tum, tộc người Bana còn giữ được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác dọc Trường Sơn.
Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô Vũ đã phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá – trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo “quy trình tiến hóa” cồng đá, chiêng đá, rồi mới tới cồng đồng, chiêng đồng…
Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông Nam Á, bởi những yếu tố sau: Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn vốn có lịch sử hơn 4.000 năm. Về lối đánh, “rất nguyên thủy”, người Tây Nguyên vẫn “mỗi người một cái”, chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn như các dân tộc Thái lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là “vật tổ”); hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có đế, vuông hoặc tròn). Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v…, nghĩa là vẫn thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông Nam Á khác, cồng chiêng đã “tiến hóa” đến mức thành phương tiện biểu diễn cung đình, mang chức năng giải trí.
Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm.
Trở lại vấn đề lịch sử. Năm 43 sau Công nguyên, khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, tướng Mã Viện của Nam Hán đã cho tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ có cồng chiêng, được coi là vật thiêng của người Việt) đem đúc trụ chôn ở vùng biên giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt.
Đây là cơ sở giải thích việc thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời sống tinh thần người Việt, song cũng có thể hiểu rằng tổ tiên người Việt đã đem cất giấu ở vùng núi (bắt đầu sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác).
Đồng thời, dựa vào tài liệu khảo cổ về nguồn gốc tộc người và ngữ hệ ở Việt Nam, vốn từ họ Nam Á và Nam Đảo (thậm chí gần đây còn có luận điểm gây bất ngờ rằng trống đồng Việt có nguồn gốc từ Trường Sơn), có thể khẳng định rằng cộng đồng Việt, Tày, các tộc người Tây Nguyên đã từng ở với nhau rất lâu đời, vì vậy sự “giao thoa” văn hóa cồng chiêng là hiển nhiên.
Suốt lịch sử văn hóa của mình, người Tây Nguyên không chế tác mà mua cồng chiêng từ người Kinh vùng Quảng Nam, rồi về “nắn” lại thanh âm theo cách của mình – đó là những hoạt động “giao thương” theo lối hàng đổi hàng có từ hàng nghìn năm nay. Ngay cả “chiêng Lào” mà người Tây Nguyên sở hữu cũng không phải được chế tác từ Lào mà chỉ là hàng hóa trao đổi, mua bán từ nơi khác về Tây Nguyên. Từ đó dẫn đến quan điểm nhất quán rằng cồng chiêng Tây Nguyên cũng chính là cồng chiêng Việt.
Và có một điều chắc chắn rằng, dù xuất xứ ở đâu nhưng chính mảnh đất Tây Nguyên đã mang đến cho văn hóa cồng chiêng một sức sống, sức hấp dẫn đến kinh ngạc. Sau khi được đúc, cho dù được pha bạc, pha vàng hay thậm chí có cả đồng đen thì cồng chiêng cũng chỉ là những nhạc cụ thô, vật liệu khởi đầu. Chỉ khi được các nghệ nhân người dân tộc qua công đoạn chỉnh âm và làm lễ rước thần linh vào mỗi chiếc cồng chiêng thì những nhạc cụ đó mới hoàn chỉnh, mới có hồn và trở thành những thành viên trong gia đình, trong cộng đồng buôn làng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Người dân tộc thiểu số ở đây từ lúc sinh ra cho đến khi chết gắn với cồng chiêng đã đành. Ngay cả người Kinh sinh sống nơi đây, người mới tới lần đầu, hay người nước ngoài chỉ mới được một lần đến Tây Nguyên, khi tiếp xúc với tiếng chiêng cồng trong các buôn làng cũng bị chinh phục, mê hoặc. Có lẽ không đâu như ở Tây Nguyên, cồng chiêng có một môi trường không gian thuận lợi để phát triển đến như vậy.
Có thể nói, với người Tây Nguyên, cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao, mang những giá trị về nghệ thuật âm nhạc, phong tục tập quán và còn là biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Trong tất cả các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu cồng chiêng. Cồng chiêng đã thực sự gắn với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên, xuyên suốt cả cuộc đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.
Nói đến nhạc khí có chất liệu hoàn toàn bằng kim loại có lẽ không đâu trên đất nước ta lại có nhiều và đa dạng như ở Tây Nguyên. Tây Nguyên là một vùng văn hóa còn lưu lại một kho tàng nhạc khí được chế tác hoàn toàn bằng kim loại rất đồ sộ. Đó là ching chêng mà người Việt vẫn quen gọi là cồng chiêng. Từ ching tương ứng với từ chiêng, từ chêng tương ứng với từ cồng. Bên cạnh ching chêng còn có Yao Prông, Greng neng (lục lạc, chũm chọe).
Nói đến cồng chiêng (theo cách gọi của người Việt) hoặc ching chêng (theo cách gọi của người Gia Rai, Bana) có nghĩa là chỉ hai loại: có núm và bằng, không có núm. Mỗi loại đều có kích thước khác nhau, mỗi dân tộc lại có tên gọi riêng, kể cả thành phần cơ cấu và biên chế. Đồng bào còn căn cứ vào kích thước to, nhỏ mà đặt tên cho từng chiếc như chiêng bố, chiêng mẹ, chiêng chị, chiêng em (ama, amia, amay…). Có khi đồng bào lại đặt tên theo tầm cỡ âm thanh cao, thấp như: ania, Krah, moong, kanh khoc…Nó cũng tương tự như âm trầm, vừa, cao…Hoặc đồng bào còn căn cứ vào âm sắc của chúng để đặt tên như: Knah hi (ngân nga như hát), knah hlong (ngân xa trong trẻo).
Tây Nguyên, hầu như đến nhà nào, buôn nào cũng có cồng chiêng. Nhà nào ít cũng có một bộ, có nhà hàng chục bộ. Tuy vậy, không phải cồng chiêng nào cũng giống nhau. Mỗi một dân tộc, mỗi một vùng đều có các loại cồng chiêng riêng của dân tộc mình, và đặc biệt là phương pháp, mục đích và phạm vi sử dụng.
Trải qua nhiều thế kỉ vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống kẻ thù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo và định hình những loại nhạc khí phù hợp với cuộc sống ở núi rừng. Cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao. Trong tất cả các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu được tiếng cồng, tiếng chiêng. Cồng chiêng đã thực sự gắn bó với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên, không thể tách rời. Tiếng cồng chiêng xuyên suốt cả đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên.
Từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ đã được thưởng thức âm thanh của cồng chiêng qua lễ “thổi tai”. Khi lớn lên theo tiếng cồng chiêng trong lễ “mừng sức khỏe”, “hội mùa”, “mừng lúa mới”, “lễ bỏ mả”…Những đêm hội tụ ở nhà Rông, tiếng cồng chiêng vang vọng, tràn ngập cả núi rừng. Cả cuộc đời lúc nào cũng đầy ắp tiếng cồng chiêng. Đến khi giã từ cuộc đời thì cồng chiêng vẫn vang vọng tiễn đưa và cho đến khi làm lễ bỏ mả, tiếng cồng chiêng vẫn không thể thiếu được.
Cái cồng, cái chiêng đã ăn ở với con người đời đời, kiếp kiếp. Nó thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm, mừng vui, buồn đau, căm giận,… của con người Tây Nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Có thể nói cuộc đời con người “dài theo tiếng chiêng”, cồng chiêng gắn bó với con người mật thiết, không thể tách rời.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch
2.2. Đặc trưng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:
Loại nhạc cụ cồng chiêng không chỉ là một loại nhạc cụ đơn thuần mà nó còn là linh hồn, là cuộc sống của người Tây Nguyên. Văn hóa cồng chiêng của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên mang trong mình những nét đặc trưng sau:
2.2.1. Nhạc cụ cồng chiêng Tây Nguyên:
2.2.1.1. Giới thiệu về cồng chiêng:
Trong lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại, ông Koichiro Matsuura – Tổng Giám đốc UNESCO đã phát biểu: “Tôi đã được thưởng thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất riêng của Việt Nam và cũng được thấy những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn nhạc cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nét văn hóa truyền thống rất riêng của Việt Nam, rất tuyệt vời và đặc sắc. Việc công nhân Danh hiệu Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đối với Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là rất xứng đáng”.
Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng 2 con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.
Cồng chiêng đã đi vào sử thi Tây Nguyên như để khẳng định tính trường tồn của loại nhạc cụ này: “Hãy đánh những chiêng âm thanh nhất, những chiêng kêu trầm nhất. Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vang xa khắp xứ. Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn lan đi xa. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngã xuống đất. Đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người. Đánh cho chuột sóc quên đào hang, cho rắn nằm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu nai đứng nghe quên ăn cỏ, cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng của Đam San…”. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ đã hàng ngàn đời nay, nghệ thuật cồng chiêng ở đây đã phát triển đến một trình độ cao. Cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng, phong phú.
Dân tộc Tây Nguyên có hai loại nhạc cụ chính là cồng và chiêng. Cồng làm bằng đồng có núm ở giữa, còn nếu phẳng không có núm thì gọi là chiêng. Cồng chiêng làm bằng đồng thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỉ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo nơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có bờ gọi là thành. Cồng luôn luôn có núm ở giữa, chiêng thì có hai loại: chiêng có núm ở giữa gọi là chiêng núm, chiêng không có núm gọi là chiêng bằng. Cồng chiêng có nhiều cỡ to, nhỏ, dày, mỏng khác nhau. Có loại đường kính rộng 90cm phải treo lên giá đỡ, khi đánh lên tiếng ngân rền như sấm; có loại nhỏ đường kính chỉ 15cm, tiếng cao trong trẻo.
Cồng chiêng là nhạc cụ bởi nó đưa ra tiếng nhạc, nhưng không phải chỉ nhằm để giải trí, tiêu khiển mà còn gắn liền với một lễ hội hay một sự kiện quan trọng. Vì vậy cồng chiêng được xem như một vật thiêng, là phương tiện để con người giao lưu với những bậc vô hình, là sợi dây nối kết giữa người trần và các đấng linh thiêng. Do đó âm nhạc ở đây không đơn thuần là nghệ thuật mà có chức năng phục vụ một sự kiện đặc biệt trong xã hội hoặc trong đời sống hàng ngày của dân gian. Hầu như mỗi sinh hoạt trong bộ tộc đều dính liền với nét nhạc. Lúc đứa trẻ mới lọt lòng thì già làng sử dụng cái cồng xưa cổ nhất đến bên giường đánh lên để cho những âm thanh đầu tiên lọt vào tai đứa bé là tiếng của bộ lạc, khẳng định nó là một phần của cộng đồng bộ tộc. Khi đứa trẻ lớn lên thì mỗi giai đoạn của đời sống đều gắn liền theo tiếng cồng chiêng, từ việc đồng áng như gieo mạ, gặt lúa cho đến những buổi gặp gỡ nam nữ, cuộc chia ly hay tang lễ … đều có những bài bản riêng.
Trong khi cồng chiêng các nước khác gần như theo một hệ thống cố định (chẳng hạn như Indonesia gồm 5 loại nhạc khí) thì biên chế của cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng. Dàn cồng chiêng có thể chỉ đơn giản gồm 2 chiếc cồng, cho đến dàn 9,12,15 chiếc cồng và chiêng. Mỗi nhạc công sử dụng một cồng. Trong những lễ hội quan trọng còn có thêm cả trống.
Tóm lại, chưa một nước nào hay vùng nào mà có số lượng cồng chiêng nhiều như ở Tây Nguyên nước ta.
Mỗi dân tộc ở Tây nguyên lại có một cách điều chỉnh âm thanh rất riêng, không những khác nhau về độ cao mà còn khác về màu âm. Chẳng hạn âm nào quá thanh phải chỉnh cho đục một chút để tạo ra nét đẹp tế nhị, giống như họa sĩ không sử dụng màu đỏ hay màu xanh tiêu chuẩn mà thường pha đậm hơn hay lợt đi một chút để tạo phong cách riêng. Kỹ thuật chỉnh âm cồng chiêng rất tinh vi đòi hỏi một kỹ năng cao, bởi chỉ sử dụng chiếc búa gỗ nhỏ mà có thể điều chỉnh âm lên cao hay xuống thấp thật chính xác. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
- Về vị trí của cồng chiêng trong các dàn nhạc:
Dàn cồng chiêng của người Mường từ 5 đến 20 cái do mỗi người cầm một cái. Sự kết hợp giữa trống cái và chiêng cồng là công thức cổ xưa nhất có ở nhiều dân tộc và dàn nhạc chiêng cồng. Ở Tây Nguyên là nơi chiêng cồng phát huy tính âm nhạc cao nhất. Nếu ở các dân tộc Việt, Thái, Tày, Khơ me, cồng chiêng mới được sử dụng như các nhạc cụ nhịp điệu, thì ở dân tộc Mường và các dân tộc ở Tây Nguyên, cồng chiêng được tổ chức thành dàn nhạc, diễn tấu những bài bản đa âm (multiphony), với các hình thức chủ điệu (homophony), đa điệu (heterophony), hòa điệu (harmony) khác nhau. Đây chính là giá trị quí báu của nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng của các dân tộc Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng. Nghệ thuật cồng chiêng rất đa dạng, phong phú không chỉ về mặt tiết tấu mà còn ở giai điệu, hòa âm và nghệ thuật trình diễn, kết hợp với múa dân gian. Cồng chiêng do một nhóm người đồng diễn, một người chỉ sử dụng một cồng hoặc một chiêng. Bộ cồng chiêng này thường diễn tấu độc lập, ít khi có các nhạc khí khác phụ họa, hoặc nếu có chỉ với hai trống da hoặc bộ lục lạc cũng bằng đồng.
- Những nhạc khí tương tự ở Đông Nam Á:
Văn hóa cồng chiêng còn tồn tại chủ yếu ở các nước vùng Đông Nam Á, trong lục địa cũng như ở các hải đảo. Ví dụ như: Ở Thái Lan có bộ Không Wong Yai và Không Wong Lơk; ở Myanmar có dàn Ky Wang; ở Mã Lai có dàn Cha-nang; ở Philippin có dàn Kulintang (dàn cồng gồm 8 chiếc bằng đồng hình ô trầu đậy nắp có núm ở giữa, đặt trên giá hình chữ nhật có băng gỗ, nghệ nhân dùng 2 dùi mà gõ), có một cặp cồng lớn treo đứng Agung. Cặp Agung này gồm có hai cồng Penanggisaan dùng để đánh nhịp chính và Pumalsan để đối với cồng lớn Pe-nanggisaan. Không Wong ở Lào, Không Thom và Không Tuôch ở Campuchia; ở quần đảo Java của Indonesia có: cồng Gong Ageng, chiêng lớn TamTam của HsiYu (giữa Burma và Tibet).
2.2.1.2. Phân loại cồng chiêng:
Cồng chiêng có nhiều cách để phân loại, việc phân loại phải căn cứ vào nhiều yếu tố. Nhưng trước hết, nhìn vào hình thức ta thấy có hai loại: loại có núm và loại không có núm, được du nhập vào Tây Nguyên bằng nhiều con đường. Do chức năng của từng công việc, phong tục tập quán của từng vùng, hoặc nhiệm vụ xã hội mà đồng bào đã tổ chức, biên chế và đặt tên cho từng bộ chiêng theo quy định riêng của từng dân tộc. Ví dụ như: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
- Bộ chiêng Aráp (Gia Rai) dung trong lễ Pơ Thi( lễ bỏ mả).
- Bộ chiêng M’Nhum (Gia Rai) dùng trong các lễ hội và các công việc vui.
- Bộ chiêng J’Rum (Gia Rai) dùng trong lễ xoay cột, đâm trâu.
- Bộ chiêng Vang (Gia Rai) dùng trong lễ M’Pú
- Bộ chiêng So (Bana) dùng trong lễ đâm trâu
- Bộ chiêng Hơđúc (Bana) dùng trong lễ mừng chiến thắng.
Ông Rowmal Del, người dân tộc Gia Rai, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cho biết: người dân tộc Gia Rai sử dụng cồng chiêng rất cầu kỳ, nhất là những loại cồng chiêng đã được đồng bào đặt tên theo từng loại theo một quy định riêng:
- Chiêng Pat maih: núm có vạch ngang, sờ không thấy vết, mặt trong hình thang, thân màu đen, nhẵn giống da cá trê. Âm thanh trầm, vang xa, đường kính 80cm.
