Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Những tiền đề nhằm phát triển hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam

1. Nhận thức về marketing điện tử

1.1 Nhận thức của các doanh nghiệp

Theo điều tra của Bộ Thương mại về các doanh nghiệp trên toàn quốc thì nhận thức xã hội về thương mại điện tử hiện đang là trở ngại hàng đầu cho việc phát triển các hoạt động kinh doanh trực tuyến tại Việt Nam hiện nay. Tại các quốc gia phát triển trên thế giới, việc ứng dụng Internet và các tiến bộ khoa học kĩ thuật về truyền thông vào hoạt động kinh doanh đã trở nên rất phổ biến, mọi khâu từ sản xuất, quản lí đến phân phối và truyền thông đều được hiện đại hóa và thực hiện qua mạng. Tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn giữ cung cách làm ăn kiểu cũ, quản lí chủ yếu bằng hệ thống giấy tờ và các thủ tục phức tạp. Theo Báo cáo Thương mại điện tử năm 2024 của Bộ Công thương [4] thì:

  • Chỉ có 3% doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm đến thương mại điện tử nói chung và còn rất mơ hồ về khái niệm marketing điện tử Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.
  • 48% doanh nghiệp sử dụng Internet chỉ để gửi và nhận thư điện tử
  • 33% doanh nghiệp vừa và nhỏ có kết nối Internet nhưng không dùng nó để hỗ trợ cho công việc kinh doanh
  • Chỉ có rất ít doanh nghiệp chủ động tạo website cho mình, còn lại đa ssos là do sự thuyết phục của các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP. Nội dung của các website mới chỉ dừng lại ở việc quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, và đa số các website loại này có mức độ cập nhật rất hạn chế.

Như vậy, nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc triển khai các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ. Trong thời đại thông tin này, Internet tỏ ra là một kênh quảng bá hữu hiệu cho hoạt động kinh doanh và website là công cụ phổ biến nhất để mang hình ảnh của doanh nghiệp đến với người dân. Tại Việt Nam trước đây, các doanh nghiệp tập trung vào việc sử dụng các hoạt động marketing trong môi trường truyền thống, tuy nhiên, theo xu thế chung của thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý đầu tư đến việc xây dựng website riêng cho doanh nghiệp của mình.

Bảng 1. Tỉ lệ các doanh nghiệp có website năm 2024

Số doanh nghiệp có website đang tăng nhanh chóng. Vào cuối năm 2022, số doanh nghiệp có website ước tính mới chỉ khoảng 17.500, chiếm khoảng 19% tổng số doanh nghiệp và 35% những website này được thiết lập từ sau năm 2019. Trong ba năm từ 2022-2024 số doanh nghiệp đã xây dựng website tăng mạnh, lên đến 38% vào cuối năm 2024. Tỉ lệ website tăng gấp đôi chỉ trong vòng 3 năm cho thấy doanh nghiệp đã thực sự nhận thức được ưu thế và tầm quan trọng của việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ thông tin vào việc triển khai hoạt động kinh doanh của mình. Phần lớn doanh nghiệp hiện nay đã sử dụng thư điện tử để giao dịch. Năm 2024, có tới 86% doanh nghiệp thường xuyên sử dụng e-mail để đàm phán giao dịch với các đối tác. Đây là những dấu hiệu rất khả quan cho thấy nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về thương mại điện tử đã được nâng cao, tạo tiền đề cho việc triển khai các hoạt động marketing điện tử trong phương thức kinh doanh.

1.2 Nhận thức của người tiêu dùng Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Nhận thức của người tiêu dùng là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển hoạt động marketing điện tử. So với các doanh nghiệp, nhận thức của người tiêu dùng đối với các ứng dụng của thương mại điên tử chuyển biến có phần chậm chạp hơn, tuy nhiên trong những năm gần đây trình độ nhận thức này đã có những bước chuyển biến tích cực rõ rệt. Với mức thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên và và điều kiện sống của người dân Việt Nam đang ngày càng được cải thiện, việc sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin và giao dịch không còn quá xa lạ với người dân nữa, đặc biệt là người dân tại các thành phố lớn, với việc số lượng người sử dụng Internet đang không ngừng tăng lên.

Thông qua Internet, người tiêu dùng bên cạnh việc thỏa mãn được nhu cầu giải trí đã tìm được một kênh thông tin hữu hiệu để tìm hiểu và đánh giá được các mặt hàng, các sản phẩm định mua. Ngoài ra, hình thức phân phối truyền thống tuy vẫn còn phổ biến nhưng các hình thức mua sắm và giao dịch qua mạng đang chứng tỏ được tính tiện lợi đối với người tiêu dùng. Đây là những tiền đề rất quan trọng để các doanh nghiệp có kế hoạch triển khai hoạt động marketing điện tử của mình.

Bảng 2. Số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam 2018 – 2024

2. Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước

Về mặt pháp lí, năm 2023 là năm đầu tiên thương mại điện tử được pháp luật thừa nhận chính thức khi Luật Giao dịch điện tử, Luật Thương mại sửa đổi và Luật Dân sự sửa đổi có hiệu lực. Với việc chính thức thừa nhận thương mại điện tử thì hoạt động kinh doanh trên môi trường Internet đã tiếp tục được mở rộng, trong đó tập trung đến việc cung cấp nội dung cho các phương tiện điện tử.

Hiện nay, môi trường pháp lí cho hoạt động thương mại điện tử đã tương đối hoàn thiện nhờ một loạt các văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử và Luật Công nghệ thông tin được ban hành trong năm 2024. Ngay trong Quí 1 năm 2024, Chính phủ đã ban hành liên tiếp các nghị định quan trọng qui định chi tiết về thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ kí số và dịch vụ chứng thức chữ kí số,vấn đề giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính và hoạt động ngân hàng. Nhiều văn bản chuyên ngành cũng đã được ban hành. Chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân hàng là các Quyết định của Thống đốc ngân hàng nhà nước về qui chế cấp phát, quản lí và sử dụng chữ kí số và chứng thực chữ kí điện tử trong ngành ngân hàng, Quy chế cấp phát, quản lí và sử dụng chứng chỉ số của Ngân hàng Nhà nước, Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng… Thủ tường Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 20/2024/ QD-Ttg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. [7,8] Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Trong lĩnh vực tài chính và hải quan, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã ban hành các Quyết định về Qui định thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Qui trình thủ tục hải quan điện tử, Qui chế áp dụng quản lí rủi ro trong thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Qui chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động hải quan. Đồng thời, nhằm tháo gỡ những trở ngại liên quan tới chứng từ điện tử trong hoạt động bán vé máy bay điện tử, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 18/2024 QD-BTC về việc in, phát hành, sử dụng và quản lí vé máy bay điện tử. Trong lĩnh vực thương mại là Quyết định số 018/2024/QD- BTM về việc ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử. Các văn bản trên cùng nhiều văn bản liên quan tới thương mại điện tử và công nghệ thông tin khác được ban hành trong năm 2024 đã góp phần làm cho hệ thống pháp luật về thương mại điện tử hoàn thiện hơn. [7]

Bảng 3. Một số văn bản pháp qui liên quan đến thương mại điện tử ban hành trong hai năm 2023-2024

Luật
29/06/2023 Luật Công nghệ thông tin
Nghị định
09/06/2022 Nghị định số 57/2023/NĐ-CP về Thương mại điện tử
15/02/2024 Nghị định số 26/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.
23/02/2024 Nghị định số 27/2024/NĐ-CP về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
08/03/2024 Nghị định số 35/2024/NĐ-CP về Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng
10/04/2024 Nghị định số 64/2024/NĐ-CP về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước
10/04/2024 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin
03/05/2024 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin

Việc ban hành các Bộ Luật và Nghị định trên cho thấy nhà nước ta đã thực sự quan tâm đến việc xây dựng một môi trường pháp lí an toàn cho hoạt động thương mại điện tử nói chung và hoạt động marketing điện tử nói riêng. Cùng với một số văn bản được ban hành từ năm 2022 trở về trước, những văn bản ra đời trong hai năm gần đây đã tạo nên một khung pháp lí tương đối toàn diện cho các hoạt động giao dịch trên mạng. Nếu trước năm 2022, phần lớn văn bản được ban hành chỉ liên quan đến những vấn đề kĩ thuật công nghệ thông tin thì các văn bản ban hành sau Luật giao dịch điện tử đã mở rộng diện điều chỉnh đến những ứng dụng cụ thể như thương mại, hải quan, tài chính, hành chính nhà nước… Đây là những ứng dụng nền tảng của xã hội và là tiền đề cho việc triển khai các qui trình thương mại điện tử hoàn chỉnh ở cấp độ doanh nghiệp trong thời gian tới.

