Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I: Một số nét khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
1.1 Sự ra đời và quá trình phát triển.
Ngày 26 tháng 04 năm 1957, chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ký Nghị định 177/TTg khai sinh ra Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam- tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay- với nhiệm vụ cung ứng và quản lý nguồn vốn của Nhà nước cho công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước. Quá trình phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam với những tên gọi khác nhau gắn với những nhiệm vụ khác nhau của từng thời kỳ: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Giai đoạn 1957- 1980, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập trực thuộc Bộ Tài chính với quy mô ban đầu gồm 11 chi nhánh, 200 nhân viên với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Giai đoạn 1981- 1989, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc kế hoạch Nhà nước tất cẩ các lĩnh vực của nền kinh tế.
Giai đoạn 1990- 2013, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam( BIDV) với nhiệm vụ được thay đổi về cơ bản: ngoài việc tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước thì BIDV đã thực hiện huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.
Giai đoạn 2014- 2019, BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước. Đây là thời kì BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Giai đoạn từ năm 2020 đến nay, BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cơ cấu lại được chính phủ phê duyệt và Dự án hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán do Ngân hàng thế giới tài trợ tiến tới phát triển thành một ngân hàng đa năng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động ngang tầm với các ngân hàng khu vực vào năm 2029.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- tên giao dịch quốc tế ” Bank for Investment and Development of Viet Nam”- là một ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động với tư cách một pháp nhân độc lập: có vốn, trụ sở độc lập với Ngân hàng Nhà nước( NHNN), hạch toán kinh tế độc lập, được quyền tự chủ về tài chính và chủ động về kinh doanh,có hội sở chính tại Tháp A- Vincom City Towers, 191 Bà Triệu- Quận Hai Bà Trưng Hà Nội, có con dấu riêng, có bảng tổng kết tài sản và trực tiếp làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước( NSNN), đồng thới chịu sự quản lý vĩ mô của NHNN và Chính phủ.
Từ những ngày đầu thành lập, với 11 chi nhánh và 200 cán bộ, đến nay BIDV đã hoàn thành mô hình Tổng Công ty với Hội sở chính là trung tâm điều hành, với 118 đơn vị thành viên (bao gồm 104 chi nhánh, 07 công ty con trung tâm đào tạo, trung tâm công nghệ, và 05 đơn vị liên doanh) cùng một mạng lưới rộng khắp (đứng thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam) với gần 500 chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, và hàng ngàn máy ATM, máy POS như một kênh phân phối mới, vừa cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán buôn bán lẻ của hoạt động Ngân hàng- Bảo hiểm- Chứng khoán và Đầu tư. Bên cạnh đó là tổ chức cán bộ công nhân viên với gần 11.000 người, có tổ chức Đảng mạnh, có hệ thống công đoàn ngành gắn bó chặt chẽ luôn là chỗ dựa vững chắc cho chuyên môn.
Cùng với hệ thống NHTM Việt Nam, BIDV là một trong những ngân hàng có bề dày kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư, phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng trong nước. Có tốc độ tăng trưởng cao trên nhiều mặt hoạt động, doanh số cho vay tăng nhanh, các hoạt động khai thác kiều hối, mua bán ngoại tệ, thanh toán thẻ tín dụng cũng tăng trưởng tốt.
Về đối ngoại, BIDV đã tham gia góp vốn liên doanh, mua lại vốn góp, liên tục mở quan hệ đại lý với các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại với các định chế tài chính, các tổ chức quốc tế lớn như WB, EIB, NIB… cũng được đánh giá cao. Nhìn chung BIDV luôn kinh doanh có lãi và tạo được uy tín với các đối tác trong và ngoài nước.
1.2 Bộ máy tổ chức. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
BIDV trung ương có một Ban lãnh đạo thuộc Hội đồng quản trị (HĐQT) đưa ra những chiến lược phát triển lâu bền của BIDV trên cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước. Trong BIDV có một sở giao dịch gọi là Hội sở chính của BIDV gồm ban giám đốc điều hành trực tiếp và một đội ngũ cán bộ mạnh, vừa thông thạo nghiệp vụ, vừa có kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành, trình độ chuyên môn cao, biết ngoại ngữ, bước đầu thích nghi với cơ chế thị trường, hoà nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới.
- BIDV trung ương được phân làm hai khối:
Khối trung ương gồm các phòng, ban với chức năng quản lý vĩ mô trong toàn hệ thống.
Khối trực tiếp kinh doanh- Sở giao dịch gồm: Ban Giám đốc, phòng tín dụng, phòng thẩm định, phòng kinh doanh đối ngoại và ngân hàng đại lý, phòng tài chính, phòng quản lý tiền tệ…
Với cơ cấu tổ chức và hoạt động của BIDV và Hội sở chính như trên chứng tỏ BIDV là một ngân hàng lớn mạnh, với một sở giao dịch làm việc có hiệu quả cao và là bộ mặt đại diện của toàn hệ thống trước toàn thể khách hàng trong nước và quốc tế.
2. Một số hoạt động chính của BIDV. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
2.1 Nguồn vốn.
Nguồn vốn là yếu tố chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tài sản nợ của mọi ngân hàng, là yếu tố đầu vào, quyết định mở rộng cho vay, mở rộng đầu tư, tham gia tích cực vào các thị trường vốn, thị trường tiền tệ, qua đó mở rộng quy mô hoạt động ngân hàng. Những thành quả đạt được của BIDV đến nay có sự đóng góp to lớn của công tác nguồn vốn. Từ một ngân hàng chủ yếu nhận nguồn vốn từ Ngân sách đến nay đã xây dựng được một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo nhu cầu kinh doanh, phục vụ đầu tư phát triển, tăng trưởng với tốc độ cao, cơ cấu hợp lý và một nền khách hàng gửi tiền bền vững, gắn bó, truyền thống. Trình độ của công tác điều hành nguồn vốn tiết kiệm, có hiệu quả ngày càng được nâng cao hướng dần đến các chuẩn mực quốc tế về an toàn hệ thống. Công tác xây dựng nguồn vốn đóng vai trò quyết định đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh của BIDV.
2.2 Tín dụng- hoạt động trọng tâm.
Tín dụng bao giờ cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản có của các ngân hàng và là đặc trưng của hoạt động ngân hàng, góp phần phục vụ sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Trong quá trình phát triển của BIDV, hoạt động tín dụng mới chỉ phát triển từ năm 1990 và nhất là 10 năm gần đây nhưng lại chứng minh được sức phát triển nhanh chóng và đổi mới mạnh mẽ nhất của BIDV. Mới chỉ hơn 10 năm đã định hình tín dụng BIDV với một sắc thái, đặc điểm riêng, với quy mô đứng thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, để cùng với toàn ngành ngân hàng cung cấp cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế vốn, các sản phẩm tín dụng đa dạng, góp phần phục vụ đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, thương mại…
Hoạt động tín dụng của BIDV gồm 03 mảng chính là tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng ngắn hạn và bảo lãnh.
2.3 Kinh doanh đối ngoại- nhịp cầu hội nhập. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Năm 1990, trong xu thế đổi mới của đất nước và ngành ngân hàng Việt Nam, BIDV cũng bắt đầu hình thành nhiệm vụ mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong hoạt động ngân hàng. Qua 15 năm phát triển, đến nay quan hệ hợp tác quốc tế và hoạt động kinh doanh đối ngoại của BIDV đã tiến một bước dài cả về chiều rộng và chiều sâu. Hiệu quả của hợp tác quốc tế và hoạt động kinh doanh đối ngoại không chỉ góp phần vào kết quả kinh doanh mà còn quảng bá thương hiệu, hình ảnh, nâng cao vị thế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong cộng đồng ngân hàng và khách hàng nước ngoài.
2.4 Hoạt động ngân hàng bán buôn và đại lý uỷ thác.
Năm 2012, BIDV bắt đầu hình thành nghiệp vụ uỷ thác( giải ngân, cho vay lại, thu nợ các dự án từ Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức- ODA). Đến nay, BIDV là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt Nam thực hiện nghiệp vụ ngân hàng bán buôn thông qua việc quản lý hai dự án Tài chính Nông thôn I và II do Ngân hàng Thế Giới tài trợ. Hoạt động ngân hàng bán buôn và đại lý uỷ thác còn non trẻ, nhưng đã khẳng định vai trò quan trọng: cùng với các sản phẩm truyền thống góp phần đa dạng hoá sản phẩm, thêm một kênh huy động vốn quan trọng, nhất là nguồn vốn dài hạn, lãi suất hợp lý, phục vụ đầu tư phát triển.
2.5 Hoạt động đầu tư chuyên nghiệp.
Thực hiện định hướng phát triển thành một tập đoàn Tài chính hiện đại, đa năng, đa sở hữu, hoạt động của BIDV dựa trên bốn trụ cột chính là: Ngân hàng-Đầu tư- Chứng khoán và Bảo hiểm.Hoạt động đầu tư của BIDV tập trung vào 03 khối: Công ty trực thuộc- Liên doanh- Góp vốn cổ phần thông qua đầu tư trực tiếp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự hoàn thiện thị trường tài chính, hoạt động đầu tư tài chính của BIDV được ghi nhận một sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đóng góp ngày càng cao vào hiệu quả hoạt động của ngân hàng, xây dựng hình ảnh một BIDV chuyên nghiệp- năng động- đa năng trong cộng đồng ngân hàng nói riêng và xã hội nói chung.
