Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Tổng quan về PGD Sao Đỏ

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Ngày 10/5/2020, Chi nhánh NHTMCP Ngoại thương Hải Dương đã chính thức khai trương PGD này. Đây là PGD đầu tiên của chi nhánh tại địa bàn thị xã Chí Linh. Việc mở rộng vào thời điểm đó được đánh giá là một bước đi phù hợp và có tính chiến lược của VCB Hải Dương bởi Chí Linh lúc đó có tới gần 100 dự án thu hút đầu tư nhất trong tỉnh. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường tín dụng sôi động trong tương lai gần. Hơn nữa, với hệ thống giao thông thuận tiện, có nhiều tuyến đường quốc lộ đi qua, đường sắt cao tốc Phả Lại – Cái Lân đang xây dựng, nhiều đô thị và khu công nghiệp thi nhau mọc lên cũng như sự hình thành của cụm du lịch sinh thái quanh sân golf Ngôi sao Chí Linh. Trong tương lai không xa, Chí Linh sẽ trở thành một trung tâm kinh tế với sự phát triển mạnh của du lịch, dịch vụ và thương mại.

Cùng với những điều kiện khách quan sẵn có khá thuận lợi, PGD đã và đang tiến hành thực hiện nhiều loại hình nghiệp vụ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. PGD luôn triển khai nhiều ưu đãi về lãi suất, chế độ hưởng lợi,… nhằm thu hút vốn từ khách hàng _những chủ thể thừa vốn và cho vay đối với những chủ thể cần vốn, qua đó phần nào giúp thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển chung của nền kinh tế trên địa bàn Sao Đỏ nói riêng cũng như toàn thị xã Chí Linh nói chung. Cùng với đó, các loại hình dịch vụ đang khá phổ biến hiện nay cũng được đẩy mạnh và đưa vào sử dụng, đem lại sự tiện lợi cho khách hàng như: Internet Banking, SMS Banking, Bank plus, các loại thẻ (ATM, Visa, Master Card,…), thuê ngăn két,…

Đến nay, sau gần 6 năm hoạt động, PGD đã có một bước chuyển biến mới khi di chuyển vị trí cũng như mở rộng quy mô mặt bằng của trụ sở hoạt động. Từ một vị trí nhỏ bé, hiện nay, cán bộ và nhân viên trong PGD đã được làm việc trong một tòa nhà cao tầng với đầy đủ trang thiết bị, đáp ứng những yêu cầu khắt khe của công việc, xứng đáng với tầm vóc là PGD của một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam_ NHTMCP Ngoại thương (VCB). Trụ sở hoạt động này nằm trên một địa thế được đánh giá là thuận lợi nhất (khi so sánh với địa điểm của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn), nằm ngay trung tâm phường Sao Đỏ, nơi tập trung nhà hàng, khách sạn, hàng quán,… và là nơi giao nhau của nhiều trục đường, càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Và sau đây là một vài thông tin cơ bản về PGD Sao Đỏ:

  • Tên PGD: Sao Đỏ (thuộc Chi nhánh Hải Dương, NHTMCP Ngoại thương)
  • Trưởng phòng: Đặng Hoàng Lương
  • Địa chỉ: Số 119, Nguyễn Trãi – Phường Sao Đỏ – Chí Linh – Hải Dương
  • Các số liệu cơ bản về vốn:

Vốn điều lệ, vốn pháp định: Vì PGD Sao Đỏ trực thuộc chi nhánh NHTMCP Ngoại thương Hải Dương nên không có vốn điều lệ và vốn pháp định cụ thể.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức

  • Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của PGD

Nhìn sơ qua, có thể thấy đây là một cơ cấu tổ chức khá đơn giản, gọn nhẹ với 5 bộ phận chính. Tuy nhiên, xét trên phạm vi tìm hiểu, khoá luận chỉ xin đưa ra nhiệm vụ, chức năng của bộ phận tín dụng. Cụ thể như sau:

  • Thực hiện các nghiệp vụ của giao dịch viên.
  • Thành viên tổ quản lý ATM, theo dõi, quản lý các máy ATM do phòng quản lý; là đầu mối xử lý các thắc mắc, đơn từ khiếu nại liên quan đến nghiệp vụ thẻ; lập sổ theo dõi thẻ của khách hàng (trả thẻ cho khách khi bị nuốt, khách hàng không rút được tiền,…).
  • Theo dõi, ghép sổ phụ, trả sổ phụ cho khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp, khách hàng cá nhân có nhu cầu; vào sổ theo dõi giao nhận với khách hàng, đề nghị khách hàng ký nhận chứng từ đầy đủ.
  • Thực hiện trả lương qua tài khoản cho khách hàng.
  • Thực hiện một số công việc thuộc lĩnh vực công tác đoàn thể.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác do lãnh đạo phòng phân công.
  • Thanh toán séc du lịch, séc nhờ thu, thẻ tín dụng Visa, Dinner, Amex,…
  • Thường xuyên liên lạc, nắm bắt tình hình hoạt động các đơn vị chấp nhận thẻ trên địa bàn nhằm hỗ trợ, hướng dẫn và phối hợp với cán bộ các phòng chức năng của Chi nhánh để xử lý.
  • Theo dõi thẻ phát hành, quản lý hồ sơ và lập các loại báo cáo nghiệp vụ thẻ; đôn đốc thực hiện thủ tục phát hành, giao nhận; quản lý và trả thẻ cho khách hàng.
  • In và chấm đối chiếu điện Tracer cho phòng vào cuối ngày.
  • Quản lý PIN thẻ của khách hàng.

2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh chung Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Trải qua gần 6 năm trên chặng đường hình thành và phát triển, PGD đã ngày càng lớn mạnh cả về hoạt động kinh doanh lẫn quy mô cơ sở hạ tầng. Mặt bằng hoạt động rộng lớn, trang thiết bị hiện đại được lắp đặt giúp nhân viên có đủ mọi điều kiện thuận lợi để làm việc, giúp cho tiến độ hoàn thành công việc trở nên nhanh hơn và mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh cũng ngày càng được nâng cao. Mọi nghiệp vụ hầu hết đều diễn ra khá trôi chảy và tốt đẹp, tạo lòng tin nơi khách hàng. Hàng năm, số lượng khách hàng đến với PGD là không nhỏ. PGD có được thành công này không chỉ bởi địa thế thuận lợi, có nền tảng tiếng tăm, uy tín vững chắc (là PGD của Chi nhánh trực thuộc NHTMCP Ngoại thương) mà còn bởi thái độ và phong cách phục vụ chuyên nghiệp, tận tình từ phía nhân viên cũng như hệ thống các dịch vụ mà PGD triển khai hầu hết đều mang lại sự tiện dụng cho khách hàng, khiến họ ưa chuộng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của PGD thay vì sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng khác.

  • Từ khi thành lập đến nay, PGD Sao Đỏ đã tiến hành các nghiệp vụ cũng như các dịch vụ như sau:

Huy động vốn: PGD thực hiện huy động vốn từ mọi thành phần trong nền kinh tế, mức lãi suất được điều chỉnh linh hoạt trong từng thời kì phát triển, phù hợp với từng thời hạn huy động như 1 năm, 2 năm, 5 năm,…

Cho vay: PGD tiến hành cho vay cá nhân cũng như các loại hình doanh nghiệp trên cơ sở phân tích, thẩm định đối tượng vay vốn, mục đích vay vốn, khả năng trả nợ,… Mức lãi suất và thời hạn cho vay cũng rất đa dạng và linh hoạt, tuỳ thuộc vào thoả thuận và nhu cầu thực tế của khách hàng.

Phát hành các loại thẻ ghi nợ trong nước và quốc tế, thẻ tín dụng quốc tế: Trong thời kì hội nhập như hiện nay, các loại thẻ này trở nên khá tiện ích, hỗ trợ khách hàng trong các giao dịch tín dụng trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với quy mô kinh doanh trên địa bàn thị xã, số lượng khách hàng sử dụng các loại thẻ này vẫn ở mức hạn chế.

Các dịch vụ trực tuyến qua hệ thống ATM : truy vấn thông tin và thanh toán hoá đơn mua hàng, thanh toán vé máy bay, trả lương, nạp tiền điện thoại,… Các dịch vụ này chỉ áp dụng khi các đơn vị cung ứng dịch vụ cho khách hàng có tài khoản tại hệ thống của ngân hàng mà khách hàng đang sử dụng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Phát triển các dịch vụ như SMS Banking (truy vấn thông tin, tài khoản, lãi suất, tỉ giá qua điện thoại di động), Internet Banking (truy vấn thông tin trên Internet), dịch vụ đầu tư tự động (trích chuyển tiền tự động trên tài khoản). Mặc dù mới được triển khai cách đây gần 2 năm nhưng các dịch vụ này đã đem lại nguồn lợi không nhỏ cho PGD.

Dịch vụ cho thuê ngăn két: Khi sử dụng dịch vụ này, khách hàng có thể cất giữ hồ sơ, tài liệu quan trọng cũng như các tài sản có giá trị với độ an toàn khá Tuỳ theo thời gian thuê, PGD sẽ đưa ra các chính sách ưu đãi về mức phí dịch vụ.

Tuy còn gặp nhiều khó khăn về cơ cấu nhân sự (ít nhân viên, mỗi nhân viên thuộc từng bộ phận phải kiêm nhiều nhiệm vụ khác nhau ngoài nhiệm vụ chính của bộ phận mình phải đảm nhiệm), tồn tại sự chênh lệch giữa số lượng nhân viên thực hiện nghiệp vụ và số lượng các nghiệp vụ (ít người, nhiều việc) nhưng bằng sức trẻ, nhiệt huyết và lòng yêu nghề, những nhân viên trong PGD luôn cố gắng nỗ lực hết mình để hoàn thành tốt công việc được giao, đem lại nguồn lợi lớn nhất có thể cho tổ chức, vận hành tốt bộ máy hoạt động kinh doanh.