Tuy nhiên, marketing điện tử là một loại hình kinh doanh còn khá mới mẻ và liên tục thay đổi do sự đổi mới không ngừng của môi trường kinh doanh trực tuyến, chính vì vậy xây dựng hệ thống văn bản pháp qui điều chỉnh lĩnh vực này không chỉ dựa trên nền tảng quốc gia mà còn phải cân nhắc đến các yếu tố và điều kiện khác của các nước trên thế giới.

3. Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Bất kì quốc gia nào muốn ứng dụng marketing điện tử vào các hoạt đông thương mại thì đều cần có một nền tảng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông đủ mạnh, có khả năng tính toán, xử lí, truyền thông tin và dữ liệu với tốc độ nhanh và chất lượng ổn định.

Theo điều 4 khoản 4 Luật Công nghệ thông tin của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Số 67/2023/QH11 ngày 29/06/2023) thì: “Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu”. Cơ sở hạ tầng công nghệ bao gồm các chuẩn của doanh nghiệp, của nhà nước và sự liên kết của các chuẩn quốc gia với chuẩn quốc tế, với kĩ thuật ứng dụng và các thiết bị ứng dụng không chỉ của riêng doanh nghiệp mà phải là một hệ thống quốc gia với tư cách là phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin, khu vực và toàn cầu (trên nền tảng của Internet). Hạ tầng công nghệ cũng bao gồm hạ tầng mạng, hạ tầng ngôn ngữ và nội dung, các kệnh phân phối thông tin và các dịch vụ thương mại điện tử.

Về hạ tầng viễn thông và Internet, kết quả điều tra cho thấy 100% doanh nghiệp tại Việt Nam có điện thoại, 100% doanh nghiệp có máy fax và tỉ lệ doanh nghiệp đã kết nối Internet là 92%. Trong số doanh nghiệp đã kết nối Internet, hình thức truy cập bằng ADSL chiếm 81,5%, đường truyền riêng chiếm 5,4% và hình thức truy cập bằng quay số chỉ còn 5,2%. Trong số 8% doanh nghiệp chưa kết nối Internet, 3,5% cho biết đã có kế hoạch kết nối trong năm tới [4]. Như vậy, điều kiện hạ tầng tối thiểu cho việc ứng dựng các hoạt động marketing điện tử qua mạng đã được xác lập tại hầu hết các doanh nghiệp tại khu vực đô thị trên cả nước. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Bảng 4. Hình thức truy cập Internet của doanh nghiệp

Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam VNNIC, hiện tại Việt Nam có khoảng 15 triệu người sử dụng Internet. Dự đoán trong ba năm tới số người sử dụng Internet tại Việt Nam sẽ tăng lên tới 30 triệu người. Sự phổ cập của Internet cùng với tốc độ phát triển kinh tế ổn định của Việt Nam sẽ là tiền đề cho sự phát triển của e-marketing trong những năm tới.

Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có ý nghĩa là tính hiện hữu (availability) mà còn phải có tính kinh tế sử dụng (affordability), nghĩa là các chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin và các chi phí dịch vụ truyền thông phải đảm bảo tính kinh tế, hiệu quả và đủ rẻ để đông đảo người có nhu cầu có thể sử dụng được. Hiện nay, chi phí truy cập Internet tại Việt Nam thuộc loại cao nhất trên thế giới nếu tính theo bình quân thu nhập trên đầu người. Đây là một tồn tại lớn trong việc tăng cường phổ cập Internet cho cộng đồng và tăng hiệu quả khai thác thông tin trên mạng Internet. Tuy nhiên, do các điều chỉnh ở mức độ vĩ mô và sự tham gia thị trường của nhiều nhà cung cấp nên mức phí này đang có xu hướng giảm dần.

Mặt khác, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có và hoạt động chuẩn xác trên một nền tảng một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định và với mức giá hợp lí.

4. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Để phát triển được các hoạt động marketing trong môi trường mạng thì một đội ngũ tri thức vừa có kiến thức về thương mại vừa hiểu biết các lĩnh vực về công nghệ thông tin là rất cần thiết. Hiện nay tại Việt Nam nguồn nhân lực trong lĩnh vực thương mại điện tử là một vấn đề khá cấp bách. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Nguồn nhân lực được hiểu là tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động marketing điện tử, bao gồm các công chức chính phủ, các nhà doanh nghiệp và đông đảo người tiêu dùng. Để phát triển, ứng dụng Internet trong hoạt động kinh doanh, thực tế đòi hỏi nguồn nhân lực phải có đủ số lượng và chất lượng các cán bộ chuyên môn. Đồng thời, người tiêu dùng cũng phải biết các kiến thức, kỹ năng làm việc trên mạng, biết ngoại ngữ và hiểu biết pháp luật…

Về đào tạo nguồn nhân lực chuyên nghiệp cho lĩnh vực thương mại điện tử nói chung và marketing điện tử nói riêng, nhiều trường đại học trên cả nước đã thành lập bộ môn thương mại điện tử, có trường đã thành lập khoa thương mại điện tử. Tính đến cuối năm 2023, 75% các trường đại học chuyên ngành kinh tế – thương mại ở miền Bắc có môn học về thương mại điện tử với ít nhất 3 học phần, trong đó marketing điện tử thường chỉ được giới thiệu trong một số tiết học. Một số trường đã mở chương trình đào tạo cao học về thương mại điện tử.. Hiện nay, nhìn chung tại Việt Nam chưa có chương trình đào tạo chuyên sâu về marketing điện tử. [3]

Năm 2024, lần đầu tiên chương trình Sinh viên với Thương mại điện tử được Bộ Công thương bảo trợ tổ chức với mục tiêu tìm kiếm những ý tưởng mới về thương mại điện tử từ sinh viên. Bắt đầu phát động vào cuối tháng 5/2024 và kết thúc vào tháng 12/2024, chương trình đào tạo cơ hội cho các trường đại học, doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử và sinh viên giao lưu, tìm hiểu và nâng cao hiệu quả học tập nghiên cứu về thương mại điện tử. Đây là một động thái tích cực cho thấy sự đầu tư của các cấp, các ngành vào việc nâng cao nhận thức và xây dựng nguồn nhân lực về thương mại điện tử nói chung và marketing điện tử nói riêng. Dự kiến chương trình sẽ được tổ chức đều đặn hàng năm nhằm nâng cao nhận thức xã hội và khuyến khích những tìm tòi ứng dụng mới về thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh.

Bảng 5. Một số trường đại học có đào tạo về thương mại điện tử

Trường Môn học Số lượng
ĐH Thương mại Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử. Thương mại điện tử căn bản Marketing thương mại điện tử

Quản trị thương mại điện tử B2B, B2C

Thiết kế web

Bảo mật thông tin

ĐHNgoại thương Thương mại điện tử 60 tiết
ĐH Kinh tế quốc dân HN Thương mại điện tử 45 tiết
Khoa Kinh tế – ĐH Quốc gia Thương mại điện tử 45 tiết
ĐH Quản lí và Kinh doanh HN Thương mại điện tử 45 tiết
ĐH Dân lập Phương Đông Thương mại điện tử 45 tiết
ĐH Sư phạm kĩ thuật Hưng Yên Thương mại điện tử 45 tiết
Học viện Ngân Hàng Thanh toán điện tử liên ngân hàng
Cao đẳng Kinh tế kĩ thuật CN 1 Lập trình thương mại điện tử Thiết kế web 90 tiết
Khoa Kinh tế quản lí – ĐH Bách Khoa Thương mại điện tử 45 tiết

Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử 2024, Bộ Công thương

5. Hệ thống thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử là một trong những vấn đề cốt lõi của thương mại trực tuyến. Thiếu hạ tầng thanh toán, việc triển khai các hoạt động kinh doanh không thể diễn ra một cách trọn vẹn. Yêu cầu của một hệ thống thanh toán là tính đáng tin cậy, toàn vẹn và xác thực. Trong thương mại truyền thống, việc thanh toán gặp nhiều khó khăn do những trở ngại về không gian và thời gian, các phương tiện điện tử, đặc biệt là Internet đã tạo nên một cuộc cách mạng trong hệ thống thanh toán, thức đẩy các hoạt động giao dịch diễn ra thương xuyên hơn, rộng rãi hơn.

Hệ thống thanh toán điện tử đòi hỏi chế độ bảo mật rất cao, phải thỏa mãn các yêu cầu về sự tin cẩn (confidentiality), sự trung thục (intergrity) và sự xác nhận (authentication).