2.6 Hoạt động thanh toán- cho dòng vốn sinh sôi.
Hoạt động thanh toán của BIDV đã từng bước trải qua các thời kỳ từ thủ công với nghiệp vụ đơn giản cho đến tự động hoá của một ngân hàng hiện đại, dựa trên nền tảng công nghệ cao. Đó cũng là quá trình phát triển, trưởng thành cả về nghiệp vụ, kỹ năng, công nghệ và tổ chức, cán bộ. Quá trình hoàn thiện hệ thống thanh toán của BIDV từ thủ công đến hiện đại, từ phạm vi hẹp đến mở rộng kết nối với cộng đồng ngân hàng, tài chính trong nước đến cộng đồng ngân hàng nước ngoài là hình ảnh minh chứng sự đổi mới mạnh mẽ của BIDV. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
2.7 Ngân hàng điện tử (E-banking)- xu thế của ngân hàng hiện đại.
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như huy động vốn, cho vay vốn, phát triển các nghiệp vụ ngân hàng điện tử như: ATM, BSMS, HomeBanking, InternetBanking, MobieBanking, PhoneBanking là xu thế và hướng đi tất yếu của các ngân hàng hiện đại trên thế giới. BIDV đã nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng làm cơ sở và tạo đà cung ứng các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao cho nền kinh tế.
3. Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV năm 2025.
3.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam năm
Năm 2025 kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao, đạt 8,2%. Đây là mức tăng trưởng ổn định so với 8,4% của năm trước và vượt mức so với kế hoạch 8%, lạm phát được duy trì ở mức dưới 8%. Mức tăng trưởng kinh tế này đã giúp GDP bình quân đầu người đạt trên 11,5 triệu VND, tương đương 720 USD cho dù tiếp tục phải đối mặt những thách thức trong năm như giá cả biến động thất thường (nhất là giá cả xăng dầu), thiên tai gây tổn thất nặng nề ở miền Trung và Nam bộ vào nửa cuối năm.
Trong năm 2025, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: GDP khu vực dịch vụ tăng 8,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%. Sự tăng trưởng của hai khu vực công nghiệp và dịch vụ đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ; duy trì cơ cấu nông nghiệp ở mức hợp lý đạt mức tăng trưởng 3,5%, mức này thấp hơn so với mức 4% của năm 2024 và 4,9% của năm 2023. Tuy nhiên nền kinh tế đã ghi nhận việc nâng cao sản lượng, chất lượng va chuyên canh theo hướng xuất khẩu trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu của kinh tế Việt Nam
Bên cạnh đó, kinh tế đối ngoại đạt được nhiều thành tích vượt trội. Năm 2025 là một năm thành công của hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày 07 tháng 11 năm 2025 đánh dấu một bước tiến lớn của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Năm 2025, Việt Nam vẫn duy trì được vị thế là địa điểm hấp dẫn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký dự tính đạt 10,2 tỷ USD vượt 57% so với kế hoạch đề ra là 6,5 tỷ USD cho năm 2025. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của FDI, vốn tài trợ chính thức phát triển ODA cũng đạt được mức đáng ghi nhận, khoảng gần 4 tỷ USD cam kết cho Việt Nam được ký kết, mức cao nhất kể từ năm 2012 đến nay và tăng 20% so với năm 2024.
Cùng với hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu cũng ghi nhận nhiều kết quả đáng khích lệ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá trong năm đạt 85 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt xấp xỉ 40 tỷ USD (tăng 23% so với năm ngoái) và nhập khẩu đạt 45 tỷ USD (tăng 21% so với năm 2024).
Trong năm 2025, Thị trường Tài chính- Ngân hàng tiếp tục là điểm sáng. Với những nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong thời gian qua, chất lượng các dịch vụ, tiện ích ngân hàng đã có bước cải thiện đáng kể. Hệ thống ngân hàng đã có bước đột phá nhờ triển khai thành công hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng và tham gia mạng thanh toán quốc tế. Thị trường vốn và chứng khoán tiếp tục có những tăng trưởng tích cực. Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2025 ước đạt 64.000 tỷ VND, trong đó huy động cho ngân sách Nhà nước 33.000 tỷ VND, cho các công trình giao thông thuỷ lợi 15.500 tỷ VND, cho đầu tư phát triển 15.500 tỷ VND. Thị tường chứng khoán liên tục có các bước phát triển nhảy vọt, nhất là vào những ngày cuối tháng 12 năm 2025, chỉ số VN- Index đã phá vỡ mốc 1.000 điểm. Với diễn biến như vậy, tổng mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam (kể cả giao dịch OTC) tăng vọt từ 1% GDP (vào cối năm 2024) lên mức 15%, đạt xấp xỉ 10 tỷ USD.
3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV năm
3.2.1 Huy động vốn.
Tổng nguốn vốn huy động (bao gồm phát hành trái phiếu tăng vốn) đến 31/12/2025 đạt 116.862 tỷ VND, tăng 34,29% so với cuối năm 2024- là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2020 đến nay. Thị phần huy động vốn của BIDV chiếm 15,8% thị phần huy động vốn của hệ thống Ngân hàng. Cơ cấu nguồn vốn huy động đã được điều chỉnh theo hướng tích cực.
- Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động.
3.2.2 Quản lý tài sản nợ- có.
- Bảng 2.2: Cơ cấu Tài sản Nợ- Tài sản Có
Kết quả quản lý tài sản nợ- tài sản có đã đảm bảo khả năng thanh khoản cho toàn hệ thống, tuân thủ các quy định về dự trữ, các giới hạn an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, đáp ứng đủ nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh với chi phí hợp lý, đảm bảo an toàn trong hoạt động, giảm thiểu rủi ro thanh khoản thông qua quá trình nhận biết, ước tính, theo dõi, kiểm soát rủi ro theo chuẩn mực quốc tế cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh.
Tỷ lệ dự trữ của BIDV là khá ổn định và đảm bảo mức tối thiểu 8% cần duy trì theo quy định về dự trữ thanh toán tại quyết định 247/QĐ-HĐQT ngày 28/11/2024 của Hội đồng quản trị BIDV. Bên cạnh đó ngân hàng đã điều hành linh hoạt giữa dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp thông qua đầu tư liên ngân hàng, đầu tư vào các loại giấy tờ có giá để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, song vẫn đảm bảo an toàn thanh khoản cho toàn hệ thống. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
3.2.3 Hoạt động đầu tư giấy tờ có giá.
Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, điều chỉnh đa dạng cơ cấu tài sản Có, lành mạnh hóa Bảng tổng kết tài sản, BIDV đã và đang rất chú trọng đầu tư vào các loại giấy tờ có giá như trái phiếu Chính phủ, tín phiếu và đây cũng là kênh đầu tư vốn an toàn, tạo ra các sản phẩm có tính thanh khoản cao qua giao dịch thị trường mở; vay cầm cố; chiết khấu;… với Ngân hàng Nhà nước.
- Bảng 2.3: Hoạt động đầu tư giấy tờ có giá.
3.2.4 Hoạt động kinh doanh tiền tệ.
3.2.4.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Năm 2025 là một năm BIDV có bước đột phá trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ cả về doanh số giao dịch và về thu ròng, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay.
- Biểu đồ 2.3:Doanh số kinh doanh nội tệ và ngoại tệ
Hoạt động mua bán ngoại tệ luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ với giá cạnh tranh và phương thức giao dịch linh hoạt như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn cho toàn bộ nhu cầu giao dịch của khách hàng trên toàn hệ thống BIDV hỗ trợ tích cực cho các hoạt động nghhiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tế, huy động tiền gửi USD. Theo ước tính, doanh số mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng của BIDV đứng thứ hai trên thị trường Việt Nam.
3.2.4.2. Đầu tư trên thị trường tiền tệ.
Năm 2025, BIDV tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Là ngân hàng thương mại lớn với nguồn vốn dồi dào, BIDV luôn đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường chủ đạo trên liên ngân hàng, BIDV hiện đang có quan hệ giao dịch với hầu hết các đối tác trên thị trường trong nước và các đối tác nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam. Với phương châm luôn sử dụng có hiệu quả và an toàn nguồn vốn ngân hàng, BIDV được đánh giá là một trong những ngân hàng có uy tín, có vị thế tốt và năng động nhất trên thị trường liên ngân hàng hiện nay.
Doanh số đầu tư tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng năm 2025 đạt 19,139 tỷ USD quy đổi, tăng 16,3% so với mức 16,454 tỷ USD quy đổi trong năm 2024, trong đó doanh số đầu tư tiền gửi VND tăng 75,5%, EUR tăng 15,2% và USD tăng 17,14% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Không chỉ sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của ngân hàng, hoạt động tự doanh trên thị trường tiền tệ trong năm 2025 của BIDV cũng được đẩy mạnh hơn và đã mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng.
3.2.4.3. Các nghiệp vụ phái sinh.
BIDV cũng đã triển khai thành công nghiệp vụ giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa đối với mặt hàng cà phê. Trong 06 tháng cuối năm, doanh số giao dịch hợp đồng cà phê tương lai tại BIDV đã đạt trên 10% tổng lượng cà phê xuất khẩu của cả nước trong năm 2025. Trong năm 2026, BIDV dự kiến sẽ mở rộng triển khai cung cấp các sản phẩm phái sinh bảo hiểm rủi ro biến động giá đối với các mặt hàng khác như cao su, nông sản, năng lượng…
Ngoài ra, trong năm 2025, BIDV cũng đã đẩy mạnh triển khai các nghiệp vụ phái sinh về lãi suất và tỷ giá. Ngân hàng đã bước đầu triển khai cung cấp thành công tới khách hàng các sản phẩm cụ thể như đầu tư tiền gửi cơ cấu (structured deposit), hoán đổi tiền tệ chéo (cross currency swap).