Bên cạnh những đánh giá chung đã trình bày ở trên, qua quá trình đi sâu vào tìm hiểu, có thể nhận thấy tình hình hoạt động của PGD Sao Đỏ cũng bao hàm trong đó cả những ưu điểm cũng như những tồn tại cần khắc phục. Và để có cái nhìn trực quan hơn, bảng số liệu sau sẽ phần nào nói lên điều đó.

  • Bảng 2.1. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, có thể dễ dàng nhận thấy hoạt động kinh doanh của PGD Sao Đỏ mang hai ưu điểm nổi bật, đó chính là sự tăng dần qua các năm của tổng mức thu nhập và mức lợi nhuận có sức tăng vượt bậc vào năm 2025. Thứ nhất, về tổng mức thu nhập, từ năm 2023 – 2024, chỉ tiêu này đã tăng 7.300.750.000 đồng, tương ứng 112,67% và từ năm 2024 – 2025, chỉ tiêu này tiếp tục tăng 15.498.478.000 đồng, tương ứng 112,46%. Điều này đã phần nào chứng minh được sự hiệu quả trong công tác triển khai và vận hành các hoạt động cho vay, cung cấp dịch vụ cũng như kinh doanh ngoại hối. Thứ hai, về mức lợi nhuận, trong hai năm từ 2023 – 2024, chỉ tiêu này luôn ở mức âm nhưng đến năm 2025, chỉ tiêu này đã tăng vọt, cho thấy tình hình kinh doanh đã đi vào ổn định, các chính sách đổi mới và điều hành mà ban lãnh đạo PGD đề ra đã đạt những thành công bước đầu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, PGD vẫn tồn tại một vấn đề lớn, đó chính là khả năng sử dụng nguồn vốn vay chưa thật sự hiệu quả, điều này được thể hiện rất rõ khi so sánh lượng thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi hàng năm. Từ năm 2023 – 2025, mức chi phí phải bỏ ra để trả lãi luôn lớn hơn mức thu nhập từ lãi lần lượt là 9.781.000.000 đồng, 12.859.000.000 đồng và 6.646.000.000 đồng. Và đây cũng chính là vấn đề sẽ được đề cập, nghiên cứu cũng như tìm ra hướng giải quyết trong phần sau của khoá luận này.

2.2. Thực trạng tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

2.2.1. Quá trình triển khai, thực hiện tín dụng cá nhân trung – dài hạn

Được thành lập từ năm 2020, với điểm tựa vững chắc là một trong những nhánh nhỏ thuộc cây đại thụ VCB_ ngân hàng được thành lập lâu đời với hiệu quả kinh doanh luôn được đánh giá cao, PGD Sao Đỏ cũng có những bước tiến đáng kể trong công cuộc chiếm lĩnh thị phần với những sản phẩm, dịch vụ tiện ích, hiện đại, dần chiếm được lòng tin nơi khách hàng. Tuy nhiên, đứng giữa tình trạng cạnh tranh mạnh mẽ, PGD này cũng gặp không ít khó khăn. Đến tháng 9 năm 2022, Ban lãnh đạo VCB đã xác định “Hệ thống ngân hàng bán lẻ là một bộ phận của chiến lược phát triển ngân hàng”. Nắm bắt được chủ trương này, ban lãnh đạo PGD cũng ra sức xúc tiến việc phát triển hệ thống bán lẻ, mà một trong những trọng điểm được lưu tâm là nghiệp vụ tín dụng cá nhân trung – dài hạn. Tuy nhiên, cho đến nay, PGD mới chỉ đưa ra được một vài sản phẩm tín dụng cá nhân khác nhau như: cho vay mua nhà dự án, cho vay mua ôtô,… Điều này cho thấy sự thiếu đa dạng trong danh mục sản phẩm tín dụng cá nhân trung – dài hạn của PGD, hoàn toàn chưa xứng tầm với vị thế cũng như tiềm lực hiện có của đơn vị.

2.2.2. Các sản phẩm tín dụng cá nhân trung – dài hạn

Trong tiến trình đẩy mạnh tín dụng cá nhân, PGD đã và đang cố gắng nghiên cứu để đưa tới khách hàng những sản phẩm mới, tiện ích hơn nữa, đáp ứng nhu cầu trong trung – dài hạn. Cụ thể, PGD Sao Đỏ hiện tại đang triển khai 3 dòng sản phẩm chủ chốt (đối tượng sử dụng không giới hạn).

2.2.2.1. Cho vay mua nhà dự án

Hiện nay, sản phẩm này đang được triển khai với nhiều lợi ích vượt trội như:

  • Giá trị khoản vay lên tới 70% giá trị ngôi nhà nếu được đảm bảo bằng chính ngôi nhà mua và 100% giá trị ngôi nhà nếu được đảm bảo bằng tài sản khác Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.
  • Trả nợ theo hình thức trả góp trong 20 năm, lãi vay tính theo dư nợ thực tế
  • Nhiều ưu đãi khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác kèm với sản phẩm vay trả góp mua nhà
  • Khả năng kiểm soát tức thời hoạt động rút, trả nợ vay tại VCB bằng dịch vụ VCB-iB@nking hoặc VCB SMS-B@nking

2.2.2.2. Cho vay mua ô tô

Sản phẩm này mang những tính năng như sau:

  • Lãi suất hấp dẫn
  • Nhiều phương thức trả tiền vay để lựa chọn
  • Thời gian thẩm định khoản vay tối đa 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ

2.2.2.3. Cho vay cá nhân khác

Khi xét trong trung – dài hạn, đây là sản phẩm tích hợp cung cấp vốn cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh, việc nhà nông khi khách hàng đang thiếu nguồn tài chính hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng có giá trị lớn. Loại hình này có những đặc điểm:

  • Các sản phẩm cho vay được thiết kế dựa trên nhu cầu của khách hàng
  • Thủ tục cho vay nhanh chóng, thuận tiện
  • Lãi suất ưu đãi
  • Nhiều ưu đãi khác khi sử dụng các dịch vụ đi kèm

2.2.3. Lãi suất cho vay trung – dài hạn Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Mức lãi suất cho vay của PGD cũng giống với các ngân hàng khác, đều được quy định cụ thể ở từng thời kì, phù hợp với từng loại sản phẩm tín dụng. Thời gian qua, mức lãi suất này thường dao động trong khoảng từ 11% – 13%.

Phương pháp tính lãi vay tương ứng với từng hình thức hoàn trả nợ vay như sau:

  • Hình thức hoàn trả một lần: Với hình thức này, tiền gốc và lãi sẽ được trả toàn bộ một lần khi đến hạn.
  • Hình thức trả góp: Với hình thức này, tiền gốc sẽ được trả trong nhiều lần với khoảng thời gian giữa các lần thường đều nhau, tiền lãi trả theo tháng và tính dựa theo số dư nợ thực tế giảm dần.

Ngoài ra, các quy định khác về mức lãi suất phạt khi quá hạn, mức phí khi trả trước hạn,… đều tuân theo những quy định của pháp luật.

2.2.4. Quy trình tín dụng cá nhân tại PGD Sao Đỏ

  • Sơ đồ 2.2. Quy trình tín dụng cá nhân tại PGD Sao Đỏ

Như phần lớn các ngân hàng khác, PGD Sao Đỏ cũng tiến hành cho vay dựa trên quy trình tín dụng gồm 5 bước như đã trình bày ở Chương 1. Và trong thực tế, PGD Sao Đỏ đã thực hiện quy trình này cụ thể như sau:

Bước 1: Lập hồ sơ tín dụng. Ở bước này, cán bộ tín dụng sẽ tiến hành hướng dẫn khách hàng đăng kí thông tin về khách hàng, các điều kiện vay vốn, tư vấn việc thiết lập hồ sơ vay đối với các khách hàng có quan hệ tín dụng lần đầu và kiểm tra, hướng dẫn khách hàng hoàn thành hồ sơ đối với các khách hàng đã từng có quan hệ tín dụng. Một bộ hồ sơ tín dụng đầy đủ bao gồm:

  • Giấy đề nghị được vay vốn: theo mẫu của PGD Sao Đỏ
  • Hồ sơ pháp lí: chứng minh thư, sổ hộ khẩu, giấy đăng kí kết hôn (nếu có),…
  • Hồ sơ thuyết minh vay vốn: nêu rõ mục đích vay.
  • Hồ sơ chứng minh thu nhập: hợp đồng lao động, xác nhận lương,…
  • Hồ sơ tài sản đảm bảo: giấy tờ nhà, đất,…

Sau khi tiếp nhận và xem xét, nếu bộ hồ sơ tín dụng của khách hàng đảm bảo đầy đủ về số lượng cũng như đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của các loại giấy tờ trên, cán bộ tín dụng sẽ chuyển sang bước Thẩm định tín dụng. Nếu bộ hồ sơ còn thiếu sót hay không đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ, cán bộ tín dụng sẽ thông báo để khách hàng tiếp tục hoàn thiện, chỉnh sửa hồ sơ.