- Chiêng Pat chet: núm có vạch ngang, mặt trong hình thang màu hơi đen. Kích thước và âm thanh giống chiêng Pat chet.
- Chiêng Pat ca: núm có vạch ngang, mặt trong có hình thang, màu da mốc giống con ba ba. Kích thước và âm thanh giống Pat chet.
- Chiêng Pat gó: mặt sần sùi, màu đen, âm thanh trầm hơn pat mail.
- Chiêng Pơ sơi (chiêng Lào) có 3 loại sau:
- Chiêng Pơ sơi se: thân màu đen, mặt nhẵn, tiếng trầm, chu vi trên 80cm, rất nặng.
- Chiêng Pơ sơi Hle: mặt ngoài lởm chởm có nhiều dấu búa, da màu đen nhạt, đường kính 80cm, rất nặng.
- Chiêng Pơ sơi Jik: thân sần sùi như da cóc, kích thước và trọng lượng giống Pơ sơi Hle.
- Chiêng Ban: gồm 3 loại;
- Chiêng Ban Prong: núm có vạch ngang, màu hơi đen, thành mỏng, tiếng trầm.
- Chiêng Ban Pat: núm có vạch ngang, màu hơi đen, thành mỏng, tiếng trầm.
- Chiêng Ban Lol: màu đen nhánh, âm thanh cao, tiếng vang xa.
Chiêng Joăn (cồng do người Kinh đúc) gồm 4 loại sau:
- Chiêng Joăn HlatơiL: thân giống như màu lá chuối, rất nhăn, âm thanh cao, trong trẻo, đường kính 60- 80cm.
- Chiêng Joăn Sênh Hong: mặt ngoài có dấu búa li ti, âm thanh và kích thước giống chiêng Joăn Hlatơi.
- Chiêng Joăn Eh Knik: mặt ngoài có hoa văn trông giống với chân chuột.
- Chiêng Joăn Sênh Hni: Mặt ngoài trông giống như sáp ong, âm thanh và kích thước giống 3 loại trên.
Chiêng Kông gồm 5 loại: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
- Chiêng Kông Kne: được đúc bằng đồng đỏ, núm nhỏ cao, chu vi 80cm
- Chiêng Kông Kia: mặt ngoài có dấu búa li ti liền nhau, màu đồng thau, chu
- Chiêng Knah: mặt trong có vết cạo như tia ánh sáng mặt trời, màu đồng thau, chu vi 80cm
- Chiêng Kông Kleo: vành miệng mặt trong lồi lõm, màu hơi đen.
- Chiềng Kông Thoch: núm nhỏ và nhọn, mặt ngoài lồi lõm màu đồng thau, chu vi 80cm.
2.2.2. Nghệ thuật biểu diễn công chiêng Tây Nguyên:
Nói đến cồng chiêng là nói đến âm thanh của chúng. Âm thanh chính là linh hồn của cồng chiêng vậy. Nhưng khi cồng chiêng từ nơi khác đưa đến Tây Nguyên, âm thanh của nó còn mang tính tự nhiên, chưa hợp với tai nghe của đồng bào. Vì vậy việc sửa, chỉnh lại âm thanh để sắp xếp hàng âm theo ý thích của đồng bào là một vấn đề có tính đặc trưng. Muốn làm được việc này họ dùng những chiếc búa nhỏ bằng đồng để điều chỉnh độ dày, mỏng ở các vị trí khác nhau trên mặt chiêng, tìm ra độ cao theo ý muốn. Việc chỉnh âm (tul chiêng) đòi hỏi người chỉnh phải có tai nghe chính xác và thông hiểu thanh âm của dân tộc. Việc tul chiêng như trên không phải ai cũng làm được. Mỗi plei chỉ có một vài người, mà đồng bào thường gọi với cái tên trân trọng là Ông trùm chiêng (Po ania chêng).
Về phương pháp sử dụng cồng chiêng thì mỗi vùng, mỗi dân tộc có những cách đánh khác nhau. Có khi dân tộc này đánh bằng dùi, dân tộc khác lại dùng nắm tay để đấm. Cũng là đánh bằng dùi nhưng có nơi đánh tự nhiên để tiếng chiêng vang xa, có nơi dùng tay bịt lại để tiếng chiêng ngừng, ngắt. Dùi đánh chiêng có hai loại: một loại có bọc giẻ hoặc cao su ở đầu để đánh cồng có núm; một loại bằng một đoạn gỗ mềm để đánh chiêng bằng. Thường thường khi đánh cồng người ta gõ vào phần núm của chúng. Khi đánh chiêng bằng người ta gõ vào tâm điểm của mặt chiêng. Cũng có vùng đồng bào Gia Rai đánh vào mặt sau của chiêng.
Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng với tai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinh tế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng và trong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyên sử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuật gõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếc chiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triển xã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạo lớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âm nhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồng chiêng khác nhau:
Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biên chế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3 cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Giẻ Triêng… cũng thuộc loại này.
Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiều tộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dàn chiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek của nhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê. Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noong dân tộc Mnông.
Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồng núm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngành TồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).
Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trở lên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của người Churu thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
Hầu hết các nghệ nhân đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả hai tộc người Êđê, Giarai đang duy trì chế độ mẫu hệ hoặc người Bana, Xơđăng đang duy trì cả chế độ mẫu hệ lẫn chế độ phụ hệ. Riêng ở ngành Bih tộc người Êđê, chỉ nữ giới mới được đánh cồng, ở người Mạ thì cả hai giới đều được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn: dàn chiêng nam, dàn chiêng nữ. Ngày nay, đã có dàn chiêng hỗn hợp các nghệ nhân cả nam lẫn nữ. Việc nữ giới đánh chiêng cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tâm thức các tộc người này.
Ngoài ra, ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng, M’nông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làm thành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múa này được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng (không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí). Nói cách khác, sinh hoạt văn hoá cồng chiêng của các dân tộc ở Tây Nguyên là sinh hoạt cộng đồng, cuốn hút tất cả các thành viên tham gia. Đây là bằng chứng chứng tỏ lịch sử lâu đời của cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.
Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, các bài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức và được coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều công đoạn có nhạc chiêng riêng: Người ngành Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh Đắc Lắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ, mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùa gặt… Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như: Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ… Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độ biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã…
Nếu dàn cồng chiêng ở các nước khác, chẳng hạn như Gamelan ở Java, Gong Kebyar ở Bali (Indonesia) hay Kulingtan, dân tộc Mindanao của Philippines, nhạc công luôn ngồi yên tại chỗ thì người đánh cồng chiêng Tây Nguyên luôn di động, còn động tác thì đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng …
Khi đánh cồng, bàn tay mặt của nhạc công vỗ vào núm cồng như xoa dịu. Trước đây một số nhà nghiên cứu tưởng rằng chỉ có một cách đánh bên ngoài mà thôi, nhưng về sau mới biết bàn tay trái nắm ở bên trong cũng tham gia biểu diễn với nhiều cách, hoặc nắm vào vành hoặc bóp vành rồi buông ra, giống như cách nhấn nhá trong các loại đàn dây hay cách ém hơi trong kỹ thuật hát. Thậm chí có khi nhạc công đeo thêm chiếc vòng để khi lắc tay thì chiếc vòng đụng vào mặt trong phối hợp với tiếng gõ bên ngoài. Đó là những kỹ thuật tinh vi mà một người bình thường khó nhận ra được.
Ngoài ra còn có cách đánh chiêng với dùi làm bằng gỗ cứng hay mềm khác nhau tùy theo dân tộc. Có thể gõ vào giữa mặt chiêng hay đánh ngoài rìa tùy theo bài bản. Người Ê Đê đa số sử dụng loại dùi cứng tạo nên tiếng vang rất to nhưng lại có nhiều tạp âm. Người Bana thường sử dụng dùi làm bằng cây sắn là loại gỗ mềm hơn, tuy nét nhạc không vang bằng nhưng âm cơ bản nghe rất rõ. Loại dùi thứ ba làm bằng gỗ thường có bọc thêm một lớp bên ngoài (xưa kia người ta sử dụng da tinh hoàn của trâu, bò hoặc dê, về sau được bọc bằng vải rồi đổi sang bọc bằng cao su). Dùi loại này phù hợp nhất vì tạo nên âm thanh rất hay.
