Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Khảo sát công tác hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính Bưu điện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Giới thiệu về Công ty Tài chính Bưu điện
- Tên Công ty: Công ty Tài Chính Bưu Điện.
- Tên Giao dịch quốc tế: Post and Telecommunication Finance Company.
- Tên viết tắt: PTF.
Vốn điều lệ:
- Năm 2015 lúc mới thành lập vốn điều lệ của Công ty là 70 tỷ.
- Năm 2024, Công ty tăng vốn điều lệ là 500 tỷ.
- Trụ sở chính: Phòng 1504-1505 tầng 15 và tầng 19, toà nhà OCEAN PARK, số 1 phố Đào Duy Anh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Địa bàn hoạt động và bộ máy giúp việc:
Công ty Tài chính Bưu Điện được hoạt động trên phạm vi toàn quốc và ở nước ngoài khi được Tổng Công ty và các cơ quan quản lý Nhà nước cho phép;
Công ty Tài chính Bưu Điện được thành lập các đơn vị trực thuộc, mở các chi nhánh, văn phòng dại diện, phòng giao dịch, trạm liên lạc tại các tỉnh và thành phố ở Việt Nam; khi cần thiết được đặt văn phòng đại diện ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. Việc thành lập, mở và chấm dứt các hoạt đọng các đơn vị trực thuộc, chi nhánh, văn phòng đại diện của Công ty Tài chính Bưu Điện do Tổng công ty quyết định và phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Bộ máy giúp việc tại trụ sở chính, chi nhánh của Công ty Tài chính Bưu Điện gồm: Văn phòng, các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ. các phòng giao dịch.
- Thời gian hoạt động : 50 năm kể từ ngày cấp giấy phép.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Tài chính Bưu điện
Bước vào năm 2015, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã đạt được những thành tích rất to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra trong “Quy hoạch phát triển bưu chính viễn thông giai đoạn 2013-2017” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, VNPT dự kiến tổng số vốn đầu tư giai đoạn 2013-2017 khoảng 35.000 tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn cần huy động chiếm khoảng 60% tổng số vốn đầu tư. Trước tình hình đó, VNPT đã vận dụng sáng tạo và triệt để đường lối mở cửa của Đảng và Nhà nước trong việc huy động vốn. VNPT đã phát huy mạnh mẽ khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), liên doanh góp vốn với các đối tác nước ngoài, khai thác nguồn vốn của các tổ chức tín dụng xuất khẩu và các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn tín dụng người bán. Ngoài ra, nguồn vốn vay của các Ngân hàng thương mại trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng được tận dụng triệt để. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong việc huy động vốn nhưng VNPT vẫn gặp phải những hạn chế cũ tồn tại như: việc huy động vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở cấp Tập đoàn, còn các đơn vị thành viên vẫn có thói quen trông chờ vào các nguồn vốn từ Tập đoàn cấp xuống; hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, nhất là các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các đơn vị thành viên… Trong bối cảnh đó, việc sớm thành lập một tổ chức tài chính trung gian trực thuộc VNPT, thực hiện vai trò trung gian giữa VNPT và các đơn vị thành viên, giữa VNPT và thị trường tài chính, với chức năng chủ yếu là đầu mối huy động vốn, tư vấn cho VNPT huy động và quản lý vốn, thực hiện đầu tư tài chính cho VNPT là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.Do vậy, Công ty Tài chính Bưu điện đã được thành lập và hoạt động dựa trên các cơ sở pháp lý như sau:
- (1) Công văn số 88/KTTKTC ngày 04/06/2015 của Hội đồng quản trị VNPT về việc đề nghị Tổng cục Bưu điện ra quyết định thành lập Công ty Tài chính Bưu điện;
- (2) Quyết định số 415/2015/QĐ-TCCB ngày 08/07/2015 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện về việc thành lập Công ty Tài chính Bưu điện;
- (3) Quyết định số 225/QĐ-TCCB/HĐQT ngày 25/09/2015 của Hội đồng quản trị VNPT về việc phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính Bưu điện;
- (4) Quyết định số 340/2015/QĐ-NHNN5 ngày 10/10/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc cấp Giấy phép hoạt động số 03/GP-NHNN cho Công ty Tài chính Bưu điện của VNPT;
- (5) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 112959 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 12/06/2016;
- (6) Quyết định số 519/QĐ-NHNN ngày 26/05/2020 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung trong Giấy phép hoạt động của Công ty Tài chính Bưu điện và Quyết định số 340/2015/QĐ-NHNN5 ngày 10/10/2015 của Thống đốc NHNN (Quyết định số 519/QĐ-NHNN ngày 26/05/2020);
- (7) Giấy phép hoạt động ngoại hối số 15/GP-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp ngày 30/7/2020.
Công ty Tài chính Bưu điện (tên tiếng Anh là Post and Telecommunication Finance Company, tên viết tắt là PTF), là doanh nghiệp Nhà nước, là một đơn vị thành viên 100% vốn của VNPT, thuộc khối hạch toán độc lập, chịu sự quản lý của VNPT về vốn, chiến lược phát triển và tổ chức, nhân sự. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Mặt khác, PTF là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có tư cách pháp nhân, hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ, chịu sự thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, PTF chịu sự quản lý trực tiếp của VNPT và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngay từ khi mới thành lập vào cuối năm 2015, dưới ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á, Công ty Tài chính Bưu Điện đã hoạt động rất khó khăn. Nhưng bằng nỗ lực của mình, công ty đã có những bước phát triển tương đối và nhanh chóng ổn định, trở thành một tổ chức cung cấp các khoản tín dụng các dự án Bưu chính – Viễn thông, là một trung gian tài chính, là giải pháp gia tăng giá trị vốn của nhà đầu tư, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Tập đoàn giao.
Vốn điều lệ hiện nay của PTF là 500 tỷ đồng, thời hạn hoạt động của PTF là 50 năm kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động (10/10/2015), trụ sở hiện nay tại phòng 1504 –1505, Tầng 15, 19, toà nhà Ocean Park, số 1 Đào Duy Anh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. PTF được thành lập các chi nhánh và văn phòng đại diện tại các địa phương trong, ngoài nước khi được VNPT cho phép và Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
2.1.2. Đặc điểm chức năng, mục tiêu, hoạt động của Công ty Tài chính Bưu điện Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
2.1.2.1. Chức năng
Với vị trí là tổ chức tài chính trung gian giữa Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt Nam với thị trường tài chính, giữa Tập đoàn với các đơn vị thành viên, giữa các đơn vị thành viên với nhau; Công ty Tài chính là công tụ hoạt động tài chính của Tập đoàn và tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính trong thị trường tài chính, Công ty Tài chính Bưu Điện có các chức năng là:
- Đầu mối huy động vốn.
- Đầu mối đầu tư tài chính.
- Tư vấn quản lý tài chính tiền tệ, tài sản và đầu tư vốn.
- Kinh doanh tiền tệ.
- Kinh doanh dịch vụ tài chính.
2.1.2.2. Nhiệm vụ
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn BCVT và các tổ chức cá nhân khác theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước.
- Phát hành tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
- Đàm phát ký kết các hợp đồng vay vốn trong và ngoài nước cho Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn và các tổ chức, cá nhân khác theo uỷ quyền.
- Tiếp nhận và sử dụng vốn uỷ thác đầu tư trong và ngoài nước bao gồm cả vốn uỷ thác đầu tư của Nhà nước, Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn và các tổ chức cá nhân khác theo quy định của pháp luật.
- Làm đại lý phát hành trái phiếu cho Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
- Đáp ứng nhu cầu tín dụng của Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
- Tư vấn quản lý tài chính tiền tệ, tư vấn quản lý tài sản, kể cả việc thẩm định dự toán và thẩm tra quyết toán vốn đầu tư dự án của Tập đoàn, các đơn vị thành viên của Tập đoàn và các tổ khác theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật khi dược Tập đoàn và Ngân hàng Nhà nước chấp nhận.
