Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính Bưu điện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Định hướng phát triển của công ty trong những năm tới

3.1.1. Xu hướng phát triển của nền kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới, nhất là thời điểm hiện nay khi Việt Nam đã gia nhập Tỏ chức thương mại thế giới (WTO). Sau nhiều năm chuyển đổi cơ chế kịp thời, đất nước đã có những chuyển mình đáng kể. Theo cùng với sự chuyển mình đó, cả nước đang tích cực đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện có, đồng thời phát triển thêm các doanh nghiệp Nhà nước ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các Tập đoàn Nhà nước có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Điều này tạo thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các trung tâm tài chính nói chung và các công ty tài chính trong Tập đoàn.

Tuy nhiên môi trường kinh doanh về cả vĩ mô và vi mô còn nhiều bất cập. Để tạo điều kiện trong quá trình hoạt động và phát triển của các công ty Tài chính trong Tổng công ty, chúng ta còn phải giải quyết nhiều vấn đề tồn tại cũng như tạo ra các yếu tố kích thích tương ứng cho quá trình này.

Hiện nay, chúng ta đang có chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các công ty đa quốc gia, các tập đoàn kinh tế lớn mạnh trên thế giới đang tiến hành đầu tư vào nước ta với tốc độ ngày càng nhanh. Song có cạnh tranh để phát triển là quy luật của xã hội, vì thế điều này càng thúc giục các Tập đoàn của Việt Nam phải có những cố gắng nỗ lực hơn nữa để tạo nên được sức mạnh tài chính nhằm nắm giữ các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế đồng thời đương đầu với các tập đoàn trên thế giới.

3.1.2. Định hướng phát triển và mục tiêu của Công ty Tài chính Bưu điện đến năm 2030 Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Công ty Tài chính Bưu điện với định hướng ban đầu là thực hiện vai trò công cụ hoạt động tài chính của VNPT và kinh doanh trên thị trường tài chính. Công ty đã thực hiện tốt nhiệm vụ và từng bước khẳng định vị trí của mình. Đến nay, công ty đã được đảm bảo đủ các cơ chế cần thiết cho loại hình hoạt động tài chính tín dụng và đã làm gần như tất cả những gì được phép. Về tín dụng số vốn thông qua PTF đạt hơn 1000 tỷ đồng, với đối tác là tất cả các ngân hàng thương mại lớn và khách hàng là hơn 100 đơn vị thành viên của VNPT.

Quá trình phát triển của PTF trải qua những giai đoạn khác nhau có những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Đặc biệt trong giai đoạn này khi cả thế giới đang ở trong cuộc đại khủng hoảng thì công ty cần phải có những định hướng rõ ràng để hoạt động phát triển trong những năm tới:

Đầu mối huy động vốn và cho vay: với chức năng cơ bản này, PTF sẽ dần thực hiện được nhiệm vụ của Tập đoàn giao cho là đầu mối huy động vốn. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, chú trọng đến các nguồn vốn có tính chất lâu dài bền vững như phát hành trái phiếu, tín phiếu, huy động từ các tổ chức tài chính, các nguồn vốn nhàn rỗi…để phục vụ các dự án của Tập đoàn. Thông qua nghiệp vụ cho vay theo ủy thác của Tập đoàn. PTF cũng góp phần thực hiện chủ trương chuyển từ quan hệ cấp phát vốn sang quan hệ vay trả với các đơn vị nhằm đạt được kết quả cao hơn cho nguồn vốn đầu tư của Tập đoàn. Để thực hiện tốt chức năng này, hoạt động tín dụng của công ty đóng vai trò rất quan trọng và được PTF đẩy mạnh phát triển vì hoạt động tín dụng là hoạt động sử dụng nguồn vốn, là hoạt động chính của công ty và đem lại lợi nhuận cao nhất.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc giảm bớt các thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, thanh quyết toán nhanh nhằm đưa các công trình vào sử dụng, đẩy mạnh các hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài như liên doanh, góp vốn, mua cổ phần, quản lý sử dụng và điều hòa tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, chủ động tham gia kinh doanh trên thị trường tài chính và tiền tệ trong nước và tiếp tục đầu tư ra thị trường nước ngoài.

Phát triển các định chế tài chính trong tập đoàn nhằm phát huy đối đa năng lực nội sinh thông qua các hoạt động kinh doanh tiền tệ, đầu tư tài chính tiến đến hình thành Ngân hàng Bưu điện trong tập đoàn kinh tế.

Đối với dịch vụ tư vấn, đây được coi là nội dung quan trọng, không chỉ với việc nâng cao hiệu quả hoạt động, đào tạo và nâng cao trình độ cho các chuyên gia đầu tư tài chính và các nhà quản lý doanh nghiệp, mà còn góp phần thúc đẩy hoạt động đổi mới, tái thiết doanh nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho việc quyết định tài trợ vốn hoặc đầu tư vốn.

Những năm tiếp theo mục tiêu của công ty là tiếp tục tập trung và mở rộng thị trường trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên khác. Đồng thời giữ vững và phát triển quan hệ, tạo dựng uy tín với các khách hàng truyền thống của công ty, mở rộng quảng cáo và tiếp thị cho các sản phẩm của công ty.

PTF tiếp tục tập trung vào 3 nhóm hoạt động: đầu tư tài chính, điều hòa vốn và kinh doanh trên thị trường tài chính, trong đó đầu tư tài chính sẽ là hoạt động được quan tâm nhiều nhất. Công ty tiếp tục tăng cường cho vay trung, dài hạn và cho vay đồng tài trợ, ủy thác cho vay để đáp ứng các dự án có nhu cầu vay vốn lớn nhằm mục tiêu phát triển chung của VNPT: đó là đến 2030, VNPT là một tập đoàn kinh tế –  kỹ thuật có cơ sở hạ tầng thông tin vững chắc, kinh doanh nhiều lĩnh vực với các dịch vụ bưu chính viễn thông và tin học là nòng cốt.