Đặc biệt trong các buổi lễ lớn hay những dịp tôn vinh một nhân vật nào thì đối tượng được tôn vinh phải tọa lạc ở vị trí trung tâm, và dàn cồng chiêng đi quanh thành hình tròn. Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền cho biết: việc này có ý nghĩa để cho nhân vật ở tâm điểm để có thể thưởng thức âm thanh của cồng chiêng với khoảng cách bằng nhau, đúng với vị trí của nó chứ không bị nghe tiếng gần, tiếng xa như khi xếp hàng ngang.
Thêm nữa, trong buổi lễ, các nhạc công lại di chuyển ngược với chiều kim đồng hồ, đồng nghĩa với việc ngược dòng thời gian tìm về dĩ vãng, nhớ lại cội nguồn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Những điểm nho nhỏ ấy chứng tỏ từ tư thế đánh, vị trí của nhạc công, cách kích âm, sắp đặt của cồng chiêng đều chuyên chở những suy tư và có hệ thống.
Tên gọi của những chiếc cồng chiêng cũng rất phong phú, có khi được đặt dựa theo âm thanh nhạc khí phát ra, có khi là tên gọi theo vị trí của nó trong dàn nhạc. Đặc biệt hầu hết những chiếc cồng phát ra âm thanh thấp – vốn là âm cơ bản mang tên “mẹ”. Trong những dàn có từ 9 cồng chiêng trở lên thì có thêm cồng “cha” bên cạnh cồng “mẹ”, tiếp theo là các cồng con, cồng cháu … tức hình thành hệ thống gia đình với cồng mẹ luôn luôn đứng trước cồng cha, phù hợp với chế độ mẫu hệ của người Tây nguyên.
Khi biểu diễn, hai chiếc cồng mẹ và cồng cha đánh ra âm thanh trầm gần giống nhau để làm nền cho cả dàn nhạc. Kế tiếp là 3 cồng con cùng đánh một lượt với nhau thành một hòa âm, có tác dụng như những cây cột chống đỡ trong ngôi nhà (chứng tỏ cách sắp xếp chẳng những theo hệ thống gia đình mà còn mang cả cấu trúc như nhà cửa, vị trí của những nhạc khí trong một dàn nhạc có hệ thống). Những chiếc còn lại thì đánh so le theo thứ tự trước – sau, mau – chậm theo đúng qui định, phối hợp với nhau thành ra nét nhạc. Để nắm vững những qui định này đòi hỏi nhạc công phải nhớ nằm lòng, phải nghe cho rõ và nhất là phải tập trung tâm trí để vừa tròn phần mình vừa lắng nghe người khác trong dàn nhạc.
Mỗi chiếc chiêng đảm nhiệm chức năng của một nốt nhạc. Nhiều chiếc tổ chức thành dàn. Có những bộ chiêng chỉ có phần đánh tiết tấu, không có phần giai điệu. Có lẽ đây là hình thức biên chế cổ sơ nhất của cồng chiêng. Bởi vì cồng chiêng về bản chất thuộc nhạc khí gõ. Mà giá trị chủ yếu của nhạc khí gõ là hình thái nhịp điệu tiết tấu. Còn đa số các dàn chiêng thường có hai phần nói trên tương phản nhau rất rõ rệt. Trong biên chế của các dàn chiêng cũng có các bè cực trầm, bè trung, bè cao… như cách sắp xếp các bè trong dàn nhạc giao hưởng. Điều đó cũng chứng tỏ người xưa cũng rất tuyệt vời trong cách phân bố các bè, biểu lộ tính biểu cảm âm nhạc trong các tầng âm thanh.
Một dàn chiêng có thể đánh được nhiều bè, nhiều âm một lúc. Nếu phân tích kĩ các bài bản chiêng của đồng bào, chúng ta dễ dàng nhận ra các phương pháp mô phỏng…Đó là những nhu cầu tự nhiên mà chắc rằng người xưa không hề nghĩ phải dùng các thủ pháp nói trên thì bài chiêng mới hay.
Phương pháp đánh chiêng cổ là mỗi người sử dụng một chiếc. Sự ăn ý của một tập thể sử dụng một hoặc nhiều bộ chiêng cùng diễn tấu đã tạo nên sắc thái riêng của mỗi bài chiêng. Cồng chiêng có lúc biểu hiện nhiều khía cạnh của tình cảm và nội dung khác nhau thông qua độ vang, tiết tấu và âm sắc. Mỗi loại lễ hội, mỗi loại công việc đều có bài bản chiêng phù hợp với nội dung của nó. Chiêng có thể đánh vê tròn, có thể đánh tốc độ rất chậm, chậm vừa, vừa phải. Nếu ở nội dung thúc giục, sôi nổi có thể đánh nhanh hoặc rất nhanh. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Trong những ngày lễ hội, khi xuất hiện cồng chiêng là xuất hiện văn nghệ. Tùy theo khả năng kinh tế (rượu thịt), mức độ từng nơi có khác nhau. Nhưng về hình thức mỗi con người hầu như bộc lộ hết mình trong sinh hoạt cộng đồng. Đánh chiêng, múa hát đã trở thành phong tục truyền thống, thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống đồng bào. Vì thế cồng chiêng đạt tới mức độ hoàn chỉnh khá cao về giai điệu, tiết tấu hòa âm và đối vị. Con người Tây Nguyên thông qua nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng đã thể hiện tinh thần thượng võ, đoàn kết, thương yêu nhau, hiểu biết tâm tư, tình cảm của nhau. Nó còn biểu lộ những khả năng sử dụng cồng chiêng tuyệt vời của từng cá nhân và tập thể.
Cần nói thêm về ba phong cách âm nhạc lớn của đồng bào nơi đây trong nghệ thuật cồng chiêng. Mỗi phong cách xin được lấy một dân tộc làm ví dụ và gọi tên:
Cồng chiêng Êđê: nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn. Các bài nhạc là những chùm âm giàu màu sắc nối tiếp đan xen nhau. Mới nghe tưởng là một mớ âm thanh lộn xộn. Nhưng khi nghe kĩ mới thấy hết vẻ tinh tế, đa dạng. Nó giống như một luồng ánh sáng trắng chói lên xối xả tuôn xuống khi ta nhìn thẳng vào mặt trời mùa hạ. Nhưng chốc chốc luồng ánh sáng ấy lại nở ra, phân quang thành những gam màu phức hợp của bảng mây cầu vồng. Những hòa sắc ấy ẩn hiện, thoắt đến rồi lại vụt biến mất, khiến cho ta không thể dừng lại ở một điểm, nhưng sự tiếp nối của chúng gây nên cảm xúc rạo rực thật khó tả trong tâm hồn.
Cồng chiêng M’nông: cường độ không lớn, mặc dù tốc độ khá nhanh, nhưng âm nhạc là một cuộc đối thoại vui vẻ giữa những cái chiêng. Khi cái này, khi cái kia, dóng lên, xen nhau, gọi đáp nhau. Có thể cảm nhận rằng đó là tiếng suối chảy, tiếng gió thổi, tiếng rừng cây xào xạc, tiếng gia súc dưới sàn nhà và trên hết là tiếng người. Cồng chiêng M’nông rất giàu chất tự sự.
Cồng chiêng Bana- Gia Rai: thiên về tính chất chủ điệu của âm nhạc. Một bè trầm của các cồng có núm vang lên với âm thanh đầy đặn, vững chãi, hùng tráng. Bên trên là giai điệu thánh thót của các chiêng (không có núm) với âm sắc đanh, gọn, lảnh lót. Hai bộ hòa vào nhau trong thế đối thoại được coi như câu chuyện giữa đất và trời. Thêm vào đó là chất giọng nằng nặng của cái trống cầm chịch và âm thanh vui vẻ, rạn vỡ của hai cặp chũm chọe xoa liên tục.