- Tín dụng.
Tổng dư nợ cho vay ròng đến 31/12/2025 đạt 93.453 tỷ VND, tăng trưởng 17,7% so với năm 2024.
BIDV đã xác định danh mục tín dụng ưu tiên để đầu tư vào các ngành năng lượng, công nghiệp tàu thuỷ, chế biến xuất khẩu thuỷ sản, chế biến xuất khẩu gỗ. BIDV đã đầu tư 121 dự án điện, 57 dự án xi măng với tổng số vốn đã ký hợp đồng tín dụng tương ứng là 19.760 tỷ VND và 12.850 tỷ VND, thực hiện bảo lãnh ứng trước cho ngành đóng tàu xuất khẩu 322 triệu USD. Bên cạnh đó, BIDV đã hỗ trợ vốn cho nhiều dự án trọng điểm quốc gia, các dự án lớn quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp chuyển dịch phát triển kinh tế các địa phương như thuỷ điện Sơn La, A Vương, nhiệt điện Hải Phòng, Uông Bí, lọc dầu Dung Quất, xi măng Hoàng Thạch, Bút Sơn; đường tránh Vinh, Đồng Hới, quốc lộ 2, cầu Phú Mỹ…
Về cơ cấu tín dụng, tỷ trọng tín dụng trên tổng tài sản giảm từ 67% năm 2024 xuống59% năm 2025 được đánh giá là phù hợp với mục tiêu phát triển thể chế đã cam kết với WB.
Về chất lượng tín dụng, được kiểm soát chặt chẽ có hệ thống nên tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu ngày càng giảm thấp và ổn định vào cuối năm, chất lượng tín dụng được nâng lên, khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng của BIDV đã chính xác và an toàn hơn. Tính tuân thủ, yêu cầu minh bạch nợ xấu, nợ quá hạn được BIDV tiếp tục đề cao nhằm phản ánh đúng thực chất nợ quá hạn, nợ xấu, trích đủ dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu để chất lượng tín dụng đạt mức tốt.
- Bảo lãnh. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Tổng số dư bảo lãnh (bao gồm các cam kết L/C) đến 31/12/2025 là 40.824 tỷ VND, tăng trưởng 82% so với 31/12/2024.
Nguồn thu từ phí bảo lãnh (cả L/C): 181,7 tỷ VND, chiếm 38,05% tổng thu phí dịch vụ. Mở rộng hoạt động bảo lãnh đã giúp chuyển mạnh hoạt động ngân hàng theo hướng phát triển dịch vụ, tăng tỷ trọng thu dịch vụ trong tổng nguồn thu.
- Dịch vụ đại lý và uỷ thác.
BIDV đã thực hiện tốt vai trò ngân hàng bán buôn và ngân hàng đại lý, uỷ thác cho nhiều tổ chức tài chính lớn thông qua đơn vị trực thuộc- Sở giao dịch 3.
- Dự án tài chính nông thôn.
Với kết quả thực hiện Dự án tài chính nông thôn I và II, BIDV đã được WB đánh giá cao và toàn diện về số lượng các định chế tài chính tham gia, hạn mức cho các định chế tài chính, tốc độ giải ngân, kiểm tra tác động môi trường của các tiểu dự án, cơ chế kiểm tra, kiểm soát đối với việc cho vay- thu nợ tốt…
Tính đến tháng 12/2025, số lượng các định chế tài chính đủ điều kiện tham gia Dự án tài chính nông thôn II là 23 đơn vị, trong đó 22 đơn vị đã thực hiện rút vốn. Tổng hạn mức tín dụng cấp cho các định chế tài chính trong khuôn khổ Dự án TCNT I và II đến 31/12/2025 đạt 3.813 tỷ VND.
Bên cạnh việc đẩy mạnh hiệu quả triển khai các Dự án tài chính nông thôn, BIDV đã và đang chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cần thiết để tiếp nhận và triển khai Dự án TCNT III như báo cáo đề nghị Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị chức năng liên quan hỗ trợ và chính thức đưa Dự án TCNT III vào danh sách vay vốn WB giai đoạn 2026- 2028.
- Đại lý uỷ thác
Năm 2025, BIDV đã tiếp nhận thêm 20 chương trình, dự án với tổng số vốn uỷ thác đạt tương đương 742 triệu USD. Doanh số rút vốn đạt 3.256 tỷ VND, doanh số cho vay đạt 1.281 tỷ VND. Dư nợ đại lý uỷ thác đạt 4.884 tỷ VND. Luỹ kế lãi và phí từ hoạt động đại lý uỷ thác đạt 4,8 tỷ VND.
Ngoài các nguồn vốn uỷ thác từ các tổ chức tài chính như WB, IMF, ADB, JBIC, AFD, BIDV tiếp tục thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế khác để tiếp nhận các nguồn vốn mới cho giai đoạn tiếp theo như NIB, EIB… để phục vụ các dự án trọng điểm của quốc gia.
II. Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Trong thời gian qua, BIDV đã triển khai hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp dưới một số hình thức sau:
1. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ.
Khi nhận được bộ chứng từ nhờ thu từ ngân hàng nước ngoài hoặc doanh nghiệp nước ngoài, BIDV sẽ thông báo cho khách hàng bằng văn bản với đầy đủ chi tiết liên quan đến bộ chứng từ. Nếu chấp nhận khách hàng phải gửi công văn (theo mẫu) do người có thẩm quyền ký tên để lấy bộ chứng từ gốc trước khi nhận hàng.
- Với bộ chứng từ nhờ thu trả ngay (D/P), trước khi nhận khách hàng chuyển đủ tiền vào tài khoản để thanh toán bộ chứng từ nói trên.
- Đối với bộ chứng từ nhờ thu trả chậm (D/A), trước 02 ngày đến hạn thanh toán, khách hàng phải chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi để đảm bảo thanh toán đúng hạn.
- Nếu tới thời hạn trả tiền của hối phiếu mà khách hàng chưa tập hợp đủ tiền để thanh toán thì BIDV có thể tài trợ bằng cách cho vay thanh toán hàng nhập.
- Bên cạnh đó, ngân hàng có thể tài trợ thông qua việc chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu đối với nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất.
2. Tài trợ trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
2.1 Phát hành thư tín dụng.
Điều kiện dể ngân hàng phát hành thư tín dụng:
- Doanh nghiệp phải có tình hình sản xuất kinh doanh khả quan, tình hình tài chính lành mạnh, có uy tín trong quan hệ tín dụng.
- Hàng hoá nhập khẩu phải có giá cả hợp lý. Nếu mặt hàng nằm trong danh mục quản lý hàng nhập khẩu của Nhà nước thì đơn vị phải xuất trình giấy phép nhập khẩu do Bộ Thương mại cấp.
- Về nguồn vốn thanh toán khi L/C đến hạn:
Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể ký quỹ 100% hoặc ký quỹ một phần nhưng phải đảm bảo đủ cho số tiền thanh toán còn lại để khi L/C đến hạn doanh nghiệp sẽ nộp đủ 100% số tiền thanh toán cho bên xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn vay ngắn hạn tại BIDV thì số tiền L/C phải nằm trong hạn mức tín dụng của doanh nghiệp tại ngân hàng.
Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn vay trung dài hạn tại BIDV thì hàng hoá nhập khẩu phải nằm trong danh mục dự án đã được BIDV duyệt vay và số tiền L/C phải nằm trong giới hạn hợp đồng tín dụng trung dài hạn đã ký.
Khách hàng đủ điều kiện để ngân hàng phát hành thư tín dụng cần thực hiện các thủ tục sau:
- Hợp đồng nhập khẩu (01 bản, có dấu sao y bản chính)
- Hợp đồng uỷ thác (01 bản nếu phải nhập qua uỷ thác)
- Giấy đề nghị mở thư tín dụng (02 bản lập theo mẫu)
- Giấy đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu (01 bản sao công chứng) và chỉ xuất trình khi thanh toán lần đầu tại BIDV.
- Đối với hàng nhập khẩu có điều kiện theo quy định về quản lý hàng xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ của Nhà nước cần có thêm giấy phép xuất nhập khẩu của bộ, ngành có liên quan.
2.2 Chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất.
Đối tượng áp dụng:
- Khách hàng có đủ năng lực về xuất nhập khẩu
- Có nhu cầu chiết khấu
Có hai hình thức chiết khấu.
- Chiết khấu miễn truy đòi:
Điều kiện để BIDV thực hiện chiết khấu miễn truy đòi:
- L/C trả tiền ngay và cho phép đòi tiền bằng điện
- L/C quy định: vận đơn lập theo lệnh của ngân hàng phát hành và toàn bộ vận đơn gốc được xuất trình qua BIDV
- Chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C
- Ngân hàng phát hành phải là ngân hàng có uy tín trên thị trường, thường xuyên giao dịch với BIDV, thanh toán sòng phẳng
- Thị trường truyền thống
- Một số thông tin khác liên quan đến mặt hàng và giá cả trên thị trường của mặt hàng xuất khẩu vào thời điểm chiết khấu
- Thư yêu cầu thanh toán đề nghị chiết khấu miễn truy đòi phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng (nếu có đăng ký kế toán trưởng) Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Chiết khấu truy đòi:
Điều kiện để BIDV thực hiện chiết khấu truy đòi
- Ngân hàng phát hành là ngân hàng có uy tín
- Thị trường truyền thống
- Khách hàng có tín nhiệm, có quan hệ thanh toán tốt, mở tài khoản và hoạt động thường xuyên tại BIDV
- Khách hàng cam kết hoàn trả số tiền BIDV đã chiết khấu tong trường hợp ngân hàng trả tiền từ chối thanh toán
- Thư yêu cầu thanh toán đề nghị chiết khấu truy đòi phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng (nếu có đăng ký kế toán trưởng)
- Chiết khấu khi nhận được điện chấp nhận thanh toán và/hoặc hối phiếu được ký hậu chấp nhận thanh toán vào ngày đáo hạn bởi ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận L/C đối với những bộ chứng từ hàng xuất trả chậm có thời hạn từ 60 đến 360 ngày.