2.1.2.3. Hoạt động của Công ty
- a. Hoạt động huy động vốn
Công ty Tài chính được huy động vốn bằng các hình thức sau:
- Nhận tiền có kỳ hạn từ một năm trở lên của các tổ chức cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước ;
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;
- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế;
- Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;
- Thực hiện các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
b. Hoạt động tín dụng
- Cho vay
Công ty Tài chính Bưu điện được cho vay dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
- Cho vay theo ủy thác của Chính phủ. của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác;
- Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Công ty Tài chính Bưu Điện được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và cá giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân;
- Công ty Tài chính Bưu Điện và các tổ chức tín dụng khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác cho nhau.
Bảo lãnh:
- Công ty Tài chính Bưu Điện được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Các hình thức cấp tín dụng khác:
- Công ty Tài chính Bưu Điện được cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ
Mở tài khoản tiền gửi:
- Công ty Tài chính Bưu Điện được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi Công ty Tài chính Bưu Điện đặt trụ sở chính và tại các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Việc mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam. Việc mở tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
- Công ty Tài chính Bưu Điện có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Dịch vụ ngân quỹ:
- Công ty Tài chính Bưu Điện được thực hiện các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hang
Hoạt động khác:
Công ty Tài chính Bưu Điện được thực hiện các nghiệp vu khác theo quy định của pháp luật, gồm:
- Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác
- Đầu tư tài chính vào các dự án và các tổ chức kinh doanh;
- Tham gia vào thị trường tiền tệ;
- Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng;
- Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho Tổng công ty và các doanh nghiệp;
- Thực hiện nghiệp vụ ủy thác, nhân ủy thác, làm đại lý và các dịch vụ trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính và vận hành hệ thống tài khoản của các tổ chức và cá nhân;
- Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng;
- Tổ chức thẩm định tài chính các dự án đầu tư, tư vấn quản lý tài chính tiền tệ, tư vấn quản lý và xác định giá trị tài sản, kể cả việc thẩm định dư toán và thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án của Tổng công ty, các đơn vị thành viên của Tổng công ty và các tổ chức khác; Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
- Cung ứng các dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác.
- Các nghiệp vụ Công ty Tài chính Bưu Điện được thực hiện khi các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép
- Hoạt động ngoại hối;
- Hoạt động bao thanh toán;
- Các hoạt động khác.
2.1.2.4. Kết luận
Nhiệm vụ của Công ty Tài chính Bưu Điện không chỉ đơn thuần là các nhiệm vụ của một trung gian tài chính trong nền kinh tế mà quan trọng hơn là nhiệm vụ hoạt động kinh doanh tài chính thông qua việc tạo nguồn và cung cấp các dịch vụ tài chính cho VNPT và các đơn vị thành viên VNPT. Có thể nói rằng sự ra đời của Công ty Tài chính Bưu Điện cũng như tất cả các Công ty Tài chính trong tập đoàn khác đều được kỳ vọng sẽ đem lại cho các tập đoàn một công cụ hữu hiệu trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư, quản lý vốn chưa sử dụng, điều hoà vốn trong nội bộ, tư vấn và thực hiện các dịch vụ tài chính khác để trợ giúp cho tập đoàn và các đơn vị thành viên.
Đảm nhận các nhiệm vụ quan trọng như vậy song trước khi Nghị định 79/2019/NĐ-CP ra đời, hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện bị quy định rất hạn chế: phạm vi hoạt động chỉ giới hạn trong Tập đoàn, các đơn vị thành viên Tập đoàn và các đơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật. Công ty Tài chính Bưu Điện không được phép hoạt động ngoại hối, các nghiệp vụ được thực hiện chỉ gói gọn trong một số nghiệp vụ truyền thống như tín dụng, đầu tư vào các dự án, góp vốn mua cổ phần, tư vấn đầu tư, tài chính.
Ngày 04/10/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 79/2019/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động của công ty. Hiện nay các hoạt động chính của Công ty Tài chính Bưu Điện bao gồm các hoạt động như đã được quy định tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP và đã được trình bày tại mục 1.1.4 Đồng thời ngày 30/07/2020, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã cấp Giấy phép hoạt động ngoại hối cho Công ty Tài chính Bưu Điện số 15/GP-NHNN.Theo Giấy phép này thì Công ty Tài chính Bưu Điện được huy động vốn và cho vay vốn bằng ngoại tệ nhưng chưa được phép kinh doanh ngoại hối.
Nhìn chung, theo quy định trên và theo Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện thì phạm vi hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện bao gồm cả trong và ngoài VNPT. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay khách hàng của Công ty Tài chính Bưu Điện vẫn chủ yếu là các đơn vị thành viên trong VNPT.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
2.1.3.1. Nguyên tắc tổ chức và cơ chế điều hành
PTF khai trương hoạt động ngày 25/11/2015 nhưng chính thức triển khai hoạt động vào đầu năm 2016. Trong giai đoạn đầu, đặc biệt là năm 2016, Công ty tập trung vào việc nghiên cứu chiến lược phát triển, tổ chức bộ máy, đào tạo, xây dựng quy chế quản lý điều hành, xây dựng các quy trình nghiệp vụ, hiểu và làm rõ các vấn đề về luật pháp có liên quan đến hoạt động của Công ty, đây là bước đi đầu tiên, căn bản. Tuy nhiên, vì mới đi vào hoạt động, gặp không ít những khó khăn cản trở nên Công ty luôn phải thay đổi chiến lược hoạt động của mình cho phù hợp, do đó trong mấy năm qua cơ cấu tổ chức của Công ty đã được thay đổi nhiều lần.
Về cơ chế tổ chức và điều hành hoạt động: tuân thủ nguyên tắc tập trung, thống nhất, đảm bảo tính mệnh lệnh, sự nhất quán, khoa học và sự phối hợp cao, Công ty Tài chính Bưu Điện được tổ chức và điều hành theo cơ chế sau:
- Giám đốc Công ty là đại diện pháp nhân của PTF trước pháp luật, là người có quyền quyết định cao nhất về mọi hoạt động của Công ty, trực tiếp điều hành công việc hàng ngày, chịu trách nhiệm trước VNPT và Nhà nước về mọi hoạt động của PTF.
- Các Phó Giám đốc Công ty là người giúp Giám đốc quản lý, điều hành một số lĩnh vực hoạt động của PTF theo phân công của Giám đốc Công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật trong việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
- Dưới sự quản lý, điều hành của Lãnh đạo Công ty, các bộ phận trong Công ty được tổ chức thành Trung tâm và các phòng theo 2 khối: Khối Kinh doanh và Khối Hỗ trợ. Trong đó, Khối Kinh doanh gồm: Trung tâm Dịch vụ Tư vấn, Phòng Tín dụng và Phòng Đầu tư-Chứng khoán; Khối Hỗ trợ gồm: Phòng Nghiên cứu – Thị trường, Phòng Kế toán – Ngân quỹ, Phòng Tổ chức – Lao động, Phòng Tin học – Thống kê và Phòng Hành chính – Lễ tân.
