Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing mix của Công ty TNHH Jollibee Việt Nam trong thị trường thức ăn nhanh gà rán tại Tp. Hồ Chí Minh  dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Giới thiệu về công ty Jollibee Việt Nam

2.1.1. Lịch sử hình thành Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Jollibee là một chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh có trụ sở tại Philippines, ra đời năm 1978 với người sáng lập là ông Tony Tan, một người Philippines gốc Hoa mà hiện nay là một trong những doanh nhân có tổng tài sản lớn nhất Philippines. Jollibee là một hiện tượng thành công của Philippines. Khởi nghiệp vào năm 1975 từ một tiệm kem nhỏ chỉ với hai chi nhánh cung cấp thức ăn nóng và bánh mì kẹp, Jollibee nhanh chóng phát triển thành công ty vào năm 1978 với 7 cửa hàng nhằm khảo sát tính khả thi của dự án hamburger. Và đó cũng là khởi đầu của một công ty làm thay đổi ngành thức ăn nhanh tại Philippines. Năm 1984, Jollibee đạt doanh thu 500 triệu peso Philippines và trở thành một trong 500 tập đoàn hàng đầu của quốc gia này. Năm 1987 ghi dấu 10 năm hoạt động, Jollibee nằm trong danh sách 100 tập đoàn hàng đầu của Phillipines. Jollibee trở thành chuỗi nhà hàng ăn nhanh đầu tiên ở Phillipines phá vỡ kỷ lục doanh thu 1 tỷ peso Philippines vào năm 1989. Năm 1993, Jollibee trở thành công ty phục vụ thức ăn nhanh đầu tiên được niêm yết trên thị trường chứng khoán Phillipines, từ đó mở rộng vốn đầu tư và đặt nền tảng cho việc liên tục mở rộng kinh doanh rộng khắp Phillipines và cả ở nước ngoài.

Sau Phillipines, những cửa hàng thức ăn nhanh mang thương hiệu Jollibee cũng đã xuất hiện ở khắp nơi như Mỹ, Ả-rập Xê-út, Hong Kong, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Dubai, Brunei… Hiện nay Jollibee có hơn 800 cửa hàng tại Philippines và hơn 80 cửa hàng tại Ả Rập Thống Nhật, Qatar, Hong Kong, các tiểu vương quốc Ả Rập Xê Út, Brunei, Trung Quốc, Mỹ và Việt Nam.

Vào thị trường Việt Nam năm 1997 với 1 cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương hiệu, đến nay Jollibee đã có 24 cửa hàng, gồm 20 cửa hàng tại miền Nam, 1 cửa hàng tại Nha Trang và 3 cửa hàng tại khu vực phía Bắc. Tổng vốn đầu tư của Jollibee tại Việt Nam đến nay là hơn 85 tỉ đồng Trong tổng số 10 cửa hàng của Jollibee tại Việt Nam hiện nay, các cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng quyền, và hình thức này vẫn tiếp tục được Jollibee khuyến khích. Theo đó, đối tác có các điều kiện: mặt bằng diện tích từ 100 – 150m², vốn khoảng 4 tỉ đồng là có thể tiến tới việc hợp tác kinh doanh với Jollibee.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Marketing

2.1.2. Giá trị nền tảng của công ty Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Các giá trị

Khách hàng là trung tâm

Mang đến các giá trị vượt trội

Luôn đề cao sự tôn trọng đối với các cá nhân

Hiệu quả trong làm việc nhóm

Mang tinh thần của gia đình và luôn luôn vui vẻ

Khiêm tốn lắng nghe và học hỏi

Trung thực và liêm chính

Tiết kiệm

Sứ mệnh

Tất cả những gì mà chúng tôi phải làm là mang đến những hương vị tuyệt vời trong từng món ăn, mang lại niềm vui ẩm thực cho tất cả mọi người.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Các tiêu chuẩn FSC

Sự phát triển vượt bậc của Jollibee™ có được là nhờ vào việc tuân thủ một cách nghiêm ngặt và tận tâm vào các tiêu chuẩn cao được ký kiệu là “F.S.C”: Thực phẩm (F) được phục vụ cho công chúng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn vượt trội của công ty nếu không chúng tôi sẽ không đưa ra thị trường. Dịch vụ (S) phải nhanh chóng và lịch sự. Sạch sẽ (C), từ nhà bếp đến các dụng cụ phải luôn luôn được giữ sạch, Jollibee thực sự tự hào về những nhân viên của mình, những người luôn tận tụy với công việc của họ.

Jollibee luôn công nhận họ bằng việc mang đến những chế độ ưu đãi tốt nhất trong ngành công nghiệp thức ăn nhanh và hỗ trợ họ trong những chương trình đào tạo toàn diện và hiện đại. Những nhà quản lý được phổ biến thường xuyên trên những hệ thống vận hành mới nhất ở cửa hàng về kỹ năng quản lý con người theo định hướng riêng so với những người khác. Những nhóm dịch vụ được đào tạo ở những cửa hàng khác nhau và dịch vụ thực phẩm luôn được đổi mới. Jollibee cũng cung cấp những cơ hội nghề nghiệp cho những nhóm thành viên có chất lượng và có trình độ để họ có thể thăng tiến lên cấp quản lý trong ngành dịch vụ thực phẩm.

Các hoạt động tại cửa hàng được hỗ trợ đắc lực bởi các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực Marketing, Kỹ thuật và Quản lý Công nghệ thông tin.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Công ty TNHH Joliibee Việt Nam được tổ chức theo mô hình được thể hiện ở hình 2.1

Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của công ty

2.1.4. Sơ bộ về thị trường thức ăn nhanh và hoạt động công ty

Theo thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, tổng doanh số của ngành thức ăn nhanh Việt Nam năm 2011 ước tính đạt 870 tỉ đồng, tăng 30% so với năm 2010. Tuy vậy, thị phần chỉ tập trung chủ yếu thuộc về các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài như KFC (Mỹ), Lotteria (Hàn Quốc) và Jollibee (Philippines). Hiện tại, các thương hiệu thức ăn nhanh của Việt Nam còn ít hoặc không có khả năng cạnh tranh với thương hiệu ngoại nhập, ngoại trừ một số thương hiệu được biết đến như thành phần tiên phong của fastfood Việt như : Phở 24h, Vietmac…

Ngày 16/07/2013, Tập đoàn McDonald’s chính thức thông báo bước vào thị trường Việt Nam (VN) thông qua đối tác nhượng quyền thương mại là Công ty Good Day Hospitality, do doanh nhân Nguyễn Bảo Hoàng sáng lập. Theo Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Tập đoàn McDonald’s Don Thompson, VN là nước thứ 38 ở châu Á mà thương hiệu này hiện diện. Cửa hàng đầu tiên của McDonald’s khai trương tại TP.HCM vào đầu năm 2014 với những món ăn đặc trưng như sandwich Big Mac, burger phô mai và khoai tây chiên. Giá trị của thương vụ trên không được tiết lộ nhưng theo các chuyên gia trong ngành thì con số không nhỏ. Ngoài ra, địa điểm của cửa hàng đầu tiên, chiến lược kinh doanh sắp tới… vẫn đang được McDonald’s giữ bí mật. Cách đây 2-3 năm, McDonald’s đã để mắt đến thị trường VN nhưng đến nay mới chính thức công bố hiện diện và đây được xem là kết quả của một quá trình tuyển chọn nghiêm ngặt được thực hiện suốt nhiều năm.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn, các đại gia thức ăn nhanh (fast food) của Mỹ thi nhau có mặt tại VN. Cuối năm 2012, thương hiệu được đánh giá đứng thứ hai trên thế giới là Buger King (Mỹ) cũng đã chính thức vào VN thông qua đối tác nhượng quyền là Công ty TNHH dịch vụ thực phẩm và giải khát Cánh Diều Xanh (BKV) thuộc Tập đoàn Liên Thái Bình Dương.