- Lãi suất chiết khấu thường nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất cho vay ngoại tệ trong cùng thời kỳ
- Tỷ lệ chiết khấu thường nhỏ hơn 100% trị giá hoá đơn.
Bảng 2.4: Tình hình thanh toán L/C tại BIDV
Nhìn chung, số lượng L/C phát hành cũng như trị giá thanh toán qua các năm gần đây tuy có tăng nhưng tốc độ tăng còn chậm.
3. Tài trợ trên cơ sở cho vay vốn trực tiếp. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Để có thể được ngân hàng chấp nhận cho vay vốn thì doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng trong thời hạn cam kết
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi kèm theo phương án trả nợ khả thi phù hợp với quy định của pháp luật.
- Thực hiện đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ, hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và của BIDV
- BIDV có thể yêu cầu khách hàng phải có mức vốn nhất định để tham gia vào phương án/dự án xin vay vốn của mình.
Thời hạn cho vay tuỳ thuộc vào nhu cầu khách hàng và kết quả thẩm định của cán bộ tín dụng. Lãi suất cho vay được xác định dựa trên biểu lãi suất cho vay của BIDV. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà lãi suất sẽ được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải đáp ứng các yêu cầu về tài sản đảm bảo khoản vay. Doanh nghiệp có thể sử dụng chính tài sản hình thành từ vốn vay để cầm cố, thế chấp. Bảo lãnh của bên thứ ba cũng được coi như tài sản đảm bảo.
Hồ sơ vay vốn bao gồm hồ sơ pháp lý (các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của khách hàng như: giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp (nếu có), đăng ký mã số thuế,…); hồ sơ khoản vay (trong đó nêu rõ: mục đích sử dụng vốn vay, giải trình hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch trả nợ gốc, lãi…); hồ sơ tài sản đảm bảo khoản vay (là những giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sở hữu tài sản mà doanh nghiệp dự định dùng để cầm cố, thế chấp tại BIDV).
4. Tài trợ dưới hình thức bảo lãnh ngân hàng.
BIDV tiến hành bảo lãnh cho doanh nghiệp dưới một số hình thức chủ yếu như: phát hành bảo lãnh bằng thư/điện (telex/swift), phát hành bảo lãnh đối ứng và phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của các tổ chức tín dụng khác, thông báo bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh, ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu, lệnh phiếu, các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Các điều kiện bảo lãnh mà BIDV đưa ra cho khách hàng đó là:
- Điều kiện chung: Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Có đảm bảo hợp pháp cho bảo lãnh theo cầu của BIDV
- Điều kiện riêng:
Trường hợp bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh có thời hạn trung/dài hạn ngoài các quy định trên khách hàng cần có thêm các điều kiện như: có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng, bảo lãnh thanh toán với các tổ chức tín dụng, có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả khi đề nghị bảo lãnh vay vốn, đáp ứng các điều kiện đối với khách hàng vay vốn được quy định tại bản hướng dẫn của BIDV và quy chế cho vay đối với khách hàng…
Trường hợp phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm,… ngoài những điều kiện chung, BIDV sẽ xem xét mức độ tín nhiệm, khả năng tài chính, năng lực chuyên môn, biện pháp đảm bảo cho bảo lãnh hoặc ký quỹ để quyết định phát hành bảo lãnh.
Đối với bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu, khách hàng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật về thương phiếu.
Đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế nước ngoài phải được phép đầu tư kinh doanh hoặc tham gia đấu thầu tại Việt Nam theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
Riêng đối với khách hàng ký quỹ tương đương 100% trị giá bảo lãnh và các chi phí cần thiết, khách hàng chỉ cần đáp ứng điều kiện chung.
Trường hợp phát hành bảo lãnh nhận hàng, khách hàng cần gửi đến BIDV các giấy tờ cần thiết như: giấy đề nghị phát hành bảo lãnh nhận hàng, vận đơn bản sao, hoá đơn bản gốc hoặc bản sao, thông báo nhận hàng của hãng vận tải.
Hồ sơ bảo lãnh bao gồm: giấy đề nghị bảo lãnh, hồ sơ pháp lý về khách hàng, hồ sơ về tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính, hồ sơ đảm bảo bảo lãnh… Căn cứ vào đặc điểm của tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của khách hàng, BIDV và khách hàng sẽ thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm: ký quỹ hoặc cầm cố hay thế chấp tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba… Lệ phí bảo lãnh do hai bên thoả thuận, mức tối đa không quá 2%/năm tính trên số tiền còn đang được bảo lãnh, mức phí tối thiểu là 300.000 đồng.
5. Nghiệp vụ thuê mua tài chính.
Điều kiện cơ bản để ngân hàng tiến hành nghiệp vụ cho thuê tài chính đó là:
- Về mặt pháp lý của doanh nghiệp: phải có tư cách pháp nhân, có giấy phép thành lập, có tài khoản và con dấu riêng, hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
- Về mặt tài chính: có phương án thuê tài chính khả thi, có hiệu quả kinh tế và đảm bảo khả năng trả nợ thuê.
Tỷ lệ trả trước của bên đi thuê từ 20% tổng giá trị thiết bị trở lên. Mức thuê theo quy định hiện hành, giá trị tối đa có thể chấp nhận cho một doanh nghiệp thuê khoảng 22,5 tỷ đồng. Thời hạn thuê thường từ 1 đến 5 năm hoặc theo thoả thuận. Chi phí thuê bao gồm lãi suất và phí quản lý, đảm bảo tính cạnh tranh. Tiền gốc và lãi thuê sẽ được trả theo định kỳ hàng tháng hoặc theo quý hoặc theo thỏa thuận được quy định trong hợp đồng. Hồ sơ thuê tài chính bao gồm hồ sơ pháp lý (bao gồm một số giấy tờ như: quyết định thành lập doanh nghiệp, điều lệ hoạt động, đăng ký kinh doanh, các tài liệu liên quan đến tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính định kỳ…) và hồ sơ cho thuê tài chính của khách hàng (bao gồm: đơn xin thuê theo mẫu của Công ty cho thuê tài chính BIDV, phương án sản xuất kinh doanh do đơn vị tự xây dựng…)
Công ty cho thuê tài chính 1 (BLC 1) đã nhanh chóng nắm bắt và triển khai hoạt động cho thuê tài chính vốn còn hết sức mới mẻ đối với cả công ty và khách hàng. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho thuê bình quân qua các năm đạt 49%. Tới năm 2025, tổng dư nợ cho thuê đạt 936 tỷ VND, thị phần chiếm khoảng gần 10%. Cơ cấu khách hàng cho thuê của công ty được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế với tỷ trọng cho thuê khối ngoài quốc doanh chiếm trên 70%. Tài sản cho thuê đã mở rộng đa dạng hơn nhiều so với những năm đàu mới thành lập, và từng bước đã có sự lựa chọn về chủng loại thiết bị nhằm hạn chế rủi ro.
- Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu hoạt động chính của công ty BLC1
Năm 2025, công ty BLC2 đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch giao. Các chỉ tiêu tổng tài sản, dư nợ, lợi nhuận trích trước dự phòng rủi ro đều tăng trưởng khá so với năm 2024. Tổng tài sản năm 2025 đạt 455 tỷ VND, dư nợ cho thuê đạt 459,6 tỷ VND (chiếm khoảng 4,7% thị phần cho thuê tài chính). Đặc biệt chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, đạt 9,1 tỷ VND bằng 182% kế hoạch và tăng 106,8% so với năm 2024. Các chỉ tiêu ROA, ROE đều tăng so với năm 2024.
Hiện nay công ty đã cho thuê đối với khách hàng ở hầu hết các tỉnh miền Nam. Tuy nhiên, với mục tiêu ngày càng phát triển, nâng cao thị phần, công ty có kế hoạch mở thêm chi nhánh tại khu vực miền Trung trong thời gian tới để có thể cung cấp dịch vụ đến khách hàng ở khu vực này được thuận lợi.
Một số chỉ tiêu hoạt động chính của công ty BLC2 từ khi thành lập:
- Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu hoạt động của BLC2
III. Kết quả hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
1. Những kết quả đạt được trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV:
Quy mô và hiệu quả hoạt động này được đánh giá qua các chỉ tiêu: doanh số cho vay, dư nợ, doanh số thu nợ. Nhìn vào các chỉ tiêu này qua thời gian gần đây và trong năm 2025 ở trên cho thấy BIDV đã đạt được kết quả khả quan, chứng tỏ tình hình hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV là có hiệu quả.
Tổng dư nợ cho vay ròng đến 31/12/2025 đạt 93.453 tỷ VND, tăng trưởng 17,7% so với năm 2024. Dư nợ cho vay xuất nhập khẩu liên tục tăng trong giai đoạn 2021- 2025, tăng với tốc độ 36% năm 2025 chứng tỏ sự cố gắng nỗ lực của cán bộ tín dụng.