  • Bước 2: Thẩm định tín dụng. Với bước này, do điều kiện có hạn nên PGD chỉ triển khai áp dụng phương pháp định tính 5C: Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Character (Tư cách của khách hàng): Cán bộ tín dụng sẽ xem xét mục đích vay vốn của khách hàng theo các tiêu chí: hợp pháp và xác thực. Tính hợp pháp là việc các mục đích vay vốn không thuộc những phạm trù bị nhà nước cấm theo quy định của pháp luật như: buôn bán hàng cấm, kinh doanh các ngành nghề bị cấm,… Tính xác thực là việc khách hàng đảm bảo số tiền vay vốn sẽ được thực hiện theo đúng mục đích đã khai trong hồ sơ. Nếu mục đích vay vốn vi phạm dù chỉ một trong hai tiêu chí, bộ hồ sơ tín dụng của khách hàng sẽ bị trả lại. Bên cạnh đó, cán bộ cũng tiến hành kiểm tra tính chính xác của các thông tin mà khách hàng đã cung cấp thông qua Trung tâm Thông tin Tín dụng, cơ quan quản lí khách hàng xin vay,… để phán đoán được tính trung thực và sự trách nhiệm của khách hàng.

Capacity (Năng lực của khách hàng): Cán bộ tín dụng sẽ xét năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự thông qua việc thu nhập thông tin từ cơ quan công an (có tiền án, tiền sự không), người thân (có bị mắc các bệnh về thần kinh không, có nghiện ma tuý hay các chất kích thích độc hại không),… Nếu khách hàng đảm bảo được cả 2 tiêu chí đó thì ngân hàng mới cân nhắc vấn đề cho vay bởi chỉ như vậy, khách hàng mới có đủ khả năng đưa ra những quyết định và chịu trách nhiệm với những hành vi của mình.

Capital (Vốn riêng của khách hàng): Cán bộ tín dụng sẽ thẩm định tính ổn định của nghề nghiệp, mức lương, thưởng hàng tháng và các cách thức tăng thu nhập của khách hàng: kinh doanh buôn bán nhỏ, đầu tư dự án,… Để xác minh được những thông tin này, các cán bộ tín dụng thường tiến hành theo dõi khách hàng trong thời gian tối thiểu là 3 ngày và tối đa là 1 tháng. Việc thẩm định này giúp cán bộ tín dụng phán đoán được khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng.

Collateral (Tài sản đảm bảo nợ vay): Cán bộ tín dụng sẽ tìm hiểu về người bảo lãnh (xét năng lực của người đó và phương tiện được sử dụng để bảo lãnh: uy tín nếu người bảo lãnh là khách hàng lâu năm của PGD, tài sản của người bảo lãnh như cổ phần, giấy tờ nhà, đất,…), tính pháp lí về sự bảo lãnh của bên thứ ba (việc bảo lãnh đảm bảo đúng theo tiến trình, thủ tục đã quy định) hay về giá trị, tính thanh khoản của tài sản mà khách hàng đưa đến nhằm đảm bảo cho khoản vay. Tài sản đảm bảo chỉ được chấp nhận khi có giá trị lớn hơn hoặc bằng 120% giá trị của khoản vay. Thường ngân hàng chỉ làm điều này với các khách hàng lần đầu giao dịch, khách hàng không có uy tín hoặc uy tín không đủ, khoản cho vay quá lớn hay khi xét thấy khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng không tốt. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Conditions (Điều kiện trả nợ): Ngoài xem xét tình hình hiện tại, ngân hàng còn tìm kiếm các thông tin có thể tác động đến thu nhập của khách hàng: nghỉ việc, chuyển công tác, xu hướng phát triển kinh tế toàn thị xã trong tương lai,… Những thông tin này có thể được lấy từ tình hình thực tế của khách hàng, các bài báo, trang web,… hay từ nhận định chủ quan của các cán bộ tín dụng.

Bước 3: Quyết định cấp tín dụng. Ở giai đoạn này, Trưởng Bộ phận tín dụng sẽ tổng hợp tất cả các thông tin đã thu thập từ bước thẩm định cũng như tham khảo thêm các thông tin mới cập nhật về khách hàng để đưa ra quyết định chính xác nhất và nộp cho Trưởng (Phó) PGD. Khi đó, ban lãnh đạo PGD sẽ bàn bạc và nộp lên Chi nhánh VCB Hải Dương sau khi đã thống nhất. Tại đây, Giám đốc Chi nhánh là người kí quyết định cuối cùng. Thời hạn ra quyết định thường là 5 ngày. Nếu từ chối cho vay vốn, ngân hàng sẽ gửi văn bản thông báo và nêu rõ lí do. Nếu đồng ý cấp vốn, ngân hàng sẽ tiến hành kí hợp đồng tín dụng bao gồm những thông tin cần thiết như: mục đích vay vốn, số tiền vay, mức lãi suất, thời hạn vay, các chính sách ưu đãi, mức lãi phạt sẽ áp dụng tuỳ vào số ngày chậm trả nợ,…

Bước 4: Giải ngân. Tại bước này, cán bộ tín dụng sẽ lập tờ trình báo cáo Trưởng PGD xin giải ngân. Sau khi Trưởng PGD thông qua, cán bộ tín dụng sẽ qua bộ phận ngân quỹ để hoàn thành những thủ tục theo quy định và tiến hành chuyển tiền cho khách hàng đúng như thoả thuận. Việc giải ngân thường được thực hiện bằng chuyển khoản và tiến hành nhiều lần theo kì hạn đã định.

Bước 5: Giám sát, thu nợ và thanh lí tín dụng. Trong giai đoạn này, ngân hàng sẽ theo dõi sự chấp hành hợp đồng đã kí kết của khách hàng theo định kì 3 tháng/lần. Cán bộ tín dụng sẽ xem xét các khía cạnh: việc sử dụng khoản vay đúng mục đích đã thoả thuận, sự ổn định về thu nhập của khách hàng, tiến độ trả nợ, giá trị và tính thanh khoản của tài sản đảm bảo,… Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện khách hàng không thực hiện các thoả thuận được quy định rõ trong hợp đồng như sử dụng tiền vay sai mục đích, giá trị tài sản đảm bảo có nguy cơ giảm mạnh,… thì tuỳ theo mức độ nghiêm trọng, ngân hàng sẽ đưa ra những quyết định như ngừng giải ngân hay thu hồi nợ trước hạn. Khi đến hạn thanh toán, nếu khách hàng hoàn trả đầy đủ gốc, lãi, hợp đồng sẽ được thanh lí. Trong trường hợp khách hàng không thể thanh toán hoặc trả chậm (quá 15 ngày, 30 ngày,…), ngân hàng sẽ có những biện pháp phù hợp: gia hạn khoản nợ, thanh lí tài sản đảm bảo,…

2.2.5. Tình hình tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

2.2.5.1. Doanh số cho vay

Doanh số cho vay là khoản tín dụng mà ngân hàng cho vay xét trên một khoảng thời gian nhất định (cụ thể, ở đây xét theo năm). Và qua tìm hiểu, doanh số cho vay trung – dài hạn của PGD Sao Đỏ trong 3 năm từ 2023 – 2025 được thể hiện trong bảng sau:

  • Bảng 2.2. Doanh số cho vay trung – dài hạn theo đối tượng từ 2023 – 2025

Từ bảng này, có thể thấy, doanh số cho vay cá nhân tăng qua các năm với tốc độ khá nhanh. Có được sự tăng trưởng mạnh mẽ như vậy là do nhiều nhân tố cùng tác động. Đầu tiên, có thể nói, trong 3 năm trở lại đây, nền kinh tế của Chí Linh nhìn chung vẫn tương đối ổn định, mức sống của người dân có xu hướng tăng nên việc chi tiêu cũng tăng theo. Đặc biệt trong năm 2025, các nhu cầu phát sinh về vốn lớn có xu hướng tăng mạnh như: sửa nhà, xây nhà, mua nhà,… Tiếp nữa, đặt trong điều kiện toàn thị xã đang chuyển mình và trên đà phát triển, nhiều cơ hội kinh doanh được mở ra như: kinh doanh ăn uống, quần áo và giầy dép, trung tâm chăm sóc sắc đẹp, phòng khám răng – hàm – mặt, dịch vụ in ấn, dịch thuật,… nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó, người dân nơi đây cũng đã quen việc giao dịch với ngân hàng, không còn cảm giác ngại ngùng, e dè bởi ngân hàng đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của họ, giúp họ có vốn để đảm bảo những nhu cầu cần thiết. Chính những điều này đã giúp cho tín dụng cá nhân của PGD tiếp tục phát triển. Cuối cùng, một nhân tố quan trọng nữa tác động đến mức doanh số cho vay là những chính sách ưu đãi được đưa ra đã đem lại nhiều lợi ích hơn cho khách hàng, từ đó thu hút khách hàng sử dụng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

  • Đồ thị 2.1. Tỉ trọng doanh số cho vay cá nhân trung – dài hạn theo đối tượng từ 2023 – 2025

Nhìn vào đồ thị, đầu tiên, dễ nhận thấy mức doanh số cho vay đối với cá nhân vào năm 2023 có tỉ trọng nhỏ trên tổng doanh số cho vay (nói cách khác, tỉ trọng doanh số cho vay đối với cá nhân nhỏ hơn đối với doanh nghiệp). Về điều này, có thể hiểu được khi phân tích điều kiện hoàn cảnh năm đó. Từ khi thành lập đến năm 2023, PGD đã trải qua 3 năm trên bước đường kinh doanh. Đây là một thời gian không thể gọi là ngắn nhưng cũng không thể gọi là dài đối với việc trưởng thành, có vị thế và chỗ đứng trong lòng khách hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân. Hơn nữa, với điều kiện hoàn cảnh như vậy, PGD lại phải đối mặt với khá nhiều đối thủ cạnh tranh trong vị thế của một ngân hàng còn non trẻ. Đó là các ngân hàng đã thành lập và phát triển trong thời gian dài, ít nhiều có uy tín đối với khách hàng, có nguồn vốn lớn, có thị phần nhất định,… như Chi nhánh Agribank Sao Đỏ, Chi nhánh BIDV Sao Đỏ,… Bên cạnh đó, có thể thấy, với những khoản vay trung – dài hạn, các doanh nghiệp luôn là đối tượng có nhu cầu nhiều hơn bởi họ cần khá nhiều vốn và thời gian hoàn trả nợ đủ dài. So sánh giữa những quy định khó khăn khi vay vốn tại các ngân hàng khác và những ưu đãi đến từ một PGD mới, họ tất nhiên sẽ chớp lấy cơ hội này. Vì những lí do đó nên mức doanh số cho vay đối với cá nhân trong năm 2023 nhỏ hơn mức doanh số cho vay đối với doanh nghiệp.