2.1.3.2. Cơ cấu tổ chức
Hội đồng quản trị:
- Ông Chủ tịch Hội động quản trị
- Ông Thành viên kiêm nhiệm
- Ông Thành viên chuyên trách
Ban Giám đốc:
- Ông Giám đốc
- Ông Phó Giám đốc
- Bà Phó Giám đốc
- Ông Phó Giám đốc
Hệ thống tổ chức của Công ty Tài chính Bưu điện
- Trụ sở chính
- Các chi nhánh, Văn phòng đại diện, Công ty trực thuộc
- Bộ máy giúp việc tại trụ sở chính, tại Chi nhánh của Công ty Tài chính Bưu điện; bao gồm: Văn phòng, các phòng (ban) chuyên môn, nghiệp vụ và các phòng giao dịch. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Tổ chức bộ máy quản trị, kiểm soát và điều hành
- Cơ quan quản trị: Hội đồng quản trị Công ty Tài chính Bưu điện.
- Cơ quan kiểm soát: Ban kiểm soát Công ty tài chính Bưu điện.
- Cơ quan điều hành: Giám đốc Công ty Tài chính Bưu điện, các Phó Giám đốc và Kế toán trưởng.
Hình 1.1 – Mô hình tổ chức của Công ty
2.1.3.3. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban
- Hội đồng quản trị
Là cơ quan quản lý của Công ty Tài chính Bưu điện, được Tập đoàn giao quản trị Công ty Tài chính Bưu điện theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty Tài chính Bưu điện để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị của Tập đoàn.
- Ban kiểm soát
Là cơ quan kiểm tra hoạt động tài chính của Công ty Tài chính Bưu điện; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ của Công ty Tài chính Bưu điện.
- Ban giám đốc
Giám đốc: Giám đốc Công ty là đại diện pháp nhân của Công ty Tài chính Bưu điện, là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước Tập đoàn, trước pháp luật về việc điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty Tài chính Bưu điện.
Giám đốc của Công ty do Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn bổ nhiệm, miễn nhiệm và phải được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y. Giám đốc công ty không được kiêm nhiệm bất cứ một chức vụ điều hành nào tại tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp đó là đơn vị trực thuộc của Công ty Tài chính Bưu điện và chỉ được giữ chức danh kiêm nhiệm về quản trị, kiểm soát tại đơn vị trực thuộc đó. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Phó giám đốc: Là người giúp giám đốc Công ty điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Công ty Tài chính Bưu điện theo sự phân công và ủy quyền của Giám đốc Công ty; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công hoặc ủy quyền.
Kế toán trưởng: Là người có nhiệm vụ thực hiện công tác tài chính, kế toán của Công ty Tài chính Bưu điện; giúp Giám đốc Công ty giám sát tài chính tại Công ty Tài chính Bưu điện theo Pháp luật về tài chính, kế toán, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Giám đốc Công ty và pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc ủy quyền.
Các Phòng ban chức năng:
- Khối hỗ trợ:
Ban hạn chế rủi ro: là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc Công ty về nội dung công việc; là bộ phận trung gian giữa Giám đốc/Lãnh đạo Công ty với các bộ phận kinh doanh trong việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến rủi ro về hoạt động kinh doanh.
Phòng Hành chính – Lễ tân: là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc/ Lãnh đạo công ty về nội dung công việc; là bộ phận trung gian giữa Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty với các bộ phận thuộc Công ty trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ hành chính, lễ tân.
Phòng Kế toán – Ngân quỹ: là bộ phận chức năng của Lãnh đạo Công ty trong các hoạt động kế toán và ngân quỹ, hỗ trợ cho hoạt động nghiệp vụ của các bộ phận trong Công ty. Là bộ phận có chức năng tổ chức, triển khai thực hiện công tác hạch toán trong toàn Công ty; thực hiện thu chi, lưu giữ và bảo quản chứng từ có giá của Công ty; Quản lý xuất nhập tài sản, công cụ, vật tư văn phòng phục vụ các hoạt động của Công ty. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Phòng Nghiên cứu- Thị trường là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty về nội dung công việc; là bộ phận trung gian giữa Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty với các bộ phận thuộc Công ty trong việc xem xét giải quyết các vấn đề có liên quan đến nghiên cứu phát triển, tiếp thị, thông tin và lưu trữ.
Phòng Phát triển Kinh doanh và Chính sách Tín dụng là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc/Lãnh đạo Công ty về nội dung công việc; là bộ phận trung gian giữa Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty với các bộ phận thuộc Công ty trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động Tín dụng của Công ty.
Phòng Tổ chức – Lao động là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty về nội dung công việc; là bộ phận trung gian giữa Giám đốc. Lãnh đạo Công ty với các bộ phận thuộc Công ty trong việc xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức quản lý cán bộ, đào tạo, thi đua, tiền lương và các ,lợi ích khác đối với cán bộ nhân viên trong Công ty.
Phòng Tổng hợp kiểm soát có nhiệm vụ tiến hành kiểm soát đảm bảo tính pháp lý của việc thực hiện các quy trình các quy định của công ty nhằm rà soát các sai sót về thủ tục hành chính cũng như các văn bản mà công ty phát hành ngoài. Theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạt công tác của công ty, các quyết định, chỉ thị của Giám đốc. Thực hiện các nghiệp vụ thư ký văn phòng…;đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Lãnh đạo Công ty giao.
Phòng Tin học – Thống kê là một bộ phận độc lập thuộc khối Văn phòng của Công ty, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc/ Lãnh đạo Công ty về nội dung công việc và bộ phận trung gian giữa Giám đốc/Lãnh đạo Công ty với các bộ phận thuộc Công ty trong việc hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến tin học, thống kê trong công ty.
Phòng Tin học – Thống kê có nhiệm vụ xây dựng phương án và triển khai thực hiện hệ thống tin học, xây dựng các chương trình phục vụ công tác nghiệp vụ, điều hành và quản lý hệ thống mạng tin học, tổ chức và duy trì công tác thống kê của công ty. Xây dựng, hoàn thiện và triển khai phương án bảo vệ an toàn dữ liệu, bảo mật thông tin trên hệ thống tin học của công ty. Xử lý các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hệ thống tin học của công ty, thực hiện bảo trì, giải quyết sự cố, sửa chữa thay thế phần cứng trên hệ thống tin học; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Lãnh đạo Công ty giao.
- Khối kinh doanh Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Phòng Đầu tư Tài chính là một bộ phận độc lập thuộc khối Kinh doanh của Công ty; Chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc phục trách/ Lãnh đạo Công ty về các hoạt động nghiệp vụ. Phòng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về đầu tư tài chính và ủy thác đầu tư, phối hợp với phòng Nguồn vốn và Kinh doanh Tiền tệ xây dựng phương án huy động và sử dụng vốn phục vụ nhu cầu đầu tư tài chính. Ngoài ra, Phòng Đầu tư – Tài chính còn tham gia hoạt động tư vấn về đầu tư tài chính, ủy thác đầu tư và các hoạt động tư vấn khác của Công ty.
Phòng Kinh doanh và Phát hành Chứng khoán là một bộ phận độc lập thuộc khối Kinh doanh của Công ty; Chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc phụ trách/Lãnh đạo Công ty về các hoạt động nghiệp vụ. Là bộ phận tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh và phát hành chứng khoán; đồng thời tham gia hoạt động tư vấn về kinh doanh, phát hành chứng khoán và các hoạt động tư vấn khác của Công ty,
Phòng nguồn vốn và Kinh doanh Tiền tệ là một bộ phận độc lập thuộc khối Kinh doanh của Công ty; Chịu sự quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc phụ trách/ Lãnh đạo Công ty về các hoạt động nghiệp vụ. Phòng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện, tư vấn các hoạt động nghiệp vụ về nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ của Công ty và khách hàng.
2.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính Bưu điện Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
2.2.1. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Tài chính Bưu điện
Thu nhập từ lãi và các khoản tương đương lãi mà chủ yếu là thu nhập lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn thu của công ty, qua các năm đều trên 80%. Nguồn thu này chủ yếu từ hoạt động huy động vốn và gửi tiền liên ngân hàng. Đây là lĩnh vực kinh doanh hiệu quả nhất của công ty, mặc dù thị trường vốn liên ngân hàng năm 2025 và năm 2026 gặp nhiều khó khăn nhưng hoạt động kinh doanh tiền tệ đã tích cực phát huy và đem lại hiệu quả.