3.2. Biện pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính Bưu điện Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

3.2.1. Nâng cao năng lực tài chính, tích cực đa dạng hoạt động huy động vốn tạo ra nguồn cấp tín dụng

3.2.1.1. Tăng quy mô vốn chủ sở hữu

Đề đẩy mạnh hoạt động tín dụng bất kì một tổ chức tài chính dù là Ngân hàng thương mại hay các Công ty tài chính đều phải có vốn. Nâng cao năng lực tài chính của tổ chức thì mới có thể tiến hành các hoạt động tài chính. Hoạt động tín dụng không nằm ngoài qui luật đó. Giải pháp này có thể thực hiện được khi PTF đi chiếm dụng vốn hoặc tăng vốn chủ sở hữu. Ở thời điểm hiện tại, khi nền kinh tế mới bắt đầu bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và bước đầu có những chuyển biến tốt thì đối với các tổ chức tài chính, hoạt động huy động vốn là một công việc vô cùng khó khăn. Hầu hết các tổ chức tài chính – ngân hàng đều lựa chọn tăng năng lực tài chính của mình bằng phương pháp nâng vốn chủ sở hữu. Đây là hoạt động có tác dụng kép, vừa thu hút được nguồn vốn khác vừa nâng cao khả năng của chính tổ chức. Vốn chủ sở hữu là yếu tố cơ bản quyết định sức mạnh tài chính của Công ty Tài chính. Để đảm bảo an toàn hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh của mình trước tiên Công ty Tài chính phải đảm bảo có đủ mức vốn chủ sở hữu. Tăng vốn chủ sở hữu của Công ty Tài chính Bưu Điện là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quá trình phát triển của công ty. Mặc dù vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản có nhưng vốn chủ sở hữu lại đóng vai trò then chốt quyết định quyết định quy mô, khả năng cạnh tranh cũng như mức độ chống đỡ bù đắp rủi ro. Với ý nghĩa quan trọng đó, nếu Công ty Tài chính Bưu Điện không có sự thay đổi lớn, tăng trưởng rõ rệt về vốn chủ sở hữu thì bản thân công ty sẽ khó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh được. Để tăng vốn chủ sở hữu, Công ty có thể quan tâm đến các biện pháp sau: Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Tăng vốn điều lệ: PTF là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chuyên hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và tín dụng thì năng lực tài chính của Công ty là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu.

Bổ sung lợi nhuận hang năm: Cùng với việc trình lên Tập đoàn phương án tăng vốn điều lệ, Công ty Tài chính Bưu Điện cần chủ động tự phát triển vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận để lại. Mặc dù hiện nay lợi nhuận để lại của công ty còn thấp, tuy nhiên trong giai đoạn tới mức lợi nhuận của công ty sau khi nộp thuế thu nhập và trích lập các quỹ, có thể đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn thì đây chính là nguồn bổ sung tốt nhất. Theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ tài sản tăng tương ứng với vốn chủ sở hữu tăng lên do phần lợi nhuận để lại được coi là tỷ lệ tăng trưởng bền vững. Hay nói cách khác, phương pháp tích luỹ vốn từ lợi nhuận hàng năm là một trong những cách tốt nhất để Công ty Tài chính Bưu Điện phát triển bền vững. Để có thể bổ sung vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận thì công ty phải xác định rõ mục tiêu tăng trưởng tài sản hàng năm và mức vốn cần đạt được để quyết định tỷ lệ lợi nhuận giữ lại sau khi đã tính toán các nguồn bổ sung khác.

3.2.1.2. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động

Một trong những điều kiện cần để có thể đẩy mạnh hoạt động tín dụng đó là thu hút được nguồn vốn, không có vốn để cấp tín dụng thì các hoạt động tiếp theo nó cũng không thể diễn ra. Cho nên công tác huy động vốn cần phải được chú ý, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi PTF đang hoạt động chưa thực sự hiệu quả với tư cách là một định chế tài chính của VNPT hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành bưu chính – viễn thông.

  • Huy động vốn từ VNPT và các đơn vị thành viên
  • Huy động vốn từ nguồn vốn phát hành trái phiếu của VNPT :

Hiện nay, do bị hạn chế bởi hạn mức tín dụng 15% vốn chủ sở hữu đối với một khách hàng nên PTF đã phải huy động vốn chủ yếu bằng hình thức nhận uỷ thác đầu tư từ các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nguồn vốn này thường có lãi suất cao hơn nhiều so với các nguồn vốn huy động trực tiếp từ các tổ chức và cá nhân. Do vậy, giải pháp quan trọng nhằm gia tăng nguồn vốn tài trợ cho các dự án đầu tư của VNPT và giảm chi phí huy động vốn đối với PTF hiện nay là PTF cần chủ động xây dựng phương án phát hành trái phiếu trình VNPT, trong đó VNPT là chủ thể phát hành trái phiếu, PTF với vai trò là tổ chức nhận uỷ thác phát hành và giải ngân vốn cho các dự án đầu tư của VNPT. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Đây là một hình thức huy động vốn có tính khả thi cao đối với VNPT do VNPT là tổ chức có uy tín trên thị trường, có thể thu hút được lượng vốn lớn với lãi suất thấp thông qua phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu và giải ngân vốn VNPT nên uỷ thác cho PTF, do để quản lý và sử dụng nguồn vốn phát hành trái phiếu có hiệu quả thì VNPT cần phải có kế hoạch giải ngân vốn chính xác và kế hoạch quản lý nguồn vốn trả nợ tối ưu, nhưng thực tế thì VNPT lại không có điều kiện để thực hiện do số lượng dự án và lượng vốn đầu tư hàng năm của VNPT là quá lớn.