Thứ hai, trong 2 năm từ 2024 – 2025, mức doanh số cho vay đối với cá nhân đã có chuyển biến rõ rệt và luôn chiếm tỉ trọng cao trên tổng doanh số cho vay. Có được sức tăng trưởng như vậy là nhờ sự tổng hoà của nhiều yếu tố. Trước tiên, với vị thế là PGD trực thuộc một chi nhánh của ngân hàng lớn như VCB, ban lãnh đạo PGD đã đề ra những biện pháp nhằm khắc phục tình thế bất lợi hiện tại. Nhờ những nỗ lực trong việc tăng cường chính sách ưu đãi cũng như tung ra các sản phẩm tín dụng cá nhân mới, PGD đã và đang bước từng bước trên con đường tạo dựng uy tín và chiếm lĩnh thị phần. Những chuyển biến tích cực này đã tạo nên sự thu hút nơi khách hàng cá nhân, khiến những người có nhu cầu không còn e dè trong quyết định vay vốn tại PGD, làm cho tỉ trọng mức doanh số cho vay cá nhân vượt lên trên mức tỉ trọng doanh số cho vay doanh nghiệp.

Điều này rất dễ hiểu bởi cá nhân, hộ gia đình chiếm phần lớn bộ phận dân cư. Tuy nhu cầu vay vốn của từng đối tượng không nhiều nhưng với lượng nhu cầu vay vốn thực tế khá lớn trên toàn thị xã thì tổng giá trị nguồn vốn cho vay lại không nhỏ. Trong khi đó, các doanh nghiệp mặc dù nhu cầu vay lượng vốn lớn nhưng số lượng các doanh nghiệp thực tế muốn đi vay từ ngân hàng còn hạn chế nên tổng giá trị vay vốn không cao, chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng doanh số cho vay của PGD. Điều này lại một lần nữa chứng minh được vai trò của tín dụng cá nhân trong hoạt động kinh doanh cũng như việc PGD quyết định hướng đến phát triển tín dụng cá nhân là rất đúng đắn và có cơ sở. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Và để hiểu rõ hơn về tình hình cho vay của PGD, cần xét chi tiết việc cho vay theo từng thời hạn, từng loại hình đảm bảo, từng loại phương thức hoàn trả nợ và từng mục đích sử dụng nhằm tìm thấy nguồn tạo ra lượng doanh thu chủ yếu, từ đó chú trọng hơn trong việc thúc đẩy mảng nghiệp vụ này.

Theo thời hạn, với phạm vi nghiên cứu của khoá luận, ở đây chỉ xét tín dụng cá nhân trong trung – dài hạn. Mức doanh số cho vay cụ thể đối với từng loại thời hạn tín dụng sẽ được thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.3. Doanh số cho vay theo thời hạn vay từ 2023 – 2025
  • Đồ thị 2.2. Tỉ trọng doanh số cho vay theo thời hạn vay từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, có thể thấy doanh số cho vay trung – dài hạn đều có xu hướng tăng. Nhận định này đã được thể hiện rất rõ ràng thông qua những con số khi so sánh sự chênh lệch cả về giá trị lẫn tỉ lệ phần trăm của mức doanh số cho vay theo thời hạn giữa các năm. Về điều này, thông thường, khi nhắc đến đối tượng khách hàng cá nhân, loại hình tín dụng hay được sử dụng chính là cho vay ngắn hạn bởi số tiền cần vay không nhiều. Nhưng nay, ngoài việc cần vốn để đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ, cá nhân hay hộ gia đình cũng có những nhu cầu khác thuận theo sự phát triển của xã hội (mức độ mong muốn nâng cao chất lượng cuộc sống tăng dần lên). Bên cạnh nhu cầu ăn mặc, học hành, mua bán, đảm bảo sự tồn tại, họ còn muốn có xe ô tô đẹp, có nhà cao cửa rộng, tăng thu nhập từ đầu tư nhà đất, chứng khoán,… Đó là những mong muốn cần lượng vốn lớn, việc tiếp tục vay với thời gian ngắn hạn hoàn toàn không khả thi. Vì vậy, họ nghĩ đến chuyển sang hình thức vay với thời gian trung hoặc dài hạn. Điều này đã làm cho mức doanh số cho vay trung – dài hạn của PGD tăng theo từng năm.

Tiếp theo, căn cứ vào bảng và đồ thị, một điểm nữa cũng dễ dàng nhận ra là doanh số cho vay trung hạn luôn nhỏ hơn doanh số cho vay dài hạn. Hay nói cách khác, tỉ trọng mức doanh số cho vay trung hạn luôn nhỏ hơn tỉ trọng mức doanh số cho vay dài hạn. Và qua các năm, điều này càng được biểu hiện một cách cụ thể, rõ nét hơn. Nó xuất phát từ chính nhu cầu và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng cá nhân. Thật vậy, khi phát sinh những nhu cầu cấp bách mà nguồn lực tài chính không đủ, khách hàng sẽ nghĩ đến ngân hàng như một kênh cho vay vốn hàng đầu với mức lãi suất ưu đãi. Và tuỳ thuộc vào giá trị khoản vốn cần vay, khách hàng sẽ lựa chọn vay theo thời hạn trung hay dài hạn. Đối với hình thức vay dài hạn, mặc dù lãi suất có thể bằng hoặc cao hơn so với khi vay trung hạn nhưng thời gian hoàn trả nợ dài nên thường được nhiều khách hàng lựa chọn. Bởi người dân nơi đây thu nhập chủ yếu từ lương hoặc buôn bán nhỏ lẻ, các khoản thu nhập ngoài luồng không nhiều trong khi các khoản cần chi tiêu hàng tháng khá lớn. Vì vậy, việc lựa chọn hình thức vay với thời hạn trả nợ dài được ưa chuộng hơn. Hơn nữa, với hình thức vay dài hạn, PGD thường có những chính sách ưu đãi hơn như: nếu trả trước hạn từ hai tháng đến nửa năm, khách hàng có thể được giảm 0,5% mức lãi suất cho vay; nếu trả chậm dưới 2 tuần, khách hàng sẽ chưa bị tính mức lãi phạt 150% trên phần gốc vay;… Đây cũng là một trong những lí do khiến mức doanh số cho vay dài hạn luôn lớn hơn mức doanh số cho vay trung hạn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Theo từng loại đảm bảo, PGD tiến hành cho vay dưới cả 2 hình thức: đảm bảo và không đảm bảo. Với từng loại hình sẽ có sự khác nhau về số lượng khoản vay, giá trị khoản vay, thời hạn vay, lãi suất cho vay,… Và để tìm hiểu rõ hơn về tình hình doanh số cho vay theo từng loại hình đảm bảo, đồ thị sau sẽ phần nào giúp hiểu thêm về điều đó.

  • Đồ thị 2.3. Doanh số cho vay theo loại hình đảm bảo từ 2023 – 2025
  • Đồ thị 2.4. Tỉ trọng doanh số cho vay theo loại hình đảm bảo từ 2023 – 2025

Thứ nhất, doanh số cho vay cá nhân có đảm bảo luôn tăng dần theo các năm (Cụ thể, từ năm 2023 – 2024, doanh số cho vay tăng 704.000.000 đồng, tương ứng 94,88 % và từ năm 2024 – 2025, doanh số cho vay tăng 829.000.000 đồng, tương ứng 264,8%) và chiếm tỉ trọng cao trong tổng mức doanh số cho vay. Như đã phân tích ở trên, mức doanh số cho vay của PGD có xu hướng tăng dần do những điều kiện chủ quan và khách quan. Điều kiện chủ quan là sự phát triển đa dạng các loại hình tín dụng, tiềm lực tài chính dồi dào (nguồn thu từ huy động vốn lớn). Điều kiện khách quan là sự phát triển nền kinh tế chung trên địa bàn thị xã đã mở ra những cơ hội làm ăn kinh doanh hay những nhu cầu phát sinh vốn vay tăng (mở quán ăn, mua đất, xây nhà,…), người dân đã quen việc giao dịch với ngân hàng và có mức sống tương đối khá,… Tất cả những nhân tố này đã làm tăng nhu cầu vay vốn của khách hàng, tương xứng khả năng cung ứng vốn của PGD, mang lại hiệu quả trong kinh doanh rõ rệt qua từng năm. Từ đó, có thể thấy, mức doanh số cho vay với các khoản vay có đảm bảo cũng tăng lên là điều dễ hiểu. Bởi với các khoản vay trung – dài hạn, việc có sự đảm bảo (tài sản đảm bảo, sự bảo lãnh) sẽ làm tăng sự yên tâm nơi PGD, tác động đến quyết định cho vay, khiến lượng giá trị PGD cho vay ngày càng lớn. Và cũng chính việc tạo cảm giác yên tâm, hạn chế rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản nên các khoản vay có đảm bảo thường đem lại mức doanh số lớn hơn so với các khoản vay không đảm bảo, làm cho doanh số cho vay có đảm bảo luôn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng mức doanh số cho vay.