- Bảng 2.1 – Bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh
Do trong năm 2024 và 2025 thị trường chứng khoán giảm sâu và chỉ bắt đầu có chiều hướng chưa ổn định ở năm 2026. Chỉ số VNIndex từ 1000 điểm xuống còn khoảng 400 điểm, khiến cho chi phí trích lập dự phòng tăng lên nhanh chóng. Đến năm 2026, trích lập dự phòng đã được hoàn nhập và giảm xuống. Chí phí cho hoạt động kinh doanh chứng khoán với tỷ trọng 5,63 % năm 2024 đã tăng lên 57,963% trong năm 2025 và tiếp tục tăng lên 74,846%. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của công ty trong năm 2025 và năm 2026.
Có thể thấy năm 2025 là một cột mốc đánh dấu một năm đầy biến động đối với ngành Tài chính toàn Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Công ty Tài chính Bưu Điện cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế. Đây là điều tất yếu khách quan vì trong nền kinh tế hội nhập các tổ chức tín dụng có mối liên hệ ràng buộc dây chuyền rất chặt chẽ. Kinh tế thế giới ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế Việt Nam. Do đó các tổ chức tín dụng nói chung và công ty Tài chính Bưu Điện nói riêng phải có nguồn lực đủ mạnh và bước đi chính xác để vượt qua cuộc khủng hoảng này. Năm 2026 qua, Công ty Tài chính Bưu Điện đã từng bước cố gắng và đã bước đầu trở lại họat động kinh doanh có hiệu quả hơn so với năm 2025, tuy nhiên thì hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán trong năm 2026 lại không mang về hiệu quả cao cho doanh nghiệp mà trái lại, mức thua lỗ trong đầu tư kinh doanh chứng khoán là cao hơn.
2.2.2. Khảo sát thực trạng hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính Bưu Điện Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
2.2.2.1. Tình hình hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng được coi là “bề nổi” của PTF. Các khách hàng chủ yếu của PTF là VNPT, các đơn vị liên doanh, các công ty cổ phần, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp trong ngành Bưu chính Viễn thông, 64 Bưu điện tỉnh/ thành phố, các đơn vị cùng ngành kinh tế – kỹ thuật và một số doanh nghiệp ngoài ngành. Bênh cạnh đối tượng cho vay là các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế thì khách hàng của PTF còn là các cán bộ nhân viên lao động trong ngành. Thực tế PTF đã tiến hành các hình thức cho vay ngắn hạn, cho vay trung dài hạn bằng nguồn vốn tự có, cho vay gián tiếp thông qua phương thức cho vay hợp vốn, uỷ thác. Để đánh giá hoạt động cho vay của PTF ta xét bảng sau:
- Bảng 2.2 Doanh số thu/cấp tín dụng
Qua bảng ta thấy doanh số cho vay năm 2024 tăng rất nhanh. Trong năm 2024 quy mô tín dụng của PTF cho khách hàng được mở rộng. Công ty đã đẩy mạnh hoạt động tín dụng. Kết hợp với biểu đồ ta thấy chênh lệch doanh số thu và doanh số cấp không quá chênh lệch nhiêu chứng tỏ công tác thu hồi nợ khá tốt, khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. Năm 2024 vốn điều lệ của công ty từ 70 tỷ lên 500 tỷ, công ty đã mở rộng hoạt động tín dụng với việc cho khách hàng cá nhân vay. Do đó mà chênh lệch doanh số cấp và doanh số thu nợ năm 2024 tăng hơn so với năm 2023.
Tuy nhiên sang đến năm 2025, do khủng hoảng kinh tế, chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước với mức lãi suất cơ bản lên rất cao, và chiến lược bảo toàn vốn của công ty trước khủng hoảng nên công ty đã đẩy mạnh hoạt động thu hồi nợ và hạn chế cho vay. Điều này làm doanh số cấp tín dụng năm 2025 giảm mạnh so với năm 2024; giảm 93,29% tương ứng 385098 triệu đồng; doanh số thu tín dụng cũng giảm 54,03% tương ứng 168080 triệu đồng so với năm 2024.
Sang đến năm 2026, khi tình hình kinh tế Việt Nam bước đầu đi vào giai đoạn phục hồi thì doanh số cấp tín dụng đã tăng lên 232,16% tương ứng với 71324 triệu đồng so với năm 2025; doanh số thu tín dụng cũng tăng lên 14,66% tương ứng với 20977 triệu đồng so với năm 2025.
Để phân tích cụ thể hoạt động tín dụng của công ty ta xem xét dư nợ của công ty phân theo thời gian, đối tượng cho vay và chất lượng tín dụng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Dư nợ tín dụng của Công ty Tài chính Bưu Điện phân loại theo thời gian từ năm 2024-2026:
- Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng theo thời gian ( 2024-2026)
Qua bảng ta thấy tỷ trong dư nợ cho vay trung hạn trong tổng dư nợ tăng dần từ 57% tại ngày 31/12/2024 lên đến 71% tại ngày 31/12/2025 và đạt ở mức 79% tại ngày 31/12/2026. Trong khi đó tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn hạn và dài hạn trong tổng dư nợ giảm dần qua các năm. Điều này phù hợp với mục tiêu của công ty đề ra là cho vay trung và dài hạn là chính. Tuy nhiên do cho vay dài hạn còn gặp nhiều khó khăn trong vấn đề huy động vốn, khách hàng nên so với năm 2024 thì năm 2025 và 2026 tỷ trọng dư nợ cho vay dài hạn giảm dần.
Dư nợ cho vay của Công ty Tài chính Bưu Điện phân loại theo đối tượng khách hàng và theo loại hình doanh nghiệp từ năm 2024-2026:
- Bảng 2.4 Dư nợ tín cho vay theo đối tượng khác hàng và loại hình doanh nghiệp
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ trọng dư nợ cho vay các tổ chức kinh tế trong tổng dư nợ lớn hơn so với dư nợ cá nhân. Song ta nhận thấy tỷ trọng dư nợ cá nhân chiếm khá lớn trong tổng số dư nợ cho vay của Công ty. Điều này chứng tỏ chính sách tín dụng của công ty mở rộng cho vay đối với cá nhân. Chủ yếu là hình thức cho cán bộ công nhân viên trong ngành vay với hình thức đảm bảo bằng lương hoặc tài sản, trong đó đảm bảo bằng lương là chủ yếu. Đây là hình thức cho vay tín dụng thuận tiện phù hợp với nhu cầu và thu nhập của người vay. Do đó hình thức vay này đã thu hút được nhiều khách hàng.
Dư nợ của Công ty Tài chính Bưu điện Phân theo chất lượng tín dụng từ năm 2024-2026:
- Bảng 2.5 Dư nợ theo chất lượng tín dụng (2024-2026)
2.2.2.2. Chất lượng hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính Bưu điện
- a. Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng được coi là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng vì thu nhập từ hoạt động tin dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập, khi tín dụng có chất lượng tốt sẽ mang lai thu nhập cao cho công ty tài chính.