Hiện nay tại Việt Nam, hệ thống thanh toán điện tử đang được chú trọng phát triển. đặc thù trong tâm lí mua bán của người Việt Nam là sử dụng tiền mặt, điều này là một trở ngại trong việc nâng cấp các dịch vụ thanh toán điện tử tại Việt Nam. Tuy nhiên, do nhận thức của người dân đang dần được nâng cao và do sự phổ biến của các tiến bộ khoa học kĩ thuật, việc thanh toán qua thẻ và các dịch vụ tiện lợi khác của ngân hàng như thanh toán qua tin nhắn, e-mail đang dần được chấp nhận. Hiện tại Việt Nam rất nhiều ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ thanh toán điện tử. Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ đi kèm như dịch vụ Internet banking (cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch và kiểm tra thông tin trên mạng Internet) và SMS banking (kiểm tra các thông tin về tài khoản và thực hiện các thao tác khác thông qua tin nhắn di động) cũng bắt đầu phát triển tại Việt Nam.

Bảng 6. Số lượng ngân hàng triển khai dịch vụ Internet banking

Năm Số lượng ngân hàng
2021 3
2022 5
2024 18

Nguồn: Ban Thanh toán – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tháng 9/2024

Một dịch vụ ngân hàng trực tuyến hoàn chỉnh cần có những tính năng thông tin và tính năng thanh toán hóa đơn, cụ thể như tra cứu số dư tài khoản, tra cứu thông tin ngân hàng, tra cứu các thông tin khác của ngân hàng, chuyển khoảng trong và ngoài hệ thống và thanh toán hóa đơn. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Ngoài ra, để hỗ trợ cho hệ thống thanh toán điện tử, mỗi quốc gia cần phải thiết lập một hệ thống mã hóa thương mại thống nhất và phù hợp với tiêu chuân quốc tế. các mã vạch cho phép mã hóa các sản phẩm dịch vụ bằng một dãy số gồm 13 chữ số, nhờ đó máy tính có thể dễ dàng đọc tên sản phẩm và việc giao dịch, luân chuyển hàng hóa nhờ đó mà thuận lợi hơn rất nhiều.

6. Khả năng bảo mật và an toàn thông tin

Bảo mật thông tin là duy trì tính bảo mật, tính trọn vẹn và tính sẵn sàng của thông tin. Bảo mật nghĩa là đảm bảo thông tin chỉ được tiếp cận bởi những người được cấp quyền tương ứng. Tính trọn vẹn là bảo vệ sự chính xác, hoàn chỉnh của thông tin và thông tin chỉ được thay đổi bởi những người được cấp quyền. Tính sẵn sàng của thông tin là những người được quyền sử dụng có thể truy xuất thông tin khi họ cần.

An toàn thông tin có nghĩa là các thông tin được đưa lên mạng được bảo vệ và các hệ thống thông tin có khả năng chống lại những tai họa, lỗi và sự tác động không mong đợi hay các thay đổi. thông tin chỉ có giá trị cao khi đảm bảo tính chính xác và kịp thời. mục tiêu của an toàn, bảo mật thông tin trong công nghệ thông tin là đưa ra một số tiêu chuẩn an toàn và ứng dụng các tiêu chuẩn an toàn này vào hoạt động Internet để loại trừ hay giảm bớt các nguy hiểm. vấn đề bảo mật bao gồm bảo mật về giao dịch và bảo mật về thông tin của khách hàng. Khi tiến hành kinh doanh trên mạng, các thông tin vê khách hàng và thông tin liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, giao dịch như số tài khoản, khối lượng chuyển khoản… sẽ trở thành những yếu tố nhạy cảm. mặc dù Internet là công cụ hỗ trợ đắc lực cho những người làm marketing trong việc thu thập những thông tin về khách hàng, những việc này cũng đụng chạm tới vấn đề riêng tư cá nhân. Điều này đặt ra một số yêu cầu đối với những thông tin được thực hiện trên mạng như:

Yêu cầu bảo mật: bao gồm yêu cầu về tính bí mật và yêu cầu về tính toàn vẹn. yêu câu về tính bí mật là những yêu cầu về việc bảo vệ những thông tin cá nhân của khách hàng như tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại, địa chỉ hòm thư, số thẻ tín dụng… việc để lộ những thông tin này sẽ gây thiệt hại cho khách hàng về mặt vật chất và cả tinh thần. Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng những thông tin cá nhân, đặc biệt là những thông tin liên quan tới thẻ tin dụng bị ăn cắp và lợi dụng và những mục đích xấu đã trở nên rất phổ biến. điều này làm giảm lòng tin của khách hàng vào việc thực hiện các giao dịch qua mạng, gây ảnh hưởng tới việc phát triển kinh doanh trên mạng. do vậy, việc bảo mật những thông tin này giúp doanh nghiệp chiếm được lòng tin của khách hàng và đây là cơ sở để gây dựng lòng trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp.

Yêu cầu về tính toàn vẹn của thông tin: là việc thông tin được đảm bảo tính toàn vẹn trong suốt quá trình lưu chuyển. phổ biến nhất trong hiện trạng thông tin không giữ được tính toàn vẹn là việc các e-mail bị thay đổi nội dung trong quá trình gửi đi, hay việc các trang web bị thay đổi nội dung, kết cấu… gây mất lòng tin cho khách hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. vì thế hiện nay các biện pháp bảo mật thông tin như sử dụng mã khóa bí mật, tường lửa firewall hay phong bì số đang được sử dụng rộng rãi

Vấn đề sở hữu trí tuệ: đây thực sự là một vấn đề rất quan trọng bởi lẽ trong môi trường Internet, nơi các sản phẩm có thể số hóa được tì vấn đề vi phạm bản quyền trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. vấn đề sở hữu trí tuệ đối với những sản phẩm này cũng cần phải được quan tâm như mọi sản phẩm truyền thống khác. Theo ước tính, tại Việt Nam hiện nay hơn 90% phần mềm đang được sử dụng là không có bản quyền. Với xu hướng phát triển hiện nay, các sản phẩm mang tỉ lệ trí tuệ nhiều hơn vật chất, do vậy vấn đề liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ có tầm quan trọng rất lớn, tạo tiền đề cho cá thành phần tham gia vào xã hội thông tin an tâm trong quá trình hoạt động.

II. Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Tuy còn khá mới mẻ, nhưng hiện nay marketing điện tử đã và đang được triển khai một cách khá tích cực tại Việt Nam. Đa số những mô hình website phục vụ hoạt động kinh doanh trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam như các mô hình website giới thiệu thông tin doanh nghiệp, sàn giao dịch B2B, cổng thông tin hay các siêu thị ảo…. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay hình thức triển khai hoạt động marketing điện tử phổ biến nhất là thông qua các siêu thị, cửa hàng ảo (e- shop hay e-super market). Do vậy, trong phần phân tích thực trạng triển khai yếu tố 4P trong hoat động marketing điện tử tại Việt Nam, luận văn này sẽ tập trung phân tích các mô hình siêu thị ảo phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay.

1. Sản phẩm

Trong bất kì lĩnh vực thương mại nào thì sản phẩm cũng là khía cạnh được quan tâm nhất. Như đã phân tích ở trên, trong hoạt động marketing điện tử thì sản phẩm được chia làm hai dạng: những sản phẩm có thể số hóa được (digital product) và những sản phẩm hữu hình thông thường. Với những sản phẩm có thể số hóa được như phần mềm, CD… thì việc phân phối có thể diễn ra hoàn toàn trên môi trường ảo, chỉ cần có sự hỗ trợ tốt của hệ thống thanh toán điện tử. Với những sản phẩm hữu hình thì việc phân phối sẽ phức tạp hơn do cần có sự phối hợp đồng bộ của cả các hình thức kinh doanh truyền thống và các phương tiện điện tử.