Những diễn biến này khiến thị trường thức ăn nhanh (fast food) VN thêm sôi động và cũng là thách thức cho những thương hiệu hiện diện lâu nay. Có mặt tại VN sớm nhất vào năm 1996, thương hiệu Jollibee (Philippines) đến nay mới có khoảng 30 cửa hàng và dường như chưa tạo được nhiều ưu thế. Gần đây, Jollibee có những động thái quyết liệt nhằm mở rộng hoạt động thông qua việc mua lại cụm Phở 24 và Highlands Coffee với giá 25 triệu USD. Ngoài Jollibee, Lotteria (Hàn Quốc) và KFC (Mỹ) cũng góp mặt khá lâu và góp phần không nhỏ vào việc khiến cho thị trường thức ăn nhanh VN sôi động hơn. Ước tính KFC và Lotteria hiện nay có số cửa hàng gần xấp xỉ nhau với khoảng 140 cửa hàng cho mỗi hệ thống. Khác với Burger King và McDonald’s, cả 3 thương hiệu Jollibee, Lotteria và KFC đều tham gia trực tiếp vào VN, chứ không thông qua một đối tác nào.

Ngoài ra, thị trường thức ăn nhanh VN còn có sự tham gia của các thương hiệu nổi tiếng khác như Pizza Hut, Subway thông qua đối tác nhượng quyền là IFB Holding; Domino’s Pizza và gà rán Popeyes cũng do Tập đoàn Liên Thái Bình Dương kinh doanh…

Doanh thu hoạt động của Jollibee (hình 2.2) có thể cho ta thấy những năm gần đây, hoạt động nỗ lực của Jollibee nhằm giành lại thị phần và mở rộng hệ thống ngày càng tăng phát triển hơn. Chính điều đó việc phát triển lại hệ thống marketing mix ngày càng quan trọng hơn trong quá trình phát triển và khẳng định thương hiệu Jollibee.

2.2. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động marketing mix của công ty Jollibee Việt Nam

2.2.1. Môi trường vĩ mô Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Kinh tế

Đầu năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, từ đó đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, ổn định việc làm, và nhiều thanh tựu trên nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu, vẫn còn nhiều bất cập mà nước ta đang gặp phải như là giá cả tăng cao, suy thoái kinh tế, nền kinh tế phát triển chưa đồng bộ với cơ sở hạ tầng…

Theo số liệu do Tổng Cục Thống kê công bố, năm 2014 là năm đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) kể từ 2011 đến nay, tăng trưởng kinh tế không chỉ về đích mà còn vượt kế hoạch. So với kế hoạch chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 5,8% mà Quốc hội đưa ra thì năm 2014 đạt 5,98% quả là con số đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam. Mức tăng trưởng năm 2014 cao hơn mức tăng trưởng 5,25% của năm 2012 và 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế trước bối cảnh chính trị có nhiều bất ổn khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế lãnh thổ Việt Nam. Mức tăng trưởng có dấu hiệu hồi phục này đã giúp cho nền kinh tế vĩ mô có được sự ổn định – mục tiêu mà Việt Nam theo đuổi trong nhiều năm nay, đặc biệt là sau khi lạm phát lên tới trên 20% trong năm 2008 – năm đầu tiên Việt Nam chịu tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Con số tăng trưởng 5,98% được Tổng Cục Thống kê chính thức công bố đã khiến giới chuyên gia không khỏi bất ngờ.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Hình 2.3. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2004-2014 (đơn vị: %).

Những biến động kinh tế giai đoạn vừa qua (hình 2.3) cũng được phản ánh trong bức tranh toàn cảnh Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Bảng xếp hạng VNR500). Theo thống kê của Vietnam Report, tổng doanh thu của nhóm doanh nghiệp VNR500 tăng dần qua các năm công bố. Đáng lưu ý, trong giai đoạn 2009-2010 và 2011-2012, tăng trưởng tổng doanh thu có dấu hiệu giảm tốc (năm 2009-2010 là 7,8%, năm 2011-2012 là 4,3%). Sang năm 2013-2014, kinh tế Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi, tổng doanh thu của nhóm doanh nghiệp VNR500 cũng dần ổn định hơn với tốc độ tăng tương ứng trung bình 15%/năm.

Sự phục hồi của nền kinh tế làm cho người tiêu dùng mở rộng chi tiêu hơn, điều này là một lợi thế cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Chính trị và pháp luật

Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn và xuất hiện nhiều luật như luật chống độc quyền, luật cạnh tranh, luật sở hữu phát minh trí tuệ, luật nhượng quyền…

Bên cạnh hệ thống pháp luật, các nhóm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng đã và đang xuất hiện

Tất cả những điều trên đều là điều kiện thuận lợi cho ngành thức ăn nhanh phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian sắp tới.

Văn hóa và xã hội

Với tốc độ tăng trưởng GDP như trên, thu nhập người Việt Nam đang ngày càng tăng lên, dẫn đến người dân sẽ chi tiêu nhiều hơn trong việc mua sắm các thứ cần thiết cho bản thân.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Cùng với sự hội nhập WTO, hàng loạt các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đầu tư, mở rộng sản xuất tại Việt Nam, điều này thể hiện qua việc hàng loạt các nhãn hàng nước ngoài đã và đang tiến vào thị trường Việt Nam. Đi đôi với việc thu nhập tăng thì sự quan tâm của người dân không chỉ ở chất lượng, mà còn ở thương hiệu, bao bì, các dịch vụ hỗ trợ… Tuy nhiên người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn khá nhạy cảm với sự thay đổi về giá cả.

Người tiêu dùng Việt Nam được phân ra nhiều nhóm khác nhau theo các yếu tố nhân khẩu, trình độ học vấn, thu nhập.

Dân số Việt Nam tập trung sinh sống ở các đồng bằng. Hiện nay dân số Việt Nam xấp xỉ 90 triệu người với khoảng trên 65% ở độ tuổi dưới 35%. Tuy nhiên, một điều bất lợi là lòng trung thành của giới trẻ không cao.

Về văn hóa ẩm thực, các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, củ, quả, nên ít mỡ, không dùng nhiều thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều dầu mỡ, không thích vị béo ngậy. Mà thích những món ăn có nước dùng như phở, bún, hủ tiếu… Vì các sản phẩm nhiều mỡ làm cho người ta dễ bị béo phì. Hơn nữa, dầu mỡ có thể làm cho người ta dễ mắc các bệnh về tim mạch.