Về cơ cấu cho vay xuất nhập khẩu trong những năm gần đây đã có những thay đổi theo hướng tích cực. Nhằm tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, BIDV đã xác định danh mục tín dụng ưu tiên để đầu tư vào các ngành năng lượng, chế biến xuất khẩu thuỷ sản, chế biến xuất khẩu gỗ…Bám sát thế mạnh, đặc điểm kinh tế tại các vùng, địa phương, BIDV đã đầu tư, hỗ trợ có hiệu quả, thể hiện ở doanh số cho vay chế biến xuất khẩu thuỷ sản đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 4.150 tỷ VND, chế biến xuất khẩu gỗ 2.710 tỷ VND.
Về cơ cấu tín dụng, tỷ trọng tín dụng trên tổng tài sản giảm tư 67% năm 2024 xuống 59% năm 2025 được đánh giá là phù hợp với mục tiêu phát triển thể chế đã cam kết với WB
Về chất lượng tín dụng, được kiểm soát chặt chẽ có hệ thống nên tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu ngày càng giảm thấp và ổn định vào cuối năm, chất lượng tín dụng được nâng lên, khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng của BIDV đã chính xác và an toàn hơn. Tính tuân thủ, yêu cầu minh bạch nợ xấu, nợ quá hạn được BIDV tiếp tục đề cao nhằm phản ánh đúng thực chất nợ quá hạn, nợ xấu, trích đủ dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu để chất lượng tín dụng đạt mức tốt.
Một kết quả tất yếu nữa trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV là cơ cấu dư nợ theo VND và ngoại tệ cũng thay đổi đáng kể. Tỷ trọng cho vay VND năm 2024 chiếm 79% đến năm 2025 đã giảm xuống còn 77%, trong khi đó ngoại tệ tăng từ 21% năm 2024 lên 23% năm 2025. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Ngoài ra BIDV cũng đã thay đổi chủ trương chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước lớn sang hướng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, với những lĩnh vực khác nhau từ thương mại, sản xuất, dịch vụ tới đầu tư cơ sở hạ tầng, giữ vững mối quan hệ truyền thống với các khách hàng lớn có uy tín trước đây, đồng thời đẩy mạnh sang cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (quốc doanh và ngoài quốc doanh) và đã đạt những kết quả đáng khích lệ.
Trong giai đoạn 2020- 2025, mặc dù có nhiều khó khăn song BIDV luôn kinh doanh có lãi, trong đó thu nhập lớn từ hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Với những kết quả trên, BIDV sẽ là một trong những đơn vị giữ vị trí quan trọng trong hệ thống NHTM, giữ vững vị thế lớn mạnh của một ngân hàng có kinh nghiệm và uy tín trong lĩnh vực kinh doanh đối ngoại.
2. Một số vấn đề tồn tại trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV.
Thông qua những kết quả mà BIDV đã đạt được trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu trong thời gian gần đây có thể nhận thấy rằng tuy đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng tốc độ tăng trưởng của từng nghiệp vụ vẫn còn chậm. Quy mô của tài trợ xuất nhập khẩu chưa tương xứng với tiềm năng của BIDV- một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất nước ta. Tỷ trọng dư nợ tín dụng XNK/tổng dư nợ tín dụng của BIDV là thấp nhất trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh: trong năm 2025 tỷ trọng này ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đạt khoảng 73%. Tuy nhiên, thực tế là từ khi thành lập đến nay, Vietcombank luôn giữ vai trò chủ lực trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và là ngân hàng có uy tín cao trong lĩnh vực này ở nước ta. Tuy nhiên nếu so với các ngân hàng khác thì tỷ trọng 35% (năm 2025) ở BIDV vẫn là tương đối thấp.
Một hạn chế nữa trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu ở BIDV đó là tỷ lệ nợ quá hạn tín dụng xuất nhập khẩu vẫn còn khá cao và có xu hướng tăng lên, thể hiện chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu chưa được đảm bảo.
- Bảng 2.7: Tình hình nợ quá hạn của BIDV
Như vậy, có thể thấy nợ quá hạn tín dụng xuất nhập khẩu của BIDV trong những năm gần đây đã có giảm xuống nhờ những nỗ lực của ngân hàng trong công tác xử lý nợ. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những con số tuyệt đối, tỷ lệ nợ quá hạn tín dụng XNK/tổng nợ quá hạn lại đang có xu hướng tăng lên cùng chủ trương đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV.
Đó là những điểm yếu kém rõ rệt trong kết quả hoạt động tài trợ ngoại thương của ngân hàng trong những năm gần đây. Nguyên nhân của những tồn tại trên đây xuất phát từ nhiều phía và hết sức phức tạp, đặt ra yêu cầu đối với BIDV là cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, đóng góp tích cực hơn vào kết quả hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng
3. Nguyên nhân của những tồn tại trong kết quả hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
3.1 Nguyên nhân khách
3.1.1. Môi trường pháp lý:
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng rất cần một môi trường pháp lý hoàn chỉnh, song hiện nay ở Việt Nam môi trường pháp lý cho các hoạt động kinh doanh nói chung của nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ. Điều này đã gây ra những khó khăn, vướng mắc cho hoạt động kinh doanh của BIDV. Như đã đề cập ở trên, các hình thức tài trợ trên cơ sở thương phiếu rất phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, ở các ngân hàng thương mại của Việt Nam nói chung và ở BIDV nói riêng thì các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu vẫn chưa được áp dụng rộng rãi cho dù trong thời gian qua đã có nhiều văn bản pháp luật được ban hành liên quan đến thương phiếu như: Pháp lệnh thương phiếu 2018, Luật thương mại 2016, Luật ngân hàng Nhà nước 2016, Nghị định số 32/2020/NĐ- CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thương phiếu, Luật các tổ chức tín dụng 2016. Nguyên nhân là các văn bản trên còn quá nhiều điểm thiếu sót khiến cho thương phiếu vẫn chưa được sử dụng phổ biến. Hơn nữa, việc ban hành nhiều văn bản như thế song vẫn chưa thực sự thống nhất thực hiện giữa các Bộ, Ngành liên quan gây cản trở việc mở rộng hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Một hạn chế nữa trong môi trường pháp lý gây trở ngại cho sự phát triển của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng đó là quy định về giới hạn bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng trong mối quan hệ với nghiệp vụ cho vay. Khoản 1, Điều 79 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là các tổ chức tín dụng khác”. Đối với nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, khoản 2 Điều 79 quy định: “Mức bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với mỗi khách hàng không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định”. Tại Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2019/QĐ- NH14 ngày 25/08/2019 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì mức bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng được quy định ở mức là 15% so với vốn tự có của tổ chức tín dụng. Như vậy, hiện đang duy trì hai mức giới hạn tối đa đối với nghiệp vụ cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng. Nói cách khác, một khách hàng được ngân hàng vừa bảo lãnh và cho vay tối đa bằng 30% vốn tự có của ngân hàng. Tuy nhiên, do nghiệp vụ bảo lãnh và nghiệp vụ cho vay có mối quan hệ mật thiết với nhau mà việc quy định hai giới hạn này một cách độc lập đã làm nảy sinh bất cập trong quá trình triển khai thực hiện. Đó là khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, khách hàng phải tiến hành nhận nợ với ngân hàng dẫn đến tổng dư nợ do trả thay trong bảo lãnh và dư nợ tín dụng hiện tại của khách hàng có thể vượt quá 15% so với vốn tự có của ngân hàng, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 79 Luật các tổ chức tín dụng (mặc dù tổng mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng vẫn chưa vượt quá 30% theo quy định).[12] Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Nhằm giải quyết vấn đề này, trong Quy chế Bảo lãnh ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã có một quy định mang tính chất “tình thế” đó là: “Trường hợp tổ chức tín dụng phải trả thay cho khách hàng dẫn đến tổng dư nợ cho vay và dư nợ do trả thay vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng phải ngừng ngay việc cho vay và bảo lãnh đối với khách hàng đó, đồng thời thu hồi nợ để đảm bảo tổng mức dư nợ cho vay đối với khách hàng theo quy định”. Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh trong thực tế là trường hợp ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng, trong đó có quy định cho vay giải ngân làm nhiều lần và khi ngân hàng không được cho vay, bảo lãnh mới đối với khách hàng thì các khoản vốn chưa được giải ngân có được tiếp tục giải ngân hay không? Và việc ngân hàng dừng việc giải ngân theo quy định của Quy chế Bảo lãnh Ngân hàng có vi phạm quy định về quan hệ hợp đồng kinh tế hay không?
Sau khi Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng 2016 được ban hành, Ngân hàng Nhà nước đã soạn thảo, trình Chính phủ ban hành 30 Nghị định và ban hành theo thẩm quyền hàng trăm quyết định, thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định của hai luật trên và các quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng của hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng, sự xuất hiện của nhiều dịch vụ ngân hàng mới, pháp luật về ngân hàng đã bộc lộ một số điểm bất cập, không phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của các loại hình dịch vụ ngân hàng và yêu cầu của hội nhập. Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung liên tục nhưng khung pháp lý vẫn chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng, chưa giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập nảy sinh; chưa thực sự tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp hỗ trợ các ngân hàng đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý, giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Ví dụ như cơ chế quản lý và cấp phép cho các dịch vụ ngân hàng chưa phù hợp với sự thay đổi của thị trường dịch vụ ngân hàng đang được tự do hoá theo lộ trình cam kết. Hiện tại cơ chế quản lý và cấp phép đối với việc cung cấp dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo hai cách:
- Quy định về loại hình dịch vụ được phép cung cấp trong giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng
- Cho phép cung cấp dịch vụ ngân hàng cụ thể theo quy định tại các quy chế về từng nghiệp vụ ngân hàng cụ thể.