Hiện nay, tuy mới phát triển nhưng các sản phẩm được giao dịch trên các website thương mại điện tử của Việt Nam cũng khá đa dạng, từ các sản phẩm số hóa như dịch vụ kinh doanh nhạc số cho đến các sản phẩm gia dụng và cả các dịch vụ. Do tâm lí người tiêu dùng Việt Nam vẫn quen với phương thức mua hàng truyền thống, tức là được tận mắt nhìn và chạm vào hàng hóa để đánh giá chất lượng sản phẩm nên những sản phẩm trên mạng thường được người tiêu dùng lựa chọn nhất là những sản phẩm có tính tiêu chuẩn hóa như sách, CDs, điện thoại di động… Mặt khác, do tính chất giao dịch lớn và các doanh nghiệp nói chung vẫn còn quen thuộc với hình thức giao dịch truyền thống nên các sàn giao dịch B2B tại Việt Nam chưa thực sự phát huy được lợi thế. Trong khi đó, các sàn giao dịch B2C và C2C với đặc điểm là qui mô giao dịch nhỏ và khá linh hoạt lại phát triển khá nhanh. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Bảng 7. Các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp trên các website

Sản phẩm, dịch vụ 2023 2024
Thiết bị điện tử và viễn thông 13,4% 12,6%
Hàng tiêu dùng 8,0% 12,5%
Sản phẩm cơ khí, máy móc 8,3% 11,9%
Dịch vụ du lịch 7,2% 11,7%
Hàng hóa tổng hợp (Siêu thị điện tử) 7,2% 11,4%
Nông lâm thủy sản 5,4% 10,9%
Dịch vụ luật, tư vấn 6,0% 8,4%
Hàng thủ công mỹ nghệ 4,9% 7,8%
Dệt may, giày dép 4,2% 7,6%
Sách, văn hóa phẩm, quà tặng… 2,0% 4,5%
Sản phẩm số hóa (phần mềm, nhạc,…) 3,2% 3,2%

Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử năm 2024, Bộ Công thương

Như vậy có thể thấy các sản phẩm được cung cấp trên các website là khá đa dạng. Tại những website như www.25h.cm.vn hay www.123mua.cm.vn, khách hàng có thể tìm thấy đa số các mặt hàng gia dụng và các sản phẩm cá nhân cần thiết như tại bất kì một siêu thị truyền thống nào. Đối tượng hướng tới của các website này là đại đa số người tiêu dùng phổ thông, do vậy các sản phẩm được cung cấp tại đây là các sản phẩm bách hóa và đều được ghi rõ xuất xứ, đặc điểm, tính năng và cho phép các khách hàng sử dụng được tự do đánh giá để tạo lòng tin cho người tiêu dùng.

Do tính chất của việc giao dịch qua mạng, các sản phẩm có độ tiêu chuẩn hóa cao như điện thoại, sách, đĩa nhạc… hiện là những sản phẩm có doanh số bán trực tuyến cao nhất. Để kích thích nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, các website cũng đưa ra nhiều phương thức khuyến mại như giảm giá, chương trình khách hàng thân thiết hay dịch vụ giao hàng miễn phí trong thành phố… Bên cạnh việc bán hàng trực tiếp qua website, nhiều doanh nghiệp đã thành công trong việc sử dụng các cửa hàng ảo để hỗ trợ, bổ sung cho cửa hàng truyền thống và mở rộng mạng lưới tiêu thị sản phẩm, nâng cao doanh số bán hàng.

Bảng 8. Doanh số bán hàng trên sàn B2C www.25h.cm.vn

Thời gian Danh mục mặt hàng Doanh thu (triệu đồng)
Quí I/2024 Thời trang, trang sức 45,00
Đồ gia dụng 70,00
Quà tặng 20,00
Dòng sản phẩm khác 30,00
Quí II/2024 Dược, mỹ phẩm 15,00
Đồ văn phòng 50,25
Đồ dùng học sinh 15,20
Dòng sản phẩm khác 56,30
Quí III/2024 Đồ dùng học sinh 55,00
Thời trang, trang sức 32,00
Mũ bảo hiểm 250,00
Dòng sản phẩm khác 41,50
Quí IV/2024 Vật liệu xây dựng 77,00
Thiết bị an ninh 15,00
Đồ nội thất 33,50
Đồ điện 27,00
Mũ bảo hiểm 298,00
Dòng sản phẩm khác 30,00
Tổng doanh số bán hàng cả năm 621,75

Nguồn: Công ty CP đầu tư phát triển truyền hình Hà Nội (HiTV), đơn vị chủ quản www.25h.cm.vn

2. Giá cả Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Giống như các doanh nghiệp khác, các siêu thị ảo tại Việt Nam đều áp dụng chiến lược “giá bán”, tức là giá do doanh nghiệp định sẵn. Ở đây, chúng ta sẽ xem xét chính sách giá của một trong những siêu thị ảo uy tín và phổ biến nhất tại Việt Nam là Golmart.

Tất cả các sản phẩm của Golmart đều được niêm yết giá bán cụ thể có hiệu lực trên website bằng tiền đồng Việt nam hoặc tiền USD và đã bao gồm thuế GTGT. Đối với một số mặt hàng nhập khẩu được niêm yết bằng USD, khách hàng có thể thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam, quy đổi theo tỉ giá Ngân hàng Ngoại thương vào thời điểm đặt hàng. Nếu khách hàng thanh toán sau 24 giờ kể từ khi đặt hàng, Golmart sẽ áp dụng tỉ giá thanh toán tại thời điểm thanh toán.

Đối với một số mặt hàng đặc biệt có thể bị tác động bởi giá cả thị trường do một số sự kiện nhất định như ngày lễ, ngày tết, làm cho giá cả tăng đột xuất mà Golmart chưa kịp cập nhất giá bán trên website, nếu khách hàng đặt hàng, Golmart sẽ chủ động liên lạc với quý khách để cập nhật giá bán và sẽ chỉ thực hiện đơn hàng khi khách hàng đồng ý với giá bán mới.

Đối với các đơn hàng có giá trị từ 1 triệu VNĐ trở lên và có địa điểm giao hàng ngoài phạm vi TP. Hồ Chí Minh, khách hàng được yêu cầu thanh toán trước tối thiểu 50% giá trị.

Khi đặt hàng, Quý khách được cần phải điền đầy đủ và chính xác các thông tin theo yêu cầu để tạo điều kiện thuận lợi cho Golmart trong việc xử lý và thực hiện đơn hàng. Trong trường hợp có cơ sở để tin rằng các đơn hàng khách đặt không với mục đích mua hàng thực sự, hoặc các đơn đặt hàng không rõ ràng, Golmart có quyền hủy bỏ hoặc từ chối phục vụ các đơn hàng đó. Trong bất cứ trường hợp nào, Gomart sẽ không chịu trách nhiệm đối với những trường hợp giao hàng chậm trễ hay thất lạc v.v… do khách hàng cung cấp thông tin không chính xác. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Khi mua hàng trên Golmart, khách hàng thường xuyên được hưởng nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá của riêng nhà cung cấp và chương trình ưu đãi chung của siêu thị Golmar, ví dụ như chương trình tích điểm thưởng dành cho khách hàng thân thiết để được giảm giá cho những đơn hàng sau hay để được giao hàng miễn phí. Ngoài ra, Golmart cũng thường xuyên áp dụng các chương trình giá khuyến mãi như chương trình Co-shopping (Cùng nhau mua sắm để được giảm giá), chương trình ưu đãi dành cho khách hàng thân thiết, chương trình ưu đãi dành cho khách hàng VIP. Trong chương trình Co-shopping, Golmart sẽ giúp tập hợp nhiều khách hàng mua lẻ có cùng nhu cầu lại với nhau để phối hợp đăng ký mua hàng. Bằng cách này, người tiêu dùng được hưởng giá bán buôn, giá rẻ hoặc giá khuyến mãi mà nếu mua lẻ không có được. Còn nhà cung cấp được lợi do thu hút được nhiều khách hàng tham gia hơn. ưu đãi dành cho khách hàng thân thiết. [31]

Chính sách giá của các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến của Việt Nam nhìn chung khá minh bạch, nhất là từ khi có sự xuất hiện của các website cho phép người dùng có khả năng so sánh trực tiếp giá của một sản phẩm giữa những nhà phân phối khác nhau. Website nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này là website www.aha.com.vn của Công ty cổ phần Giấc mơ Việt. Với website này, khách hàng có thể so sánh giá của sản phẩm giữa những nhà cung cấp đã đăng kí trên website, tuy nhiên website này có hạn chế là chỉ cho phép các khách hàng so sánh giá trong phạm vi các sản phẩm điện tử.

3. Hoạt động phân phối

Hiện nay, các website tại Việt Nam thực hiện hoạt động phân phối qua hai kênh chủ yếu là phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp.

Phân phối trực tiếp là hoạt động phân phối sản phẩm một cách hoàn hảo thông qua Internet. Các sản phẩm thường được phân phối theo kênh này là các sản phẩm số hóa như âm nhạc hay phần mềm. Tại Việt Nam, hai công ty hàng không hàng đầu là Vietnam Airlines và Pacific Airlines cũng bắt đầu triển khai phân phối theo kênh này với việc tiến hành hoạt động bán vé điện tử.