Dân số

Tổng số dân của nước ta xấp xỉ 90 triệu người. Cơ cấu dân số đã có những chuyển biến tích cực từ cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn cơ cấu tuổi thuận lợi, 50,35% trong độ tuổi lao động và theo số liệu thống kê, sự gia tăng dân số thành thị đang có xu hướng tăng nhanh hơn ở nông thôn.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Tự nhiên

Việt Nam có khí hậu ôn hòa quanh năm, nên rất thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp khi tham gia sản xuất, kinh doanh ít bị ảnh hưởng của thời tiết làm trí tuệ, sụt giảm doanh thu.

Khoa học công nghệ

Từ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam ngày càng tiếp thu nhiều thành tựu công nghệ khoa học từ các nước bạn. Những thành tựu công nghệ này hiện tập trung vào việc cải tiến chất liệu bao bì sản phẩm, tối ưu hóa qui trình sản xuất, giảm lượng khí thải ra môi trường và chung tay ngăn chặn sự biến đổi khí hậu toàn cầu.

2.2.2. Môi trường vi mô

Khách hàng

Khách hàng chủ yếu của thức ăn nhanh là khách hàng lẻ, trẻ, thường đi theo nhóm hoặc gia đình. Trong đó, trẻ em cũng là khách hàng mà các cửa hàng thức ăn nhanh nhắm đến.

Với lượng dân số đông và tỷ lệ tăng dân số ở thành thị ngày càng nhanh đã tạo nên một bộ phận có thu nhập khá cao kèm theo đó là khả năng sẵn sang chi trả khá lớn. Thức tế, mỗi gia đình người Việt Nam sẵn sàng chi trả cao hơn cho những bữa ăn ngon miệng và chất lượng. Người dân ngày càng ý thức rõ về mặt giá cả so với giá trị. Đi kèm với khả năng chi trả cao hơn thì yêu cầu chất lượng đối với sản phẩm cũng tăng theo. Đa số người tiêu dùng đã và đang quan tâm đến vấn đề chất lượng và sức khỏe.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Hơn nữa, nhu cầu ăn uống luôn là một nhu cầu cấp thiết hàng ngày, với lượng đông dân như nước ta thì nhu cầu cho các ngành là rất lớn, đặc biệt là ngành lương thực thực phẩm. Đồng thời, tỷ lệ dân số trẻ thu nhập cao ngày càng tăng thì nhu cầu thể hiện mình ngày càng lớn và tạo ra một nhu cầu lớn cho các ngành cao cấp.

Kế đến là khẩu vị của người Việt rất phong phú và đa dạng, có sự thay đổi, đặc trưng ở cả 3 miền nhưng nhìn chung người Việt không thích vị béo ngậy mà đó lại là điểm đặc trưng của các sản phẩm thức ăn nhanh. Đây là rào cản rất khó vượt qua với các hãng thức ăn nhanh mà tiêu biểu là Jollibee khi tiến hành xâm nhập lúc ban đầu đã thất bại phải chuyển mình thu nhỏ và cầm cự.

Cuối cùng là vấn đề hình thức và mối quan tâm sức khỏe. Trong khi người Mỹ dễ dàng chấp nhận một cơ thể mập mạp để thỏa mãn sở thích ăn uống thì người Việt Nam rất quan trọng hình dáng bên ngoài. Vì vậy, họ sẽ e ngại khi sử dụng các sản phẩm nhiều dầu mỡ. Hơn nữa, sức khỏe đang được người tiêu dùng quan tâm hàng đầu do hiện nay lượng người mắc bệnh béo phì, tim mạch, tiểu đường đang tăng nhanh. Và thức ăn được coi là một trong những nguyên nhân. Đây là một thách thức lớn cho Jollibee và cho cả ngành thức ăn nhanh. Đồng thời, nhiều vụ bê bối về an toàn thực phẩm hiện nay khiến người tiêu dùng mất lòng tin vào thực phẩm ở các hàng quán.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Nhà cung cấp

Nguyên liệu đầu vào của ngành thức ăn nhanh chủ yếu là những thực phẩm thông thường như: thịt gà công nghiệp, các loại rau củ, gạo, các loại thức uống pha chế nhanh như: milo, icetea, Nescafe, nước suối, nước ngọt… Bao bì cho sản phẩm mang về là hộp giấy, hộp/ly nhựa, bao nilon… Điểm khác biệt để tạo ra lợi thế cạnh tranh của mỗi công ty nằm ở các loại bột để chiên, gia vị ướp gà, nước sốt, nước chấm…

Việt Nam là một nước công nghiệp nên trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính rất phát triển. Đây là lợi thế rất lớn cho Jollibee khi có thể sử dụng nguồn nguyên liệu bản địa, đồng thời giảm được chi phí. Jollibee đã chủ động xây dựng mối quan hệ mật thiết với các nhà cung cấp uy tín và đảm bảo chất lượng trên thị trường. Tất cả nguyên liệu đều có chứng nhận kiểm dịch của cơ quan chức năng. Với việc thực hiện chiến lược sản phẩm này, Jollibee đã thực hiện cùng lúc hai mục tiêu, vừa đảm bảo cung cấp sản phẩm chất lượng, vừa giảm được nguy cơ từ nhà cung cấp. Và chiến lược đó đã hiệu quả khi dịch cúm gia cầm bùng phát ở Việt Nam.

Sản phẩm thay thế

Thị trường thức ăn nhanh chỉ mới sôi động mấy năm gần đây do các hãng đã nắm bắt được khẩu vị của thị trường. Tuy nhiên, Việt Nam là một nước nông nghiệp và có văn hóa ẩm thực rất đa dạng, phong phú, đặc trưng giữa ba miền. VD: cơm, phở, bún, bánh cuốn, bánh bèo, bánh xèo, canh chua, lẩu… Như vậy, áp lực từ sản phẩm thay thế đối với thức ăn nhanh rất lớn. Để làm giảm áp lực này, các hãng thức ăn nhanh cần phát huy điểm mạnh của mình, đồng thời liên kết với nhau nếu cần để tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường Việt Nam.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Sự gia nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn

Sức hấp dẫn của ngành tương đối lớn. Thị trường Việt Nam với xấp xỉ 90 triệu dân là một thị trường khổng lồ đối với ngành thực phẩm. Khẩu vị của người Việt đã phần nào chấp nhận được các sản phẩm thức ăn nhanh cùng với sự an tâm từ sản phẩm sạch. Với mức tăng trưởng 30% mỗi năm, thị trường ngành fast food đang trở thành ngành có tốc độ cao và ổn định trong các ngành hàng tiêu dùng thực phẩm hiện nay… Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh chỉ gói gọn trong 3 ông lớn ngoại quốc (KFC-Lotteria-Jollibee).

Rào cản xâm nhập ngành không cao. So với các ngành công nghiệp thì ngành thực phẩm không có yêu cầu cao về vốn, kỹ thuật và các nguồn lực đặc thù, không có nhiều sự thay đổi nhanh chóng và đột ngột như ngành công nghệ hay IT. Hệ thống phân phối và thương hiệu của các hãng chủ yếu phân bố ở các thành phố lớn, đông dân cư và có mức sống khá cao nên chưa được coi là phát triển và rọng khắp.

Như vậy, thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng khi mà hội tụ được những yếu tố thu hút nhà đầu tư kèm theo đó là một môi trường cạnh tranh khốc liệt bây giờ và cả trong tương lai khi mà nhiều đối thủ tiềm ẩn có thể xâm nhập vào thị trường tạo nên áp lực khá lớn cho Jollibee trong quá trình định vị và phát triển. Rất nhiều đối thủ đã và đang xuất hiện trong thời gian tới, điển hình là Mc Donald’s-hãng thức ăn nhanh lớn nhất thế giới.