Cơ chế này tỏ ra không phù hợp với tính năng động trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các ngân hàng và yêu cầu quản lý chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước. Bất cập ở chỗ: giấy phép thành lập và hoạt động của ngân hàng không thể cập nhật các loại hình dịch vụ mà ngân hàng được phép thực hiện theo các quy chế nghiệp vụ cụ thể được ban hành sau khi giấy phép được cấp. Từ đó dẫn đến tình trạng là các ngân hàng vẫn được thực hiện cả các nghiệp vụ không được quy định trong giấy phép do vậy gây khó khăn cho ngân hàng khi triển khai các dịch vụ không được quy định trong giấy phép và làm giảm hiệu lực pháp lý của giấy phép. Cơ chế quản lý hiện hành cũng đòi hỏi các ngân hàng phải xin phép Ngân hàng Nhà nước từng lần khi muốn cung cấp một dịch vụ mới. Điều này cũng làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Bên cạnh đó còn một hạn chế nữa là các văn bản quy định về công tác xuất nhập khẩu, thuế quan, hải quan của Việt Nam chưa ổn định, thay đổi liên tục đã gián tiếp làm ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Ví dụ như, L/C nhập hàng đã được mở, doanh nghiệp đã xây dựng phương án kinh doanh và ngân hàng đã thẩm định trên cơ sở biểu thuế ban hành, khả năng tiêu thụ theo mức thuế đó nhưng bất ngờ Nhà nước thay đổi thuế nhập khẩu mặt hàng đó (giả sử tăng lên) thì rõ ràng khi hàng về, bán theo mức giá đã định sẽ bị lỗ vì thuế tăng mà bán giá cao thì sẽ không tiêu thụ được. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của khách hàng và trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả khoản vay của ngân hàng. Khi hàng về luôn có tình trạng khách hàng đề nghị ngân hàng cố gắng từ chối hoặc trì hoãn thanh toán khiến cho mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng xấu đi nếu ngân hàng không làm theo yêu cầu và ảnh hưởng đến uy tín, gây rủi ro cho ngân hàng nếu làm theo ý của khách hàng chẳng hạn như có thể bị các ngân hàng nước ngoài kiện…
3.1.2 Môi trường kinh doanh: Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tài chính, giữa các ngân hàng trong và ngoài nước đã và đang gây ra không ít khó khăn cho hoạt động của BIDV. Sự mở rộng cả về số lượng và chất lượng của các ngân hàng như sự ra đời của một loạt ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài,… cũng như sự phát triển của các loại hình dịch vụ ngân hàng khiến cho tính cạnh tranh càng thêm gay gắt. Các ngân hàng đã và đang thực thi nhiều biện pháp nhằm thu hút khách hàng, thúc đẩy tăng trưởng như đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, hiện đại hoá ngân hàng…Các ngân hàng đều nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu trong bối cảnh đất nước đang hội nhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương. Rõ ràng, với một quốc gia đang phát triển với tốc độ nhanh như Việt Nam thì hoạt động tài trợ ngoại thương là một lĩnh vực hứa hẹn nhiều tiềm năng. Chính vì vậy, không chỉ riêng BIDV chú trọng phát triển hoạt động này mà nhiều ngân hàng khác cũng đang tập trung đa dạng hoá các loại hình tài trợ xuất nhập khẩu.
Bên cạnh sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các ngân hàng trong nước, điều đáng lo ngại hơn là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong một cuộc khảo sát mới đây của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra con số bất ngờ: 42% doanh nghiệp và 50% dân chúng được hỏi đều trả lời rằng họ sẽ lựa chọn vay ở các ngân hàng nước ngoài hơn là các ngân hàng trong nước khi chúng ta mở cửa thị trường tài chính. Lý do là các ngân hàng này có tính chuyên nghiệp cao hơn, thủ tục đơn giản hơn, dịch vụ tốt hơn và mức độ tin cậy cao hơn. Vấn đề này rất đáng lo ngại và cần sự quan tâm đúng mức của các ngân hàng trong nước nói chung, của BIDV nói riêng.
BIDV mới triển khai hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu từ năm 2014 trở lại đây do vậy hoạt động này ở BIDV còn tương đối mới mẻ, ngân hàng còn nhiều bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm. Trong suốt 37 năm kể từ khi thành lập vào năm 1957 đến năm 2013 các hoạt động của BIDV hết sức nghèo nàn, chưa phát huy hết tiềm năng của một ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu cả nước. Hoạt động của BIDV chủ yếu tập trung vào việc cấp phát cho vay, quản lý vốn kiến thiết cơ bản thuộc Ngân sách cho các dự án. Chỉ từ năm 2014 trở lại đây, BIDV mới có nhiều khởi sắc trong hoạt động kinh doanh của mình. BIDV nỗ lực không ngừng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước thông qua chương trình kích cầu, chương trình xuất khẩu, chương trình phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu dịch vụ,… tăng thêm nhiều tiện ích, sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Cũng trong giai đoạn phát triển này, BIDV đã nhận thức được vai trò của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được coi là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực này với nhiều lợi thế cạnh tranh hơn rất nhiều so với các ngân hàng khác, kể cả BIDV. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đã được ngân hàng Ngoại thương triển khai ngay từ những ngày đầu thành lập và được coi là lĩnh vực hoạt động then chốt. Chính vì vậy, khi nghĩ đến cho vay để phát triển ngoại thương người ta thường nghĩ ngay đến Ngân hàng Ngoại thương.
Một vấn đề quan trọng khác là đặc thù của hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng rất lớn của thị trường và môi trường kinh tế trong và ngoài nước. Trong thời gian gần đây tình hình tỷ giá ngoại tệ, giá vàng, giá bất động sản có nhiều biến động mạnh, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đưa ra các quyết định tín dụng. Trong khi đó ở Việt Nam chưa có một thị trường ngoại hối hoàn chỉnh, chỉ mới ở dạng sơ khai là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng diễn ra theo một chiều, khi ngoại tệ dư thừa thì ngân hàng nào cũng chào bán, đến khi khan hiếm thì chào mua… dẫn đến tình trạng khi tỷ giá biến động hoặc tập trung nhiều nghiệp vụ thanh toán thì nguồn ngoại tệ rất hạn chế. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường chưa phát triển, chỉ chủ yếu dừng ở giao dịch mua bán giao ngay, giao dịch kỳ hạn rất hạn chế nên gây khó khăn cho ngân hàng trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh và tránh rủi ro tỷ giá.
3.1.3 Hạn chế về nguồn thông tin tín dụng.
Một hệ thống thông tin tín dụng (CIC) đã được Ngân hàng Nhà nước thành lập để phục vụ việc thu thập và cung cấp thông tin về các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam cho các tổ chức tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. CIC thực hiện việc thu thập, phân tích, lưu trữ, xếp loại doanh nghiệp trên toàn quốc đồng thời thay mặt Ngân hàng Nhà nước quan hệ với các cơ quan khác như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Tổng cục thuế… Tuy nhiên hiện nay hiệu quả hoạt động của CIC còn thấp, số liệu cung cấp thiếu tính cập nhật, thông tin còn chưa toàn diện, kịp thời và hệ thống.
Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại của nước ta còn rất hạn chế trong phối hợp hoạt động. Chính từ đó đã tạo khe hở cho nhiều doanh nghiệp lợi dụng vay vốn từ nhiều ngân hàng nhưng các ngân hàng lại không nắm được tình trạng đó. Kết quả là các khách hàng này với vị thế là “chủ thể” của rủi ro, hoàn toàn có thể chuyển sự rủi ro đó sang phía các ngân hàng.
3.1.4 Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
- Sự thiếu kinh nghiệm của các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã đưa ra các số liệu thống kê cho thấy có tới 70% giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo về nghiệp vụ ngoại thương trong khi 80- 95% số doanh nghiệp đó tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc uỷ thác xuất nhập khẩu. Do sự thiếu hiểu biết, chưa có kinh nghiệm trong quan hệ thương mại với bạn hàng nước ngoài, nhiều khi ký hợp đồng với các điều khoản bất lợi dẫn đến hậu quả là không lập được bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C hoặc nếu xuất trình bộ chứng từ tới ngân hàng xin chiết khấu thì bộ chứng từ lại không hoàn hảo, rủi ro không được thanh toán là rất cao và ngân hàng không chấp nhận chiết khấu. Ngoài ra, do sự chưa hoàn thiện của hệ thống luật pháp mà ngân hàng rất ngại chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất vì sau đó nếu xảy ra tranh chấp sẽ không có luật điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và nhà xuất khẩu. Trong trường hợp nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ, BIDV thay vì chiết khấu bộ chứng từ sẽ chuyển sang cho vay tạm ứng đối với những khách hàng có L/C thông báo qua BIDV, thông thường khối lượng tài trợ là khoảng 70-80% trị giá bộ chứng từ. BIDV chỉ chiết khấu đối với những L/C xuất khẩu những mặt hàng dễ đạt tiêu chuẩn quốc tế sang những thị trường quen thuộc. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Một vấn đề nữa đó là các doanh nghiệp Việt Nam do thiếu thông tin, thiếu mối quan hệ với đối tác nước ngoài nên không mua được hàng trực tiếp từ ngưới sản xuất hoặc nhà phân phối lớn mà phải ký hợp đồng với trung gian, mua bán vòng vèo, giá mua bị đẩy lên cao, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và tất nhiên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
- Năng lực vay vốn của doanh nghiệp.