Vietnam Airlines đã tiến hành triển khai dự án vé máy bay điên tử từ năm 2022 và đưa vào áp dụng thí điểm trong tháng 11/2023 với chặng Hà Nội – TP Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, khách hàng vẫn phải đến các đại lí bán bé để thanh toán và nhận vé điện tử, thực chất là các chi tiết hành khách và chuyến bay được in ra một tờ giấy thông thường. Bắt đầu từ tháng 12/2024, Vietnam Airlines triển khai đại trà việc bán vé điện tử cho tất cả các tuyến bay nội địa và từ giữa năm 2025 sẽ thực hiện phân phối vé qua các kênh như Internet, hoặc qua các hãng có hợp đồng xuất vé trên chuyến bay của Vietnam Airlines. [29]

Pacific Airlines, hãng hàng không giá rẻ đầu tiên của Việt Nam đã chuyển qua áp dụng hình thức bán vé điện tử trong toàn hệ thống bắt đầu từ ngày 13/2/2024. Toàn bộ hoạt động đặt chỗ, mua bán vé, in vé và thanh toán đều được thực hiện thông qua mạng Internet. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Hình 3. Hình thức vé điện tử của Pacific Airlines

Khác với hình thức bán vé truyền thống, trong đó cuống vé máy bay là chứng từ có độ đảm bảo cao do đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về loại giấy, mẫu mã, hình thức in ấn, vé điện tử không có sự đảm bảo này để chứng minh tính “bản gốc” của chứng từ. Do đó, nếu khách hàng cần chứng từ làm căn cứ kê khai và khấu trừ thuế về sau (trong trường hợp tiền mua vé được trích từ chi phí hoạt động của doanh nghiệp hoặc tổ chức) thì các hãng hàng không khi bán vé điện tử cho khách vẫn phải phát kèm theo phiếu thu. Yêu cầu này của Bộ Tài chính đã phần nào hạn chế tác dụng của vé điện tử ,à giảm chi phí quản lí đi kèm với giấy tờ, đồng thời gây phức tạp cho việc triển khai qui trình bán vé hoàn chỉnh qua mạng Internet.

Phân phối gián tiếp là hình thức phân phối trong đó mạng Internet đóng vai trò là một trung gian giúp nhà sản xuât đưa sản phẩm của mình đến với khách hàng thông qua các nhà bán lẻ trên mạng (e-retailer) và đại lí trợ giúp mua hàng (shopping agent). Tại Việt Nam hiện nay đây là hình thức phân phối được đông đảo các công ty ứng dụng bởi tính hợp lí của nó. Các doanh nghiệp có nhu cầu bán hàng trên mạng sẽ tìm đến các e-mail-shop nổi tiếng như 25h, Golmart hay Megabuy như một địa chie phân phối, giám sát và quản lí bán hàng, còn người tiêu dùng tìm đến các siêu thị ảo này như một đầu mối cung cấp hàng hóa đủ loại.

Megabuy, cũng như các siêu thị ảo khác của Việt Nam là mô hình bán hàng siêu thị điện tử B2C, B2B phỏng theo mô hình bán hàng trực tuyến của BestBuy, Amazon (tương tự như mô hình siêu thị bán lẻ và bán buôn trực tiếp Metro, BigC nhưng chủ yếu tập trung vào việc bán hàng qua mạng Internet). Ngoài hệ thống cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của Megabuy, thông qua website này, doanh nghiệp có cơ hội đưa sản phẩm tới cho hàng triệu khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng. Những mô hình e-mail-shop như vậy còn là kênh giúp các doanh nghiệp xây dưng, thiết lập, kết nối và phát triển hệ thống đại lí của doanh nghiệp tại địa phương. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Việc phân phối qua các cửa hàng ảo như vậy giúp cho doanh nghiệp tối thiểu hóa được chi phí marketing, chi phí kho bãi, showroom, nhân viên. Đây cũng là cách để giải quyết phần nào vấn đề hàng tồn kho, tối đa hóa lợi nhuận và tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Các website bán hàng trực tuyến cũng có thuận lợi là hoạt động liên tục trên mạng Internet, cung cấp thông tin và nhận đơn đặt hàng đến các khách hàng ở tất cả mọi nơi trong và ngoài Việt nam trong toàn thời gian.

Bảng 9. Các phương thức giao hàng áp dụng trong doanh nghiệp

Các phương thức giao hàng 2023 2024
Giao hàng trực tuyến 8.7% 12.3%
Người mua đến nhận tại các đại lí 43.6% 41.2%
Đội ngũ giao hàng 56.9% 50.2%
Bưu điện 17.1% 18.6%
Đại lí giao nhận 33.3% 26.6%
Khác 11.5% 1.7%

Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử 2024, Bộ Công thương

Kết quả điều tra cho thấy các phương thức giao hàng chưa thay đổi nhiều trong hai năm qua. Đa phần doanh nghiệp vẫn lựa chọn phương thức “người mua đến nhận hàng tại các điểm đại lí” hoặc sử dụng đội ngũ nhân viên của chính doanh nghiệp để giao hàng. Đây là hai hình thức giao nhận khá thủ công, không tận dụng được ưu thế của thương mại điện tử là xóa bỏ các ranh giới địa lí cũng như tiết kiệm nguồn lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên tại Việt Nam thương mại điện tử chưa thực sự phát triển, do đó những phương thức này có thể coi là giải pháp tạm thời ở giai đoạn phát triển ban đầu của thương mại điện tử, và xu thế tất yếu sẽ phải giảm dần vai trò khi các ứng dụng thương mại điện tử tiến đến mức độ chuyên nghiệp hơn.

Với các đơn đặt hàng điện tử, tùy theo loại hình hàng hóa mà doanh nghiệp có thể giao hàng trực tuyến, lấy hàng từ đại lí, sử dụng dịch vụ giao nhận hoặc chuyển hàng qua bưu điện. Việc sử dụng đôi ngũ giao hàng của doanh nghiệp chỉ phù hợp với những đơn hàng trong phạm vi lân cận công ty, trong khi Việt Nam vẫn chưa phát triển dịch vụ giao nhận chuyên nghiệp, do đó đối với những đơn hàng từ xa doanh nghiệp thường phải sử dụng dịch vụ bưu điện để giao hàng cho khách. Theo kết quả điều tra hai năm 2023 và 2024, phương thức chuyển hàng qua bưu điện chiếm một tỉ lệ khá ổn định, từ 17-18% trong tổng số giao dịch của doanh nghiệp. Tỉ lệ giao hàng trực tuyến tăng từ 8.7% năm 2023 lên mức 12.3% trong năm 2024 cho thấy các sản phẩm số hóa đang ngày càng chiếm ưu thế trong môi trường giao dịch thương mại điện tử. [4]

Về phương thức giao dịch, tuy hiện giờ các mô hình website B2C đang nổi trội hơn nhưng mô hình B2B là lựa chọn chiếm ưu thế khi doanh nghiệp tiến hành xây dựng website thương mại điện tử. Trong khi tỉ lệ website có đối tượng mục tiêu là người tiêu dùng không thay đổi qua hai năm, thì tỉ lệ website hướng tới khách hàng là tổ chức hoặc doanh nghiệp đã tăng từ 76.4% năm 2023 lên 84.4% năm 2024. Thống kê này cho thấy hướng đi của doanh nghiệp Việt Nam cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới, lấy phương thức giao dịch B2B làm động lực phát triển cho thương mại điện tử và qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nhìn chung, trong môi trường điện tử, sự hỗ trợ của Internet và các phương tiện truyền thông đã kéo gần khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giảm bớt sự cồng kềnh của các trung gian trong hệ thống phân phối và do đó giảm bớt chi phí giá thành sản phẩm, mang lại mức giá hợp lí nhất đến với người tiêu dùng. Đó cũng là lí do tại sao đa phần các mặt hàng phân phối qua Internet đều có mức giá rẻ hơn so với các mặt hàng phân phối tại các kênh truyền thống. Đây là một vấn đề cần được xem xét để tránh sự xung đột với các kênh phân phối truyền thống.

4. Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Để đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp rất chú trọng đến các hoạt động mang tính truyền thông để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và hỗ trợ tốt hơn cho quá trình kinh doanh cũng như hình ảnh của công

  • Có thể nói, hiện nay tại Việt Nam hoạt động marketing điện tử diễn ra mạnh mẽ nhất tại khâu này.

Tại Việt Nam, hầu hết các mô hình website phục vụ hoạt động kinh doanh đều đã xuất hiện và phát triển đến một mức nhất định, tuy nhiên đa phần các website thuộc một trong hai mô hình siêu thị ảo hoặc website thông tin phục vụ cho việc quảng bá doanh nghiệp. Hai mô hình này tuy có khác nhau nhưng đều được doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ hỗ trợ để phục vụ cho hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của mình.