2.2.3. Môi trường bên trong Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Tài chính

Jollibee là tập đoàn thức ăn nhanh đầu tiên và lớn nhất của châu Á, ra đời tại Philippines từ năm 1978. Sau 30 năm, Jollibee không chỉ chiếm lĩnh thị trường nội địa với 651 cửa hàng trên toàn Philippines, mà còn vươn ra thị trường nước ngoài với 49 cửa hàng tại Hong Kong, Trung Quốc, Brunei, Việt Nam, Guam, Mỹ…

Đến hôm nay, Jollibee đã có hơn 60 cửa hàng tại Việt Nam trải rộng trên toàn quốc. Và tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam đã hơn 450 tỷ đồng tính từ năm 1997 khi Jollibee vừa tiến vào thị trường Việt Nam.

Như vậy, với tiềm tực tài chính hừng hậu, Jollibee có thể triển khai các hoạt động kinh doanh có quy mô tài chính lớn, dễ dàng cạnh tranh với các đối thủ khác.

Công nghệ

Sản phẩm của Jollibee tại Việt Nam được chế biến theo tiêu chuẩn chung trên toàn thế giới. Công thức chế biến của Jollibee luôn được giữ bí mật và chỉ có một số ít người biết công thức đáng giá này (và họ đã ký những giao kèo đảm bảo sự bí mật của công thức này). Tuy nhiên Jollibee vẫn luôn không ngừng nghiên cứu thay đổi và phát triển cho phù hớp với khẩu vị của từng thị trường.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Đối thủ cạnh tranh trong ngành

Đối thủ cạnh tranh chính trong ngành thức ăn nhanh này chủ yếu là các đối thủ quốc tế với khả năng lớn mạnh. Điểm mặt các thương hiệu thức ăn ngoại đã vào, một số đã có chỗ đứng khá tốt tại thị trường Việt Nam như: KFC, Lotteria, Burger King, Pizza Hut, Domino’s Pizza… Trong đó, Lotteria (Hàn Quốc) được coi là “anh cả” với hơn 300 cửa tiệm, theo sau là KFC (Mỹ) đã mở hơn 250 cửa tiệm và đứng thứ 3 là Jollibee (Philippines) với hơn 200 cửa tiệm. Theo thống kê từ Bộ Công thương, doanh số ngành thức ăn nhanh tăng khoảng trên 20% mỗi năm, năm 2010 tăng đến 30%, tập trung phần lớn vào những thương hiệu đã định vị tại thị trường thức ăn nhanh VN từ hơn chục năm qua. Riêng KFC, Lotteria, Jollibee luôn có mức tăng trưởng trên 30%.Tại thời điểm này, KFC, Lotteria và Jollibee là 3 thương hiệu của nước ngoài đang kinh doanh thức ăn nhanh gà rán khá thành công tại Việt Nam. Các cửa hàng này bình quân thu hút khoảng 200-300 khách/ngày và cao điểm có từ 400 đến trên 1.000 khách/ngày.

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Ngoài các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như KFC và Lotteria thì Jollibee còn phải đối phó với các đối thủ tiềm ẩn mới và đang xuất hiện tại thị trường Việt Nam như gà rán Texas, gà rán Popeyes… Các đối thủ này tuy chỉ mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam nhưng cũng như các đối thủ cạnh tranh trực tiếp họ có tiềm năng tài chính cũng tương đối cao và có thể tấn công giành lấy thị phần bất cứ lúc nào.

2.3. Kết quả khảo sát Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

2.3.1. Mô tả mẫu nghiên cứu cảm nhận của khách hàng về hoạt động Marketing mix của gà rán Jollibee

Với mục đích đưa ra cơ sở đánh giá một cách khách quan về hoạt động Marketing Mix của thức ăn nhanh gà rán Jollibee, tác giả đã tiến hành khảo sát nhằm mục đích xem xét những đánh giá của khách hàng về hoạt động Marketing mix của thị trường gà rán, bao gồm 3 công ty lớn nhất là KFC, Loteria và Jollibee. Từ đó những nhận định về điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động Jollibee sẽ được khách quan hơn và cũng là cơ sở để tác giả đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện hơn về hoạt động Marketing mix của gà rán Jollibee.

Phương pháp chọn mẫu

Trong phạm vi và tính chất của đề tài nghiên cứu, cũng như xem xét các yếu tố thời gian, chi phí…, tác giả tiến hành chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất thuận tiện: bất kỳ người tiêu dùng nào đã từng sử dụng thức ăn nhanh gàn rán trong 6 tháng trước ngày khảo sát, có độ tuổi từ 16 tuổi trở lên và đang sinh sống, học tập hoặc làm việc tại Việt Nam đồng ý tham gia khảo sát đều được chọn vào mẫu.

Kích thước mẫu

Kích thước mẫu nghiên cứu phụ thuộc vào phương pháp xử lý thống kê, độ tin cậy cần thiết,… Với nguyên tắc chọn kích thước mẫu càng lớn càng tốt và đảm bảo nghiên cứu có ý nghĩa, trong giới hạn thời gian thực hiện đề tài và kinh phí, tác giả chọn kích thước mẫu nghiên cứu là 250.

Ước tính tỷ lệ hồi đáp khoảng 83%, tác giả đã tiến hành phát 300 bảng câu hỏi. Qua khảo sát thực tế, thu hồi về 252 bảng câu hỏi, trong đó cả 252 bảng đều hợp lệ.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Thang đo sử dụng

Trong thiết kế nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp cả hai thang đo: thang đo cấp định danh (dạng câu hỏi một lựa chọn, nhiều lựa chọn) và thang đo cấp quãng (thang Likert 5 điểm).

Từ mục tiêu nghiên cứu, tiến hành tra cứu lý thuyết Marketing mix để xây dựng thang đo nháp 1. Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu với 14 khách hàng đã sử dụng thức ăn nhanh gà rán trong 6 tháng trước ngày phỏng vấn để điều chỉnh cho phù hợp, từ đó xây dựng được thang đo nháp 2.