Đó chỉ là nói về ba phong cách âm nhạc lớn. Trong mỗi phong cách lại có nhiều sắc thái khác nhau. Cũng có tính tự sự của phong cách M’nông, nhưng rất dễ phân biệt sắc thái giữa M’Nông Gả và M’Nông Noong. Cũng như thế giữa cồng chiêng Êđê Atham và Bih, giữa cồng chiêng Jơrai Ea Junpa với Jơrai Chuwpa, giữa cồng chiêng Bana T’lô với Bana Kon K’Đe.
Việt Nam nhiều dân tộc dùng chiêng cồng, người Việt dùng một cái cồng đi với một cái trống trong lễ tế đình làng, người Thái dùng 2 đến 3 cồng trong xòe vòng. Người Mường có một dàn cồng trong ngày hội “Rước bông cơm trái lúa” và hội sắc bùa. Nhưng không ở đâu cồng chiêng lại quán xuyến cuộc sống con người và đạt đến trình độ nghệ thuật âm nhạc như cồng chiêng Tây Nguyên. Chính điều này đã khiến “Nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” trở thành đặc điểm nổi bật của vùng văn hóa Tây Nguyên.
2.2.3. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Cồng chiêng là của từng làng, gắn với làng. Nó là ngôn ngữ của hồn làng, từng làng. Vậy nên bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để nó mãi là di sản tinh thần của nhân loại, chính là phải bảo tồn nó trong không gian làng, chứ không phải trên sân khấu, trên sân khấu chỉ là một thứ di tích của nó.
Trong văn hóa cũng như vật lí không thể tách không gian ra khỏi thời gian. Không gian văn hóa cồng chiêng trước hết được tạo nên một thời gian văn hóa độc đáo, mà lại là một thời gian thăm thẳm.
Một nhà dân tộc học người Pháp sau một thời gian dài “ba cùng” với người M’nông đã phát hiện ra bộ đàn đá tiền sử đầu tiên tìm được trên thế giới. Về sau đã tìm được rất nhiều bộ đàn đá khác ở các dân tộc Tây Nguyên và vùng rìa Nam Tây Nguyên. Đây chính là quê hương của đàn đá tiền sử. Nhưng điều quan trọng và đặc biệt lí thú là người ta đã tìm thấy mối quan hệ khăng khít giữa đàn đá tiền sử Tây Nguyên với cồng chiêng Tây Nguyên ngày nay. Từ đàn đá 3000 năm trước đến cồng chiêng Tây Nguyên hôm nay, từ tiếng của đá đã chuyển sang tiếng của đồng, có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thời gian 3000 năm, thời gian đó đã làm nên không gian, nén lại thành không gian, trong không gian ấy có chứa đến 3000 năm thời gian.
Tây Nguyên là một thế giới. Ở đó người ta tin rằng tất cả tự nhiên này, trong đó có cả con người, cũng là một bộ phận khăng khít đến gần như hòa tan hoàn toàn cùng tự nhiên, đều có hồn. Con vật trong rừng cũng vậy. Từ con heo cho đến con thỏ hiền lành, cho đến con hổ, con beo hung dữ, con voi khổng lồ đều có hồn, hết sức gần gũi. Về bản chất chẳng khác gì hồn con người. Vậy nên người ta dùng thanh đá kêu để nói với chúng đừng đến phá hoại hoa màu của con người trên rẫy. Đó cũng là một ngôn ngữ của con người, là một thứ thần linh, nói với con thú cũng là một thứ thần linh.
Người Tây Nguyên sống trong một thế giới vây bọc toàn thần linh. Và nếu đàn đá ngày xưa đã chuyển thành đàn cồng – tức cồng chiêng, vừa là thứ gây tiếng động để xua đuổi thú, vừa là tiếng nói của muôn loài có linh hồn đối thoại thường xuyên cùng nhau thì cũng là thường về cơ bản không có sự phân biệt nào. Mặt khác, cồng chiêng không chỉ là một trong những thứ nhạc cụ giữa các nhạc cụ khác của Tây Nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với bản sắc dân tộc khác nhau mà chủ nhân của nó là đồng bào các dân tộc thiểu số Bana, Brâu, Giẻ Triêng, Mạ, Ê đê,…
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (lễ cúng cơm mới, lễ cúng bến nước,…), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,…)
Theo giáo sư Trần Văn Khê, “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” không chỉ là tiếng cồng, tiếng chiêng mà còn bao gồm cả: văn hóa ẩm thực, dệt thổ cẩm, đời sống lao động, tâm linh… của người Tây Nguyên.
Tây Nguyên, tiếng cồng chiêng là phương tiện giao tiếp, gắn bó mọi người trong cộng đồng, buôn làng. Nghe tiếng cồng chiêng là biết tin vui hay tin buồn qua những âm sắc khác nhau. Một ai đó trong làng khuất núi, người ta dóng lên tiếng cồng chiêng. Nhưng tiếng cồng chiêng đó khác với tiếng cồng chiêng trong lễ bỏ mả hay trọng dịp lễ hội. Và cái hay của cồng chiêng là phải gắn bó với không gian âm vang của núi rừng tự nhiên, dân dã như người dân bản địa, chứ không phải cồng chiêng biểu diễn trên sân khấu.
Theo nghệ nhân Y Brăm: “ Không gian có hai cái, không gian ban đêm hay hình tạo cho múa xoay hết sức dân dã. Không gian tức là ngoài trời, tạo hóa, nhịp cồng chiêng cùng với nghệ nhân có mối quan hệ hết sức chặt chẽ. Cồng chiêng mà không có không gian thì không thành cồng chiêng nữa. Kiệt tác là ở chỗ trăm người múa xoay, mà không có người chỉ huy, nhưng nó vẫn giữ được tiết tấu, giữ được giai điệu mà xoay không bao giờ đứt đoạn, không bao giờ sai.
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đặc biệt là ở chỗ nó rất quan trọng trong tất cả các hội, lễ và trong mọi hoạt động của đồng bào Tây Nguyên. Hầu như không gian không mấy lúc vắng tiếng cồng chiêng, đặc biệt trong các dịp lễ hội kéo dài suốt mấy tháng 1, 2, 3 dương lịch. Ở Tây Nguyên, người ta gọi là tháng Ning Nơng.
Với con mắt người hiện đại thì cồng chiêng là dàn nhạc phục vụ cho múa. Nhưng trong tâm thức đồng bào thì không phải như vậy. Đồng bào tin rằng trong mỗi cái chiêng đều có thần chiêng. Vì thế có cái chiêng phải đổi bằng voi, hay nhiều con trâu do chiêng ấy có thần mạnh.
Không gian văn hóa cồng chiêng được gắn với mọi hoạt động của con người, nó là cuộc sống, là linh hồn của đồng bào Tây Nguyên. Hầu như mọi hoạt động văn hóa đều có cồng chiêng. Khi đứa trẻ sinh đầy cữ, người lớn đem cái chiêng quý, tương truyền là di vật của người anh hùng H’Ri đến bên nó. Già làng dóng lên ba hồi chiêng theo nhịp xung trận nếu là bé trai, nhịp múa nếu là bé gái. Hồi chiêng đó đồng bào gọi là tiếng thổi tai. Họ quan niệm rằng đứa trẻ sơ sinh vốn là tặng phẩm của trời đất ban cho, tai còn kín đặc. Muốn cho đứa bé lớn lên thành người của dân tộc, của làng thì phải thổi tai cho bé thông suốt. Theo cách nói ngày nay, ba hồi chiêng được hiểu như những tín hiệu văn hóa dân tộc, được dóng lên đón lấy một thành viên mới của cộng đồng. Đó là lời truyền dạy, lời trăng trối của tất cả “ nửa cộng đồng hôm qua” cho mỗi con người sinh ra được nuôi dưỡng và dạy dỗ để biết sống theo thói ăn , nếp ở của dân tộc. Ba hồi chiêng chỉ là một lễ thức, đó chỉ là sự gieo mầm cho văn hóa dân tộc được tiếp nối trong tất cả các thế hệ người. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Đứa trẻ lớn lên trong không gian văn hóa cồng chiêng. Bởi vì bất cứ việc gì quan trọng, con người đều muốn thông báo và kêu gọi sự giúp đỡ của đấng siêu nhiên, nhất là “ nửa cộng đồng hôm qua” tức tổ tiên. Thế là cồng chiêng lại có mặt, chẳng sót nơi đâu, việc gì: chọn đất phát nương, chọn đất làm nhà, cầu an cho lúa, hội đóng cửa kho thóc, lễ bắn nỏ, lễ cưới hỏi, xây dựng nhà mới, sửa nhà Rông, lễ đâm trâu mừng chiến thắng…Tất cả đều có nhạc cồng chiêng diễn tấu trong đội hình hình tròn và ngược chiều kim đồng hồ. Tiếng cồng chiêng trầm hùng trong tiếng reo hò của cộng đồng khi những chàng trai đâm trâu để hiến tế thần linh, ngày bỏ mả, thổn thức trong lễ cầu sức khỏe, da diết ước mơ trong ngày lễ phát rẫy trỉa lúa, phấn khởi mừng vui trong ngày lễ mừng thần lúa. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực khó tả trong mỗi con người để họ tìm dến với nhau. Âm thanh cồng chiêng là sợi dây nối cá thể với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng một cách linh thiêng và thế tục, cộng niệm và cộng cảm. Chiêng cồng đã trở thành biểu tượng cuộc sống các dân tộc Tây Nguyên.