Đối với mô hình siêu thị ảo, mục đích hướng tới của doanh nghiệp là khơi gợi nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, do đó các công cụ nhằm hỗ trợ cung cấp thông tin cho khách hàng là hết sức quan trọng. Tại các website loại này, công cụ phổ biến nhất được sử dụng là các catalogue điện tử. Đây là một hình thức cung cấp thông tin về sản phẩm một cách hệ thống nhất và đầy đủ nhất, giúp người tiêu dùng nhanh chóng tìm được các sản phẩm phù hợp với nhu cầu. Tại các website bán hàng trực tuyến quen thuộc như www.25h.cm.vn hay www.megabuy.cm.vn, các sản phẩm luôn được xếp theo danh mục, kèm theo đó là các thông tin kĩ thuật chi tiết về sản phẩm kèm theo đánh giá. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Các câu hỏi thường gặp (FAQs) cũng là một mục thường xuyên xuất hiện trong các website của doanh nghiệp Việt Nam để cung cấp tốt hơn các thông tin cho khách hàng. Các bản tin miễn phí (newsletter) cũng là một biện pháp thường được các doanh nghiệp sử dụng để thông báo cho khách hàng về những chương trình truyền thông hay khuyến mãi của công ty, tuy nhiên phương thức này đòi hỏi người tiêu dùng phải khai báo thông tin cá nhân nên thường chỉ được áp dụng cho những khách hàng đã đăng kí thành viên. Giải pháp phổ thông hơn mà các doanh nghiệp thường sử dụng để quảng bá hình ảnh của mình là sử dụng dịch vụ quảng cáo trực tuyến.

Hiện nay, phần lớn các website của Việt Nam đều cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến. Số lượng doanh nghiệp cung cấp website tin tức và báo điện tử tham gia kinh doanh quảng cáo trực tuyến ngày một tăng. Dịch vụ quảng cáo cũng đa dạng hơn, giúp doanh nghiệp dễ dàng lựa chọn kiểu hình quảng cáo trực tuyến phù hợp với năng lực của đơn vị mình. Hình thức quảng cáo đặt banner vẫn là phổ biến nhất nhưng được biến thể theo nhiều dạng với mức chi phí khác nhau. Ngoài ra, quảng cáo bằng cách đặt logo dẫn đến trang thông tin riêng của doanh nghiệp cũng là một phương thức mới.

Tại Việt Nam, các địa chỉ thu hút quảng cáo trực tuyến vẫn chưa nhiều, chủ yếu tập trung tại các báo điện tử lớn như VnExpress, VietnamNet, Tuổi trẻ, Dân trí và một số website tin tức như 24h.cm.vn. Trên các website này, khách hàng quảng cáo trực tuyến thường xuyên và chiếm diện tích lớn nhất là các công ty đa quốc gia như Ford, Toyoto, Nokia, Samsung, LG hoặc các công ty lớn trong lĩnh vực viễn thông như Tổng công ty Viễn thông Việt Nam VNPT, Công ty cổ phần Viễn thông quân đội Viettel, Công ty cổ phần viễn thông Sài Gòn S-Fone… Doanh số ước tính của quảng cáo trực tuyến năm 2023 chiếm 1,2% thị phần toàn ngàng, cơ cấu thị phần của quảng cáo trực tuyến dự tính tăng lên từ 1,8% đến 2% vào năm 2024. Với xu thế phát triển của báo điện tử và các dịch vụ trực tuyến, tốc độ tăng trưởng của thị trường quảng cáo trực tuyến ước tính đạt 70-100%/năm. VietnamNet và VnExpress, hai báo điện tử có lượng độc giả lớn nhất hiện nay cho biết doanh thu quảng cáo tăng trưởng mạnh theo từng năm. Năm 2021, doanh thu quảng cáo trực tuyến của VietnamNet không bao gồm các chuyên trang, phụ trương là 3,8 tỉ đồng, năm 2022 là 4,35 tỉ đồng, năm 2023 là 4.6 tỉ đồng. Doanh thu của VnExpress năm 2021 là 11.1 tỉ đồng, năm 2022 khoảng 20,25 tỉ đồng, năm 2023 là 31,7 tỉ đồng, gấp 3 lần so với năm 2021 [3]. Dựa vào kết quả kinh doanh như trên của VnExpress thì doanh số quảng cáo của báo là khá tốt so với các tờ báo và tạp chí lớn. Mặc dù đối tượng tham gia quảng cáo trực tuyến hiện nay chủ yếu là các công ty lớn nhưng với sự đa dạng cũng như những ưu điểm của mình, quảng cáo trực tuyến đang ngày càng trở nên phổ cập hơn với các doanh nghiệp. Với nhu cầu quảng cáo ngày một lớn trong thời đại hội nhập kinh tế sâu rộng, số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tham gia sử dụng quảng cáo trực tuyến sẽ ngày một tăng nhanh.

Hệ thống thanh toán điện tử luôn là một trở ngại lớn trong việc xúc tiến quá trình giao dịch tại các website. Tại Việt Nam, từ năm 2024 về trước hệ thống thanh toán điện tử hầu như chưa phát triển, do đó gây tâm lí e ngại cho người dùng khi sử dụng các dịch vụ mua bán trên môi trường Internet. Tuy nhiên, từ đầu năm 2024, một văn bản quan trọng liên quan đến thanh toán điện tử đã có hiệu lực, đó là Quyết định số 291/2023/QD TTg ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Thủ tường chính phủ phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2023-2026 và định hướng đến năm 2035. Ngay trong năm triển khai quyết định này ngành ngân hàng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Trước hết, toàn ngành ngân hàng đã có 15 ngân hàng lắp đặt và đưa vào sử dụng 4.300 máy rút tiền tự động ATM, 24.000 máy POS. Hiện nay 29 ngân hàng trên cả nước đã phát hành gần 8,4 triệu thẻ thanh toán và thành lập lên các liên minh thẻ, tạo sự thuận tiện cho người sử dụng. Trong khi đó, hệ thống các ngân hàng thành viên của Smartlink và Banknetvn chiếm khoảng 90% thị phần thẻ cả nước và đang liên kết với nhau để từng bước thống nhất toàn thị trường thẻ. Các ngân hàng thương mại đã xây dựng lộ trình để chuyển dần từ công nghệ sử dụng thẻ từ sang công nghệ chip điện tử. Một tín hiệu đáng mừng cho việc hỗ trợ thanh toán điện tử là hầu hết các nghiệp vụ từ Ngân hàng Nhà nước đến các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đã được ứng dụng công nghệ thông tin. [15]

Theo Báo cáo thương mại điện tử năm 2024 của Bộ Công thương, tính đến hết năm 2024 cả nước có 18 ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán qua Internet (Internet banking) và tin nhắn di động (SMS Banking). Thanh toán qua thẻ hay POS được đưa vào ứng dụng rộng rãi hơn với các chức năng ngày càng đa dạng. Hiện tại các website B2C uy tín nhất Việt Nam đều cho phép người mua thanh toán bằng thẻ với số lượng thẻ được chấp nhận ngày càng gia tăng. Đây là một bước tiến quan trọng giúp quá trình giao dịch trên mạng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn,

III. Đánh giá chung về việc triển khai yếu tố 4P trong hoạt động marketing điện tử tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

1. Kết quả đạt được

Một trong những kết quả khả quan cho thấy hiệu quả triển khai marketing điện tử tại các doanh nghiệp Việt Nam đã được nâng cao là nhận thức của các doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc xúc tiến hoạt động kinh doanh qua Internet đã được cải thiện rõ rệt. Trong năm 2024, tỉ lệ các doanh nghiệp xây dựng và vận hành website tăng đều và đạt đến mức 38%, tức là cứ 10 doanh nghiệp tham gia điều tra thì có tới 4 doanh nghiệp có website. Đồng thời, trong năm 2024 đã có 10% các doanh nghiệp tham gia các sàn giao dịch điện tử (e- marketplace), 82% có mạng cục bộ LAN và đáng lưu ý nhất là có tới 97% doanh nghiệp đã kết nối Internet với hình thức chủ yếu là băng thông rộng ADSL.

Tính đến hết năm 2024, tổng số website với tên miền.vn đã được đăng ký lên đến 60.604, tăng gấp 4 lần so với năm 2022. Tỉ lệ doanh nghiệp có website cao nhất là những doanh nghiệp thuộc ngành ngân hàng, tài chính (88,9%); du lịch (65,2%); nông lâm thủy sản, chế biến thực phẩm (40,6%); dệt may, da giày (40%)… Ngoài ra, còn xuất hiện nhiều doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử chuyên nghiệp với khoảng 40 sàn B2B và 100 sàn B2C. [4]

Theo khảo sát của Cục thương mại điện tử và Công nghệ Thông tin, hơn 1/3 doanh nghiệp có doanh thu nhờ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử đạt 15% trở lên so với tổng doanh thu, trong khi năm 2022 chỉ dừng ở mức 8%. Trong số 38 thành viên ký được 185 hợp đồng qua cổng thương mại điện tử quốc gia www.ecvn.com thì mỗi thành viên ký được hợp đồng với 5 doanh nghiệp tổng giá trị đạt 53,2 tỉ đồng. Trong số những doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử, có doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu trị giá 9,6 tỉ đồng. Có tới 63% doanh nghiệp tin tưởng rằng doanh thu có được từ các đơn đặt hàng qua giao dịch thương mại điện tử sẽ tiếp tục tăng, giúp doanh nghiệp tăng vị thế cạnh tranh trong kinh doanh.