Trong quá trình thực hiện nhận uỷ thác phát hành trái phiếu và giải ngân vốn, PTF cần liên hệ chặt chẽ với các đơn vị thành viên được uỷ quyền là chủ đầu tư để đảm bảo tiến độ giải ngân vốn phù hợp với thời điểm huy động vốn, định kỳ báo cáo VNPT về kế hoạch giải ngân và trả nợ, đề xuất các giải pháp với VNPT nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngoài ra, PTF cần phải xây dựng kế hoạch quản lý và tái sử dụng nguồn vốn trả gốc định kỳ của các dự án vay vốn từ nguồn phát hành trái phiếu sao cho tối ưu nhất, do các dự án thường trả gốc định kỳ 6 tháng/lần nhưng trái phiếu thông thường chỉ có một ngày đáo hạn duy nhất

  • Huy động vốn từ các đơn vị thành viên của VNPT

Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) là một trong các định chế tài chính của VNPT, thường có nguồn vốn nhàn rỗi lớn. Do vậy, PTF cần tiếp xúc với PTI để có thể huy động được nguồn vốn này thông qua hình thức nhận uỷ thác đầu tư để cho vay các dự án của VNPT.

Ngoài ra, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong VNPT, các Công ty cổ phần, liên doanh có vốn góp chi phối của VNPT cũng sẽ là nguồn thu hút vốn tiềm năng của PTF. Các đơn vị này thường có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi và gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng với lãi suất thấp, do vậy PTF có thể huy động vốn từ các đơn vị này dưới hình thức vay vốn hoặc nhận uỷ thác đầu tư.

  • Tăng cường huy động vốn từ các tổ chức tài chính Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Trong chiến lược phát triển của VNPT đến năm 2020 thì dự kiến nguồn vốn vay tín dụng là 19.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn đầu tư 19,2%. Như vậy, nguồn vốn vay tín dụng vẫn sẽ là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng thiết yếu đối với VNPT. Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, VNPT nên uỷ quyền cho PTF là đầu mối huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, như vậy sẽ tránh được sự quan hệ chồng chéo dẫn đến không hiệu quả. Nếu PTF là tổ chức đầu mối huy động vốn từ các tổ chức tín dụng thì PTF có thể chủ động trong việc đàm phán với các tổ chức tín dụng, giúp VNPT quản lý vốn giải ngân hiệu quả hơn, đồng thời tạo thuận lợi cho PTF trong công tác thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư của các đơn vị trong VNPT do PTF đã nắm bắt được rõ quá trình đầu tư, giải ngân vốn của dự án, thẩm định được tính hiệu quả của dự án.

Mặt khác, để gia tăng vốn huy động từ các tổ chức tài chính theo hình thức vay vốn hoặc nhận uỷ thác đầu tư, PTF cần phải có các chính sách đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các tổ chức này. Ngoài các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngân hàng Liên doanh, Công ty Tài chính trong nước, PTF cần mở rộng hơn nữa mối quan hệ với các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Quỹ đầu tư, Công ty bảo hiểm vì đây là những tổ chức tài chính có khả năng đáp ứng cao nhu cầu vay vốn đầu tư của VNPT và PTF.

Bên cạnh đó, PTF nên dần tiếp cận với các tổ chức tín dụng nước ngoài thông qua VNPT, để xác lập quan hệ vay vốn cho VNPT và PTF. Hiện nay, việc huy động vốn từ nguồn vốn này còn chưa hấp dẫn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn kiểm soát quản lý chặt chẽ các khoản vay từ nước ngoài nên thủ tục thẩm định, xét duyệt lâu và phải được Chỉnh phủ hay Ngân hàng Nhà nước Việt nam bảo lãnh. Tuy nhiên, nguồn vốn này sẽ là quan trọng đối với VNPT vì đây là nguồn ngoại tệ mạnh đáp ứng nhu cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ từ nước ngoài, có thể tìm kiếm những nguồn vốn lãi suất thấp, thời hạn vay dài. Với uy tín và danh tiếng VNPT đã tạo lập được trên thị trường, với mối quan hệ đã sẵn có với các tổ chức tài chính quốc tế trong nhiều năm qua dưới hình thức tín dụng thương mại (chủ yếu là tín dụng người bán) thì việc tiếp cận, khai thác nguồn vốn này là hoàn toàn có tính khả thi cao. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

  • Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư

PTF nên phát triển hoạt động huy động vốn thông qua hình thức nhận tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm của các tổ chức và cá nhân; phát hành kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn. Trước hết, PTF nên phát huy thế mạnh của mình để triển khai trong phạm vi các đơn vị và CBCNV trong Ngành, từ đó đúc rút kinh nghiệm để mở rộng thực hiện ra bên ngoài. Với giải pháp huy động vốn này thì PTF có thể sử dụng để cho vay các dự án của các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trong VNPT, các công ty cổ phần và liên doanh có vốn góp của VNPT và các đơn vị ngoài VNPT. Đây chính là một trong những giải pháp có tính chiến lược của PTF và đảm bảo sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với hình thức nhận vốn uỷ thác từ các tổ chức và cá nhân của PTF hiện nay.