Một vấn đề vướng mắc của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam là vốn điều lệ của họ rất thấp. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng thương mại không được phép cho vay quá 15% vốn tự có của ngân hàng trong khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cho các hoạt động kinh doanh của mình (trong đó gồm cả kinh doanh xuất nhập khẩu) lại chiếm 70- 80% tổng số vốn cần thiết.
Xét về phía các doanh nghiệp Nhà nước, vốn lưu động được giao không đáng kể, tài sản cố định tập trung lớn nhất là đất đai nhưng chủ yếu là dưới hình thức thuê, do đó theo quy định của Luật đất đai năm 2022 thì chỉ được thế chấp cầm cố giá trị tài sản trên đất. Các tài sản trên đất của các doanh nghiệp Nhà nước nếu không là các máy móc nhà xưởng đã cũ thì cũng hình thành từ vốn vay ngân hàng đối với các tài sản mới đầu tư. Do vậy, đến nay hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước có quan hệ tín dụng xuất nhập khẩu với BIDV không đảm bảo được chỉ tiêu về tài sản đảm bảo dẫn đến việc không thể tăng thêm quy mô tín dụng.
Xét về phía các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì hầu hết đều có tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn lớn. Tuy nhiên, đó chỉ là sự so sánh về tỷ lệ còn nếu là số tuyệt đối thì ngay cả những công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn lớn nhất hiện nay cũng chỉ có số vốn chủ sở hữu khiêm tốn, do đó khi muốn thực hiện các thương vụ lớn thì vấn đề tài sản đảm bảo nợ vay luôn là một bài toán khó đối với cả ngân hàng và doanh nghiệp.
Mức vốn của các doanh nghiệp khá thấp và nhỏ lẻ. Hiện nay vốn trung bình của các doanh nghiệp Nhà nước mới đạt 55 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi đó số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng vẫn chiếm tới 40%. Một lượng lớn vốn hỗ trợ từ Nhà nước lại phân bổ không đều, tập trung chủ yếu vào các tổng công ty Nhà nước.
3.2 Nguyên nhân chủ
3.2.1 Nguồn vốn của BIDV còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: vốn tự có (vốn điều lệ) và vốn đi vay. Vốn điều lệ của ngân hàng là cơ sở để bù đắp rủi ro, là điều kiện để đảm bảo an toàn, tạo uy tín cho ngân hàng và lòng tin của khách hàng. Để có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu thì đòi hỏi ngân hàng phải có một nguồn vốn dồi dào. Tuy nhiên, vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và BIDV nói riêng còn nhỏ bé làm hạn chế khả năng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Theo thông lệ quốc tế để đánh giá khả năng an toàn trong hoạt động của ngân hàng thì tỷ trọng vốn tự có so với tổng tài sản có tối thiểu là 8%.
Trong thời gian qua, đặc biệt là năm 2025, BIDV đã chú trọng thực thi các chính sách lành mạnh hoá tài chính và củng cố bảng tổng kết tài sản, tăng cường tính minh bạch trong các báo cáo tài chính chính thức. Tuy nhiên, một số chỉ số tài chính cơ bản còn chưa đạt tới chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng. Tính đến ngày 31/12/2025 tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng theo VAS là 7.626 tỷ VND tăng 14,4% so với năm 2024, theo chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS là 4.501 tỷ VND tăng 30% so với năm 2024.[5]
Vào tháng 5/2025, BIDV đã chính thức được Moody’s – tổ chức định hạng quốc tế hàng đầu trên thế giới xếp hạng ở các mức: E- triển vọng tích cực (xếp hạng năng lực tài chính độc lập – BFRS), Ba1/B1 (xếp hạng tiền gửi nôi tệ/ ngoại tệ) và Ba1/Ba2 (xếp hạng nhà phát hành nội tệ/ ngoại tệ) cho năm tài chính 2024. Đây đều là các mức xếp hạng kịch trần quốc gia. Với sự kiện này, BIDV trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam tham gia tổ chức định hạng toàn cầu, qua đó khẳng định cam kết minh bạch hoá tài chính và áp dụng các chuẩn mực quốc tế.
Đến tháng 4/2026, Moody’s đã nâng mức xếp hạng năng lực tài chính độc lập của BIDV từ E lên E+ với triển vọng ổn định. Việc nâng mức xếp hạng này thể hiện năng lực tài chính của BIDV đang được cải thiện, đặc biệt là khả năng nâng cao vốn và việc giảm đáng kể nợ xấu và chiến lược kinh doanh tạo sự khác biệt so với các ngân hàng trong ngành.
- Bảng 2.8: Hệ số an toàn vốn (CAR)
Trong năm 2025, tỷ lệ an toàn vốn CAR của BIDV được cải thiện đáng kể tuy nhiên mức tăng này còn quá nhỏ và tỷ lệ 5,9% vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu 8%.
3.2.2 Cơ cấu khách hàng còn chưa hợp lý.
Hiện nay, hầu hết dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV tập trung vào nhóm khách hàng là các doanh nghiệp Nhà nước. Dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Đây là một thực trạng chung không chỉ ở BIDV mà còn ở rất nhiều ngân hàng thương mại khác. Các ngân hàng thương mại Nhà nước chuyển hướng sang cho vay nhiều vào các Tổng công ty Nhà nước mà thực lực tài chính rất yếu kém, với mức dư nợ tới 35- 40% vào nhóm khách hàng đang báo động “đỏ” về chất lượng tín dụng. Trong đó điển hình là các tổng công ty thuộc ngành xây dựng, giao thông vận tải mà theo báo cáo của Bộ tài chính có tới trên 90% khoản nợ nói trên thuộc vốn vay của các ngân hàng thương mại. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại có thể sẽ bị cuốn theo hội chứng đầu tư vốn vào các tập đoàn kinh tế mà về bản chất, ai cũng biết phần lớn sự ra đời của các tập đoàn này là theo các quyết định hành chính. Trong khi không ít doanh nghiệp dân doanh đã có những bước tiến triển mạnh mẽ, làm ăn thật sự bài bản nhưng vẫn khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng. Hơn thế, ngân hàng cũng đã bỏ qua một lượng lớn khách hàng trong khu vực kinh tế tư nhân đang chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Chính tình trạng trên đã mang lại cho BIDV nói riêng và hệ thống ngân hàng thương mại nói chung một rủi ro lớn về chất lượng tín dụng, tăng tỷ lệ nợ xấu, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nếu không có những biện pháp kịp thời.
3.2.3 Các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV còn chưa phong phú, chưa đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Nghiệp vụ Factoring đã và đang được áp dụng ở nhiều quốc gia có nền tài chính tiền tệ phát triển. Năm 2020 số lượng công ty Factoring ở Mỹ là 262, ở Anh là 96, ở Thái Lan là 20. Năm 2022 toàn cầu đã đạt 712 tỷ euro doanh số nghiệp vụ bao thanh toán trong nước và 48 tỷ euro doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu. Trong khi đó ở Việt Nam Factoring mới chỉ được nhắc đến mà chưa được triển khai cho dù ngày 6/9/2023 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 1096/2023/QĐ- NHNN về nghiệp vụ bao thanh toán.
Trên thực tế ở Việt Nam đang tiềm tàng một nhu cầu rất lớn đối với Factoring quốc tế: môi trường kinh doanh tương đối ổn định, các nguồn tài trợ truyền thống chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, đặc biệt là còn để ngỏ khu vực kinh tế tư nhân. Hơn nữa, những lợi ích mà Factoring mang lại là rất lớn. Đối với ngân hàng nếu triển khai nghiệp vụ Factoring sẽ thu được nguồn lợi nhuận đáng kể qua phí dịch vụ và lãi suất, đa dạng hóa loại hình dịch vụ, sử dụng tốt hơn nguồn vốn huy động được. Đối với doanh nghiệp Việt Nam thì Factoring quốc tế mang lại những lợi ích to lớn:
Factoring nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu vì các nhà nhập khẩu thường ưa thích phương thức ghi sổ hơn do không làm họ tốn kém chi phí, thời gian và nỗ lực như các phương thức khác đặc biệt là tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, rủi ro của phương thức ghi sổ với nhà xuất khẩu là rất lớn. Chính vì vậy mà Factoring quốc tế vừa thoả mãn yêu cầu giảm chi phí, thời gian, công sức của nhà nhập khẩu như sử dụng phương thức ghi sổ vừa đáp ứng nhu cầu đảm bảo thanh toán của nhà xuất khẩu.
Factoring bảo hiểm rủi ro cho các khoản phải thu của doanh nghiệp, sẽ không còn tình trạng doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, giảm bớt tình trạng nợ xấu.
Factoring quốc tế đảm bảo luồng tiền mặt cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ- những doanh nghiệp đang phát triển với số lượng ngày càng lớn ở nước ta đồng thời đây cũng là những đối tượng gặp khó khăn trong tiếp cận với các nguồn cung cấp vốn truyền thống của ngân hàng.
Factoring đảm trách thu hồi các khoản phải thu cho doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ tiện ích trọn gói khác như quản lý sổ cái bán hàng, quản lý tín dụng…từ đó doanh nghiệp có thể tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực, vật lực để tập trung nâng cao doanh thu, hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đồng thời doanh nghiệp cũng giữ được mối quan hệ tốt hơn với bạn hàng vì không phải trực tiếp đi đòi nợ.