Trong lễ cầu an, khi cồng chiêng được dóng lên là lúc các thần chiêng xuất hiện, cao giọng cổ vũ khen ngợi, cảm ơn thần sấm (tức vai người múa). Sự hòa đồng của các thần chiêng với các thần sấm đem lại niềm hứng khởi vô hạn của đồng bào, ở đây lại là sự hội tụ của các lực lượng siêu nhiên, do con người đối xử như bạn, nên đã thể hiện ra cho họ thấy chúng “hài lòng” tới mức nào. Đoàn múa chiêng cồng đi vòng quanh các hũ rượu ba lần theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, dường như muốn mô phỏng đường đi của mặt trời từ đông sang tây. Khi tiếng trống đã lui, dàn cồng chiêng đứng thành một vòng cùng phía đông các hũ rượu, đã đánh một giai điệu mềm mại với tốc độ chậm, thì xuất hiện một nhóm các bà chủ gia đình múa nhẹ nhàng với quả bầu đựng nước trên tay. Họ múc vòng quanh các hũ rượu, cũng đi gần với hướng đi của mặt trời, rồi rót nó vào hũ rượu cần. Đó chính là hóa thân của mẹ lúa. Và cứ thế cuộc vui diễn ra qua đêm đến bình minh hôm sau trong tiếng chiêng không dứt.
Văn hóa cồng chiêng trong lễ đâm trâu mừng ngày chiến thắng. Đối với các cư dân bản địa Tây Nguyên, con trâu không hề gắn với sản xuất nông nghiệp, mà họ nuôi trâu để làm vật hiến sinh (cúng các vị thần linh). Sau nữa, con trâu dùng để trao đổi chiêng, ché, là biểu tượng của sự giàu có trong làng. Trong các lễ hội ở Tây Nguyên, nếu có cúng trâu thì đó là lễ lớn. Có thể là lễ đâm trâu của cả làng hay riêng từng gia đình như lễ cầu an, tạ thần, xin bệnh chóng lành. Song lớn nhất vẫn là lễ đâm trâu của cả cộng đồng ăn mừng chiến thắng. Ở đây các loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian như: âm nhạc, múa, hội họa, điêu khắc, trang phục, văn học dân gian…được đồng bào thiết kế tham gia từ đầu đến cuối. Lễ đâm trâu trực tiếp diễn tả quan niệm về vũ trụ, cuộc sống, tín ngưỡng của cộng đồng. Đặc biệt âm nhạc cồng chiêng với các bài bản khác nhau đã được quy định sẵn là linh hồn gắn kết cho các loại hình dân gian khác thể hiện. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Âm nhạc trong lễ đâm trâu thật phong phú, có những giai điệu cho lễ thần, giai điệu cho màn múa khiên (chiến trận), thúc giục các vòng xoay chuyển, lắng đọng…Lễ đâm trâu mừng chiến thắng được tổ chức tại sân nhà Rông.
Vào lễ, một hồi trống vang lên báo hiệu, dân làng tập trung xung quanh cây nêu trước nhà Rông. Những tiếng hú vang vang, già làng đọc lời khấn các thần linh. Tiếng khấn vừa dứt, những tiếng chiêng với bài Yoan vang lên không ngớt. Những vòng múa xoan và các dàn chiêng nhịp nhàng đi ngược chiều kim đồng hồ.
Giai điệu chuyển sang bài T’Rum với tiết tấu hơi chậm, nhịp nhàng, đĩnh đạc. Những chàng trai tay cầm khiên, tay cầm giáo vừa múa, vừa đi từ nhà Rông ra chỗ cây nêu. Họ vừa vờn cho con trâu chạy lồng lên quanh thân cây nêu, vừa đấu khiên với nhau. Tiếng reo vui, hò hét của dân làng, cùng với tiếng chiêng trống âm vang, dồn dập. Cuối cùng dàn chiêng đánh sang bài Vang, giai điệu chậm, thể hiện nỗi tiếc thương những người đã mất. Rồi những điệu múa trống, múa khiên cứ thế vòng quanh con trâu làm nó lồng lộn. Mọi người háo hức chờ đợi.
Sau lễ tế ngắn ngủi ấy, dân làng reo hò, nhảy múa tưng bừng. Các chàng trai cầm khiên mác vờn quanh con trâu. Lúc này tất cả các bộ cồng chiêng cùng dóng lên hối hả, dồn dập. Con trâu ngơ ngác vờn quanh cây nêu. Bất thần một chàng trai vung mác chém vào khuỷu chân sau con trâu. Nó lồng lên dữ dội quanh cây nêu. Tiếng chiêng trống ngày một dồn dập. Lúc đến độ cao trào, một chàng trai lao đến dùng mác đâm trúng nách, nó vùng vẫy mấy vòng rồi ngã khuỵu xuống. Tiếng reo hò không ngớt. Sau đó họ làm thịt trâu, ăn uống tại nhà Rông và chia đều cho dân làng mỗi gia đình một ít. Cuộc vui kéo dài đến tận đêm khuya mới kết thúc.
Đón con người vào đời là nhạc cồng chiêng, mọi hoạt động văn hóa đều có cồng chiêng, cồng chiêng có mặt chẳng sót nơi nào trên mảnh đất Tây Nguyên. Lại cũng nhạc cồng chiêng sẽ tiễn đưa con người ấy ra huyệt mộ, để rồi trong lễ bỏ mả làm nhà mồ, linh hồn con người ấy đi theo tiếng cồng chiêng mà về với “nửa cộng đồng hôm qua”.
Lễ bỏ mả diễn ra liên tục trong ba ngày và cái hồn của lễ bỏ mả này chính là tiếng cồng chiêng du dương vang dội khắp núi rừng, lúc nhanh, lúc chậm, lúc trầm, lúc bổng như thôi thúc lòng người. Làng nào ở lân cận có đội cồng chiêng cũng đều mang đến để gõ tiễn biệt người chết, có lẽ tới 5 đến 7 đội. Các đội thay phiên nhau gõ liên tục thâu đêm suốt sáng, bên cạnh đó có đội xoay của những thiếu nữ Bana và Gia Rai luôn uyển chuyển, say sưa theo nhịp cồng chiêng với những điệu múa rất hay và đẹp. Càng say nhịp cồng chiêng, nhịp trống càng mạnh và xoay càng đẹp. Theo các già làng thì đây cũng là dịp để các chàng trai, cô gái trổ tài gõ và múa đẹp để được làng bén duyên thành vợ chồng. Không ai khác chính người dân địa phương đều cho rằng nghe tiếng cồng chiêng tại các buôn làng trong lễ bỏ mả hay bất cứ một lễ hội nào khác mới là thực nhất, là vế đầu bởi không phải tri phối một sự cản trở nào của không gian. Tiếng cồng chiêng bay ra rồi gặp núi non trùng điệp dội lại khiến người nghe xao xuyến cả lòng người. Những âm thanh ấm áp đậm nét, mà còn có những điệu lúc ai oán sầu bi, lúc thúc giục tiến quân diệt thù đã lột tả hết cuộc sống, nội tâm cuộc sống của con người.