Nhìn chung, trong những năm vừa qua hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp cho hoạt động marketing điện tử khá cao và đang có xu hướng tiếp tục tăng. Kết quả điều tra cho thấy trên một phần ba doanh nghiệp có doanh thu nhờ các đơn đặt hàng qua phương tiện điện tử ở mức 15% trở lên so với tổng doanh thu. Nếu so sánh tỉ lệ này với tỉ lệ tương ứng 8% của năm 2022 thì có thể thấy rõ các doanh nghiệp đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc xúc tiến hoạt động kinh doanh bằng những phương tiện điện tử và đã biết cách khai thác những lợi ích tiềm tàng của ứng dụng Internet. Tín hiệu lạc quan nhất là có tới 63% doanh nghiệp tin tưởng rằng doanh thu có được từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử sẽ tiếp tục tăng.

Kết quả trên có mối tương quan mật thiết với tỉ trọng cũng như cơ cấu đầu tư cho thương mại điện tử. Chi phí đầu tư cho các hoạt động thương mại điện tử tăng mạnh, năm 2024 có tới 50% số doanh nghiệp tham gia điều tra trong báo cáo thương mại điện tử thường niên của Bộ Công thương (cao gấp ba lần tỉ lệ 18% của năm 2022) cho biết đã dành trên 5% tổng chi phí hoạt động để đầu tư cho các hoạt động marketing điện tử. Mặt khác, cơ cấu đầu tư trở nên hợp lí hơn với khoảng một nửa chi phí dành cho phần cứng và một phần năm dành cho đào tạo. Cơ cấu đầu tư này cho thấy đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức tới triển khai thương mại điện tử nếu so sánh với các năm trước. Tuy nhiên, tỉ lệ đầu tư cho phần mềm và giải pháp hầu như không thay đổi trong ba năm qua và chỉ dừng lại ở mức 23%. Rõ ràng cần phải có sự nỗ lưc rất lớn từ nhiều phía để nâng cao tỉ lệ này, bởi lẽ các hoạt động thương mại điện tử không thể phát huy hết khả năng nếu không được triển khai trên nền tảng các phần mềm ứng dụng hiện đại. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Trong những năm vừa qua, một tín hiệu đáng mừng nữa cho hoạt động marketing điện tử là việc thanh toán điện tử đã trở nên quen thuộc hơn đối với phần đông người tiêu dùng. Đây là một trong những nét khởi sắc của thương mại điện tử Việt Nam năm 2024 với sự ra đời và phát triển của hàng loạt nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, cần một khoảng thời gian nhất định để những dịch vụ này có thể thâm nhập và thực tiễn kinh doanh và phát huy tác dụng đối với hoạt động của từng doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy các phương thức thanh toán ứng dụng trong doanh nghiệp đang từng bước chuyển biến theo hướng hiện đại hóa, mặc dù chưa có sự phát triển đột phá nào trong năm qua. Phương thức thanh toán tiền mặt khi giao hàng đang giảm dần vai trò, với tỉ lệ doanh nghiệp áp dụng giảm từ 75% trong năm 2023 xuống 67% vào năm 2024. Tỉ lệ doanh nghiệp triển khai thanh toán trực tuyến tăng từ 3% lên 4%, tuy nhiên đây vẫn là tỉ lệ rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới và so với yêu cầu thanh toán của thương mại điện tử. để giao dịch B2C có thể thực sự đi vào cuộc sống, các tiện ích thanh toán trực tuyến cần được sớm hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đại trà trên các website doanh nghiệp trong tương lai gần.

2. Những vướng mắc còn tồn tại

Hiện nay những hoạt động e-marketing tại Việt Nam mới chỉ có những bước phát triển đầu tiên. Hoạt động marketing điện tử chưa thực sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, môi trường ảo vẫn tiềm ẩn những rủi ro khiến người tiêu dùng e ngại khi đưa ra quyết định mua sắm qua mạng. Có thể nói hiện nay hoạt động marketing điện tử nói riêng và hoạt động thương mại điện tử của Việt Nam còn tồn tại những khó khăn sau đây

2.1. Mức độ khai thác thông tin của website còn yếu

Hiện nay đa phần các website về thương mại điện tử của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc khai thác các tính năng cơ bản như thăm dò khách hàng, quảng bá về công ty hay giới thiệu thông tin về các mặt hàng, sản phẩm.

Bảng 10. Các tính năng của website tại Việt Nam

Tính năng của website 2023 2024
Giới thiệu doanh nghiệp 98,3% 84,5%
Giới thiệu sản phẩm 62,5% 79,4%
Giao dịch thương mại điện tử 27,4% 36,7%
Thanh toán trực tuyến 3,2% 4,8%

Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2024, Bộ Công thương

Như vậy có thể thấy các website của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu các thông tin cơ bản về doanh nghiệp và về sản phẩm. Các nội dung khác tập trung vào việc hướng dẫn qui trình giao dịch chưa được đầu tư tương xứng, gây khó khăn cho người tiêu dùng khi muốn mua sắm qua mạng. Mặt khác, các thông tin về thanh toán trực tuyến còn ít. Bên cạnh đó, điểm yếu lớn của các website của doanh nghiệp Việt Nam là tần suất cập nhật thông tin kém. Điều này thể hiện tính chưa chuyên nghiệp và cho thấy mức độ đầu tư của các doanh nghiệp vào phần quảng bá hoạt động kinh doanh trên mạng chưa cao.

Bảng 11. Tần suất cập nhật thông tin trên website của doanh nghiệp

Như vậy, ta có thể thấy vào các năm 2022-2023, tỉ lệ doanh nghiệp cập nhật thông tin cho website của mình một cách thường xuyên là khá thấp. Tuy nhiên, từ sau năm 2023, do có sự quan tâm ở cấp độ vĩ mô về việc phát triển thương mại điện tử và nhận thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của website đã tăng lên nên tỉ lệ này đã tăng lên nhanh chóng. Cho đến hết năm 2024, có hơn 64% các doanh nghiệp được khảo sát có mức độ cập nhật thông tin trên website của mình hàng ngày. Đây thực sự là một tín hiệu đáng mừng cho thấy mức độ quan tâm đến các hoạt động xúc tiến kinh doanh qua mạng của các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng lên. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

2.2. Hệ thống thanh toán điện tử còn kém phát triển

Theo Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024, hệ thống thanh toán điện tử yếu kém luôn được doanh nghiệp đánh giá là trở ngại lớn thứ hai đối với việc phát triển các ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam. Các doanh nghiệp tỏ ra khá lúng túng khi muốn triển khai một qui trình ứng dụng thương mại điện tử trọn vẹn trong bối cảnh hệ thống thanh toán điện tử còn yếu, đặc biệt là trong khâu hỗ trợ và xúc tiến kinh doanh qua mạng. Đồng thời, người tiêu dùng cũng chưa có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các dịch vụ thanh toán điện tử. Do đặc thù tâm lí tiêu dùng của người dân Việt Nam là quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch hàng ngày và có tâm lí bất an khi tham gia giao dịch trong một hệ thống thanh toán điện tử còn tồn tại bất cập về mặt an ninh nên cho đến nay, việc giao dịch qua thẻ thanh toán hay qua hệ thống giao dịch tự động của các ngân hàng chưa thực sự phổ biến trong cộng đồng người Việt. Mặt khác, hiện nay tại Việt Nam chưa có sự thống nhất về hệ thống thẻ ATM. Đối với mạng lưới thẻ thanh toán của các ngân hàng, hiện vẫn còn tồn tại 3 liên minh thẻ là liên minh của Vietcombank, hệ thống kết nối giữa ANZ và Sacombank, và hệ thống của ngân hàng Đông Á. Do đó, nếu người mua và người bán có tài khoản tại các ngân hàng thuộc các liên minh khác nhau thì việc thanh toán điện tử là gần như không thực hiện được trong giao dịch trực tuyến. Thực trạng này đưa đến hậu quả không những là bó hẹp mạng lưới của khách hàng mà còn gây lãng phí nguồn lực của xã hội.