Do bị hạn chế về mạng lưới giao dịch nên PTF khó có thể thực hiện trực tiếp được các nghiệp vụ này mà có thể thuê Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện – đơn vị thành viên của VNPT, là đại lý nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá cho PTF. Tuy nhiên, để cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác, do PTF là một tổ chức tài chính trung gian mới trên thị trường nên PTF cần tính toán sao cho lãi suất huy động và các quyền lợi của nhà đầu tư khi mua trái phiếu phải đảm bảo hấp dẫn các nhà đầu tư nhưng vẫn mang lại hiệu quả cho PTF. Và để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này đòi hỏi PTF cần phải có kế hoạch huy động và sử dụng vốn hợp lý.

3.2.2. Nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường khâu thẩm định và dải ngân trong qui trình tín dụng Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

  • Nâng cao chất lượng tín dụng

Từ kinh nghiệm thực tiễn của các Ngân hang thương mại, song song với việc mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng tín dụng là uy tín, là vấn đề sống còn của các tổ chức tín dụng trong điều kiện hiện nay. Đối với PTF, đây cũng phải là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình cung cấp tín dụng cho các khách hàng, đặc biệt là các đối tượng ngoài VNPT. Để giải quyết được vấn đề này, Công ty có thể quan tâm tới một số đề xuất như sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao khả năng thu thập, cập nhật thông tin, xử lý thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án, đánh giá khách hàng, đánh giá khoản vay, quản lý dư nợ tín dụng.

Hai là, hoàn thiện các quy trình, quy chế cho vay đối với các loại khách hàng và quy trình quản lý tín dụng để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

Ba là, nâng cao chất lượng thẩm định dự án, thông qua việc tăng cường đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng theo các chuẩn mực và thông lệ.

Bốn là, thành lập Hội đồng tín dụng để tư vấn cho Ban lãnh đạo PTF phê duyệt tất cả các khoản tín dụng hoặc các khoản cho vay vượt quá một số tiền nhất định, phê duyệt hạn mức tín dụng và lãi suất của các khoản vay; thẩm tra, quyết định việc đánh giá, xếp hạng các doanh nghiệp vay vốn; thẩm tra, quyết định việc đánh giá tài sản bảo đảm nợ vay; nghiên cứu, đề xuất các biện pháp xử lý các khoản nợ xấu nhằm kiểm soát rủi ro trong quy trình cho vay. Thành phần của Hội đồng tín dụng gồm: (1) Giám đốc hoặc Phó giám đốc, (2) Trưởng phòng Tín dụng hoặc cán bộ tín dụng, (3) Một chuyên viên pháp lý (Thư ký hội đồng), (4) Một số chuyên gia trong và ngoài Ngành am hiểu tính chất kinh tế – kỹ thuật của dự án (mời theo từng dự án).

Hội đồng tín dụng làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, các thành viên có ý kiến độc lập của mình. Do chức năng của Hội đồng chỉ là tư vấn nên các ý kiến của các thành viên chỉ có giá trị tham khảo. Chủ tịch Hội đồng căn cứ vào ý kiến của các thành viên để xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

  • Tăng cường khâu thẩm định và dải ngân trong qui trình tín dụng

Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả cho vay sau này vì kết thúc khâu thẩm định sẽ đưa ra kết quả có chấp nhận cho khách hàng vay hay không. Thẩm định gồm hai bước cơ bản là thu thập thông tin và xử lý thông tin.

  • Thu thập thông tin Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như phỏng vấn người xin vay, sổ sách ngân hàng, các nguồn thu thập từ các doanh nghiệp, thông qua báo cáo tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, các nguồn thông tin từ dịch vụ, các cơ quan cung ứng thông tin, và từ các nguồn khác… Hiện nay, có nhiều nguồn thông tin với độ chính xác lẫn lộn nhau. Vì vậy, việc lựa chọn thông tin nào là chính xác là rất khó. Đối với các công ty trong ngành thì thông tin mà công ty nắm được có thể tốt hơn đối với các doanh nghiệp ngoài ngành. Công ty chủ yếu thu thập thông tin từ phía khách hàng ngoài thông qua phỏng vấn trực tiếp, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh và cũng có trường hợp ngân hàng cử cán bộ tín dụng tới tận nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên nếu chỉ thu thập nguồn tin từ phía khách hàng thì không có độ tin cậy cao vì chúng ta biết rằng khách hàng muốn vay một cách nhanh chóng nên thường xuyên xảy ra hiện tượng thiếu trung thực khi đưa ra những thông tin về mình. Vì vậy mà Công ty cần mở rộng phạm vi thu thập những nguồn thông tin khác nhưng phải biết chọn lọc để tránh hiện tượng “loãng thông tin” PTF cần chú ý đến những nguồn sau:

Thứ nhất, Cần chú trọng tới việc cử cán bộ có kiến thức nghiệp vụ ngân hàng và có kiến thức chuyên môn của ngành nghề lĩnh vực mà khách hàng đang kinh doanh, đến tận địa bàn sản xuất của doanh nghiệp. Kết hợp với những thông tin do khách hàng cung cấp như báo cáo tài chính tình hình sản xuất kinh doanh.

Thứ hai, Công ty cần phải thường xuyên theo dõi những thông tin được cung cấp từ hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, hệ thống thông tin này được đánh giá là đáng tin cậy vì do Nhà Nước quản lý. Tuy nhiên, hệ thống này mới được thành lập nên chưa hoàn thiện và đầy đủ cả về chất lượng và số lượng.

Thứ ba, Công ty cần có bộ phận riêng quản lý các hồ sơ giấy tờ của khách hàng kể cả những khách hàng tạm thời không có quan hệ tín dụng với Công ty. Đây cũng sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong nhiều trường hợp cần thiết.