Nếu như đến Tây Nguyên mà không được nghe âm vang cồng chiêng của đồng bào dân tộc ở đây thì coi như chưa đặt chân đến, cũng như không thể cảm nhận hết không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2.3. Tìm hiểu giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Có thể nói không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có những giá trị rất lớn trên nhiều mặt:
2.3.1. Giá trị lịch sử:
Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có những giá trị lịch sử không nhỏ:
Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã phản ánh một thời kỳ phát triển thịnh vượng của nước ta từ thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng. Đây là một bước tiến rất lớn trong tiến trình lịch sử phát triển của con người. Thời đại đồ đồng chính là thời đại công cụ sản xuất ra đời, phục vụ cuộc sống thiết thực của con người.
Văn hóa cồng chiêng đã phản ánh thời kì phát triển cồng chiêng từ đá đến đồng. Từ đàn đá 3000 năm trước đến cồng chiêng Tây Nguyên hôm nay, từ tiếng của đá chuyển sang tiếng của đồng có một sợi chỉ đỏ bí ẩn xuyên suốt. Trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thời gian 3000 năm, thời gian đã làm nên không gian, nén lại thành không gian, trong không gian ấy có chứa 3000 năm thời gian.
Trải qua nhiều thế kỉ vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống kẻ thù, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo và định hình những loại nhạc khí phù hợp với cuộc sống của núi rừng. Cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng rất cao. Trong tất cả các loại lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu được tiếng cồng chiêng. Cồng chiêng đã thực sự gắn bó với đời sống hàng ngày của đồng bào Tây Nguyên như hình tượng cây tre trong đời sống của dân tộc Việt Nam ở các làng xóm thân yêu.
Văn hóa cồng chiêng được phát triển từ nền văn hóa đồng thau của dân tộc, mà đại diện tiêu biểu là trống đồng ra đời cách đây 3000 năm, là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn Tây Nguyên.
Cồng chiêng còn là nhạc cụ gốc, là âm thanh cội nguồn, là ngọn nguồn của tất cả các loại nhạc cụ khác của Tây Nguyên, từ kèn Đinh tút sâu thẳm của người Giẻ Triêng ở Đắk Glei, cho đến đàn Ksí réo rắt của người Bana, Klông pút ấm áp của người Xơ Đăng, rồi Đing năm, Đing tút, Đing sing của người Ê đê,…, là tài hoa của bao nhiêu dân tộc khác. Cả chiếc tù và săn voi vang lừng của người M’nông vùng Bản Đôn ta còn có thể nghe được ngày nay. Tất cả đều thấy trong âm thanh của đàn đá 3000 năm xưa, và cồng chiêng ngày nay là gốc.
2.3.2. Giá trị nhân văn: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Với việc đặt tên những chiêng lớn là chiêng Mẹ, cồng chiêng Tây Nguyên đã thể hiện truyền thống gia đình mẫu hệ của một số tộc người ở Tây Nguyên. Đồng thời, việc nữ giới đánh chiêng ở một số vùng đã cho thấy vị trí xã hội và vai trò quan trọng của họ trong tầm thức của một số đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên theo chế độ mẫu hệ.
Không chỉ có thế, cồng chiêng còn biểu hiện tính liên kết trong gia đình. Biên chế của một dàn nhạc không chỉ căn cứ trên âm thanh, cách biểu diễn mà nó cần trên quan điểm về gia đình. Cồng mẹ, cồng cha như nền nhà, còn cồng con cách khoảng đều nhau như những cây cột và cồng cháu thể hiện ra nét nhạc như la kèo, là nóc nhà. Như vậy, cách dàn dựng cồng chiêng còn dựa trên quan điểm thiết kế và kiến trúc nhà cửa.
Tây Nguyên, cồng chiêng hoàn toàn không chỉ là nhạc cụ , nó là một loại sinh linh đặc biệt nhất, duy nhất có khả năng tạo nên giao tiếp giữa tất cả các loại sinh linh có hồn trên thế giới này. Chính vì thế, cồng chiêng là “ mạch sống” của đồng bào dân tộc thiểu số, không thể tách rời cuộc sống của họ. Thông qua tiếng cồng chiêng, các dân tộc Tây Nguyên gửi gắm tâm hồn, ước nguyện của mình với các đấng thần linh, cũng như bày tỏ sự mong muốn, khát vọng về mùa màng, sức khỏe, hạnh phúc của con người. Nghe cồng chiêng thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội… Cồng chiêng đã ăn ở với con người đời đời, kiếp kiếp, nó thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm, mừng vui, buồn đau, căm giận của người Tây Nguyên.
Trên tất cả, cồng chiêng là loại nhạc khí biểu hiện tính cộng đồng cao. Trong các lễ hội ở Tây Nguyên, kể cả những công việc nhỏ của từng gia đình đều không thể thiếu tiếng nói của cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng vang lên đã đóng vai trò là mối dây liên kết vững vàng con người với con người, con người với cộng đồng và cộng đồng với cộng đồng sinh sống trên mảnh đất Tây Nguyên mà không một kẻ thù nào, không một khó khăn, thử thách nào có thể phá vỡ nổi. Với các dân tộc ở Tây Nguyên, phương tiện để kết nối cộng đồng chính là cồng chiêng. Đáng lưu ý là Tây Nguyên có nhiều dân tộc nhưng các dân tộc luôn hòa hợp lẫn nhau, và cồng chiêng giữ được bản sắc riêng của dân tộc mình, không có hiện tượng loại hóa nhau trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng. Các dân tộc đều có thể đến với nhau tạo nên một nền văn hóa cồng chiêng. Tiếng cồng chiêng luôn đem đến một cảm xúc rạo rực, khó tả trong mỗi con người. Nó đồng thanh tương ứng khiến họ tìm đến với nhau. Cồng chiêng có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống các dân tộc Tây Nguyên. Trên ý nghĩa đó, cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên.
Với vùng đất Tây Nguyên đầy nắng và gió, cồng chiêng biểu hiện cho sự giàu có, sự hùng mạnh và tinh thần chiến đấu bất khuất của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Trong phạm vi đời sống cộng đồng buôn làng, cồng chiêng là thước đo sự giàu có, uy tín của một gia đình, dòng tộc. Người Gia Rai, Ê đê, M’nông… theo chủ nghĩa đa thần, trong suy nghĩ của họ cồng chiêng không đơn thuần là loại nhạc cụ dung trong các lễ hội, mà hơn thế nữa nó là phương tiện giao tiếp với Yàng và các thần linh. Người có nhiều cồng chiêng được tôn trọng không phải trước hết vì có nhiều của cải, vật chất, mà chính là vì người ấy có nhiều thần chiêng, vì thế người ấy có nhiều bạn bè, có quyền năng vô hạn ở thế giới tối cao che chở và phù hộ.
Sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là kiệt tác truyền khẩu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là một dấu ấn không thể nào quên đối với đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Đây chính là thành quả, là công sức đóng góp của mỗi người dân, mỗi buôn làng của trên 20 dân tộc anh em sinh sống dưới mái nhà chung Tây Nguyên vẫn đang ra sức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của cồng chiêng từ xưa đến nay.
2.3.3. Giá trị nghệ thuật: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chứa đựng những sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại. Tài nghệ của cư dân Tây Nguyên là biến một sản phẩm hàng hóa vốn không được chính họ chế tạo thành một nhạc cụ tuyệt vời. Người dân chưa biết đến vật lý học mà lại chỉnh sửa công chiêng rất tài tình. Họ chỉnh sửa chiêng với trình độ thẩm âm tinh tế, với hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng trong không gian. Đây là sáng tạo lớn của các dân tộc Tây Nguyên.
Cồng chiêng là nhạc cụ nghi lễ. Các bài nhạc cồng chiêng trước hết là đáp ứng yêu cầu của mỗi lễ thức và là một thành tố cơ bản của lễ thức đó. Mỗi nghi lễ có ít nhất một bài nhạc riêng của nó. Nhìn chung văn hóa và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện tài năng văn hóa sáng tạo ở đỉnh cao của các dân tộc Tây Nguyên.