Thứ hai, doanh số cho vay với các khoản cho vay không đảm bảo cũng tăng dần trong 3 năm từ 2023 – 2025 nhưng lại luôn chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng doanh số cho vay. Cụ thể, từ năm 2023 đến 2024, mức doanh số này có xu hướng tăng và tăng 446.000.000 đồng, tương ứng 214,42%. Và từ năm 2024 đến 2025, mức doanh số này vẫn tiếp tục tăng và tăng một lượng là 846.000.000 đồng, tương ứng 129,36%. Điều này có được do trong thời gian đó, các cơ hội kinh doanh liên tiếp đến với người dân nơi đây. Họ mở các cửa hàng quần áo, giày dép, quán ăn sáng nhỏ,… với mặt bằng sẵn có. Bên cạnh đó, các sản phẩm công nghệ mới lần lượt ra đời vào thời điểm này cũng thu hút sự quan tâm của người dân. Họ muốn được tiếp cận với cái mới, với sự tiên tiến và hiện đại như các dòng sản phẩm: Tivi LCD SHARP, Tủ lạnh HITACHI, Tủ lạnh LG,… có các mức giá dao động từ 25.000.000 đồng đến 85.000.000 đồng. Đối với những người nông dân cũng vậy, họ muốn cơ giới hoá công việc đồng áng thường ngày nên đã đầu tư các loại máy móc thiết bị như máy gặt lúa, máy cấy lúa, máy tuốt lúa,… Để thoả mãn tất cả những nhu cầu ấy, họ tìm đến ngân hàng như một kênh vay vốn hiệu quả. Các khoản đầu tư này thường có giá trị không quá lớn nên ít cần đến sự đảm bảo. Đó là lí do vì sao mức doanh số cho vay không có đảm bảo lại luôn tăng qua các năm. Tuy nhiên, cho vay không đảm bảo, đó là một phương án khá mạo hiểm, nó có thể đem lại rất nhiều rủi ro không thể lường trước: khách hàng không trả được nợ, ngân hàng mất khả năng thanh khoản,… Bởi vậy, PGD cũng cố gắng hạn chế cho vay với hình thức này nên mức doanh số cho vay dù tăng nhưng luôn chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng mức doanh số cho vay.

Theo từng phương thức hoàn trả nợ vay, PGD đang áp dụng cả 2 phương thức: hoàn trả một lần và trả góp. Với 2 phương thức này, doanh số cho vay tại PGD cũng mang những giá trị, đặc điểm riêng như sau:

  • Bảng 2.4. Doanh số cho vay theo phương thức hoàn trả nợ vay từ 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Từ bảng số liệu trên, điều nhận định đầu tiên chính là dù với phương thức hoàn trả nợ vay như thế nào thì mức doanh số cho vay vẫn luôn tăng dần qua các năm với mức tăng và tốc độ tăng khác nhau. Thứ hai, khi so sánh giữa 2 mức doanh số cho vay của 2 phương thức hoàn trả nợ vay, có thể thấy mức doanh số cho vay theo phương thức trả góp ở cả 3 năm đều lớn hơn so với phương thức hoàn trả một lần và luôn chiếm tỉ trọng cao trên tổng mức doanh số cho vay. Cụ thể:

Với phương thức trả góp: mức doanh số cho vay có tốc độ tăng khá mạnh mẽ, nhất là từ năm 2024 đến năm 2025 (tăng 272,23%). Và mức doanh số cho vay này luôn chiếm tỉ trọng cao trên tổng mức doanh số cho vay với tỉ trọng lần lượt trong 3 năm từ 2023 – 2025 là: 67,16%, 65% và 75%. Nhìn chung, phương thức này vừa có mặt lợi, vừa có mặt hại đối với một ngân hàng, tuy nhiên những mặt được của nó lại có phần nhỉnh hơn, khiến PGD vẫn luôn ưa chuộng hình thức này. Một ngân hàng áp dụng phương thức này, thay vì nhận toàn bộ số tiền gốc và lãi vay khi đến hạn, họ sẽ nhận dưới hình thức từng món bằng nhau tại các kì nhất định (theo tháng, quý hoặc năm). Về vấn đề này, thứ nhất, nếu ngân hàng kiểm soát tốt mức độ rủi ro thông qua việc kiểm soát tốt vòng quay đồng vốn thì phương thức này sẽ đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể. Bởi với các khoản tiền nhận trước một cách đều đặn, ngân hàng có thể tiếp tục cho vay hoặc đầu tư nhằm sinh lời. Mặt khác, nếu ngân hàng không làm tốt những vấn đề kiểm soát vòng quay vốn thì phương thức này lại đem đến một khó khăn rất lớn cho ngân hàng về mặt không đảm bảo tính thanh khoản. Bởi nếu vòng quay vốn không khớp đúng hạn, ngân hàng sẽ không thể thanh toán những khoản nợ khi huy động vốn và chưa kể những trường hợp khách hàng yêu cầu rút trước hạn. Tuy nhiên, điểm nhỉnh hơn của phương thức này chính là khi xét tại một thời điểm nhất định, sẽ thấy số tiền khách hàng phải trả cho ngân hàng lớn hơn số tiền gốc mà khách hàng đã vay. Bên cạnh đó, hình thức này cũng thường có số lượng lớn khách hàng lựa chọn bởi họ chủ yếu là những người có thu nhập đều đặn từ lương. Thay vì tiết kiệm và trả một khoản tiền lớn khi đến hạn thanh toán (trong quá trình tiết kiệm, có thể phát sinh những việc cần đến tiền, số tiền này sẽ được sử dụng và vô tình làm hao hụt khoản tiền dùng để trả nợ, khiến họ không trả được đúng hạn), họ chỉ cần trả các khoản tiền nhỏ một cách đều đặn cho đến khi hết nợ. Tất cả những điều này đã giúp lí giải được vì sao mức doanh số cho vay ứng với phương thức trả góp lại có xu hướng tăng qua các năm và luôn chiếm tỉ trọng cao trên tổng doanh số cho vay.

Với phương thức hoàn trả một lần: Mức doanh số cho vay cũng có tốc độ tăng đáng kể. Tuy nhiên, mức doanh số cho vay theo phương thức này luôn chiếm tỉ trọng nhỏ hơn mức tỉ trọng của doanh số cho vay theo phương thức trả góp. Cụ thể, tỉ trọng doanh số cho vay theo phương thức này trong 3 năm 2023 – 2025 lần lượt là: 32,84%, 35% và 25%. Phương thức này nhìn chung cũng tồn tại những mặt được và mặt yếu. Khi đem so sánh giữa hai phương thức hoàn trả nợ vay, có thể thấy điểm mạnh của phương thức này chính là điểm yếu của phương thức kia và ngược lại. Như vậy, hình thức trả nợ này sẽ giúp ngân hàng tránh được những rủi ro không đáng có về mặt thanh khoản, việc quản lí các khoản cho vay cũng đơn giản và dễ dàng hơn (giảm chi phí quản lí). Đó là lợi ích đối với ngân hàng, còn lợi ích mà khách hàng được hưởng chính là: có đủ thời gian để lo toan và hoàn trả nợ vay đúng hạn. Thật vậy, ngoài những khách hàng có thu nhập đều đặn còn một bộ phận những người khác sinh sống từ việc buôn bán nhỏ lẻ, lao động chân tay (như bán hàng ở chợ, thu mua sắt vụn,…). Thu nhập từ những nghề này thường không ổn định nên để có đủ tiền trả nợ, họ cần một khoảng thời gian dài. Chính vì lẽ đó nên phương thức này cũng được một bộ phận dân cư lựa chọn và tạo động lực để PGD tiếp tục triển khai. Tuy nhiên, so với phương thức trên, số lượng khách hàng sử dụng phương thức này không nhiều, số tiền vay ít nên tổng mức doanh số cho vay theo phương thức này vẫn chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trên tổng doanh số cho vay. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Theo mục đích sử dụng, hiện nay, PGD đang tiến hành triển khai 3 loại sản phẩm tín dụng cá nhân bao gồm: Cho vay trả góp mua nhà dự án, Cho vay mua ôtô và Cho vay cá nhân khác (bao gồm cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng khác). Và doanh số cho vay của từng loại sản phẩm này sẽ được thể hiện một cách trực quan và cụ thể qua đồ thị sau:

  • Đồ thị 2.5. Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng từ 2023 – 2025
  • Đồ thị 2.6. Tỉ trọng doanh số cho vay theo mục đích sử dụng từ 2023 – 2025

Từ hai đồ thị trên, thứ nhất, nhìn tổng quan có thể thấy tuy sản phẩm Cho vay trả góp mua nhà dự án mới được triển khai năm 2025 nhưng đã đạt mức doanh số cho vay cao nhất. Điều này cũng dễ hiểu bởi mua nhà là một trong những nhu cầu cần đến khối lượng khoản đầu tư lớn nhất.