Thứ tư, Chú trọng nguồn thông tin đại chúng vì đây là nguồn thông tin khách quan nhất. Mặt khác, Công ty cũng cần có sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với các tổ chức tín dụng khác, các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương và giữ tốt mối quan hệ với khách hàng vì đôi khi họ cũng có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quý báu.

Để có thể thu thập các thông tin, em xin đề xuất một số phương pháp thu thập thông tin sau:

  • Phương pháp thu tin qua mạng máy tính nối mạng với các tổ chức tín dụng khác.
  • Thu thập thong tin qua quan hệ với các tổ chức tín dụng khác và các doanh nghiệp cùng ngành bưu chính – viễn thông.
  • Thu tin qua đường công văn từ các cơ quan quản lý của Nhà Nước hoặc chính quyền địa phương thuộc địa bàn hoạt động của Ngân hàng cho vay. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
  • Phương pháp thu tin trực tiếp từ doanh nghiệp, gặp gỡ trực tiếp để phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp hoặc gián tiếp qua điện thoại, fax để chuyển đến doanh nghiệp gửi về Ngân hàng các thông tin dưới dạng văn bản.
  • Phương pháp thu thập thông tin từ các cơ quan thông tin báo chí, đây là phương pháp đơn giản nhưng rất hữu hiệu, thông tin có nguồn gốc xác thực, đa dạng, phong phú.
  • Phương pháp thu thập thông tin qua các mạng thông tin điện tử như mạng Internet, Vinanet, mạng trí tuệ Việt Nam của FPT v.v…

Như vậy, công viêc thu thập thông tin rất phức tạp, vì vậy Công ty nên thiết lập một bộ phận thông tin tín dụng cho riêng mình. Điều này không chỉ làm tốt cho khâu thẩm định mà giúp ích cho cả quá trình cho vay của Công ty, trong việc hạn chế rủi ro tín dụng nâng cao hiệu quả công tác cho vay.

  • Phân tích thông tin tín dụng

Khi có được các thông tin cần thiết thì việc lựa chọn khách hàng là rất quan trọng. Lâu nay trong thực tế thường chỉ có khách hàng lựa chọn ngân hang hoặc tổ chức tín dụng, ngân hàng thực hiện tín dụng đối với hầu hết khách hàng đến với mình. Vì thế khi xem xét thong tin công ty phải xác định rằng thực ra ở đây phải là quan hệ hai chiều: Khách hàng lựa chọn công ty và công ty lựa chọn khách hàng. Điều này rất quan trọng vì nó hạn chế rủi ro cho Công ty, đảm bảo vốn cho vay ra thu hồi đầy đủ, đúng hạn và có lãi, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của công ty. Khi lựa chọn khách hàng, Công ty cần chú ý chọn khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm ăn có uy tín và sẵn lòng trả nợ đúng hạn. Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các tổ chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh giá mức độ uy tín của khách hàng.

Việc lựa chọn khách hàng phải thực hiện một cách chủ động (nghĩa là nếu biết đơn vị kinh tế nào làm ăn có hiệu quả và có uy tín thì Công ty có thể chủ động đến đặt quan hệ tín dụng với đơn vị đó). Công ty không nên ở thế bị động, ngồi chờ khách đến gõ cửa xin vay, khi đó Công ty mới xem xét có cho khách hàng vay hay không. Việc lựa chọn khách hàng phải áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, tránh tình trạng đối với thành phần kinh tế quốc doanh, Công ty cứ cho vay mà không xem xét đơn vị đó kinh doanh có hiệu quả hay không hoặc khi cho các đơn vị trong ngành Bưu chính – Viễn Thông vay thì cũng phải chú ý đến vấn đề này Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Để việc lựa chọn khách hàng được khoa học, Công ty nên tiến hành phân tích và xếp loại các doanh nghiệp theo bốn nhóm tiêu thức, quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

  • Cụ thể:

Quy mô doanh nghiệp được chia làm ba loại: Doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ, dựa trên các tiêu thức mức vốn điều lệ, số nhân viên, doanh số hoạt động.

Đánh giá khả năng thanh toán phân thành ba loại: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, trung bình, kém. Dựa trên các cơ sở tính toán, phân tích khả năng tài chính doanh nghiệp, báo cáo chu chuyển tiền tệ.

Đánh giá về quan hệ tín dụng của doanh nghiệp được phân tích thành 05 loại: A, B, C, D, O. Trong đó: Có bốn loại A, B, C, D được xếp loại khoản vay tương ứng nhóm A có dư nợ tốt (Khoản vay trong hạn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn). Nhóm B có dư nợ có vấn đề gồm các khoản nợ quá hạn  180 ngày; Nhóm C là nhóm dư nợ tồi gồm các khoản nợ quá hạn trong 180 – 360 ngày; Nhóm D là nhóm dư nợ rất tồi, các khoản nợ rất tồi, các khoản nợ quá hạn > 360 ngày; Nhóm O là doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng.

Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh được phân chia thành hai loại: doanh nghiệp kinh doanh lỗ và doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận, dựa trên các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ để đánh giá.

Ngoài ra, Công ty có thế tiến hành xếp loại người lãnh đạo quản lý, điều hành doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng tại các tổ chức tín dụng. Việc xếp loại này dựa trên tiêu thức kỹ năng và kinh nghiệm của các nhà quản lý.

Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định cần có sự phối hợp giữa các chuyên gia những các bộ tư vấn về lĩnh vực như giá cả, kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm.

3.2.3. Mở rộng quan hệ tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong ngành, tích cực tìm kiếm các đơn vị cần vốn trong ngành, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp bên ngoài VNT và cho vay tiêu dùng.