Kết quả phỏng vấn: 14 khách hàng tham gia phỏng vấn đều cho rằng tất cả các yếu tố Marketing 4P đưa ra đều quan trọng đối với họ khi chọn cửa hàng thức ăn nhanh gà rán. Các yếu tố mà khách hàng quan tâm và có ảnh hưởng đến quyết định chọn mua gà rán cụ thể như sau:

Sản phẩm: gồm các phát biểu

  • Thương hiệu gà rán X dễ phát âm và dễ nhớ
  • Gà rán X có nhiều món để lựa chọn
  • Gà rán X rất ngon, phù hợp khẩu vị của tôi
  • Gà rán X ít dầu mỡ
  • Gà rán X đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
  • Bao bì gà rán X bắt mắt và tiện lợi.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Giá cả: gồm các phát biểu

  • Giá gà rán X hợp lý, tương xứng với chất lượng sản phẩm
  • Giá gà rán X có tính cạnh tranh cao so với các thương hiệu thức ăn nhanh gà rán khác.
  • Giá gà rán X ổn định, không biến động nhiều
  • Giá gà rán X không chênh lệch nhiều giữa các điểm bán

Phân phối: gồm các phát biểu

  • Cửa hàng gà rán X có ở khắp mọi nơi
  • Thực đơn các món ăn ở các cửa hàng gà rán X đều giống nhau
  • Gà rán X luôn đủ lượng hàng tại điểm bán
  • Dễ dàng mua được gà rán X ngay khi có nhu cầu
  • Khi đặt hàng qua điện thoại tại gà rán X sẽ được giao hàng rất nhanh

Chiêu thị: gồm các phát biểu

  • Gà rán X xuất hiện trên nhiều phương tiện quảng cáo
  • Tần suất quảng cáo gà rán X rất thường xuyên
  • Các quảng cáo gà rán X rất hấp dẫn, ấn tượng và thu hút người xem
  • Gà rán X thường có nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn
  • Khi có khuyến mãi tôi sẽ ăn ở gà rán X nhiều hơn.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Sau đó tác giả tiến hành thảo luận với 4 chuyên viên thuộc phòng Marketing Công ty TNHH Jollibee Việt Nam để tìm hiểu thêm về hoạt động Marketing của công ty. Đồng thời các chuyên gia cùng thảo luận, xem xét dựa trên ý kiến thu thập từ kết quả phỏng vấn người tiêu dùng góp ý và bổ sung thêm một số yếu tố khác.

Kết quả thảo luận: bên cạnh những phát biểu phù hợp, các chuyên gia đề nghị nêu rõ hơn ở một số phát biểu và bổ sung thêm các yếu tố. Cụ thể các phát biểu được bổ sung gồm:

Sản phẩm

  • Cửa hàng gà rán X có cách phối màu, trang trí bắt mắt
  • Cửa hàng gà rán X vệ sinh sạch sẽ.
  • Cửa hàng gà rán X có đủ chỗ ngồi thoải mái.

Giá cả

  • Tôi sẵn sàng đến ăn ở gà rán X với mức giá hiện tại

Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng đề nghị nên có thêm một số câu hỏi mở nhằm khai thác thông tin sâu hơn từ khách hàng, làm cơ sở để rút ra giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing mix cho sản phẩm phù hợp hơn. Các câu hỏi mở được đề nghị cụ thể như sau:

TT1.Khi đi ăn gà ránX Anh/Chị thường hay đi cùng ai? Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

  • Không ai, chỉ mình tôi
  • Với gia đình (ba/mẹ/anh/em trai/chị/ em gái)
  • Bạn bè
  • Đồng nghiệp
  • Bạn trai/bạn gái
  • Con trai/con gái của bạn
  • Bạn học

TT2.Anh/Chị vui lòng cho biết độ tuổi của người đi cùng?

  • 0-10 tuổi
  • 11-15 tuổi
  • 16-19 tuổi
  • 20-25 tuổi
  • 26-30 tuổi
  • 31-35 tuổi
  • 36 tuổi trở lên

TT3.Anh chị thường ăn gà rán X vào dịp nào? Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

  • Khi cảm thấy thèm ăn
  • Thích lúc nào ăn lúc đó
  • Khi cảm thấy thèm
  • Ăn vào cuối tuần
  • Khi người khác mời
  • Ăn vào các dịp lễ lớn
  • Cuối tháng lãnh lương/ khi có nhiều tiền
  • Khi đói
  • Dịp khác …………………

Từ kết quả thảo luận với chuyên gia, tác giả đưa ra thang đo chính thức.

Thang đo định danh sử dụng cho các câu hỏi gạn lọc ở phần mở đầu, câu hỏi thông tin cá nhân ở phần II, cũng như một số câu hỏi để khai thác sâu hơn thông tin từ người tiêu dùng (3 câu hỏi ký hiệu TT1 đến TT3) nhằm rút ra giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing mix cho sản phẩm phù hợp hơn.

Thang đo Likert 5 điểm được sử dụng để đo lường 24 biến quan sát của khái niệm sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị. Thang đo hoàn chỉnh được thể hiện ở bảng 2.1:

2.3.2. Thống kê mô tả mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Trong 252 mẫu khảo sát hợp lệ có 15 mẫu chọn thương hiệu Jollibee, 133 mẫu chọn thương hiệu KFC, 94mẫu chọn thương hiệu Lotteria và 10 mẫu chọn các thương hiệu còn lại như Popeyes, Texas.

Độ tuổi trong mẫu gồm 16-19 tuổi 21%, 20-25 tuổi 52%, 26 -30 tuổi 21% và trên 31 tuổi 6% .

Sơ lược về đặc điểm của mẫu khảo sát được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2: Thống kê mô tả đặc điểm mẫu khảo sát

Kết quả chi tiết cảm nhận của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp

Quy ước mức độ đồng ý của người tiêu dùng tương ứng với các số từ 1 đến 5 trong thang đo Likert như sau:

Mức1:Hoàn toàn không đồng ý

Mức2:Không đồng ý

Mức3:Trung lập

Mức4:Đồng ý

Mức5:Hoàn toàn đồng ý

2.3.3. Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê dùng để kiểm tra sự chặt chẽ và tương quan giữa các biến quan sát. Điều này liên quan đến hai khía cạnh là tương quan giữa bản thân các biến và tương quan của các điểm số của từng biến với điểm số toàn bộ các biến của mỗi người trả lời. Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ những biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong mô hình nghiên cứu vì nếu không chúng ta không thể biết được chính xác độ biến thiên cũng như độ lỗi của các biến.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Nguyên tắc kết luận:

  • Hệ số Cronbach Alpha: Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi: Cronbach Alpha1: Thang đo lường tốt  Cronbach Alpha0.8: Thang đo có thể sử dụng được.  Cronbach Alpha0.7: Có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu.
  • Hệ số tương quan biến tổng (item-total correclation): Hệ số tương quan biển tổng là hệ số tương quan của một biến với điểm trung bình của các biến khác trong cùng một thang đo, do đó hệ số này càng cao thì sự tương quan của biến này với các biến khác trong nhóm càng cao. Theo Nunnally&Burnstein (1994), các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 được coi là biến rác và sẽ bị loại khỏi thang đo.

Kiểm đinh độ tin cậy thang đo biến độc lập

Đề tài nghiên cứu sử dụng gồm 4 thành phần chính để khách hàng đánh giá các yếu tố Marketing Mix tại công ty TNHH Jollibee Việt Nam gồm:

  • “Sản phẩm” gồm 9 biến quan sát: SP1, SP2, SP3, SP4, SP5, SP6, SP7, SP8, SP9.
  • “Giá cả” gồm 5 biến quan sát: GC1, GC2, GC3, GC4, GC5.
  • “Phân phối” gồm 5 biến quan sát: PP1, PP2, PP3, PP4, PP5.
  • “Chiêu thị” gồm 5 biến quan sát: CT1, CT2, CT3, CT4, CT5

Kết quả kiểm định Cronbach Alpha được thể hiện trong bảng 2.3.

Bảng 2.3: Bảng đánh giá độ tin cậy của thang đo

2.3.4. Phân tích nhân tố khám phá (EFA):Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Sau khi thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo, nghiên cứu tiếp tục kiểm định giá trị thang đo bằng phân tích EFA (Xem bảng 2.4).