Điều thứ hai dễ dàng thấy được chính là sự tăng trưởng doanh số cho vay qua các năm ở tất cả các loại sản phẩm tín dụng cá nhân nhưng tốc độ tăng là khác nhau. Cụ thể:

Đối với sản phẩm Cho vay mua nhà dự án: Tuy xuất hiện sau các sản phẩm khác nhưng mức doanh số cho vay đem lại từ sản phẩm không hề nhỏ. Chỉ riêng trong năm đầu tiên triển khai, mức doanh số sản phẩm này đã đem lại 2.800.000.000 đồng, vượt lên trên các sản phẩm khác. Điều này có thể do trong vài năm trở lại đây, các dự án xây dựng nhà ở đã mọc lên, lớn nhất là hai dự án: Khu dân cư Hồ Mật Sơn và Trường Linh. Trong 2 năm từ 2023 – 2024, mặc dù hai dự án này đã được triển khai nhưng lại đang trong quá trình thi công nên mức doanh số cho vay trong mảng này luôn dừng lại ở con số 0. Cho đến năm 2025, khi công trình hoàn thành, điều này đã tạo sự thu hút đầu tư cho người dân, đồng thời tạo cơ hội kinh doanh cho hoạt động tín dụng của PGD. Mặc dù hiện nay, tình trạng bất động sản nhìn chung khá bất ổn nhưng nhu cầu về nhà ở và thay đổi cuộc sống của người dân vẫn không có xu hướng giảm. Đặc biệt, những dự án nhà ở lại đưa ra các mức giá bán với nhiều ưu đãi, cộng thêm việc PGD biết chớp thời cơ và kịp thời triển khai dòng sản phẩm này với nhiều tiện ích nên người dân ở đây vẫn tiếp tục quyết định vay vốn để mua nhà dự án. Những điều này đã góp phần tạo nên sức bật đáng kể đối với mức doanh số cho vay của PGD. Mức doanh số của sản phẩm này chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng mức doanh số cho vay vào năm 2025 bởi trong 3 sản phẩm, mua nhà là một nhu cầu cần lượng vốn nhiều nhất. Hơn nữa, số lượng người có nhu cầu sử dụng cũng không ít. Vì hai lí do chính này nên tổng lượng vốn khách hàng cần vay tương đối lớn, làm doanh số cho vay của PGD đạt giá trị không nhỏ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Đối với sản phẩm Cho vay mua ôtô: So với năm 2023, doanh số cho vay của năm 2024 tăng 698.000.000 đồng, tương ứng 112,94%. Và so với năm 2024, doanh số cho vay của năm 2025 tăng 1.224.000.000 đồng, tương ứng 93,01%. Như vậy, cũng giống như sản phẩm “Cho vay trả góp mua nhà dự án”, doanh số cho vay của sản phẩm này cũng tăng theo các năm và chiếm giữ mức tỉ trọng lớn nhất trong hai năm liền (năm 2023 và năm 2024). Tổng giá trị cho vay lớn bởi nhu cầu sử dụng ôtô ngày càng tăng. Ngày nay, ôtô là một phương tiện khá thông dụng và số lượng người đi học, thi bằng lái xe ôtô cũng rất nhiều. Những tiện ích vượt trội hơn so với xe máy như đi lại tiện lợi vào những ngày mưa, lạnh, có thể dùng để đi xa, có thể chứa được nhiều người,… cũng như chính sách thuế trước bạ đang giảm đã khuyến khích người dân nơi đây quyết định sắm cho gia đình một chiếc ôtô. Họ có thể đầu tư mua xe mới hoặc mua xe cũ với giá rẻ hơn. Tuy nhiên, với mức thu nhập bình quân như hiện nay, việc đủ tiềm lực tài chính để chi trả cho nhu cầu sắm một chiếc ô tô là khó có thể thực hiện. Trong hoàn cảnh ấy, PGD đã nắm bắt thời cơ và triển khai thực hiện sản phẩm này nên thu hút được sự hưởng ứng, quan tâm, sử dụng từ phía các khách hàng có nhu cầu, đem lại mức tăng doanh số cho vay mua ôtô đối với khách hàng cá nhân. Mức doanh số này cũng luôn chiếm mức tỉ trọng rất cao trong 3 sản phẩm (đứng thứ nhất năm 2023 và 2024, đứng thứ hai năm 2025) bởi vốn để đầu tư vào việc mua ôtô cũng rất lớn, lớn hơn nhiều so với lượng vốn phục vụ các nhu cầu khác. Tuy nhiên, các khách hàng khi vay vốn, trong tay ít nhiều cũng đã có một khoản tiền, nhu cầu của họ cũng không đòi hòi một chiếc xe quá đắt tiền (ô tô chỉ đơn thuần là một phương tiện đi lại) nên lượng vốn cần vay không cao hơn lượng vốn vay mua nhà.

Đối với các sản phẩm Cho vay cá nhân khác: So với năm 2023, doanh số cho vay của năm 2024 tăng 452.000.000 đồng, tương ứng 136,14%. Và so với năm 2024, doanh số cho vay của năm 2025 tăng 651.000.000 đồng, tương ứng 83,04%. Như vậy, doanh số cho vay của sản phẩm này tăng dần theo các năm với tốc độ tăng khá nhanh. Sự tăng trưởng này do nhiều yếu tố tạo nên. Ngoài nhu cầu mua ôtô, mua nhà (những thứ có giá trị lớn, khách hàng thường vay với thời gian dài), các nhu cầu khác có thể là mua các vật dụng cao cấp trong nhà (tủ lạnh, bình nóng lạnh,…), sửa chữa nhà quy mô nhỏ, kinh doanh nhỏ, vật dụng phục vụ nghề nông (máy gặt lúa, máy cấy lúa,…),… Những nhu cầu này có phần gần gũi, thường xuyên phát sinh hơn bởi nó phục vụ các nhu cầu cấp thiết nên số lượng khách hàng muốn vay cũng lớn hơn. Nhờ đó, doanh số cho vay đối với các sản phẩm này của PGD ngày càng tăng. Tuy nhiên, mức doanh số này luôn có tỉ trọng nhỏ hơn tỉ trọng của hai sản phẩm còn lại. Mặc dù sản phẩm Cho vay cá nhân khác là sự tích hợp giữa nhiều loại sản phẩm tín dụng khác nhau nhưng lượng giá trị cho vay thường không cao, nhỏ hơn lượng giá trị cho vay để mua ô tô hay mua nhà.

2.2.5.2. Doanh số thu nợ Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Doanh số thu nợ là các khoản thu nợ gốc mà ngân hàng đã thu hồi tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kì kinh doanh. Khi xét trong trung – dài hạn, doanh số thu nợ này là các khoản thu phần gốc của những khoản nợ ngân hàng đã cho vay ở năm hiện tại hoặc các năm trước đó, tuỳ vào thời hạn trả nợ. Với chỉ tiêu này, theo thống kê, doanh số thu nợ của PGD trong 3 năm từ 2023 – 2025 như sau:

  • Đồ thị 2.7. Doanh số thu nợ tín dụng cá nhân và tổng doanh số thu nợ từ 2023 – 2025

Từ độ thị trên, có thể thấy doanh số thu nợ cá nhân luôn tăng theo từng năm và chiếm tỉ trọng không nhỏ trong tổng mức doanh số thu nợ (Cụ thể, trong 3 năm từ 2023 – 2025, tỉ trọng doanh số thu nợ cá nhân lần lượt là 46,58%, 61,35% và 61,59%). Đạt được kết quả như vậy là do quy trình thẩm định, phương thức trả nợ cũng như khả năng thu hồi nợ của PGD khá tốt. Thật vậy, khi cho vay, một trong các tiêu chí để ngân hàng đưa ra quyết định là phán đoán khả năng hoàn trả nợ vay nên khi việc thẩm định được diễn ra đúng quy trình, đem lại kết quả xác thực thì việc doanh số thu nợ đạt mức cao là điều dễ hiểu. Tiếp nữa, với phương thức trả nợ ở một vài sản phẩm là trả góp, tức là PGD sẽ luôn nhận được các khoản nợ gốc một cách đều đặn. Việc này phần nào giúp đảm bảo khả năng thu nợ, khiến mức doanh số thu nợ của PGD ổn định, thậm chí tăng trưởng (tuỳ thuộc mức tăng trưởng lượng cho vay). Bên cạnh đó, một trong các nghịch lí của tín dụng là cho vay dễ, đòi nợ khó. Bởi vậy, một ngân hàng có uy tín, có đội ngũ nhân viên tín dụng giàu kinh nghiệm sẽ có những phương pháp nhằm xử lí và kiểm soát điều nghịch lí ấy. Cuối cùng, một nhân tố không thể thiếu tạo nên cục diện như vậy chính là ý thức của người dân. Khi khách hàng vay có ý thức, họ sẽ luôn làm việc chăm chỉ, coi khoản nợ là trách nhiệm, tạo động lực thôi thúc khả năng làm việc của mình và trả nợ đúng hạn; từ đó giúp ngân hàng thu được nợ, đảm bảo khả năng thanh khoản.