Ngành Bưu chính – Viễn thong là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh và sôi động nhất trong những năm qua. Hiện có rất nhiều doanh nghiệp đang tham gia hoạt động trong cả hai lĩnh vực. Vào năm 2025, Sau khi chia tác Bưu chính – Viễn thông sự phân hóa rõ nét trong phát triển đã được thấy rõ. Trong khi viễn thong vẫn là một khu vực phát triển mạnh mẽ do nhu cầu thong tin liên lạc và giải trí của người dân càng tay thì các doanh nghiệp bưu chính lại phải tiến hành thay đổi, tái tổ chức lại để có thể thích ứng với tình hình trước khó khan trước mắt khi không được nhà nước hỗ trợ và phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Với quy mô về số lượng của các doanh nghiệp hoạt động trên cả hai lĩnh vực rất lớn, lên đến hàng ngàn doanh nghiệp việc thực hiện vai trò là đầu mối huy động vốn cho cả 2 ngành có vẻ chưa thực sự phù hợp với PTF. Tuy nhiên, việc hỗ trợ đối với một số doanh nghiệp về vốn ngắn hạn và trung hạn là điều thực sự có thể. Để làm được điều này, trước hết PTF phải tăng cường hình ảnh của mình tới các doanh nghiệp trong và ngoài ngành bưu chính viễn thông. Cụ thể đó là tiến hành các hoạt động marketing, truyền thong rộng rãi tới các doanh nghiệp trong và ngoài ngành, nâng cấp website, cung cấp các thong tin về sản phẩm cụ thể tới khách hàng, tổ chức hướng dẫn tư vấn miễn phí hoạt động sử dụng vốn thế nào cho hiệu quả. Thứ hai, PTF cần phải xúc tiến mở rộng tìm hiểu đối với các doanh nghiệp trong ngành, chủ động tìm kiếm khách hàng, chú trọng vào các khoản đầu tư phát triển của lĩnh vực viễn thong và các nhu cầu phát triển bưu chính hợp lý đồng thời đó là chủ động tận dụng các mối quan hệ sẵn có đối với một số đơn vị như PTI – Bảo Hiểm Bưu Điện ( 2 doanh nghiệp đã cùng kí thỏa thuận hợp tác vào 30/11/2024) để có thể tạo ra cơ chế hợp tác cùng chia sẻ và được tư vấn quản lý trong một số bộ phận mà PTF làm chưa tốt. Thêm nữa, các mối quan hệ này cũng tạo điều kiện cho PTF tiếp xúc gián tiếp với các doanh nghiệp khác trong ngành để có thể có được thong tin về nhu cầu vốn lưu động, vốn để đầu tư phát triển. Theo cá nhân tôi, hiện nay PTF nên đầu tư mở rộng quan hệ tín dụng với các khách hàng là doanh nghiệp viễn thông khi các doanh nghiệp này sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Viễn thong và các đơn vị cung cấp sản phẩm đầu vào, công nghệ cho các doanh nghiệp Viễn thông và cùng hợp tác đầu tư, cho vay vào bưu chính ở lĩnh vực chuyển phát để có thể gia tăng doanh thu cho ngành Bưu chính – Viễn Thông. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Song song với hoạt động mở rộng quan hệ tín dụng đối vơi các doanh nghiệp trong ngành thì PTF cũng cần chú ý mở rộng quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp bên ngoài, bởi hoạt động tín dụng của PTF chưa gắn bó với với các Công ty trong VNPT, việc thu thập các thông tin về kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch sử dụng vốn của VNPT đều gặp khó khan… Mặc dù PTF được thành lập với mục đích ban đầu là đầu mối huy động vốn cho các đơn vị thành viên bao gồm cả Bưu Chính – Viễn Thông, tuy nhiên các doanh nghiệp trong ngành thường không chọn liên kết với PTF mà lại lựa chọn các tổ chức tài chính khác hoặc ỷ lại vào cơ chế xin cho. Chính vì thế, biện pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác cũng đem lại cho PTF những cơ hội mới mẻ để hoạt động và phát triển. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển hết sức năng động và cùng với sự phát triển của nó là rất nhiều các doanh nghiệp tham gia vào thị trường đều có nhu cầu vay về vốn lưu động, vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp,… Việc lựa chọn và phát triển định hướng cho vay mới của PTF nên được chú trọng ở các ngành kinh tế nhiều tiềm năng như các ngành công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, dệt may da giầy, chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp hoá chất. Định hướng mới này nên tập trung vào các khoản tín dụng có quy mô vừa và nhỏ mang tính chất ngắn hạn, đồng thời nên được thực hiện với sự tham gia của các tổ chức tín dụng khác như các ngân hang thương mại trong những khoản vay trung hạn, các tổ chức tín dụng khác để có thể cùng phân tích và đánh giá và chia sẻ những rủi ro có thể mắc phải trong các dự án mà quy mô tín dụng ở mức cao.