Nhìn chung, thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong các giao dịch hàng ngày của người dân. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỉ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và người tiêu dùng cá nhân. Theo khảo sát của Ngân hàng Nhà nước về thực trạng thanh toán năm 2020 tại 750 doanh nghiệp trên cả nước (trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm hơn 80%), đối với những doanh nghiệp lớn có trên 500 công nhân, khoảng 63% số giao dịch của doanh nghiệp được tiến hành qua hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì tỉ lệ này chỉ còn 47%. Đối với hộ kinh doanh, 86,2% hộ chi trả hàng hóa bằng tiền mặt. Kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch của doanh nghiệp, đặc việt là giao dịch với người tiêu dùng còn ở mức rất cao. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

2.3. Khả năng bảo mật thông tin chưa cao

Đặc thù của môi trường điện tử là mức độ truyền dẫn thông tin nhanh và khả năng tiếp cận thông tin dễ dàng cho mọi đối tượng, hệ quả là việc khó kiểm soát cũng như quản lí sự rò rỉ hoặc lạm dụng thông tin cá nhân. Việc thu thập, phát tán các thông tin cá nhân của người tiêu dùng cho mục đích thương mại đang ngày càng phổ biến, và trong nhiều trường hợp đi ngược lại lợi ích cũng như quyền chính đáng của người tiêu dùng. Điều này làm phát sinh tâm lí e ngại của người tiêu dùng khi tham gia vào các hoạt động đòi hỏi tiết lộ thông tin cá nhân như đăng kí thành viên, tham gia khảo sát hay thanh toán điện tử… Hiện nay, tại Việt Nam các doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng đến chính sách bảo vệ thông tin cá nhân cho người tiêu dùng.

Theo ông Đinh Công Tuấn, Giám đốc điều hành Công ty TNHH Thương mại điện tử Tiên Phong, đơn vị quản lý sàn giao dịch B2B www.gophatdat.cm, trước khi mời gọi doanh nghiệp tham gia, công ty phải đầu tư trang thiết bị và cam kết bảo mật cũng như sử dụng thông tin cá nhân của người đại diện doanh nghiệp đúng mục đích. Song không phải doanh nghiệp nào cũng ý thức được trách nhiệm này. Vì vậy, giao dịch thương mại điện tử tại VN đã xảy ra một số vụ vi phạm liên quan đến việc tiết lộ thông tin cá nhân gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Chẳng hạn như vụ ăn cắp thông tin thẻ tín dụng để mua vé máy bay của Tiger Airways; ăn cắp tài khoản thẻ tín dụng để mua hàng qua mạng với tổng trị giá lên đến 440 triệu đồng…

Bảng 12.Kết quả khảo sát về chính sách bảo vệ thông tin cá nhân trên cac website thương mại điện tử

Loại hình website Không
Số lượng % Số lượng %
C2C 19 19 83 81
B2C 36 24 117 76
Sàn giao dịch B2B 20 57 15 43
Tổng số 75 26 215 74

Nguồn: Đề tài Thông tin cá nhân và bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử – Vụ Thương mại điện tử, Bộ Công thương tháng 5/2024 Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Nhiều quốc gia phát triển đặc biệt quan tâm và đã xây dựng khung pháp lí tương đối hoàn thiện để điều chỉnh vấn đề này. Đây cũng là chủ đề được thảo luận trong chương trình nghị sự của nhiều tổ chức quốc tế lớn về thương mại như APEC, AFACT, UNCITRAL, UNCTAD. Việt Nam hiện chưa có Luật về bảo vệ thông tin cá nhân. Xét đặc thù của tập quán kinh doanh và môi trường thương mại truyền thống, bản thân vấn đề thông tin cá nhân cũng còn tương đối mới mẻ với nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước sức ép của quá trình hội nhập, các cơ quan quản lí nhà nước cũng bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của việc tạo lập khung pháp lí điều chỉnh vấn đề này. Tiếp sau Luật Giao dịch điện tử ban hành năm 2022, Luật Công nghệ thông tin ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2023 đã có những qui định mang tính nguyên tắc về việc bảo vệ thông tin cá nhân trong môi trường điện tử.

2.4. Những bất cập trong hoạt động quảng cáo trực tuyến

Trong khi triển vọng được thừa nhận là vô cùng lớn thì hiệu quả quảng cáo trực tuyến của Việt Nam lại đang ở mức rất thấp, doanh thu chỉ chiếm khoảng 1% tổng doanh thu quảng cáo nói chung. So với các loại hình quảng cáo truyền thống, ưu điểm lớn nhất của quảng cáo trực tuyến là tính tương tác cao với người dùng, điều này khiến loại hình quảng cáo trực tuyến có triển vọng phát triển rất lớn trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa nhận thức và khai thác được hết tiềm năng của quảng cáo trực tuyến. So với loại hình quảng cáo truyền thống là thông tin được truyền tải một chiều thì với quảng cáo trực tuyến, sản phẩm được giới thiệu toàn diện các khía cạnh hình ảnh và tính năng chi tiết, được đặt trong vô số sự so sánh với các sản phẩm liên quan bằng nhiều đường liên kết và quan trọng nhất, người xem quảng cáo trực tuyến có thể mua ngay được sản phẩm theo nhu cầu. Đây là một mắt xích quan trọng giữ quảng cáo và bán hàng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cách làm quảng cáo trực tuyến mới chỉ ở mức giới thiệu chi tiết hơn một chút về sản phẩm. Các doanh nghiệp mua loại hình quảng cáo này thường quan niệm đây là hình thức tăng mật độ hình ảnh của doanh nghiệp, gần như không có liên kết quảng cáo liên quan và không có bán hàng trực tuyến, do vậy hiệu quả tương tác là rất thấp.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiệu quả quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam thấp là các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam đang mất lòng tin vào mức độ tin cậy của các chương trình quảng cáo trực tuyến do hiện nay, nhiều hoạt động gian lận trong quảng cáo đã diễn ra. Hiện nay, một trong những nỗi lo thường trực của doanh nghiệp khi đánh giá hiệu quả các chiến dịch quảng cáo trên mạng là Click Fraud. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

Click Fraud là thuật ngữ để chỉ hành động dùng phần mềm chuyên dụng hay thuê nhân công giá rẻ để click liên tục vào một hay nhiều banner hay logo, link, quảng cáo tìm kiếm… trên mạng để tạo ra sự thành công giả tạo của một chiến dịch quảng cáo. Việc làm này đặc biệt gây nhiều thiệt hại cho những doanh nghiệp sử dụng dịch vụ quảng cáo trực tuyến và chọn cách trả tiền quảng cáo theo số lượng những cú nhấp chuột vào quảng cáo của họ vì số lượng click càng lớn, số tiền họ phải trả càng nhiều. Những cá nhân có hiềm khích hay ý đồ xấu với doanh nghiệp cũng có thể thực hiện Click Fraud với mục đích làm thâm hụt tài chính của doanh nghiệp đối thủ. Trong một khảo sát của tạp chí Wall Street, có khoảng 10-20% những cú click trả tiền là từ những người không thực sự quan tâm đến quảng cáo. Tại Việt Nam, Click Fraud đã xuất hiện và có thể khẳng định là đã bước vào giai đoạn phổ biến. Tuy nhiên, hành động gian lận thương mại này ở Việt Nam hầu như mới chỉ dừng lại ở mức nhằm tạo ra những hiệu quả giả tạo cho một chiến dịch quảng cáo, hoặc tạo ra lượng truy cập giả tạo cho một website để làm cơ sở mời gọi doanh nghiệp quảng cáo trên website đó.

Tại Việt Nam hiện nay, để đánh giá mức độ phổ biến của một website, người dân thường sử dụng thước đo xếp hạng trên website đánh giá nổi tiếng Alexa.com. Thứ hạng Alexa (Alexa Ranking) được hầu hết người sử dụng Internet tại Việt Nam coi là tiêu chí hàng đầu để đánh giá một website, và nhiều doanh nghiệp cũng dựa trên tiêu chí này để quyết định có nên đăng quảng cáo trên website đó không. Chính vì vậy, nhiều chủ website đã sử dụng các phần mềm chuyên dụng nhằm đánh lừa các công cụ tìm kiếm để đẩy chỉ số Alexa Ranking của website, từ đó thu hút doanh nghiệp đăng quảng cáo. Năm 2023, một trang báo điện tử của Việt Nam lọt vào danh sách 100 website có lượng truy cập nhiều nhất thế giới đã gây ra nhiều nghi vấn trong cộng đồng mạng và từ đó làm giảm sút lòng tin của một bộ phận người dân về uy tín của trang website này. Khóa luận: Thực trạng triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp triển khai yếu tố 4P trong marketing điện tử

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x