Và để tìm hiểu sâu hơn về tình hình thu hồi nợ, cần xét chỉ tiêu này trên 4 tiêu chí: thời hạn, loại hình đảm bảo, phương thức hoàn trả nợ vay, mục đích sử dụng. Tuy nhiên, khác với khi phân tích tình hình doanh số cho vay, ở đây, khoá luận chỉ xin phân tích dựa trên giá trị thực tế, không quá đi sâu về mặt tỉ trọng. Cụ thể:

Theo thời hạn, tình hình doanh số thu nợ được thể hiện qua đồ thị sau:

  • Đồ thị 2.8. Doanh số thu nợ theo thời hạn từ 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Nhìn vào đồ thị, có thể thấy mức doanh số thu nợ theo cả hai thời hạn đều tăng dần qua các năm. Bên cạnh đó, mức doanh số thu nợ trung hạn luôn nhỏ hơn mức doanh số thu nợ dài hạn (chịu tác động một phần từ mức doanh số cho vay). Và khi đi vào tìm hiểu cụ thể để tìm lời lí giải, có thể thấy:

Doanh số thu nợ trung hạn từ 2023 – 2025 đã tăng liên tục và tăng 1.192.000.000 đồng, tương ứng 409,62% sau 3 năm. Về điều này, như đã phân tích ở trên, việc mức doanh số thu nợ tăng nhờ rất nhiều yếu tố. Và khi áp dụng vào đây, những yếu tố ấy được thể hiện một cách cụ thể qua hai ý. Thứ nhất, doanh số thu nợ trung hạn tăng bởi các chính sách kiểm soát và phòng ngừa rủi ro của PGD: thường xuyên kiểm tra và giám sát tình hình sử dụng khoản vay nợ trung hạn (xem xét việc sử dụng đúng mục đích khoản vay, mức độ hiệu quả khi sử dụng khoản vay) cũng như khả năng hoàn trả nợ vay từ những thu nhập của khách hàng,… Thứ hai, mức doanh số tăng cũng một phần nhờ vào ý thức của khách hàng. Thật ra, trong quá trình thẩm định, ngân hàng đã tìm hiểu chi tiết về khách hàng và ít nhiều có những nhận định về con người, nhân cách, phẩm chất,… qua đó phần nào phán đoán được ý thức hoàn trả nợ. Vì vậy, nếu quá trình thẩm định cho kết quả xác thực thì thường các khách hàng đều là những người có phẩm chất tốt, luôn cố gắng nỗ lực phấn đấu để thay đổi cuộc sống, cố gắng làm việc để thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với khoản nợ vay. Bởi có những điều như trên nên mức doanh số thu nợ trung hạn luôn tăng. Tuy nhiên, mức doanh số này luôn chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng doanh số thu nợ bởi thời hạn không dài nên đối với những khoản vay có giá trị lớn, việc hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn rất khó khăn.

Doanh số thu nợ dài hạn: tương tự mức doanh số thu nợ trung hạn, từ năm 2023 – 2025, mức doanh số này cũng tăng dần theo các năm và tăng 2.656.000.000 đồng, tương ứng 704,51% sau 3 năm. Ngoài những lí do tương tự đã trình bày rõ ràng ở trên, một trong những nguyên nhân khác khiến mức doanh số này luôn tăng và chiếm tỉ trọng cao trong tổng mức doanh số thu nợ được nằm ở thời hạn vay. Thông thường, cho vay dài hạn tiềm ẩn khá nhiều rủi ro, khách hàng cũng có thể nảy sinh suy nghĩ ỷ lại, không muốn trả. Tuy nhiên, với khả năng thẩm định tín dụng tương đối tốt, PGD luôn tự tin sẽ đưa ra được những kết quả gần xác thực nhất có thể. Bởi vậy ý thức khách hàng thường cao và họ luôn nỗ lực để hoàn trả nợ Tiếp nữa, với các khoản vay dài hạn, khách hàng thường có đủ thời gian để sử dụng cũng như tích luỹ thu nhập nhằm hoàn trả khoản nợ (ngoại trừ các khoản vay rất lớn hoặc việc trả nợ đột nhiên có những biến động) nên mức doanh số thu nợ dài hạn thường có xu hướng tăng và đạt giá trị cao, cao hơn mức doanh số thu nợ trung hạn.

Theo loại hình đảm bảo, doanh số thu nợ được thể hiện rõ nét qua bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.5. Doanh số thu nợ theo loại hình đảm bảo từ 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Từ bảng có thể thấy, thứ nhất, mức doanh số thu nợ ở cả hai loại hình đều có xu hướng tăng qua các năm. Cụ thể:

Mức doanh số thu nợ theo loại hình cho vay không đảm bảo có sức tăng đáng kể qua các năm (mức tăng trên 100%). Có được điều này thật sự không đơn giản bởi với việc cho vay không đảm bảo, tức ngân hàng chỉ cho vay dựa trên cơ sở niềm tin đối với khách hàng. Tuy nhiên, niềm tin đó không phải là vô căn cứ hoặc bằng trực quan mà được gây dựng thông qua quá trình tìm hiểu khách hàng. Và với mức doanh số luôn tăng chứng tỏ niềm tin ấy đã đặt đúng chỗ. Bên cạnh đó, nó cũng cho thấy mức thu nhập của người dân đang có sự cải thiện đáng kể.

Mức doanh số thu nợ theo loại hình cho vay đảm bảo cũng tăng khá mạnh mẽ từ 2023 – 2025, đặc biệt trong giai đoạn 2024 – 2025 (tăng 239,94%). Thật ra, trên thực tế, mức doanh số này không phản ánh chính xác khả năng hoàn trả nợ vay từ thu nhập của khách hàng bởi nó có thể được hình thành từ việc ngân hàng bán các tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, nhìn chung, những con số này cũng cho thấy một kết quả đáng kể sau quá trình cố gắng nỗ lực thu hồi nợ của các cán bộ tín dụng PGD. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận ý thức hoàn trả nợ vay của người dân cũng đang đi theo hướng tích cực hơn.

Thứ hai, mức doanh số thu nợ theo loại hình cho vay có đảm bảo luôn lớn hơn so với cho vay không có đảm bảo. Điều này trước tiên do bản chất từng loại hình quyết định. Với loại cho vay không đảm bảo, mức độ rủi ro khá lớn. Nếu khách hàng không thể hoàn trả nợ vay đúng hạn, ngân hàng cũng không có một khoản để bù đắp. Trong khi đó, với loại cho vay có đảm bảo, nếu khách hàng không thanh toán nợ đúng hạn, ngân hàng có thể bán tài sản đảm bảo hoặc tìm người bảo lãnh cho khách hàng để bù đắp lại khoản cho vay. Do vậy, mặc dù khách hàng không trả nợ, mức doanh số thu nợ theo loại hình cho vay có đảm bảo vẫn luôn đem lại giá trị cao hơn mức doanh số thu nợ theo loại hình cho vay không đảm bảo.

Theo phương thức hoàn trả nợ vay, PGD triển khai cả 2 loại phương thức: hoàn trả một lần và trả góp. Để hiểu thêm về tình hình doanh số thu nợ theo 2 phương thức này, đồ thị sau sẽ giải đáp điều đó.

  • Đồ thị 2.9. Doanh số thu nợ theo phương thức hoàn trả nợ vay từ 2023 – 2025 Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Đồ thị đã thể hiện rõ rằng mức doanh số thu nợ theo cả hai phương thức hoàn trả nợ vay đều tăng qua từng năm. Cụ thể:

Doanh số thu nợ theo phương thức hoàn trả một lần tăng 949.000.000 đồng, tương ứng 458,45% trong 3 năm. Điều này có thể được lí giải bởi chính tính chất của phương thức cũng như khả năng thẩm định tín dụng thực tế của PGD. Trước hết, hoàn trả một lần tức là khách hàng tiến hành thanh toán một lần cả gốc và lãi khi đến hạn. Vì vậy, khách hàng thường có đủ thời gian tích luỹ để trả nợ đúng hạn (ngoại trừ các trường hợp bất khả kháng như việc sử dụng khoản vay không hiệu quả, số tiền tích luỹ được sử dụng cho một việc cấp bách hơn trước khi đến hạn trả nợ,…). Sau nữa, với kinh nghiệm thẩm định tín dụng như hiện nay, việc đánh giá và xem xét khách hàng nhìn chung tương đối chính xác. Chính những điều này đã giúp cho mức doanh số thu nợ theo phương thức hoàn trả một lần được duy trì và tăng dần theo thời gian.

Doanh số thu nợ theo phương thức trả góp trong 3 năm tăng 2.899.000.000 đồng, tương ứng 628,85%. Với phương thức này, khách hàng sẽ thanh toán tiền gốc từng lần theo những kì hạn nhất định được thoả thuận hoặc quy định trước đó, tiền lãi trả theo tháng dựa trên mức dư nợ thực tế giảm dần. Như vậy, với khoản vay lớn, khách hàng có thể trả nợ từ từ, áp lực cũng giảm bớt phần nào. Họ không phải chịu cảm giác một khoản nợ lớn đang treo trước mặt, lúc nào cũng phải nỗ lực và nỗ lực để hoàn trả. Sau mỗi kì trả nợ, số nợ giảm dần, họ sẽ ngày càng cảm thấy thoải mái hơn cho đến khi hết nợ. Chính những yếu tố tác động đến tâm lí đó đã thu hút khách hàng, khiến họ ưa chuộng sử dụng phương thức này để trả nợ thay vì hoàn trả một lần khi đến hạn. Và doanh số thu nợ tăng cũng là điều dễ hiểu.

Một điểm nữa, có thể thấy mức doanh số thu nợ theo phương thức trả góp lớn hơn theo phương thức hoàn trả một lần. Về điều này, dễ thấy với phương thức hoàn trả một lần, khi đến hạn, nhiều khách hàng không thanh toán được khoản vay, khiến mức doanh số thu nợ bị giảm mạnh nếu không tìm được khoản bù đắp. Trong khi đó, với phương thức trả góp, theo định kì, ngân hàng sẽ nhận được những khoản tiền cố định như đã thoả thuận. Trong quá trình đó, nếu bị gián đoạn (mất việc nên không có lương, bị mất tiền, kinh doanh thua lỗ,…) thì ngân hàng ít nhiều cũng đã thu được một khoản tiền để bù đắp số vốn đã cho vay. Vì vậy, mức doanh số thu nợ theo phương thức trả góp vẫn luôn được duy trì và thường lớn hơn mức doanh số thu nợ theo phương thức hoàn trả một lần. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Theo mục đích sử dụng, PGD hiện đang triển khai 3 dòng sản phẩm với tình hình doanh số thu nợ qua 3 năm từ 2023 – 2025 như sau:

  • Đồ thị 2.10. Doanh số thu nợ theo mục đích sử dụng từ 2023 – 2025

Nhìn vào đồ thị, đầu tiên sẽ thấy mức doanh số thu nợ của các sản phẩm đều tăng. Cụ thể:

Với sản phẩm Cho vay mua ôtô: Mức doanh số thu nợ tăng từ 1.248.000.000 đồng, tương ứng 331,91% sau 3 năm. Đối với sản phẩm này, thường PGD sẽ cho vay với phương thức trả góp nên sau 1 năm, ít nhiều mức doanh số thu nợ cũng đạt được lượng giá trị nhất định. Tiếp nữa, như đã phân tích khi xét về doanh số cho vay, đây là một sản phẩm khá tiềm năng, thu hút nhiều sự quan tâm của khách hàng nên mức doanh số cho vay luôn tăng qua các năm. Bên cạnh đó, PGD cũng đã đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát việc trả nợ của khách hàng như theo dõi thu nhập từ lương cũng như các nguồn khác, theo dõi các động thái về ý thức hoàn trả nợ của khách hàng,… Vậy nên, mức doanh số thu nợ luôn tăng qua các năm.