Ngoài việc mở rộng quan hệ tín dụng với các tổ chức là doanh nghiệp thì PTF cũng nên chú ý đến một mảng tín dụng mà những hoạt động của nó trong thời gian gần đây đã trở nên cực kỳ hấp dẫn đó là tín dụng tiêu dung đối với khách hang là cá nhân. Cho vay tiêu dung là các khoản cho vay tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dung, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một trong những nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trải như cầu nhà ở, đồ dung gia đình và xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tín dụng. Hoạt động cho vay tiêu dung có thể là một biện pháp để đẩy mạnh tín dụng khi hiện nay việc đáp ứng tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đang tang trường chậm. Ngoài ra hoạt động này còn mang lại cho các Công ty tài chính lợi nhuận cực cao, thường là cao hơn cho vay tín dụng tiêu dung của ngân hang bởi gần đây các ngân hang đã siết chặt hoạt động cho vay tiêu dung do chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hang nhà nước và những điều kiện đảm bảo cho vay rất phức tạp như nghề nghiệp ổn định và có thu nhập cao. Những khách hàng của công ty tài chính thường là những trường hợp có thu nhập thấp như sinh viên mới ra trường, công nhân hoặc thu nhập không được đảm bảo như những người buôn bán nhỏ, nghề nghiệp không ổn định. Công ty có thể thu được lợi nhuận cao hơn nhờ thu trước một khoản giá trị của tài sản và chia khoản nợ thành các khoản nợ nhỏ hơn và có thời gian thu nợ dài hơn để cho khách hang có thể thanh toán được. Tuy nhiên khi lựa chọn mở rộng hoạt động cho vay tiêu dung PTF cần phải chú ý đến những đặc điểm của cho vay tiêu dung như nhu cầu vay tiêu dung của khách hang thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, người vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu, chất lượng các thong tin tài chính vay thường không cao; mức thu nhập và trình độ học vấn là 2 biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dung của khách hang, tư các của khách hang là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng,quyết định sự hoàn trả của các khoản vay. Để phát triển tín dụng tiêu dung thì trước hết công ty nên tập trung vào phát triển cho vay đối với các cán bộ nhân viên của một số thành viên trong ngành để phục vụ các nhu cầu như mua sắm, giáo dục và bước đầu mở rộng cho vay ở hoạt động mua sắm, ví dụ PTF có thể hợp tác với doanh nghiệp viễn thong di động hoặc các cửa hang buôn bán điện thoại di động để có thể cho khách hang vay tiêu dung mua các sản phẩm điện thoại di động cao cấp hoặc liên kết với một số tổ chức giáo dục để có thể cung cấp tín dụng vào hoạt động giáo dục.

3.2.4. Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý, linh hoạt và có khả năng cạnh tranh trên thị trường Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các tổ chức tín dụng cạnh tranh lẫn nhau trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính thường dựa vào ưu thế trên các phương diện sau: Giá cả – tức là lãi suất của các sản phẩm dịch vụ và sự tiện nghi trong việc tiếp cận các sản phẩm dịch vụ. Ở một số nước có mà thị trường tài chính còn chưa phát triển như ở Việt Nam thì giá cả là một yếu tố quan trọng khi quyết định lựa chọn các dịch vụ tài chính nhất là đối với các khách hàng cá nhân, khách hàng nhỏ lẻ.

Trong công tác huy động vốn Công ty tài chính Bưu Điện cần thực hiện chính sách linh hoạt hợp lý và có tính cạnh tranh cho mọi đối tượng, có chính sách ưu đãi cho các khách hang truyền thống trong từng thời kỳ và hoàn cảnh khách nhau. Lãi suất cho vay và lãi suất huy động được xác định trên cơ sở cung cầu trên thị trường, đảm bảo thu hồi vốn đủ cả gốc lẫn lãi đồng thời trả được lãi suất đều đặn cho người góp vốn huy động. Trên cơ sở lãi suất do Ngân hang Nhà nước quy định, các chiến lược của tập đoàn về hoạt động tài chính, Công ty tài chính Bưu Điện cần có chiến lược xác định mức lãi suất và phí dịch vụ theo hướng:

  • Xây dựng khung lãi suất huy động và biểu giá dịch vụ linh hoạt đủ sức cạnh tranh theo từng đối tượng khách hàng tại từng thời điểm.
  • Áp dụng mức lãi suất ưu đãi thấp hơn mức lãi suất cho vay bình quân và cung cấp các dịch vụ tư vấn miễn phí đối với các khách hàng truyền thống có nhu cầu lớn, thưòng xuyên ổn định và mức độ rủi ro thấp.
  • Đối với các dự án có hiệu quả cao, Công ty có thể áp dụng mức lãi suất ưu đãi.
  • Cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty, giảm chi phí quản lý và chi phí hoạt động vì đây là giải pháp cơ bản giúp Công ty cạnh tranh một cách an toàn và hiệu quả với các tổ chức tín dụng khác.

3.2.5 Một số biện pháp khác

  • Phát triển dịch vụ bao thanh toán:

Bao thanh toán là hình thức chiết khấu chứng từ nhằm tài trợ tín dụng đối với doanh nghiệp, trên cơ sở mua lại các khoản nợ phải thu của các doanh nghiệp phát sinh từ việc bán hàng trả chậm, thực hiện việc quản lý hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán cho các doanh nghiệp. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Xuất phát từ thực tế hiện nay là trong các quan hệ kinh doanh giữa các đơn vị thuộc khối hạch toán độc lập, Liên doanh, Công ty cổ phần và khối các đơn vị hạch toán phụ thuộc đã phát sinh hiện tượng các đơn vị hạch toán phụ thuộc, mặc dù có nguồn thu dồi dào và chủ động nhưng vẫn luôn nợ nần hoặc thanh toán chậm các khoản phải trả cho các đơn vị hạch toán độc lập, Liên doanh, Công ty cổ phần, gây nhiều khó khăn cho các đơn vị này trong việc duy trì hoạt động sản xuất thường xuyên do thiếu vốn lưu động, phải đi vay các tổ chức tín dụng làm tăng thêm chi phí hoạt động. Để giúp các đơn vị thuộc khối hạch toán độc lập, Liên doanh, Công ty cổ phần mà VNPT có góp vốn có được nguồn vốn lưu động ổn định, giảm chi phí lãi vay và góp phần làm tăng hiệu quả chung của VNPT thì PTF cần phải phát triển hoạt động bao thanh toán.