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy Factoring quốc tế rất cần thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam vốn ít lại thiếu kinh nghiệm trong hoạt động ngoại thương. Do đó nếu triển khai loại hình tài trợ này chắc chắn BIDV sẽ thu hút được một lượng lớn khách hàng, nâng cao uy tín của mình với khách hàng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
3.2.4 Hoạt động Marketing sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu chưa hiệu quả.
Trong điều kiện hiện nay, khi các ngân hàng thương mại ra sức phát triển để hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề cạnh tranh để phát triển ngày càng gay gắt. Trên cùng một thị trường, một địa bàn hoạt động, các ngân hàng đều đưa ra các loại hình sản phẩm tài trợ giống nhau, buộc các ngân hàng phải hết sức chú ý đến công tác marketing.
Công tác marketing của BIDV chưa được chú trọng đúng mức. Các hoạt động marketing chưa được tiến hành có tổ chức và hệ thống. Chưa có sự phối hợp hài hoà giữa các phòng ban trong nội bộ ngân hàng để đưa ra chính sách phù hợp, hiệu quả. Chính vì vậy mà hoạt động marketing còn mang tính thụ động, các biện pháp kích thích khách hàng sử dụng dịch vụ còn nghèo nàn.
BIDV, một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất Việt Nam, liên tục được các ngân hàng thương mại của Mỹ đánh giá là ngân hàng tốt nhất Việt Nam và mới đây thương hiệu BIDV là thương hiệu đầu tiên của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đăng ký bảo hộ tại Mỹ. Vì vậy, BIDV cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động marketing để mở rộng, nâng cao uy tín cho thương hiệu của mình để không những các doanh nghiệp trong nước mà cả các doanh nghiệp nước ngoài cũng biết đến BIDV.
3.2.5 Công tác phòng ngừa rủi ro, kiểm tra kiểm soát nội bộ chưa được chú trọng đúng mức.
Trong quá trình hội nhập và toàn càu hoá, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang đem lại rất nhiều cơ hội mới cho các định chế tài chính. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, rủi ro cũng gia tăng không chỉ về mặt số lượng mà còn cả về tính đa dạng và phức tạp. Do đó, nhận biết, đo lường và quản lý rủi ro đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong công tác quản trị điều hành đối với ngân hàng. Với nhiều năm kinh nghiệm hoạt động, vai trò của một hệ thống quản lý rủi ro tốt trong ngân hàng được BIDV đánh giá cao và luôn hướng tới mục tiêu xây dựng, hoàn thiện. Văn hoá rủi ro cũng ngày càng được nhận thức rõ ở mọi cấp độ trong toàn bộ hệ thống BIDV.
Trong khuôn khổ Đề án cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại, BIDV được tiếp nhận dự án hỗ trợ kỹ thuật từ nguồn viện trợ của quỹ ASEM thông qua ngân hàng thế giới WB. Theo nội dung hợp đồng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, công ty tư vấn IFG Development Initiatives Ltd.(Anh) đã thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật cơ cấu lại BIDV trên bốn phần lớn trong đó quản lý rủi ro là một phần quan trọng. Theo kết quả tư vấn giai đoạn một, một mô hình quản lý rủi ro trong hoạt động của BIDV đã được khuyến cáo thành lập theo hướng thông lệ, có tính đến điều kiện thực tế của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong năm 2023, công tác quản trị điều hành của BIDV được gắn với một nhiệm vụ quan trọng là chuyển đổi mô hình tổ chức để đáp ứng yêu cầu của dự án hiện đại hoá cũng như thực hiện kiến nghị của chuyên gia tư vấn. Theo mô hình chuyển đổi, tháng 8 năm 2023, Ban quản lý rủi ro của BIDV đã chính thức được thành lập. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Ban quản lý rủi ro có chức năng cơ bản là: tham mưu và trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, thực hiện nhiệm vụ quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trong hệ thống BIDV. Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh từ việc bên đi vay không trả được nợ sau khi được cấp các khoản tín dụng (cả trong và ngoài bảng cân đối kế toán). Rủi ro tín dụng có tỷ trọng lớn nhất, có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro thị trường là loại rủi ro dẫn đến tổn thất do có thay đổi không lường trước được trong giá cả tài chính bao gồm lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá trái phiếu, vốn sở hữu và hàng hoá. Rủi ro hoạt động là những rủi ro phát sinh do yếu tố con người hoặc do sơ hở trong quy trình tác nghiệp, sự yếu kém trong hệ thống thông tin, hệ thống kiểm soát nội bộ, hoặc do những yếu tố khách quan (cơ chế, chính sách của Nhà nước). Tuy nhiên, do mới được thành lập, dù đã nỗ lực hết mình xây dựng chính sách quản lý rủi ro, xây dựng các quy trình, phương pháp và thủ tục quản lý rủi ro để đảm bảo thực hiện được việc nhận dạng, đo lường, đánh giá và đề xuất giải pháp quản lý, phòng ngừa nhưng thời gian đi vào hoạt động còn quá ngắn ngủi để Ban quản lý rủi ro có thể đạt được kết quả mong muốn.
Theo tổng kết, các ngân hàng thương mại hiện đang phải đối mặt với 5 rủi ro lớn. Đó là nợ xấu, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro lãi suất tăng, kỳ vọng tăng trưởng GDP ở mức cao và rủi ro trong quá trình hội nhập. Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề: muốn có lợi nhuận phải chấp nhận rủi ro, nếu không chấp nhận rủi ro thì sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ- loại hàng hoá đặc biệt nhạy cảm với rủi ro, tính dễ lây lan rủi ro giữa các ngân hàng thương mại với nhau, khách hàng của ngân hàng rất đông và chỉ cần một khách hàng gặp rủi ro sẽ gây tác động xấu tới hình ảnh của ngân hàng. Do đó, muốn tồn tại và phát triển, BIDV cũng như các ngân hàng thương mại khác phải có đủ năng lực quản trị rủi ro.
Ngoài ra, vấn đề kiểm tra kiểm soát nội bộ cũng chưa được thực hiện tốt. Tổng giám đốc BIDV đã ra chỉ thị về tăng cường công tác kiểm tra giám sát và xác định trách nhiệm thực hiện các quy định, quy trình nghiệp vụ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên trong thời gian qua, Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ chỉ tập trung vào hoạt động tín dụng khối xây lắp mà chưa chú trọng đúng mức đến hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu.
3.2.6 Trình độ của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế.
Để thực hiện nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu thì buộc đội ngũ cán bộ của ngân hàng không chỉ có kiến thức về tín dụng, thẩm định, tài chính mà còn có kiến thức đầy đủ về luật thương mại quốc tế, các thông lệ tập quán trong ngoại thương cũng như vốn ngoại ngữ cần thiết để giao dịch. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV hầu như chưa đáp ứng được các yêu cầu này. Kiến thức về pháp luật còn yếu kém dẫn đến tình trạng khi có tranh chấp phát sinh thì không biết giải quyết như thế nào. Điều đó cũng dẫn tới những hạn chế nhất định khi tiến hành tư vấn cho khách hàng. Đồng thời do trình độ ngoại ngữ còn yếu kém nên dẫn đến những khó khăn trong khi giao dịch với khách hàng nước ngoài.
Do nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu gắn liền với sự phức tạp của hoạt động ngoại thương nên đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có một trình độ hiểu biết toàn diện, có nhiều kinh nghiệm thực tế. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
3.2.7 Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chưa đạt hiệu quả
Trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cần có sự phối hợp nhịp nhàng của ba bộ phận là bộ phận tín dụng, bộ phận thanh toán quốc tế và bộ phận kinh doanh đối ngoại. Nếu ngân hàng biết cách phối hợp hoạt động của ba bộ phận này thì chắc chắn hiệu quả của tài trợ xuất nhập khẩu sẽ tăng lên rất nhiều. Nhưng thực trạng ở BIDV là trong tài trợ ngoại thương các phòng ban này hoạt động gần như độc lập với nhau, không tạo thành một quy trình khép kín. Tài trợ ngoại thương chỉ được coi là nhiệm vụ chính của phòng tín dụng. Từ đó dẫn đến tình trạng nhiều khi khách hàng xin tài trợ ở BIDV nhưng lại tiến hành thanh toán ở một ngân hàng khác hay khách hàng chỉ sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế ở BIDV. Cũng có trường hợp khách hàng xin tài trợ đồng thời thanh toán tại BIDV nhưng do hoạt động còn rời rạc, nhiều công đoạn rườm rà nên gây mất nhiều thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, từ đó mà độ tín nhiệm với các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
3.2.8 Vấn đề trang bị kỹ thuật và công nghệ ngân hàng.
Đến hết năm 2025, BIDV đã triển khai thành công dự án hiện đại hoá tại trên 100 chi nhánh cấp 1 và cấp 2. Có trên 80% khối lượng giao dịch đã được thực hiện qua dự án hiện đại hoá. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại được áp dụng triển khai như homebanking, phonebanking, smart account… Với sự thành công của dự án hiện đại hoá giai đoạn I do Ngân hàng Thế giới tài trợ, BIDV đã từng bước thực sự chuyển mình trong công nghệ ngân hàng, đặc biệt là việc xây dựng hoàn thiện khung kiến trúc tổng thể công nghệ ngân hàng hiện đại. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của hiện đại hóa ngân hàng và với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì đó mới chỉ là bước khởi đầu, nhiều dịch vụ ngân hàng hiện đại mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu mà chưa được áp dụng.
Điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình phân tích, quản lý, điều hành hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng BIDV