Bảng 2.4: Bảng phân tích nhân tố với các biến độc lập

  • Hệ số KMO trong phân tích bằng 0.868>0.6, cho thấy rằng kết quả phân tích yếu tố là đảm bảo độ tin cậy.
  • Kiểm định Bartlett’s Test có hệ số Sig=0.000<0.05, thể hiện rằng kết quả phân tích yếu tố đảm bảo được mức ý nghĩa thống kê.
  • Phương sai trích bằng 66.538, thể hiện rằng sự biến thiên của các yếu tố được phân tích có thể giải thích được 66.53% sự biến thiên của dữ liệu khảo sát ban đầu, đây là mức ý nghĩa ở mức khá.
  • Hệ số Eigenvalues của yếu tố thứ 4 bằng 2.068>1, thể hiện sự hội tụ của phép phân tích dừng ở yếu tố thứ 4, hay kết quả phân tích cho thấy có 04 yếu tố được trích ra từ dữ liệu khảo sát.
  • Hệ số tải yếu tố của mỗi biến quan sát thể hiện các yếu tố đều lớn hơn 0.5, cho thấy rằng các biến quan sát đều thể hiện được mối ảnh hưởng với các yếu tố mà các biến này biểu diễn.

2.4. Thực trạng hoạt động Marketing Mix của công ty TNHH Jollibee Việt Nam so với đối thủ cạnh tranh là KFC và Lotteria

2.4.1. Phân tích biến sản phẩm:Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Từ kết quả phân tích số liệu điều tra, tác giả tổng hợp và lập bảng tổng hợp về các biến sản phẩm mà người tiêu dùng đánh giá cho cả 3 thương hiệu Jollibee, KFC và Lotteria trong bảng 2.5 sau:

Bảng 2.5: Thống kê khảo sát các biến trong hoạt động sản phẩm

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về các biến trong hoạt động sản phẩm (bảng 2.5) và tình hình thực tế của 3 thương hiệu gà rán Jollibee, KFC và Lotteria, tác giả có những đánh giá như sau:

  • biến SP1 khi phân tích về thương hiệu dễ phát âm và dễ nhớ, thống kê cho thấy thương hiệu Jollibee lại rất dễ phát âm và dễ nhớ, điểm trung bình của Jollibee là 4,6 trong khi đó KFC là 3,89 và Lotteria là 3,63. Đây là một trong những điểm mạnh của Jollibee trong hoạt động chiêu thị, với hình ảnh con ong (bee) gây ấn tượng mạnh với sự dễ thương của chú ong thân thiện, đồng thời với từ Jollibee trong tiếng anh cũng không khó đọc nên dễ dàng lấy điểm hơn so với các đối thủ như KFC và Lotteria.

Xét biến SP2 về mức độ thực đơn có phong phú đa dạng thì đây lại chính là lợi thế của Lotteria (3,73), bởi vì chính sách địa phương hóa của hệ thống này nên khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam, Lotteria đã nhanh chóng tìm hiểu và nghiên cứu cho ra nhiều món mới phù hợp với sở thích và khẩu vị của đất nước này. Đây là điều mà cả KFC và Jollibee đều gặp khó khăn trong giai đoạn mở đầu, tuy đã có nhiều cố gắng cải thiện đáng kể nhưng Jollibee vẫn còn cần cải thiện hơn về mặt này. Jollibee được cho là ở mức 3,33 trong khi KFC ở mức 3,71 cũng đã gần đuổi kịp Lotteria.

Xét biến SP3 về độ ngon, phù hợp khẩu vị khách hàng thì Jollibee được đánh giá khá cao 3,80 trong khi KFC là 3,65 và Lotteria là 3,53. Đây là điểm mạnh cần được khai thác và phát triển thêm của Jollibee.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Xét biến SP4 về mức độ ít dầu mỡ lại một lần nữa Jollibee chứng minh thế mạnh của mình 3,73 trong khi KFC 3,65 và Lotteria 3,71. Hiện nay khách hàng đánh giá rất cao về chất lượng thức ăn và độ dinh dưỡng của thức ăn, trước đây khách hàng thường thích ăn nhiều dầu mỡ nhưng thói quen hiện nay đã thay đổi và khách hàng cũng chú trọng đến sức khỏe nhiều hơn. Việc quá nhiều dầu mỡ gây dễ ngán và ảnh hưởng đến sức khỏe của khách hàng. Đây cũng là điểm yếu chí mạng cần khắc phục của ngành công nghiệp thức ăn nhanh gà rán cần được cải thiện tốt hơn trong tương lai.

Xét biến SP5 về mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm, đây cũng là điểm mạnh của Jollibee (3,80) được đánh giá khá cao so với các đối thủ KFC (3,17) và Lotteria (3,32).

Xét biến SP6 về bao bì bắt mắt, có thể thấy Jollibee được đánh giá khá cao (4,13) trong khi hai đối thủ còn lại gần như tương đồng KFC (3,47) và Lotteria (3,35).

Xét biến SP7 về cách trang trí của cửa hàng thì kết quả cũng như biến SP6, Jollibee được đánh giá khá cao (4,13) trong khi hai đối thủ còn lại gần như tương đồng KFC (3,88) và Lotteria (3,76).

Xét biến SP8 về vệ sinh trong cửa hàng, Jollibee được đánh giá cao 4,00 trong khi KFC 3,85 và Lotteria là 3,81. Có thể thấy tiêu chuẩn vệ sinh được Jollibee chú trọng và điều đó đã được khách hàng đánh giá cao.

Xét biến SP9 về số lượng chỗ ngồi thoải mái cả ba thương hiệu đều được đánh giá gần như nhau KFC 3,84 Lotteria 3,77 và Jollibee 3,93 vì diện tích và cách bố trí của cả ba thương hiệu ở các cửa hàng có thể nói rất ít khác biệt.

2.4.2. Phân tích biến giá cả:Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Từ kết quả phân tích số liệu điều tra, tác giả tổng hợp và lập bảng tổng hợp về các biến giá cả mà người tiêu dùng đánh giá cho cả 3 thương hiệu Jollibee, KFC và Lotteria thể hiện ở bảng 2.6:

Bảng 2.6: Thống kê khảo sát các biến trong hoạt động giá cả

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về các biến trong hoạt động giá cả (bảng 2.6) và tình hình thực tế của 3 thương hiệu gà rán Jollibee, KFC và Lotteria, tác giả có những đánh giá như sau:

Xét biến GC1 về tính hợp lý của giá cả tương xứng với chất lượng sản phẩm Jollibee bị đánh giá khá thấp (3,60) trong khi KFC (3,89) và Lotteria (3,76). Có thể thấy giá cả lại là điểm yếu chí mạng của Jollibee.

Xét biến GC2 về tính ổn định của giá cả thì Jollibee (2,87) lại bị đánh giá thấp hơn so với hai đối thủ KFC (3,77) , Lotteria (3,63). Điều này có thể giải thích như sau vì Jollibee hiện nay đang có những nghiên cứu về sản phẩm mới hết sức sâu sắc, theo đó phần ăn cũng thay đổi nhiều hơn và mức giá cũng thay đổi liên tục. Tuy nhiên khách hàng chưa thể phân biệt sự khác biệt hoàn toàn của các phần ăn mới mà chỉ cảm thấy giá cả có vẻ thay đổi nhiều không ổn định.