Song song với việc thực hiện các giải pháp nêu trên thì PTF cần phải đa dạng hoá các dịch vụ tín dụng của PTF như cho vay theo món, cho vay theo hạn mức, cho vay mua trả góp, bảo lãnh, chiết khấu chứng từ có giá…

Ngoài ra, PTF cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cho vay theo uỷ thác và cho vay đồng tài trợ, để khắc phục hạn chế về hạn mức tín dụng cho vay của PTF và để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư lớn của các dự án trong Ngành. Muốn vậy, PTF cần mở rộng việc tìm kiếm, hợp tác với các NHTM cổ phần, Ngân hàng Liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, các tổ chức tài chính có quy mô vốn lớn trên thị trường. Ngoài ra, PTF cần xây dựng phương án trình VNPT, đồng thời trình Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cho phép PTF là tổ chức tín dụng đầu mối.

3.3.Kiến nghị Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

Qua nghiên cứu hoạt động chung của Công ty Tài chính Bưu điện và hoạt động tín dụng, em nhận thấy có những tồn tại trong hoạt động của Công ty. Đó là:

  • Công ty Tài chính Bưu điện còn nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, vì thế gặp khó khăn để tạo ra nguồn cấp tín dụng.
  • Hoạt động tín dụng của Công ty tài chính bưu điện còn bị bó hẹp trong phạm vi của ngành, khâu thẩm định và dải ngân trong qui trình tín dụng còn yếu.
  • Công ty Tài chính Bưu điện chưa có được đầy đủ lợi thế của một Công ty tài chính thuộc một doanh nghiệp kinh tế trọng điểm của nhà nước.
  • Năng lực tài chính của PTF còn thấp.

Trên cơ sở những tồn tại của Công ty, em xin đề xuất một số kiến nghị sau:

3.3.1. Kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước

(1) Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước sửa đổi Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 886/2020/QĐ-NHNN ngày 11/08/2020 về việc “Sửa đổi, bổ sung Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 286/2019/QĐ-NHNN ngày 3/4/2019 của Thống đốc ngân hàng nhà nước” theo hướng cho phép các Công ty Tài chính trong Tập đoàn được đứng ra làm tổ chức tín dụng đầu mối đối với các dự án đầu tư phát triển mà Tổng Công ty chủ quản là chủ đầu tư, do hiện nay một số tổ chức tín dụng trên thị trường đều sẵn sàng tham gia đồng tài trợ cho các dự án của Ngành trong trường hợp PTF đứng ra làm tổ chức tín dụng đầu mối.

(2) Trong Nghị định về tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính nên bổ sung thêm các hoạt động cho Công ty Tài chính trong Tập đoàn như quản lý, sử dụng các quỹ, vốn tạm thời nhàn rỗi và điều hoà vốn trong Tập đoàn.

(3) Do đặc điểm vốn chủ sở hữu của các Công ty Tài chính còn hạn chế, trong khi đó hoạt động tài trợ cho các dự án của ngành là quan trọng, vì vậy ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn huy động bằng các công cụ nợ (kỳ phiếu, trái phiếu…) là nguồn chủ yếu. Để các Công ty Tài chính thực hiện vai trò điều hoà vốn trong tập đoàn được linh hoạt, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép Công ty Tài chính được phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 1 năm) để huy động vốn của các đơn vị thành viên với các điều kiện và thủ tục đơn giản hơn nhằm huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các đơn vị thành viên trong tập đoàn. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

(4) Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần có các biện pháp giám sát tài chính chặt chẽ hơn nữa vì hiện nay hệ thống giám sát của chúng ta chưa đủ hiệu quả để cảnh báo sớm rủi ro và xử lý một cách hiệu quả những vấn đề mới phát sinh. Hệ quả là việc điều hành chính sách cụ thể, ở từng thời điểm cụ thể cũng có những điều chưa phù hợp. Các quyết định của các cơ quan quản lý đưa ra thường chạy theo việc giải quyết từng xự vụ mà chưa có định hướng chiến lược dài hạn. Điều này làm cho các tổ chức tín dụng, trong đó có các Công ty Tài chính gặp nhiều khó khăn trong hoạt động vì các quyết định chồng chéo và thay đổi trong một thời gian ngắn.

3.3.2. Kiến nghị với VNPT.

(1) Hiện nay ở tập đoàn VNPT đang tồn tại song song với PTF là Ban kế toán – Thống kê – Tài chính của công ty mẹ và cũng thực hiện chức năng huy động vốn cho Tổng công ty. Sự tồn tại này tạo ra sự bất hợp lý, chồng chéo nhau trong hoạt động của PTF. Vì vậy VNPT cần sớm phân định trách nhiệm rõ ràng vai trò cụ thể của mỗi bên. Có như thế thì PTF mới phát huy được vai trò của mình một cách hiệu quả.

(2) Tập đoàn VNPT cần phải gia tăng nguồn vốn cho PTF. Khi tăng vốn tự có nghĩa là công ty sẽ hạn chế được nhiều rủi ro, hoạt động hiệu quả hơn và điều chỉnh các hoạt động khác cũng linh hoạt hơn. Hiện nay để có thể gia tăng nguồn vốn một cách nhanh chóng và hiệu quả thì công ty cần hoạt động tốt trên thị trường chứng khoán, tạo uy tín cho bản thân để thu hút nhiều tổ chức quan tâm đến cổ phiếu của mình. Trong thời buổi hội nhập PTF cũng nên chú ý đến thị trường nước ngoài để mở rộng mạng lưới khách hàng. Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tình hình hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x