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng (Giai đoạn 2024-2026): Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Thu nhập từ hoạt động cho vay ngày càng tăng qua các năm. Năm 2025 thu nhập tăng 51% tương ứng là 13452 triệu đồng, sang tới năm 2026 thu nhập tăng 8,8% tương ứng với 3533. Tuy nhiên xét về mặt tỷ trọng thì tỷ trọng thu từ hoạt động cho vay năm 2024 trong tổng thu nhập giảm xuống so với năm 2025. Sự sụt giảm này là do trong năm 2024 thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính, chứng khoán tăng lên rất cao trong khi đó thu nhập từ hoạt động cho vay không tăng mạnh bằng. Năm 2025 tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay tăng thêm hơn 10% so với năm 2024. Trong năm 2026, doanh thu từ hoạt động cho vay vẫn tiếp tục tăng nhưng tỉ trọng lại giảm so với năm 2025, một phần là do sự phục hồi và đang ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam và do sự khó khăn trong công tác huy động vốn để phục vụ cho hoạt động tín dụng mà tỉ trọng giảm đi.
Như vậy có thể thấy rằng thu từ hoạt động cho vay tại công ty Tài chính Bưu Điện chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu nhập – là một trong những thước đo sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của công ty. Có được kết quả đó Công ty đã tăng cường hoạt động tín dụng tìm kiếm khách hàng mới gắn các nghiệp vụ Ngân hàng với dịch vụ trong quan hệ khách hàng, mở rộng cho vay các thành phần kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Hơn nữa trong những năm qua phần lớn các doanh nghiệp vay vốn tại công ty đều kinh doanh có hiệu quả mang lại lợi nhuận cho cả công ty và chính doanh nghiệp đó. Điều này chứng tỏ công ty đã chú trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng. Song bên cạnh đó còn một số Doanh nghiệp vay vốn của công ty hoạt động không hiệu quả từ đó đã không trả đúng hạn, đầy đủ gốc và lãi cho công ty làm giảm thu nhập của công ty.
- b. Tỷ lệ nợ quá hạn
Bất kỳ một tổ chức tín dụng nào cũng phải đối mặt với những khó khăn trong việc cho vay và thu hồi nợ từ các tổ chức kinh tế. Vấn đề gây ra rủi ro tín dụng được biểu hiện trực tiếp đó là nợ quá hạn. Nợ quá hạn cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng, phản ánh tính an toàn khả năng thu hồi vốn của mỗi khoản vay.
- Tỷ lệ nợ quá hạn tại Công ty Tài chính Bưu Điện
Thông qua các số liệu ở bảng trên có thể thấy chất lượng tín dụng tại chi nhánh là tương đối cao, thể hiện ở các mặt dư nợ cho vay và doanh số cho vay.Nợ quá hạn là những khoản nợ khi đến hạn trả nợ khách hàng không trả được và không được ngân hàng gia hạn nợ và chưa được xử lý bằng tài sản đảm bảo. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Năm 2024 là năm có tỷ lệ dư nợ quá hạn thấp nhất (chiếm 13,125 tỷ đồng tương đương 4,12%) trong đó chủ yếu là nợ của các chủ thể thuộc thành phần kinh tế quốc dân. Tuy nhiên đây vẫn là năm có tỷ lệ nợ quá hạn cao trong tổng quan cả giai đoạn 2024-2026 và xét về mặt bằng chung thì đây là 1 tỷ lệ chưa tốt khi năm 2025 nợ quá hạn đạt 11479 triệu, chiếm 5,54% trong tổng dư nợ và năm 2026 nợ quá hạn tuy đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức 5,43% tương ứng với 8578 triệu (Tỉ lệ nợ quá hạn đối với các ngân hàng thương mại là dưới 3%). Qua những số liệu về nợ quá hạn của 2 năm: năm 2025 và 2026 con số này đã tăng lên về tỷ trọng nhưng giảm về số tiền, tuy nhiên đây là những con số chưa tốt do đó dư nợ trong hạn phải gần như xấp xỉ với dư nợ cho vay. Tuy vậy có thể được coi là kết quả của sự nỗ lực lớn của Công ty trong việc hạn chế dư nợ quá hạn. Và hoạt động này cho đến nay vẫn được thực hiện, duy trì và đã bước đầu có hiệu quả tương đối tốt, mục tiêu của PTFiance là sẽ cố gắng đạt mức dư nợ trong các năm tiếp theo: trong cơ cấu dư nợ không còn nợ quá hạn (chiếm tỷ trọng bằng 0%). Cùng với việc tăng hoạt động tín dụng thì chất lượng tín dụng cũng được đảm bảo cho thấy rằng chi nhánh đã có những bước tiến dài trên lĩnh vực ngân hàng, siết chặt công tác thẩm định, mạnh dạn trong đổi mới phương cách làm việc với những định hướng đúng đắn.
Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hang đặc biệt là Ngân hàng thương mại cũng như những công ty Tài chính. Tại những nước có nền tài chính phát triển, một Ngân hàng được đánh giá là có chất lượng tốt khi có tỷ lệ nợ quá hạn chiếm từ 1-2% trên tổng dư nợ của ngân hàng. Ở Việt Nam qua hoạt động thanh tra, kiểm soát của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ nếu thấp hơn 3% được coi là chấp nhận được. Dư nợ quá hạn thấp đồng nghĩa với việc vốn cho vay của chi nhánh thu về đúng thời hạn, do đó doanh số thu nợ của Công ty chỉ ở mức tương đối, gần như tương đương với doanh số cho vay trong năm (luôn đạt ngưỡng 93-99%/tổng doanh số cho vay), chỉ tiêu này cũng phản ảnh một phần chất lượng tín dụng tại Công ty là ở mức tương dối khả quan.
- c. Vòng quay tín dụng
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng hàng năm. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, tham gia càng nhiều vào chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Chỉ tiêu này càng tăng, phản ánh tình hình sử dụng vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao. Chỉ tiêu này cho ta biết được công ty thu hồi khoản vay có nhanh hay không.
- Tình hình vòng quay vốn tín dụng ( Giai đoạn 2024-2026):
Nhìn vào bảng trên ta thấy, chỉ tiêu này của công ty tài chính Bưu Điện là tương đối cao ( xấp xỉ 2-2.5 lần) và có xu hướng tăng đều qua các năm: từ 2.28 vòng vào năm 2024 và 2,42 vòng vào năm 2025. Điều đó chứng tỏ đồng vốn của Công ty được luân chuyển nhanh hơn, đồng thời cũng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng của Công ty ngày càng được cải thiện, chất lượng tín dụng được chú trọng nâng cao. Tuy nhiên, nếu dư nợ cho vay bình quân thấp thì vòng quay vốn tín dụng vẫn có thể cao. Qua các biểu trên ta thấy, mặc dù dư nợ cho vay có giảm nhẹ vào cuối năm 2025 nhưng tình hình thu nợ của chi nhánh là khá tốt nên vòng quay vốn tín dụng là khá lớn. Điều này chứng tỏ công tác thu nợ của Công ty là bước đầu có hiệu quả. Đến năm 2026 thì doanh số thu nợ giảm nhưng dư nợ bình quân lại ở mức cao nên vòng quay vốn tín dụng lại tăng lên.
- d. Hiệu quả sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng được xác định qua công thức:
Hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty tài chính Bưu điện ( Giai đoạn 2024-2026):
Chỉ tiêu này phản ánh qui mô, khả năng tận dụng nguồn vốn cho vay và khả năng mở rộng thị phần của các tổ chức tín dụng bao gồm cả các Ngân hang thương mại và các tổ chức tài chính – tín dụng. Trên thực tế, chỉ số này càng lớn, vốn tồn đọng càng ít, tuy nhiên rủi ro tín dụng lại càng cao. Đối với các ngân hang thương mại thì Tỷ lệ này thường giao động từ 30-100% và trên thực tế hiệu suất sử dụng vốn vào khoảng trên 80% là tốt. Tuy nhiên chỉ số này của công ty thì đều không cao (chỉ xấp xỉ chưa tới 15%) nhưng lại có xu hướng tăng từ 4,2% lên mức 11,86% vào năm 2026. Nguyên nhân thứ nhất là do Tổng nguồn vốn huy động giảm rõ rệt từ năm 2024 – 2026 chỉ còn 1.330.245 triệu do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2025 đã có những tác động trực tiếp tới hoạt động của Công ty. Thứ hai, là do cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo đố là sự chỉ đạo sát sao của Ban lãnh đạo Công ty, hoạt động cho vay đối với khách hàng hoạt động có hiệu quả, những đơn vị có nợ quá hạn, kinh doanh thua lỗ, chi nhánh đã không tiếp tục đầu tư vốn tín dụng nhiều mà quan tâm đến thu nợ, từng bước nâng cao chất lượng tín dụng của chi nhánh. Mặt khác, còn là do Công ty có mở rộng phạm vi hoạt động đầu tư sang nhiều lĩnh vực khác như công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng… Đối với Công ty, việc dư nợ cho vay càng ngày càng có hiệu quả là một tín hiệu tốt, chứng tỏ rằng hoạt động tín dụng được Công ty chú trọng và có thế mạnh.
2.2.3. Đánh giá Hoạt động tín dụng tại Công ty Tài chính Bưu điện
2.2.3.1. Ưu điểm
Tỷ trọng cho vay chiếm khá cao so với tổng doanh số cho vay của PTF. Phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước phát triển các thì PTF luôn xác định những khách hàng tiềm năng, luôn tìm các giải pháp thu hút được đối tượng này. Nếu hoạt động mở rộng cho vay đối của PTF đạt hiệu quả thì không những mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty mà còn giúp đỡ các DN này càng phát triển. Doanh thu và lợi nhuận hoạt động cho vay tại PTF tăng từ năm 2024 đến 2026 và lợi nhuận hoạt động cho vay tăng tỷ lệ thuận với doanh thu. Đây là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cho vay hiệu quả nhất.
Kể từ khi thành lập PTF đã thực hiện tốt vai trò của mình là giúp các công ty con thuộc tập đoàn VNPT huy động vốn để hoạt động và mở rộng phạm vi hoạt động. Năm 2023, doanh thu cho vay trong tập đoàn chỉ đạt 11,316 triệu động, năm 2024 tăng lên không đáng kể chỉ đạt 27,808 triệu đồng và năm 2025 thực sự tăng mạnh đạt 84,118 triệu đồng.
Ngoài ra PTF cũng đã chủ động mở rộng vốn tín dụng đối với đối tượng khách hàng là một cách hợp lý tạo điều kiện cho các phát triển từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Những thành tựu đạt được trong những năm qua có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với DNVVN mà còn có ý nghĩa đối với các công ty tài chính nói chung và PTF nói riêng.
Những kết quả đạt được cho thấy sự nỗ lực của công ty. Công tác thẩm định và tổ chức quản lý tín dụng ngày càng được hoàn thiện và nâng cao, góp phần quan trọng trong khống chế rủi ro cũng như nâng cao hiệu quả cho vay.
2.2.3.2. Nhược điểm Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
- Thứ nhất, Công ty Tài chính Bưu Điện còn nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, vì thế gặp khó khăn để tạo ra nguồn cấp tín dụng
Sau khi Quyết định số 519/QĐ-NHNN ngày 26/05/2020 về việc bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung trong Giấy phép hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện được ban hành thì Công ty Tài chính Bưu Điện mới được mở rộng phạm vi hoạt động ra bên ngoài VNPT. Tuy nhiên, do Điều lệ tổ chức và hoạt động của PTF chưa được sửa đổi nên từ năm 2016 đến hết năm 2020 hoạt động huy động vốn của Công ty Tài chính Bưu Điện hầu hết là để tạo nguồn vốn phục vụ nhu cầu đầu tư của VNPT. Theo quy định thì Công ty Tài chính Bưu Điện được huy động vốn bằng các hình thức như: nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên; phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính và nhận vốn uỷ thác đầu tư. Tuy Công ty Tài chính Bưu Điện được huy động vốn dưới nhiều hình thức như trên nhưng trong thực tế từ năm 2016 đến năm 2020, do khó khăn về đầu ra của Công ty Tài chính Bưu Điện và một số vướng mắc khác khiến Công ty Tài chính Bưu Điện đã không thực hiện huy động vốn thông qua hình thức nhận tiền gửi có kỳ hạn và phát hành giấy tờ có giá. Bên cạnh nguồn vốn tự có mà phần lớn là vốn điều lệ được cấp từ ban đầu, Công ty Tài chính Bưu Điện hầu như chỉ huy động vốn bằng hình thức nhận uỷ thác đầu tư từ các tổ chức tài chính.
Trong những năm gần đây, do sự phát triển của thị trường tài chính cũng như sự nỗ lực từ phía công ty, hoạt động huy động vốn đã phát triển đa dạng hơn. Cụ thể từ năm 2021 –2025, nguồn vốn huy động của Công ty đa dạng hơn thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.2: Tổng hợp nguồn vốn của Công ty Tài chính Bưu Điện từ năm 2023 – 2025
Quan sát số liệu tại bảng 2.2, ta có thể thấy vốn uỷ thác đầu tư là nguồn vốn thực sự quan trọng, có vai trò quyết định đối với hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính Bưu Điện. Tuy nhiên, để được các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế và các cá nhân uỷ thác đầu tư thì điều kiện tiên quyết là các dự án nhận vốn đầu tư phải thực sự có hiệu quả và điều kiện thứ hai không kém phần quan trọng là Công ty Tài chính Bưu Điện phải chứng minh được năng lực và uy tín của mình. Thực tế những năm qua, với lượng vốn nhận uỷ thác đầu tư hàng năm tương đối lớn chứng tỏ Công ty Tài chính Bưu Điện là tổ chức tín dụng có uy tín, được các tổ chức và cá nhân tin tưởng uỷ thác vốn. Số dư vốn uỷ thác mà Công ty Tài chính Bưu Điện huy động từ 31/12/2024 đến 31/12/2026 chiếm tỷ trọng so với tổng nguồn vốn lần lượt là 9,77%; 36,26%; 11,1%. Tuy nhiên trong hoàn cảnh khủng hoảng tài chính năm 2025 đã gây ra rất nhiều khó khăn cho công ty và các đối tác cho nên gây ảnh hưởng tới vốn tài trợ ủy thác đầu tư và tổng nguồn vốn của PTF khi nguồn vốn bị giảm xuống một cách nhanh chóng cho nên tỷ trọng cùng với lượng vốn ủy thác đầu tư đã giảm xuống trông thấy. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
- Biểu đồ 2.3: Tình hình huy động vốn tài trợ uỷ thác đầu tư Công ty Tài chính Bưu Điện từ năm 2023 –2025
Các đơn vị có vốn uỷ thác đầu tư lớn tại Công ty Tài chính Bưu Điện là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bình Định, chiếm trên 60% tổng vốn uỷ thác do hạn mức tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là rất lớn và đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép cho vay VNPT vượt hạn mức quy định. Đối với 3 NHTM Quốc doanh là Ngoại thương, Công thương, Nông nghiệp thì hạn mức tín dụng đối với VNPT cũng không còn nhiều, mặt khác các Ngân hàng này vẫn cho vay trực tiếp đối với các đơn vị của VNPT do vậy việc uỷ thác đầu tư qua Công ty Tài chính Bưu Điện là không đáng kể. Ngoài ra, các NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh và Công ty Tài chính cũng thực hiện uỷ thác đầu tư cho Công ty Tài chính Bưu Điện.
Thực tế từ các năm 2016 –2020, nguồn vốn huy động chủ yếu của Công ty Tài chính Bưu Điện là vốn nhận uỷ thác đầu tư, tuy nhiên từ năm 2021 trở lại đây thì nguồn huy động từ tiền gửi và vay của các tổ chức tín dụng cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu nguồn vốn huy động.
- Biểu đồ 2.4: Tình hình huy động vốn từ tiền gửi và vay của các TCTD khác tại Công ty Tài chính Bưu Điện từ năm 2023 –2025
Số liệu bảng trên cho thấy từ 31/12/2024 đến 31/12/2026 số dư tiền gửi và vay của các tổ chức tín dụng lần lượt là 5.870,7 – 1.330,9 – 1031,47 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là tiền gửi của các TCTD khác. Số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng tương đôi cao qua các năm một lần nữa khẳng định uy tín của Công ty Tài chính Bưu Điện đối với khách hàng. Tuy nhiên năm 2025 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nên các tổ chức tín dụng đều rơi vào tình trạng khan vốn, rất nhiều tổ chức tín dụng đã rút bớt vốn tại Công ty Tài chính Bưu Điện để giải quyết tình trạng khó khăn của tổ chức mình. Điều này lý giải vì sao số dư tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác tại Công ty Tài chính Bưu Điện trong năm 2025 giảm mạnh.
Qua những số liệu trên, Ta thấy Lượng vốn huy động được đóng vai trò tiên quyết trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Tài chính Bưu Điện, tuy nhiên hoạt động huy động vốn của công ty vẫn còn rất nhiều khó khăn. Lượng vốn huy động của Công ty Tài chính Bưu Điện tài trợ cho các dự án đầu tư của VNPT và các đơn vị thành viên hàng năm tuy có tăng nhưng vẫn chưa hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch huy động vốn mà VNPT giao hàng năm. Các hoạt động huy động vốn hiện nay của Công ty Tài chính Bưu Điện mới đơn thuần là nhận vốn uỷ thác đầu tư từ các tổ chức tín dụng trong nước. Việc thực hiện huy động vốn thông qua hình thức nhận tiền gửi từ các tổ chức và cá nhân chưa nhiều, ngoài ra Công ty Tài chính Bưu Điện còn chưa thực hiện phát hành giấy tờ có giá – đây là những hình thức huy động vốn truyền thống của các tổ chức tín dụng và chi phí huy động vốn sẽ thấp hơn so với nguồn vốn nhận uỷ thác đầu tư. Mặt khác đây còn là hoạt động tiếp cận trực tiếp với các tổ chức và dân cư nhiều nhất, có thể tạo cho họ làm quen với tên Công ty, với các dịch vụ tài chính của Công ty, tạo được uy tín vói họ bằng việc trả lãi và gốc đầy đủ, đúng hạn, giao dịch nhanh chóng thuận tiện và chính là tạo ra nguồn khách hàng tiềm năng cho Công ty.
- Thứ hai, Hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính Bưu Điện còn bị bó hẹp trong phạm vi của ngành, khâu thẩm định và dải ngân trong qui trình tín dụng còn yếu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Theo quy định tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP PTF ngày 04/10/2019 của Chính phủ thì các hoạt động của một Công ty Tài chính rất đa dạng. Tuy nhiên, phần phân tích về các sản phẩm dịch vụ của Công ty Tài chính Bưu Điện cho thấy rõ hoạt động chủ yếu mang lại doanh thu cao cho công ty hiện nay vẫn chỉ là hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động tín dụng.Về hoạt động tín dụng, Công ty Tài chính Bưu Điện chưa thu hút được nhiều hồ sơ vay vốn lưu động, vốn đầu tư dự án của các đơn vị thành viên hạch toán độc lập của VNPT, thể hiện qua chỉ tiêu số hợp đồng tín dụng ký kết với các đơn vị thành viên hạch toán độc lập còn ít. Đối tượng khách hàng cho vay của Công ty Tài chính Bưu Điện còn bó hẹp trong phạm vi VNPT, khách hàng bên ngoài VNPT rất hạn chế. Điều này phần nào phản ánh sự thiếu chủ động, mạnh dạn của Công ty Tài chính Bưu Điện trong việc tìm kiếm các đối tượng khách hàng khác trong phạm vi pháp luật cho phép. Tiến độ thẩm định, ký kết và giải ngân các hợp đồng tín dụng cho vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư phát triển của các đơn vị thành viên trong VNPT đôi khi còn chậm.
- Thứ ba, Công ty Tài chính Bưu Điện vẫn chưa có được đầy đủ lợi thế của một Công ty Tài chính thuộc một Doanh nghiệp kinh tế trọng điểm của nhà nước
Trong quan hệ giữa Công ty Tài chính Bưu Điện với VNPT, thị trường kinh doanh chủ yếu của Công ty Tài chính Bưu Điện là VNPT và các đơn vị thành viên. Nội dung hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện liên quan tới mọi hoạt động kinh doanh tài chính trong nội bộ VNPT. Do vậy, mục tiêu đặt ra khi thành lập là Công ty Tài chính Bưu Điện trở thành một mắt xích quan trọng trong dây chuyền vốn và tín dụng của VNPT; bên cạnh việc tạo ra những dịch vụ mới, các hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện tạo ra những quan hệ mới nhằm nâng cao tính chuyên môn hóa trong điều hành và hiệu quả hoạt động trong quản lý kinh tế tài chính của VNPT. Nhưng thực tế hoạt động của Công ty Tài chính Bưu Điện hết sức khó khăn vì Công ty Tài chính Bưu Điện gần như bị đặt ra ngoài dây chuyền vốn và tín dụng của VNPT; việc thu thập các thông tin về kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch cân đối vốn (huy động, trả nợ), kế hoạch sử dụng vốn của VNPT… đều gặp nhiều trở ngại dẫn đến Công ty Tài chính Bưu Điện không thể chủ động trong xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn, không thể tự tính toán cân đối vốn cả về số lượng và thời gian.
Mặc dù Công ty Tài chính Bưu Điện đã được thành lập với mục đích là đầu mối huy động vốn cho VNPT và các đơn vị thành viên nhưng hiện tại cùng với hoạt động huy động vốn từ Công ty Tài chính Bưu Điện, VNPT vẫn trực tiếp tiến hành huy động vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, dẫn đến trong nhiều trường hợp, VNPT và PTF cùng tiến hành giao dịch huy động vốn với một Ngân hàng. Như vậy, trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với VNPT hiện có hai đầu mối là VNPT và PTF, dẫn đến sự bất hợp lý và không hiệu quả, Công ty Tài chính Bưu Điện luôn bị động vì không biết hạn mức tín dụng, không được chỉ đạo về lãi suất vay, không biết được kế hoạch vay và nhiều lúc PTF trở nên thừa vì các tổ chức tín dụng chỉ muốn quan hệ với tập đoàn mà không muốn thông qua một tổ chức tài chính trung gian khác, trong khi nhiệm vụ chủ yếu mà VNPT giao cho PTF là công việc này và PTF có đầy đủ khả năng để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Việc VNPT và PTF cùng làm đầu mối cấp vốn cho các đơn vị thành viên trong VNPT tạo ra sự chưa thống nhất, rõ ràng về cơ chế cho vay, dẫn đến các đơn vị thành viên chỉ muốn vay vốn trực tiếp từ VNPT theo cơ chế cấp phát “xin – cho” vì không phải làm các thủ tục vay vốn, không phải trả lãi suất vốn vay đối với các khoản vay trung và dài hạn do VNPT trả lãi vay tập trung tại tập đoàn hoặc chỉ phải trả lãi vay thấp theo lãi suất vay nội bộ đối với các khoản vay ngắn hạn… từ đó dẫn đến các đơn vị thành viên không muốn vay qua PTF theo cơ chế vay – trả. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Trong quan hệ giữa PTF với các đơn vị thành viên của VNPT, một số đơn vị thành viên đã được VNPT thông báo cho vay vốn qua PTF nhưng thực tế lại sử dụng nguồn vốn khác làm ảnh hưởng đến kế hoạch điều hành vốn của PTF. Bên cạnh đó, hồ sơ vay vốn của một số đơn vị chưa đầy đủ và gửi chậm so với tiến độ thực hiện làm chậm thời gian ký kết hợp đồng tín dụng và giải ngân.
- Thứ tư, năng lực tài chính của PTF còn thấp
Đối với Công ty Tài chính Bưu Điện hiện nay thành phần chính của vốn tự có là vốn điều lệ, với số vốn điều lệ là 70 tỷ đồng do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cấp từ ngày đầu thành lập tháng 10/2015, cho đến nay Công ty Tài chính Bưu Điện đã nâng mức vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng và dự định số vốn điều lệ sẽ nâng lên 1000 tỷ đồng trong thời gian tới khi công ty tiến hành cổ phần hoá. Như vậy trong hơn 10 năm qua, tiềm lực tài chính của Công ty Tài chính Bưu Điện liên tục tăng trưởng, tuy nhiên so với các Công ty Tài chính khác thì quy mô vốn điều lệ của Công ty Tài chính Bưu Điện còn quá khiêm tốn và quy mô này càng nhỏ bé hơn nếu đem so sánh với các ngân hàng thương mại.
- Bảng 2.1 sẽ cho thấy rõ hơn tương quan so sánh về quy mô vốn điều lệ của Công ty Tài chính Bưu Điện với các Công ty Tài chính khác
- Bảng 2.1: Vốn điều lệ của một số Công ty Tài chính
Qua bảng số liệu trên có thể thấy mức vốn điều lệ của Công ty Tài chính Bưu Điện tuy có lợi thế hơn một số công ty tài chính nước ngoài nhưng vẫn còn là một khoảng cách khá xa so với một số công ty tài chính lớn hiện nay.
Thực tế này đặt Công ty Tài chính Bưu Điện trước một thử thách lớn vì quy mô vốn điều lệ lớn sẽ giúp Công ty có khả năng chống đỡ với những rủi ro trong hoạt động tài chính tiền tệ. Điều này ngày càng trở lên quan trọng khi môi trường kinh doanh có nhiều biến động khôn lường, khi sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng gia tăng trong điều kiện hội nhập. Đây thực sự là một bất lợi lớn của PTF trong cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác vì hiện nay rất nhiều các quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với hoạt động của các Công ty tài chính đều liên quan đến nguồn vốn tự có. Với quy mô vốn tự có nhỏ, PTF khó đầu tư để mở rộng chi nhánh, bị hạn chế trong việc cho vay và huy động vốn, vì thế dẫn đến khó khăn trong hoạt động tín dụng của mình. Điều này sẽ khiến cho uy cho chất lượng hoạt động tín dụng của PTF không đạt được hiệu quả cao, uy tín của PTF trên thị trường tài chính bị giảm sút và Công ty sẽ rất khó khăn trong quan hệ với các khách hang.Vì vậy trong thời gian tới Công ty Tài chính Bưu Điện cần có các biện pháp sớm nâng cao vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
2.2.3.3. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, Nền kinh tế chưa phát triển ổn định
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta luôn đạt được sự tăng trưởng cao, nhu cầu về vốn của các chủ thể kinh tế là rất lớn. Tuy nhiên năm 2025, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN bị đình trệ, không xuất khẩu được đã ảnh hưởng rất lớn đến tiềm năng phát triển hoạt động cho vay tới đối tượng này.
Bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Hiện nay có rất nhiều ngân hàng cổ phần, các tổ chức tín dụng và ngân hàng liên doanh nước ngoài hoạt động tạo nên sự cạnh tranh gay gắt.
- Thứ hai, Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện
Hành lang pháp lý cho hoạt động cho vay còn thiếu sót và chưa đồng bộ. NHNN chưa đưa ra các quy định cụ thể đối với cho vay DN và cá nhân tại các công ty tài chính. Các quy định về cho vay nếu đã được ban hành thì còn nhiều bất cập, quy định khắt khe hơn so với các NHTM. Bản thân công ty vẫn đang tự tạo lập cho mình những quy định, điều kiện riêng trong hoạt động.
Sự phối hợp giữa cơ quan tòa án và ngân hàng nhà nước còn chưa được chặt chẽ, việc xác định giá trị tài sản liên quan đến vốn vay và xử lý tài sản thế chấp còn nhiều bất cập cũng là nhân tố khiến cho rủi ro cho vay tăng lên. Những tranh chấp giữa công ty và khách hàng nếu phải đưa nhau ra tòa sẽ rất phiền phức và tốn kém, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của công ty. Do vậy, môi trường pháp lý chưa ổn định cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động cho vay của công ty vẫn chưa phát triển mạnh
b. Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía Công ty tài chính bưu điện
Thủ tục vay vốn quá phức tạp. Để đảm bảo mục tiêu an toàn trong hoạt động của mình các công ty tài chính luôn đưa ra những điều kiện vay vốn rất khắt khe. Trong khi đó năng lực tài chính của các DN còn yếu nên khả năng tiếp cận nguồn vốn vay là rất khó. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
Trình độ chuyên môn và năng lực làm việc của đội ngũ nhân viên của công ty còn hạn chế. Cán bộ tín dụng của PTF đều là những người năng động, nhiệt tình, ham hiểu biết và có trách nhiệm nghề nghiệp cao. Bản thân mỗi cán bộ tín dụng không ngừng nỗ lực nâng cao trình độ và kỹ năng đặc biệt trong thẩm định và quản lý các món vay, đảm bảo chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, kỹ năng mà cán bộ tín dụng còn thiếu là khả năng tiếp thị sản phẩm công ty.
Hoạt động Marketing của công ty chưa được hiệu quả như mong đợi. Các kế hoạch marketing của công ty nói chung chưa có một chiến lược dài hạn, còn nhiều yếu kém và thụ động. Khách hàng chủ yếu của PTF là các khách hàng quen thuộc. Việc khuếch trương hình ảnh, quảng cáo, tiếp thị, tìm khách hàng mới còn nhiều hạn chế. Các tiện ích khi sử dụng sản phẩm của công ty chưa được quảng bá rộng rãi. Chính điều này đã kìm hãm phần nào sự phát triển của hoạt động cho vay doanh nghiệp và cá nhân tại PTF. Bên cạnh đó, chính sách khách hàng, và chính sách liên kết với các nhà thầu xây dựng, các doanh nghiệp vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng, gây khó khăn cho cán bộ, nhân viên trong việc triển khai hoạt động của mình.
- Từ phía khách hang
Năng lực kinh tế của các Doanh nghiệp còn rất yếu kém. Các Doanh nghiệp thường thiếu những chuyên gia tư vấn nên rất khó để lập ra những dự án vay vốn khả thi. Nếu dự án đó khả thi thì lại không đủ sức thuyết phục vì thế ngân hàng rất khó chấp nhận cho vay vốn. Vì cho vay những dự án không khả thi thì khả năng thu hồi vốn là không có, không đảm bảo tính an toàn cho hoạt động của công ty tài chính. Bên cạnh đó, các Doanh nghiệp khó có thể đáp ứng được các quy định về tài sản đảm bảo khi vay vốn.
Các DN chủ yếu tiếp cận nguồn vốn truyền thống từ các Ngân hang thương mại. Mặc dù trong những năm gần đây các công ty tài chính phát triển khá nhanh nhưng do suy nghĩ của các Doanh nghiệp khi có nhu cầu về vốn là nghĩ ngay đến việc vay vốn các Ngân hàng thương mại nên việc thu hút mở rộng mạng lưới khách hàng này còn gặp nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp hoạt động tín dụng tại công ty Tài chính