Xét biến GC3 về số lượng phần combo ưu đãi giá cho phần ăn thì Jollibee cũng bị đánh giá khá thấp (3,20) so với đối thủ KFC (4,02) và Lotteria (3,98).

Xét biến GC4 về giá cả không chênh lệch nhiều giữa các điểm bán thì cả ba thương hiệu tương đối ngang bằng Jollibee (3,73), KFC (3,89) và Lotteria (3,74).Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Xét biến GC5 về mức độ sẵn sàng của khách hàng với giá hiện tại Jollibee cũng bị đánh giá thấp hơn (3,67) trong khi KFC (3,83) và Lotteria (3,80)

Nhìn chung có thể thấy giá cả của Jollibee bị đánh giá thấp hơn so với đối thủ. Tuy giá cả các bên tương đối giống nhau nhưng do khẩu phần của Jollibee khá ít vì khách hàng chủ yếu nhắm đến vẫn là thiếu nhi nên khách hàng cảm nhận khẩu phần ở Jollibee tương đối ít hơn so với đối thủ cạnh tranh.

2.4.3. Phân tích biến phân phối:

Từ kết quả phân tích số liệu điều tra, tác giả tổng hợp và lập bảng tổng hợp về các biến phân phối mà người tiêu dùng đánh giá cho cả 3 thương hiệu Jollibee, KFC và Lotteria thể hiện ở bảng 2.7 sau:

Bảng 2.7: Thống kê khảo sát các biến trong hoạt động phân phối

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về các biến trong hoạt động phân phối (bảng 2.7) và tình hình thực tế của 3 thương hiệu gà rán Jollibee, KFC và Lotteria, tác giả có những đánh giá như sau:

Xét biến PP1 về mức độ bao phủ các cửa hàng thì rõ ràng đây là điểm yếu chí mạng của Jollibee (3,60) trong khi các đối thủ khá mạnh về hệ thống phân phối rộng khắp KFC(3,89) và Lotteria (3,88). Khách hàng có thể dễ dàng tìm các cửa hàng của Lotteria và KFC ở khắp các quận trong TP. Hồ Chí Minh.Tuy nhiên để tìm cửa hàng Jollibee là việc tương đối khó vì hầu hết các mặt bằng tốt đều đã bị đối thủ chiếm giữ.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Xét biến PP2 về thực đơn các món ăn ở các cửa hàng đều giống nhau thì Jollibee được đánh giá khá cao (4,20) trong khi KFC (3,73) và Lotteria (3,57).

Xét biến PP3 về lượng gà được cung cấp tại các điểm bán thfi Jollibee (3,60) và Lotteria (3,51) tương đối đồng đều còn KFC lại nhỉnh hơn (3,80).

Xét biến PP4 về sự tiện lợi khi mua thì cả 3 tương đối ngang nhau KFC (3,55) Lotteria (3,48) và Jollibee (3,67). Jollibee có phần nhỉnh hơn vì phần lớn các cửa hàng Jollibee đều nằm trong siêu thị, các trung tâm thương mại nên dễ dàng tìm thấy ở những nơi đó.

Xét biến PP5 về mức độ nhanh chóng giao hàng khi khách hàng đặt hàng qua điện thoại thì KFC được đánh giá 3,53 còn Lotteria 3,35 và Jollibee là 3,47. Điều này chứng tỏ hệ thống giao hàng khi đặt qua điện thoại của Jollibee tương đối ổn định nhưng chưa thật sự hài lòng với khách hàng.

Về mặt phân phối có thể nói đây là một trong những điểm yếu của Jollibee, và việc các đối thủ đã giành hầu như tất cả vị trí tốt để xây dựng cửa hàng thì có thể nói nếu Jollibee không khắc phục được nhược điểm này thì thị phần sẽ ngày càng mất dần vào tay hai đối thủ KFC và Lotteria.

2.4.4. Phân tích biến chiêu thị:Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Từ kết quả phân tích số liệu điều tra, tác giả tổng hợp và lập bảng tổng hợp về các biến chiêu thị mà người tiêu dùng đánh giá cho cả 3 thương hiệu Jollibee, KFC và Lotteria trong bảng 2.8.

Bảng 2.8: Thống kê khảo sát các biến trong hoạt động chiêu thị

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về các biến trong hoạt động chiêu thị (bảng 2.8) và tình hình thực tế của 3 thương hiệu gà rán Jollibee, KFC và Lotteria, tác giả có những đánh giá như sau:

Xét biến CT1 về sự xuất hiện nhiều trên quảng cáo, KFC được đánh giá là 3,62 Lotteria 3,31 còn Jollibee là 3,07. Điều này cho thấy Jollibee không quá chú trọng vào hoạt động chiêu thị và có thể đây lại là một điểm yếu chí mạng của Jollibee.

Xét biến CT2 về tần suất quảng cáo, có thể thấy tần suất quảng cáo của Jollibee khá yếu (2,80) so với các đối thủ Lotteria (2,87) và KFC (3,56). Điều này thể hiện qua các siêu thị, các tòa nhà thường có quảng cáo của KFC và Lotteria nhưng những quảng cáo của Jollibee thì tương đối ít gặp.

Xét biến CT3 về sự hấp dẫn của quảng cáo đối với khách hàng, ở điểm này KFC vượt trội hơn cả hai đối thủ (3,66) trong khi Lotteria (3,21) và Jollibee (3,27).

Xét biến CT4 về các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, Jollibee lại được đánh giá cao(4,00) vì thường có những khuyến mãi đặc biệt không chỉ trong phần ăn mà còn trong những món quà nhỏ cho khách hàng đặc biệt là các em thiếu nhi đi cùng. Ở biến này KFC được đánh giá (3,58) còn Lotteria (3,30).

Xét biến về sự kích thích khách hàng khi có khuyến mãi, ở đây cả ba thương hiệu đều có chỉ số khá cao Jollibee (4,07), KFC (3,76) và Lotteria (3,37) điều này chứng tỏ khách hàng khá chuộng khuyến mãi, cần có nhiều khuyến mãi hơn để thu hút khách hàng.

2.5. Đánh giá hoạt động Marketing Mix cho thương hiệu gà rán Jollibee:Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Từ kết quả phân tích thực trạng hoạt động Marketing mix đối với thương hiệu gà rán Jollibee, kết hợp kết quả khảo sát cảm nhận của người tiêu dùng về các hoạt động này, nghiên cứu trình bày các điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động Marketing mix cụ thể như sau:

2.5.1. Về sản phẩm

Điểm mạnh

Jollibee sở hữu một thương hiệu dễ phát âm, hình ảnh con ong thân thiện và dễ thương làm cho khách hàng dễ dàng nhớ đến và cũng là một trong những điểm mạnh để thu hút khách hàng chủ yếu là bộ phận thiếu nhi đi cùng người lớn.

Jollibee được người tiêu dùng đánh giá cao về độ ngon, phù hợp khẩu vị của đại đa số khách hàng, gà rán của Jollibee ít dầu mỡ, chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm và chế độ dinh dưỡng không quá nhiều đạm rất phù hợp với sự quan tâm về sức khỏe của khách hàng hiện nay.

Điểm yếu

Về thực đơn của Jollibee chưa được đa dạng và phong phú. Điều này cần được cải thiện nhiều hơn. Cần khảo sát thêm về thị trường Việt Nam đưa ra thêm nhiều lựa chọn như không chỉ gà rán có thể thêm cá, thịt bò…

2.5.2. Về giá Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Điểm mạnh

Giá cả các phần ăn của Jollibee tương đối hợp lý, tính cạnh tranh so với đối thủ cũng không thấp.

Điểm yếu

Những món mới đưa ra chưa có sự khác biệt rõ rệt về chất lượng nhưng giá cả lại thay đổi nhiều gây ra sự mất ổn định của giá trong cảm nhận của khách hàng.

Các phần combo ưu đãi giá vẫn còn ít và chất lượng các phần combo vẫn chưa thật sự thu hút người tiêu dùng.

Khẩu phần tương đối ít tuy phù hợp với các đối tượng thiếu nhi nhưng lại làm cho đối tượng người lớn thấy khẩu phần ít giá cao.

2.5.3. Về phân phối Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Điểm mạnh

Hệ thống giao hàng khi khách hàng đặt hàng qua điện thoại tương đối nhanh. Điều này rất là quan trọng bởi vì khi khách hàng đặt qua điện thoại rất mong muốn được giao hàng nhanh chóng và phần ăn cũng không quá nguội do bị giao chậm thế nên đây cũng là một điểm mạnh của Jollibee.

Điểm yếu

Độ bao phủ của các cửa hàng rõ rang là điểm yếu chí mạng của Jollibee. Jollibee hầu như chỉ đặt cửa hàng ở trong các siêu thị và các trung tâm thương mại. Tuy nhiên khi khảo sát thói quen khách hàng thì đa phần họ có thói quen di những nơi gần nhà và không có thói quen vào siêu thị để ăn nhiều.

Không chỉ nằm ở hầu như trong siệu thị và trung tâm thương mại, Jollibee lại thường nằm ở tầng 3, 4 của các tòa nhà. Điều này rất bất lợi vì khách hàng thường chỉ có thể biết được khi vào trong mua sắm.

2.5.4. Về chiêu thị Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Điểm mạnh

Các chương trình khuyến mãi đa dạng và thường xuyên nên rất thu hút khách hàng.

Jollibee là một công ty lớn mạnh có nguồn tài chính vững chắc đủ để khai triển đầy đủ các chương trình chiêu thị.

Điểm yếu

Tần số quảng cáo của Jollibee rất thấp và hình ảnh quảng cáo cũng không được thu hút khách hàng. Cần chú trọng hơn về mảng này.

2.6. Đánh giá thói quen của người tiêu dùng qua các biến bổ sung nhằm làm cơ sở để thiết kế các giải pháp marketing mix cho thương hiệu Jollibee:

Đầu tiên tác giả tiến hành thống kê độ tuổi và mức độ dùng thức ăn nhanh gà rán của các đối tượng được khảo sát để có được biểu đồ (hình 2.4):

Hình 2.4: Biểu đồ mức độ dùng thức ăn nhanh gà rán theo độ tuổi

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về độ tuổi và mức độ dùng thức ăn nhanh gà rán của khách hàng (bảng 2.4), tác giả có những nhận xét như sau:

Nhìn chung nhóm 24-29 tuổi có mức độ dùng thức ăn nhanh gà rán khá cao, chủ yếu 1 -2 lần/ tuần. Ngược lại nhóm từ 30 tuổi trở lên có mức độ dùng thức ăn nhanh có phần thấp hơn, tập trung chủ yếu 2-3 lần / tháng. Trong khi đó nhóm 16 đến 23 tuổi có mức độ trải đều từ 1-2 lần / tuần đến 2-3 lần / tháng.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Tác giả tiếp tục tiến hành thống kê về dịp dùng thức ăn nhanh gà rán của các đối tượng được khảo sát để có được biểu đồ (hình 2.5):

Hình 2.5: Biểu đồ theo dịp dùng thức ăn nhanh gà rán Nguồn: Kết quả xử lý từ số liệu điều tra của tác giả

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về dịp dùng thức ăn nhanh gà rán của khách hàng (bảng 2.5), tác giả có những nhận xét như sau:

Hơn 60% người được khảo sát dùng thức ăn nhanh gà rán khi được người khác mời. Ngoài ra đáp viên cũng thường dùng vào những lúc cuối tuần hoặc những lúc thấy tem

Còn nếu theo tình trạng con cái thì những người chưa có con thường thích lúc nào ăn lúc đó. Còn những người đã có con thường dùng vào cuối tuần nhiều hơn.

Tác giả tiếp tục tiến hành phân tích sâu hơn về dịp dùng thức ăn nhanh gà rán theo tình trạng có con của các đối tượng được khảo sát để có được biểu đồ sau (Xem hình 2.6).

Hình 2.6: Biểu đồ dịp dùng thức ăn nhanh gà rán theo tình trạng có con Nguồn: Kết quả xử lý từ số liệu điều tra của tác giả

Dựa trên kết quả xử lý số liệu điều tra của tác giả về dịp dùng thức ăn nhanh gà rán theo tình trạng có con của khách hàng (bảng 2.6), có thể thấy đối với những khách hàng chưa có con thường thích lúc nào thì ăn lúc đó, còn những khách hàng đã có con thường đi ăn vào cuối tuần bởi vì cuối tuần thường cũng là dịp dẫn con đi chơi.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

Tác giả tiếp tục tiến hành phân tích về người đi cùng của các đối tượng được khảo sát để có được biểu đồ sau (Xem hình 2.7)

Hình 2.7: Biểu đồ thống kê người đi cùng

Dựa trên biểu đồ 2.7 ta có thể thấy 71,7% người được khảo sát thường đi ăn cùng bạn bè hoặc đồng nghiệp. Người yêu      hoặc chồng/ vợ và người thân trong gia đình thường là hai đối tượng tiếp theo chiếm tỷ lệ lần lượt là 62,1% và 47,4%.

Tóm tắt chương 2

Trong chương 2, với những tìm hiểu sơ lược về tình hình hoạt động kinh doanh thức ăn nhanh gà rán của công ty TNHH Jollibee Việt Nam, đồng thời dựa trên những phân tích về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thị trường thức ăn nhanh gà rán và những nhân tố bên trong có ảnh hưởng trực tiếp đến công ty TNHH Jollibee Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu phân tích chi tiết thực trạng hoạt động Marketing mix cho công ty TNHH Jollibee Việt Nam trong thị trường thức ăn nhanh gà rán tại TP. Hồ Chí Minh thông qua các hoạt động sản phẩm, giá, phân phối, chiêu thị; cũng như phân tích tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá của khách hàng về hoạt động này. Từ đó thấy được các ưu nhược điểm trong hoạt động Marketing mix của công ty TNHH Jollibee Việt Nam trong thị trường thức ăn nhanh gà rán tại TP. Hồ Chí Minh, làm nền tảng để xây dựng các giải pháp giúp công ty hoàn thiện hơn nữa hoạt động Marketing mix cho sản phẩm này.

Tiếp theo chương 3, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu tổng hợp từ các chương trước nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing mix cho công ty TNHH Jollibee Việt Nam trong thị trường thức ăn nhanh gà rán tại TP. Hồ Chí Minh.Luận văn: Thực trạng marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>> Luận văn: Giải pháp marketing mix của Cty Jollibee Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x