Giá trị nghệ thuật văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên còn biểu hiện trong những ngày hội lễ, khi xuất hiện cồng chiêng là xuất hiện văn nghệ. Đánh chiêng, múa hát trở thành phong tục truyền thống, thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống đồng bào. Con người Tây Nguyên thông qua nghệ thuật biểu diễn của cồng chiêng đã biểu lộ tinh thần thượng võ, đoàn kết, yêu thương nhau, hiểu biết tâm tư, tình cảm của nhau.
Cồng chiêng Tây Nguyên đặc biệt hay, không chỉ ở sự đa dạng, độc đáo về các bè trầm bổng, mà cồng chiêng chính là đời sống của người Tây Nguyên. Khi biểu diễn, các nghệ nhân biểu diễn thành vòng tròn, đánh và di chuyển dàn cồng chiêng từ phải qua trái và ngược chiều kim đồng hồ, với ý nghĩa là quay ngược lại thời gian, hướng về cội nguồn. Cồng chiêng là văn hóa của người dân tộc Tây Nguyên, với những đặc thù còn giữ nguyên gốc như thế. Còn về kỹ thuật, chính cách phối hợp âm thanh của dàn cồng chiêng giữa các chiếc “cồng cha, cồng mẹ, cồng con, cồng cháu” để làm thành thanh âm, điệu thức là vô cùng đặc biệt.
Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng còn thể hiện được cái hồn của các nghi lễ. Nó thể hiện niềm vui, nỗi buồn thông qua âm sắc khác nhau của chúng, nó thể hiện tài năng diễn xướng của mỗi nghệ nhân, thể hiện được tâm tư, tình cảm của mỗi con người.
Cồng chiêng không chỉ là một loại nhạc cụ đơn thuần như các loại nhạc cụ khác của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, mà nó là loại nhạc cụ gốc, là âm thanh, cội nguồn, là ngọn nguồn của tất cả các nhạc cụ khác ở Tây Nguyên. Nó là ngôn ngữ của hồn làng, của từng làng Chính vì vậy có thể khẳng định văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có một giá trị rất lớn, không chỉ có ý nghĩa với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mà nó còn là niềm tự hào của mọi công dân Việt Nam. Cồng chiêng dã thể hiện đỉnh cao sáng tạo của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
2.3.4. So sánh giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên với văn hóa cồng chiêng một số nước Đông Nam Á:
So sánh cồng chiêng Tây Nguyên với các nước khác trong khu vực, thậm chí mở rộng ra thế giới, ta càng thấy rõ được giá trị của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:
Cồng chiêng có mặt trong nền văn hóa nhiều nước trên thế giới, nhất là ở Đông Nam Á. Chúng được tổ chức thành dàn để diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các nhạc cụ khác. Ở Việt Nam hầu như tất cả các dân tộc đều sử dụng cồng chiêng, thậm chí sử dụng một đến hai cồng phối hợp với một trống dùng trong nghi lễ hoặc giữ nhịp cho toàn bộ dàn nhạc. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc có dàn xéc bùa, bao gồm một biên chế từ 8 đến 12 chiếc. Cồng chiêng đánh thành dàn là đặc trưng của các tộc người Tây Nguyên.
Các dàn cồng chiêng ở Tây Nguyên có nhiều điểm tương đồng với cồng chiêng Đông Nam Á bao gồm cồng chiêng của Inđônêxia, Philippin, bộ gõ của Thái Lan, Campuchia, Lào… Văn hóa về âm nhạc của Đông Nam Á nói chung thuận về văn hóa đồng thau. Việt Nam có trống đồng nên đã gắn với khu vực có văn hóa đồng thau. Tuy nhiên trong những cái chung đó, cồng chiêng Tây Nguyên Việt Nam vẫn có những đặc thù khác biệt.
Văn hóa và âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là văn hóa âm nhạc mang tính đặc hữu cộng đồng, là chuẩn mực văn hóa cho các thành viên cộng đồng thực hiện.
Ở những vùng dân tộc mà cồng chiêng chỉ dành riêng cho nam giới thì các chàng trai tộc người đó phải biết đánh chiêng. Ở những tộc người cồng chiêng chỉ dành riêng cho nữ giới đảm nhiệm thì mọi cô gái phải biết đánh nhạc cụ này. Ở dân tộc M’nông đó là nhiệm vụ của cả nam lẫn nữ.
Cồng chiêng là sở hữu của cộng đồng, nó như biểu tượng cho năng lực sáng tạo văn hóa, âm nhạc của người dân trong khu vực Tây Nguyên. Cho đến nay, cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa gắn bó với cồng chiêng luôn tồn tại và phát triển ở các bản, làng, buôn trên khắp mảnh đất Tây Nguyên.
Trong khi tại một số nước Đông Nam Á, cồng chiêng hầu như trở thành loại hình âm nhạc có tính chuyên nghiệp và hiện đại như các đàn Gamelan của Inđônêxia, đàn Khong wong của Thái Lan, Pin Peat của Campuchia, thì cồng chiêng Tây Nguyên vẫn còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa và đầy ngẫu hứng. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
Nếu như ở các nước, một người thường đánh từ 6 đến 7 cồng, nhiều dàn cồng nhỏ hợp thành một dàn cồng lớn thì ở Việt Nam, một người thường phụ trách một cồng, việc lập ra dàn cồng không định theo cồng lớn nhỏ, cao thấp mà theo hệ thống gia đình gồm cồng cha, cồng mẹ, cồng con, cồng cháu,…
Một nét khác biệt nữa, trong khi cồng chiêng các nước khác gần như theo một hệ thống cố định, chẳng hạn ở Inđônêxia gồm 5 loại nhạc khí, thì biên chế của dàn cồng chiêng Tây Nguyên rất đa dạng. Dàn cồng chiêng có thể chỉ đơn giản gồm hai chiếc cồng, cho đến dàn gồm 9, 12, 15 chiếc cồng và chiêng. Mỗi nhạc công sử dụng một cồng. Trong những lễ hội quan trọng còn có thêm cả trống.
Nếu dàn cồng chiêng ở các nước khác, chẳng hạn như Gamelan ở Java, Gong Kebyar ở Bali (Inđônêxia) hay Kulingtang, dân tộc Mindanao của Philippin, nhạc công luôn ngồi yên tại chỗ (lối biểu diễn tĩnh) thì người đánh cồng chiêng ở Tây Nguyên luôn di động, còn động tác thì đa dạng như nghiêng mình, cúi người, khom lưng… (lối biểu diễn động). Đặc biệt mỗi dân tộc ở Tây Nguyên lại có một cách điều chỉnh âm thanh rất riêng, không những khác nhau về độ cao mà còn khác nhau về màu âm.
Trong vùng phân bố, cồng chiêng lan rộng cả vùng Đông Nam Á, nhưng sự hình thành những nhu cầu của một nền văn hóa bản địa ở Tây Nguyên đã quy tụ cồng chiêng để trở thành một đặc điểm điển hình. Chính đặc điểm ấy đã ảnh hưởng rất quan trọng để cồng chiêng đã du nhập đến Tây Nguyên rồi tồn tại, định hình đến ngày nay và trở thành một nền âm nhạc bản địa chính thống.
Kết luận:
Có thể nói, với đồng bào Tây Nguyên, cồng chiêng là loại nhạc khí thể hiện tính cộng đồng cao nhất. Nó mang lại những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc, phong tục tập quán, đời sống tín ngưỡng… Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là máu, là thịt, là linh hồn của mọi người dân Tây Nguyên. Cồng chiêng gắn với đời sống tâm linh, tình cảm của người Tây Nguyên. Cồng chiêng chính là linh hồn của người Tây Nguyên. Cồng chiêng Tây Nguyên có một giá trị lịch sử, cũng như giá trị nhân văn và nghệ thuật rất lớn, tạo cho cồng chiêng ở đây có những nét khác biệt vô cùng độc đáo và đặc sắc hơn so với các nước khác trong khu vực. Chính diều đó đã đưa cồng chiêng Tây Nguyên trở thành niềm tự hào của đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói riêng và người dân Việt Nam nói chung. Vinh dự gắn liền với trách nhiệm. Bảo tồn, giữ gìn và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một nhiệm vụ lớn lao, đặc biệt vừa bảo tồn lại vừa phải có kế hoạch khai thác phục vụ du lịch một cách có hiệu quả và hợp lý nhất. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng
