Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Cổ phần Kinh doanh và Phát triển Bình Dương tại Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu gay gắt phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam cần nhanh chóng, khẩn trương phát huy nội lực, nắm bắt cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh. Hơn nữa,việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp là quá trình thường xuyên, liên tục, đòi hỏi các doanh nghiệp liên tục khai thác các tiềm năng, lợi thế, tận dụng cơ hội để kinh doanh, không ngừng tăng năng suât, chất lượng sản phẩm…
Trong nền kinh tế thị trường để có thể đứng vững và cạnh tranh được trên thị trường, các DN phải tạo ra uy tín và hình ảnh cho sản phẩm, thể hiện qua chất lượng, mẫu mã, giá cả trong đó chất lượng là vấn đề then chốt. Đầu tư cho chất lượng đồng nghĩa với việc đầu tư cho máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, đầu tư vào nguồn nhân lực và chú trọng yếu tố NVL đầu vào.
Do đó nguồn vốn, đặc biệt là vốn bằng tiền đóng một vai trò to lớn không thể thiếu trong mỗi Doanh nghiệp. Để sử dụng và chi tiêu vốn bằng tiền đúng mục đích, đúng chế độ thì kế toán giữ vai trò hết sức quan trọng vì nó là bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của Nhà nước cũng như các hoạt động kinh tế tài chính của Doanh nghiệp. Công tác hạch toán kế toán vốn bằng tiền cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lý về tình hình tài chính của Doanh nghiệp, để có những phương án hợp lý trong việc sử dụng vốn, thanh toán kịp thời các khoản nợ phải thu, nợ phải trả….
Từ nhận thức trên trong thời gian thực tập tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng em đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vốn bằng tiền và kế toán vốn bằng tiền và đã chọn đề tài cho khoá luận tốt nghiệp là “ Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng ”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài khoá luận của em gồm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề lý luận chung cơ bản về vốn bằng tiền và công tác kế toán vốn bằng tiền .
- Chương II: Tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng.
- Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng
Trong thời gian thực hiện khoá luận em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của Ban Giám đốc, các cán bộ trong phòng kế toán của công ty và cô giáo hướng dẫn. Vì trình độ còn hạn chế, thời gian có hạn nên bài khoá luận của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khoá luận của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN BẰNG TIỀN VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
I: Những vấn đề lý luận chung về vốn bằng tiền
- Khái niệm vốn bằng tiền. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh vấn đề cần thiết là phải có một lượng vốn nhất định, trên cơ sở tạo lập vốn kinh doanh của Doanh nghiệp. Qua mỗi giai đoạn vận động vốn không ngừng biến đổi cả về hình thái biểu hiện lẫn quy mô.
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình vận động liên tục của vốn kinh doanh theo, trong quá trình đó luôn có một bộ phận dừng lại ở trạng thái tiền tệ, bộ phận này gọi là vốn bằng tiền.
Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong các quan hệ thanh toán, tồn tại trực tiếp dưới hình thái tiền tệ bao gồm: tiền mặt (TK 111), tiền gửi Ngân hàng(TK 112), tiền đang chuyển(TK 113).
- Đặc điểm vốn bằng tiền
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hoá sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy,quy mô vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tượng của sự gian lận. Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi sự ăn cắp và lạm dụng là rất quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của Nhà nước. Chẳng hạn tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp dùng để chi tiêu hàng ngày không được vượt quá mức tồn quỹ mà doanh nghiệp và Ngân hàng đã thoả thuận theo hợp đồng thương mại, khi có tiền thu bán hàng phải nộp ngay cho Ngân hàng.
- Các loại vốn bằng tiền
Theo hình thức tồn tại vốn bằng tiền của doanh nghiệp được chia thành:
- Tiền Việt Nam
- Ngoại tệ
- Vàng bạc, kim khí, đá quý
Nếu phân loại theo trạng thái tồn tại nơi quản lý, vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:
- Tiền tại quỹ: gồm giấy bạc Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý, ngân phiếu hiện đang được giữ tại két của doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh doanh.
- Tiền gửi Ngân hàng: là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý mà doanh nghiệp đang gửi tại tài khoản của doanh nghiệp tại Ngân hàng. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
- Tiền đang chuyển: là tiền đang trong quá trình vận động để hoàn thành chức năng phương tiện thanh toán hoặc đang trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch thu, chi (ngắn hạn, dài hạn), duy trì một lượng tiền tồn quỹ hợp lý để sử dụng.
- Vị trí, vai trò của vốn bằng tiền trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
- Vị trí:
Vốn bằng tiền là cơ sở, là tiền đề đầu tiên cho một doanh nghiệp hình thành và tồn tại, là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp hoàn thành cũng như thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Vốn bằng tiền là một trong những vị trí quan trọng nhất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay phạm vi hoạt động của doanh nghiệp không còn bị giới hạn ở trong nước mà đã được mở rộng, tăng cường hợp tác với nhiều nước trên thế giới. Do đó, quy mô và kết cấu của vốn bằng tiền rất lớn và phức tạp, việc sử dụng và quản lý chúng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vai trò:
Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, việc quản lý và sử dụng vốn là một khâu quan trọng có tính quyết định tới mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền là đối tượng có khả năng phát sinh rủi ro hơn các loại tài sản khác, vì vậy nó cần được quản lý chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát các khoản thu, chi tiền mặt là rất cần thiết. Trong quản lý người ta sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau như thống kê, phân tích các hoạt động kinh tế nhưng kế toán luôn được coi là công cụ quản lý kinh tế quan trọng nhất. Với chức năng ghi chép, tính toán, phản ánh, giám sát thường xuyên liên tục do sự biến động của vật tư, tiền vốn, bằng các thước đo giá trị và hiện vật, kế toán cung cấp các tài liệu cần thiết về thu, chi vốn bằng tiền đáp ứng yêu cầu quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các thông tin kinh tế tài chính do kế toán cung cấp giúp cho chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp nắm vững tình hình và kết quả hoạt động của sản xuất kinh doanh cũng như việc sử dụng vốn để từ đó thấy được mặt mạnh, mặt yếu để có những quyết định và chỉ đạo sao cho quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
- Yêu cầu quản lý vốn bằng tiền Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Vốn bằng tiền là loại tài sản đặc biệt nó là vật ngang giá chung, do vậy trong quá trình quản lý rất dễ xẩy ra tham ô, lãng phí. Để quản lý chặt chẽ vốn bằng tiền cần đảm bảo tốt các yêu cầu sau:
- Tiền mặt phải được bảo quản trong két an toàn, chống mất trộm, chống cháy, chống mối xông.
- Mọi biến động của vốn bằng tiền phải làm đầy đủ thủ tục và có chứng từ gốc hợp lệ.
- Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền phải đúng mục đích, đúng chế độ.
Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền
Để thực hiện tốt việc quản lý vốn bằng tiền, với vai trò công cụ quản lý kinh tế, kế toán cần thực hiện tốt cá nhiệm vụ sau:
- Phản ánh chính xác kịp thời những khoản thu chi và tình hình còn lại của từng loại vốn bằng tiền, kiểm tra, và quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tham ô và lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh.
- Giám sát tình hình thực hiện kế toán thu chi các loại vốn bằng tiền, kiểm tra việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý vốn bằng tiền, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm và có hiệu quả cao.
- Nguyên tắc kế toán vốn bằng tiền
Kế toán vốn bằng tiền phải tôn trọng đầy đủ các quy tắc, các chế độ quản lý và lưu thông tiền tệ hiện hành. Cụ thể:
Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất đó là đồng Việt Nam, trừ trường hợp được phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng.
Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (tỷ giá hối đoái giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng do Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán.
Trường hợp mua ngoại tệ về nhập quỹ tiền mặt, gửi vào Ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng đồng Việt Nam thì được quy đổi ra đồng Việt Nam theo giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK 1122 được quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ sách TK1112, hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, thực tế đích danh. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Nhóm tài khoản có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể sẽ được xử lý chênh lệch như sau:
Nếu chênh lệch phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh (kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) thì số lãi do tỷ giá được phản ánh vào TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính và lỗ do tỷ giá được phản ánh vào TK 635 – Chi phí tài chính.
Nếu chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản (là giai đoạn trước hoạt động) thì số chênh lệch được phản ánh vào TK 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
Số dư cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm.
Đối với vàng bạc, kim khí, đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng bạc, kim khí, đá quý.
Vàng bạc, kim khí, đá quý phải được theo dõi về số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ,từng loại. Giá trị vàng bạc, kim khí, đá quý nhập vào quỹ được tính theo giá thực tế(giá hoá đơn hoặc giá thanh toán).
Khi tính giá xuất vàng bạc, kim khí, đá quý có thể áp dụng một trong bốn phương pháp tính giá hàng tồn kho: bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, thực tế đích danh
II: Tổ chức công tác kế toán tiền mặt tại quỹ Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
- Nguyên tắc kế toán tiền mặt
Để hạch toán chính xác tiền mặt thì tiền mặt của doanh nghiệp phải được tập trung tại quỹ, mọi nghiệp vụ có liên quan đến thu, chi tiền mặt, quản lý và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện. Thủ quỹ không được nhờ người khác làm thay. Trong trường hợp cần thiết thì phải làm thủ tục uỷ quyền cho người làm thay và phải được sự đồng ý của Giám đốc.
Chỉ phản ánh vào TK 111 “Tiền mặt”, số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với khoản tiền thu được chuyển nộp ngay vào Ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi vào bên nợ TK 111“Tiền mặt” mà ghi vào bên nợ TK 113 “Tiền đang chuyển”.
Các khoản tiền mặt do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cược, ký quỹ tại doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng tiền của đơn vị.
Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của người nhận, người giao, người cho phép nhập, xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập, xuất quỹ đính kèm.
Kế toán tiền mặt phải có trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt, ghi chép hàng ngày và liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, nhập, xuất quỹ tiền mặt, ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm.
Thủ quỹ chiụ trách nhiệm quản lý nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày, thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt, nếu có chênh lệch thì thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.
- Chứng từ, tài khoản sử dụng trong hạch toán TM
- Phiếu thu ( Mã số 01 – TT )
- Phiếu chi ( Mã số 02 – TT )
- Giấy đề nghị tạm ứng ( Mã số 03 – TT )
- Giấy thanh toán tiền tạm ứng ( Mã số 04 – TT )
- Giấy đề nghị thanh toán ( Mã số 05 – TT )
- Biên lai thu tiền ( Mã số 06 – TT )
- Bảng kê vàng bạc, kim khí, đá quý ( Mã số 07 – TT )
- Bảng kê chi tiền ( Mã số 09 – TT ) Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Phiếu thu, phiếu chi được kế toán lập từ 2 đến 3 liên đặt giấy than viết một lần, sau khi ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu và ký vào phiếu chuyển cho kế toán trưởng duyệt (và cả thủ trưởng đơn vị – đối chiếu với phiếu chi), sau đó chuyển cho thủ quỹ làm căn cứ nhập xuất quỹ. Thủ quỹ giữ lại một liên để ghi sổ, một liên giao cho người nộp tiền (hoặc người nhận tiền), một liên lưu tại nơi lập phiếu. Cuối ngày toàn bộ phiếu thu, phiếu chi được thủ quỹ chuyển cho kế toán để ghi sổ kế toán.
Giấy đề nghị tạm ứng do người xin tạm ứng viết 1 liên và ghi rõ gửi người xét duyệt tạm ứng. Sau khi ghi đầy đủ các nội dung trong giấy (họ tên đơn vị số tiền tạm ứng, lý do tạm ứng…). Giấy đề nghị tạm ứng được chuyển cho kế toán trưởng xem xét và ghi ý kiến đề nghị giám đốc duyệt chi. Căn cứ vào quyết định đó kế toán lập phiếu chi theo giấy đề nghị tạm ứng và chuyển cho thủ quỹ làm thủ tục xuất quỹ.
Để hạch toán tiền mặt tại quỹ, kế toán sử dụng TK 111“Tiền mặt”. Tài khoản 111 dùng để phản ánh tình hình thu, chi tồn quỹ tiền mặt gồm tiền Việt Nam (kể cả ngân phiếu), ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý của doanh nghiệp.
+) Tài khoản sử dụng:
Tài khoản 111 – Tiền mặt, có 3 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 1111 – Tiền Việt Nam: Phản ánh tình hình thu, chi,tồn quỹ tiền Việt Nam tại quỹ tiền mặt.
- Tài khoản 1112 – Ngoại tệ: Phản ánh tình hình thu, chi, tăng, giảm tỷ giá và tồn quỹ ngoại tệ tại quỹ tiền mặt theo giá trị quy đổi ra Đồng Việt Nam.
- Tài khoản 1113 – Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý: Phản ánh giá trị vàng, bạc, kim khí quý, đá quý nhập, xuất, tồn quỹ.
+) Kết cấu TK 111 như sau:
Bên Nợ:
- Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhập quỹ;
- Số tiền mặt, ngoại tệ vàng bạc, kim khí quý, đá quý thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê;
- Chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ (đối với tiền mặt ngoại tệ).
Bên Có:
- Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý xuất quỹ;
- Số tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý thiếu hụt ở quỹ phát hiện khi kiểm kê.
- Chênh lệch giảm tỷ giá hối đoái giảm do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ (đối với tiền mặt ngoại tệ).
Số dư bên Nợ:
- Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý còn tồn quỹ tiền mặt.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ PHÁT TRIỂN BÌNH DƯƠNG TẠI HẢI PHÕNG Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
I: Khái quát chung về chi nhánh công ty CP KD&PT Bình Dương tại Hải Phòng
- Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần Kinh doanh và Phát triển Bình Dương (TDC) được cổ phần hóa từ bộ phận kinh doanh thương mại của Công ty TM-ĐT và Phát triển (Becamex) vào ngày 01 tháng 4 năm 2002. TDC ngày càng phát triển vững chắc trên thương trường nhờ vào nền tảng kinh nghiệm, cùng với khả năng quản lý, điều hành mang tính đột phá của ban lãnh đạo doanh nghiệp đã thúc đẩy công ty ngày càng phát triển mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Hòa cùng sự phát triển chung của tỉnh Bình Dương, TDC đã và đang góp phần làm thay đổi bộ mặt của tỉnh nhà với những dự án đầu tư xây dựng khu dân cư cao cấp như: dự án khu Biệt thự, Nhà phố liên kế. Song song đó TDC cũng không ngừng phát triển các lĩnh vực kinh doanh khác như: sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, sản xuất bê tông tươi, bê tông nhựa nóng, cấu kiện bê tông, thiết kế và xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, kinh doanh bất động sản…
Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững. Ban lãnh đạo cùng toàn thể nhân viên TDC không ngừng tự hoàn thiện để hòa nhịp vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam trong xu hướng hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Với mong muốn chia sẽ những thành công và cơ hội cho tất cả mọi người đúng với phương châm hoạt động của TDC: kinh doanh không chỉ nhằm gia tăng những giá trị cho bản thân doanh nghiệp mà còn nhằm gia tăng những phúc lợi cho xã hội. Qua đó tập thể TDC luôn mong muốn đem đến những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất cho khách hàng ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Phương châm hoạt động của công ty: “Luôn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sản phẩm – dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất”. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY:
1.Kinh doanh vật liệu xây dựng
Chuyên kinh doanh những mặt hàng của các nhà cung cấp có uy tín:
- Sắt thép xây dựng các loại.
- Xi măng các loại.
- Đá
- Ống nước dân dụng các loại của Tiền Phong – Vĩnh Khánh – Bình Minh.
- Nhận gia công lắp đặt sắt kỷ nghệ (khung cửa sắt đối với các loại cửa đi và cửa sổ) với chất lượng cao, giá phải chăng.
2.Sản xuất vật liệu xây dựng
- Chuyên sản xuất và kinh doanh: Bê tông trộn sẵn các loại, .
3.Xây dựng
- Xây dựng dân dụng
- Xây dựng công nghiệp
4.Kinh doanh bất động sản
2.Những thuận lợi khó khăn của DN trong quá trình hoạt động
a.Thuận lợi:
- Đội ngũ nhân viên của công ty được nâng cao rõ rệt. Các cán bộ điều hành công ty cũng đã xác định được hướng đi rõ ràng để phát triển
- Hiện nay xây dựng là một ngành cũng đang phát triển nhanh chóng, sẽ có nhiều cơ hội cho công ty khẳng định mình
b.Khó khăn:
Dù đang trên đà phát triển nhưng DN cũng là một trong những công ty mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng
Những năm gần đây đát nước ta nói riêng và thế giới nói chung trong tình trạng khủng hoảng kinh tế nên công ty cũng không ngoại lệ
- Những thành tích mà công ty đạt đựơc trong những năm gần đây
Từ khi thành lập đến nay, Công ty luôn chú trọng đến việc đổi mới trang thiết bị và công nghệ đồng thời áp dụng chính sách quản lý sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và bảo vệ thương hiệu của mình. Chính vì vậy, đầu năm 2007 sản phẩm của Công ty đã chính thức được công nhận sản phẩm đạt được chất lượng iso 9001. Mặc dù mới thành lập Công ty không tránh khỏi những khó khăn ban đầu, song cùng với sự lỗ lực của Ban giám đốc và nhân viên, công ty đã đứng vững và không ngừng phát triển, thể hiện công ty có nhiều chi nhánh các công ty con, điều đáng mừng là số lượng khách hàng ngày càng nhiều nên số lượng hàng sản xuất đều được tiêu thụ hết.
Sau một thời gian xây dựng, phát triển và trưởng thành đến nay Công ty Cổ Phần kinh doanh và phát triển Bình Dương đã có sự phát triển vượt bậc, sản lượng hàng hoà hàng năm tăng nhanh dẫn đến thu nhập hàng tháng của công nhân viên ngày càng cao.
II: Thực trạng công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
1.Kế toán tiền mặt tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng
1.1.Chứng từ, tài khoản, sổ sách sử dụng
- Chứng từ sử dụng
Mọi nghiệp vụ thu, chi tại Công ty đều căn cứ vào chứng từ gốc: Phiếu thu (Mã số 01-TT), Phiếu chi (Mã số 02-TT) kèm theo các chứng từ có liên quan khác như Hoá đơn GTGT, Giấy đề nghị tạm ứng (Mã số 03-TT), Giấy thanh toán tạm ứng (Mã số 04-TT), Giấy đề nghị thanh toán (Mã số 05-TT) …..
- Quy trình lập phiếu thu, phiếu chi tại Công ty.
- Phiếu thu do kế toán lập thành 3 liên (đặt giấy than viết 1 lần).
- Liên 1: lưu ở nơi lập phiếu
- Liên 2: thủ quỹ dùng để ghi sổ quỹ và chuyển cho kế toán thanh toán cùng với chứng từ gốc để ghi vào sổ kế toán.
- Liên 3: giao cho người nộp tiền.
- Phiếu thu được lập căn cứ vào hoá đơn GTGT Liên 3: Nội bộ
- Phiếu chi do kế toán lập thành 2 liên (hoặc 3 liên trong trường hợp các Tổng Công ty chi tiền cho đơn vị cấp dưới) (đặt giấy than viết 1 lần)
- Liên 1: lưu ở nơi lập phiếu
- Liên 2: thủ quỹ dùng để ghi sổ quỹ và chuyển cho kế toán thanh toán cùng với chứng từ gốc để ghi vào sổ kế toán.
- Liên 3 (nếu có): giao cho người nhận tiền để làm chứng từ gốc lập phiếu thu và nhập quỹ của đơn vị nhận tiền.
- Phiếu chi được lập căn cứ vào hoá đơn GTGT Liên 2: Giao cho khách hàng
Sau khi ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu thu, phiếu chi sẽ được đính kèm với các chứng từ khác có liên quan trong nghiệp vụ để chuyển cho kế toán trưởng và giám đốc kí duyệt. Tiếp theo chuyển cho thủ quỹ làm căn cứ nhập, xuất quỹ. Phiếu thu,phiếu chi phải đóng thành quyển và ghi số từng quyển dùng trong 1 năm. Trong mỗi phiếu thu, phiếu chi phải ghi số quyển và số của từng phiếu thu, phiếu chi. Số phiếu thu, phiếu chi phải đánh liên tục trong 1 kỳ kế toán để tránh các trường hợp gian lận, biển thủ công quỹ. Kế toán vốn bằng tiền ghi đầy đủ nội dung thu trên phiếu và ký tên, sau đó chuyển cho kế toán trưởng xem xét và giám đốc ký duyệt chuyển cho thủ quỹ làm thủ tục nhập, xuất quỹ. Sau khi đã nhận đủ số tiền, thủ quỹ ghi số tiền được nhập, xuất quỹ (bằng cả chữ) vào phiếu thu, phiếu chi trước khi ký và ghi rõ họ tên.
- Giấy đề nghị tạm ứng tại Công ty: Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Giấy đề nghị tạm ứng do người xin tạm ứng viết một liên và ghi rõ gửi người xét duyệt tạm ứng. Sau khi ghi đầy đủ các nội dung trong giấy (họ tên, đơn vị, số tiền tạm ứng, lý do tạm ứng…..)
Đối với việc xuất quỹ cho những người nhận tạm ứng, kế toán chỉ lập phiếu chi và chi tiền khi người tạm ứng có giấy đề nghị thanh toán tạm ứng đã được kế toán trưởng và giám đốc đồng ý cho tạm ứng.
Đến thời hạn thanh toán tạm ứng kế toán lập giấy thanh toán thanh toán tạm ứng chuyển cho kế toán trưởng xem xét và giám đốc ký duyệt. Giấy thanh toán tạm ứng kèm theo chứng từ gốc dùng làm căn cứ để ghi sổ kế toán.
Trường hợp thu hồi ngay kế toán lập phiếu thu ghi rõ nội dung thu là thu hồi tạm ứng hoặc hoãn lại tạm ứng.
Phần chi quá số tạm ứng làm thủ tục xuất quỹ trả lại cho người tạm ứng. Chứng từ gốc, giấy thanh toán phải kèm với phiếu thu hoặc phiếu chi có liên quan.
- Sổ sách sử dụng
Sổ quỹ tiền mặt -Chứng từ ghi sổ -Sổ cái Tk111….
- TK sử dụng
Tại quỹ của Công ty chỉ gồm 1 loại tiền duy nhất là tiền Việt Nam đồng không có ngoại tệ, vàng bạc đá quý nên Công ty chỉ sử dụng duy nhất 1 loại TK để hạch toán tiền mặt tại Công ty là TK 111 – Tiền mặt và được chi tiết thành TK 1111 – Tiền mặt tại quỹ.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ PHÁT TRIẺN BÌNH DƯƠNG TẠI HẢI PHÕNG
I: Đánh giá chung về công tác kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại HP
Trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của Chi nhánh từ khi thành lập đến nay trải qua biết bao những khó khăn để tồn tại và phát triển. Trong suốt những năm qua ban lãnh đạo Chi nhánh cùng toàn thể cán bộ công nhân viên đã từng bước tháo gỡ khó khăn, vượt qua thử thách, dần dần khẳng định vị trí của mình. Đó là kết quả phấn đấu bền bỉ, liên tục trong toàn công ty. Kết quả đó không chỉ đơn thuần là sự tăng trưởng về mặt vật chất mà còn là sự lớn mạnh về trình độ quản lý, làm việc của Chi nhánh.
Để có được những thành tựu đó không thể không kể đến sự đóng góp của bộ máy kế toán. Bộ máy kế toán của Chi nhánh được tổ chức tương đối chặt chẽ với những cán bộ công nhân viên có trình độ, có năng lực và nhiệt tình trong công việc. Việc bố trí nhiệm vụ phù hợp với trình độ, khả năng của mỗi người đã góp phần đắc lực vào công tác hạch toán và quản lý tái chính kinh tế trong Chi nhánh công ty. Trong nội bộ phòng kế toán luôn quán triệt chế độ trách nhiệm, mỗi người đều có nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng nhưng lại có mối quan hệ mật thiệt với nhau về nghiệp vụ đảm bảo số liệu hạch toán kịp thời, chính xác. Đây chính là kết quả của quá trình hợp lý hoá bộ máy kế toán của Chi nhánh công ty, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho bộ máy kế toán gọn nhẹ và vững mạnh, hoàn thành nhiệm vụ với hiệu suất chất lượng cao
Qua thời gian tìm hiểu thực trạng về công tác kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Binh Dương tại HP, em thấy công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng tại Chi nhánh Công ty có những ưu điểm và nhược điểm sau:
II: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình Dương tại Hải Phòng Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Trong một thời gian ngắn thực tập tại Phòng kế toán Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình dương tại Hải Phòng, em đã được tiếp cận và có sự nhìn nhận thực tế hơn đối với công tác kế toán của một doanh nghiệp. Thực trạng kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh công ty thì nhìn chung công tác quản lý, hạch toán vốn bằng tiền trong Công ty là tốt, tuân thủ theo quy định kế toán hiện hành. Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại một số vấn đề trong kế toán vốn bằng tiền cần hoàn thiện để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Sự cần thiết phải hoàn thiện
Ngày nay, kế toán không chỉ làm công tác tính toán ghi chép đơn thuần về tài sản và sự vận động của tài sản mà nó còn là một bộ phận chủ yếu của hệ thống thông tin, là công cụ quản lý thiết yếu. Dựa trên những thông tin trung thực, chính xác nhà quản trị mới có thể đưa ra được những quyết định kinh doanh hữu hiệu nhất. Như vậy về mặt sử dụng thông tin, kế toán là một công cụ không thể thiếu trong công cụ quản lý kinh doanh có hiệu quả, giúp nhà quản lý đánh giá được các hoạt động của mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp.
Hoàn thiện quá trình này sẽ giúp cho khối lượng công việc kế toán được giảm nhẹ, hệ thống sổ sách đơn giản, dễ ghi chép, đối chiếu, xác định chính xác thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế…. tạo điều kiện cho việc lên các báo cáo tài chính cuối kì đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin kinh tế cho các đối tượng quan tâm.
Quá trình này được hoàn thiện sẽ giúp cho việc tổ chức chứng từ ban đầu và quá trình luân chuyển chứng từ được dễ dàng, tiết kiệm được chi phí và thời gian tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán cuối kỳ để phản ánh một cách chính xác, trung thực, đầy đủ tình hình kinh doanh của Doanh nghiệp để từ đó xác định chính xác được hiệu quả của một kỳ kinh doanh và tình hình tài chính của Doanh nghiệp và đưa ra những phương hướng kinh doanh kỳ tới.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
Kế toán vốn bằng tiền đóng vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết, là công cụ không thể thiếu được trong quản lý kinh tế giúp cho Ban lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt kịp thời tình hình tăng, giảm các loại vốn bằng tiền để từ đó có những căn cứ quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với Doanh nghiệp của mình. Bởi vậy kế toán vốn bằng tiền phải được hoàn thiện để cung cấp thông tin chính xác cho các nhà quản trị Doanh nghiệp
Qua thời gian thực tập tại Chi nhánh công ty cổ phần kinh doanh và phát triển Bình dương tại Hải Phòng với sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của các cô chú phòng kế toán và cô giáo hướng dẫn em đã tìm hiểu được sâu sắc về công tác hạch toán kế toán hạch toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng. Cũng trong thời gian thực tập này em đã nhận thức được rằng lý luận phải gắn liền với thực tiễn, phải vận dụng linh hoạt lý thuyết đã được học cho phù hợp với tình hình thực tế và cũng tại đây em đã học được nhiều kinh nghiệm bổ ích sau này
Do hạn chế về hiểu biết lý luận và thực tiễn,hơn nữa thời gian thực tập tại công ty có hạn, bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong có được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để khoá luận của em được hoàn thiện hơn
Một lần nữa cho em được bày tỏ long biết ơn Ban lãnh đạo tại chi nhánh công ty cùng toàn thể cô chú trong phòng tài chính-kế toán của công ty và cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn-thạc sĩ Lê Thị Nam Phương đã giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo này. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại chi nhánh Công ty Kinh doanh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty sản xuất