Với sản phẩm Cho vay mua nhà dự án: mức doanh số thu nợ đạt 1.967.000.000 đồng trong năm 2025. Việc dừng lại ở con số 0 về mức doanh số thu nợ trong năm 2023 và năm 2024 không nói lên rằng PGD yếu kém trong việc thu nợ hay ý thức trả nợ của khách hàng không tốt. Nguyên nhân ở đây là do trong hai năm đó, PGD chưa chính thức triển khai sản phẩm bởi có nhiều điều kiện không cho phép: tiềm lực tài chính chưa dồi dào, uy tín chưa vững chắc, việc xây dựng sản phẩm còn dang dở, hai dự án nhà ở vẫn đang thi công,… Nhưng đến năm 2025, khi các yếu tố cần thiết hầu như đã hội tụ đủ, việc doanh số thu nợ đột nhiên vượt lên dẫn đầu về giá trị so với các sản phẩm khác cũng là điều có thể hiểu được.

Với sản phẩm Cho vay cá nhân khác: Mức doanh số thu nợ tăng 633.000.000 đồng, tương ứng 216,78% sau 3 năm. Đây là sản phẩm tổng hợp với sự đa dạng về đối tượng khách hàng và sản phẩm thành phần. Mỗi đối tượng, sản phẩm nhỏ đều mang những đặc tính khác nhau. Đối với người nông dân, họ vay tiền để cơ giới hoá công việc đồng áng. Mấy năm nay, lúa luôn được mùa, giá rau củ (hoa màu) đều có xu hướng tăng nên họ cũng không quá khó khăn trong việc thanh toán nợ. Đối với các cá nhân, hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ, hiện nay các dịch vụ ăn, mặc, chăm sóc sắc đẹp, sức khoẻ đang khá phát triển trong điều kiện nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tăng nên việc kinh doanh cũng có những bước tiến vượt bậc. Từ đó có thể thấy họ có đầy đủ khả năng để hoàn trả nợ vay ngân hàng. Những điều đó khiến cho mức doanh số thu nợ của sản phẩm này không ngừng tăng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

  • Thứ hai, khi so sánh các mức doanh số thu nợ giữa các sản phẩm, có thể nhận thấy một vài điểm như sau:

Vào năm 2023, trong khi mức doanh số thu nợ của sản phẩm Cho vay mua nhà dự án dậm chân tại chỗ ở con số 0 thì mức doanh số thu nợ của sản phẩm Cho vay mua ô tô đã đạt mức cao nhất trong 3 sản phẩm, vị trí thứ hai là sản phẩm Cho vay cá nhân khác. Điều này có thể do hình thức hoàn trả nợ vay tác động và quyết định. Đối với sản phẩm Cho vay mua ôtô, PGD thường quy định hình thức hoàn trả nợ vay dưới dạng trả góp. Nếu mọi vấn đề diễn ra bình thường (quá trình kiểm soát khoản nợ của PGD tốt, thu nhập của khách hàng ổn định,…) thì mức doanh số thu nợ của sản phẩm này đạt mức cao là điều dễ hiểu. Còn về sản phẩm Cho vay cá nhân khác, đây là một dạng tích hợp các sản phẩm tín dụng nên số lượng người sử dụng khá lớn. Tuy nhiên, chính vì số lượng người dùng lớn nên những đối tượng sử dụng cũng đa dạng với nhiều loại người khác nhau, khả năng hoàn trả nợ vay cũng khác nhau. Điều này khiến cho doanh số thu nợ của sản phẩm này mặc dù cũng ở mức cao nhưng vẫn đứng sau sản phẩm Cho vay mua ôtô.

Vào năm 2024, trong khi sản phẩm Cho vay mua nhà dự án vẫn giữ nguyên ở mức 0 thì hai dòng sản phẩm Cho vay mua ô tô và Cho vay cá nhân khác vẫn tiếp tục tăng mức doanh số lên một lượng đáng kể so với năm 2023.

Vào năm 2025, cả ba sản phẩm mà PGD hiện đang triển khai đều đạt những mức doanh số thu nợ cho riêng mình. Cụ thể, đứng thứ nhất là sản phẩm Cho vay mua nhà dự án, thứ hai là sản phẩm Cho vay mua ôtô, thứ ba là sản phẩm Cho vay cá nhân khác. Có thể thấy mặc dù đây là năm đầu tiên sản phẩm Cho vay trả góp mua nhà dự án đạt mức doanh số nhưng đã vươn lên vị trí đầu tiên về giá trị. Điều này do đến cuối năm 2024, hai dự án nhà ở lớn thuộc địa phận Chí Linh mới hoàn thành. Mặc dù tình hình bất động sản không ổn định, tương đối bấp bênh nhưng với những chính sách ưu đãi mới đưa ra: giảm giá 20%/m2 đối với 10 khách hàng đầu tiên mua nhà, hỗ trợ chi phí làm sổ đỏ,… nên người dân nơi đây khá hưởng ứng, quyết định đầu tư. Và những khoản trả nợ theo phương thức trả góp đã mang lại giá trị doanh số thu nợ đầu tiên trong năm 2025. Tiếp theo, đối với sản phẩm Cho vay mua ôtô, tình hình thu nợ trong 2 năm trước cũng khá ổn định nên đến năm 2025, mức doanh số thu nợ vẫn tiếp tục tăng, chỉ thua sản phẩm Cho vay mua nhà dự án (bởi bản thân mức doanh số cho vay của sản phẩm Cho vay mua ôtô đã nhỏ hơn của sản phẩm Cho vay mua nhà dự án). Cuối cùng, tiếp tục theo đà phát triển, mức doanh số thu nợ mà sản phẩm Cho vay cá nhân khác đạt được luôn ở mức cao, nhưng vẫn đứng sau hai sản phẩm trước.

2.2.5.3. Dư nợ Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Dư nợ chính là phần chênh lệch giữa doanh số cho vay và doanh số thu nợ. Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được khả năng thu hồi nợ gốc căn cứ vào mức tỉ trọng của nó trong tổng doanh số cho vay. Và đối với PGD Sao Đỏ, để biết được khả năng thu hồi nợ gốc của từng năm từ 2023 – 2025, áp dụng Công thức 1.1, Công thức 1.2 ở trên cũng như những số liệu đã thu thập sẽ được bảng sau:

  • Bảng 2.6. Dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay từ 2023 – 2025

Như vậy, về mặt giá trị, mức dư nợ tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, điều này không thể phản ánh chính xác được khả năng thu hồi nợ gốc của PGD tốt hay kém bởi sau mỗi năm, mức doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều tăng.

Thứ hai, về mặt tỉ trọng, có thể thấy mức tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay ở các năm đều nhỏ hơn 50%, tức tổng nguồn vốn cho vay chưa thu hồi được chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng vốn đã cho vay. Điều này cho thấy khả năng thu hồi nợ gốc của PGD tương đối tốt.

Và cũng như 2 chỉ tiêu Doanh số cho vay và Doanh số thu nợ, chỉ tiêu này cũng được xét dựa trên 4 tiêu chí để có thể nhận thức rõ hơn về mức độ thu hồi nợ gốc theo từng loại tín dụng. Như đã nói, giá trị mức dư nợ không đủ cơ sở để nhận định về khả năng thu hồi nợ nên ở đây, khoá luận chỉ xin phân tích dựa trên mức tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay.

Theo thời hạn, tình hình dư nợ tín dụng cá nhân trung – dài hạn như sau:

  • Bảng 2.7. Dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay theo thời hạn từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, sẽ thấy mức tỉ trọng dư nợ trong trung hạn nhìn chung lớn hơn trong dài hạn. Điều này thể hiện việc thu hồi các khoản nợ gốc có kì hạn dài hạn tốt hơn việc thu hồi các khoản nợ gốc có kì hạn trung hạn. Thật vậy, các khoản nợ dài hạn thường đi kèm với việc được đảm bảo nên nếu khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán chưa hết số tiền đã vay, ngân hàng có thể dựa vào tài sản đảm bảo hay người bảo lãnh để bù đắp khoản cho vay. Hơn nữa, các khoản nợ này thường có kì hạn thanh toán dài nên khách hàng có đủ thời gian để hoàn trả nợ vay.

Theo loại hình đảm bảo, tình hình dư nợ tín dụng cá nhân trung – dài hạn được thể hiện như sau:

  • Bảng 2.8. Dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay theo loại hình đảm bảo từ 2023 – 2025

Từ bảng, có thể thấy mức tỉ trọng dư nợ đối với các khoản nợ có đảm bảo thường nhỏ hơn mức tỉ trọng dư nợ đối với các khoản nợ không đảm bảo. Điều này có thể do tính chất từng loại hình quyết định. Các khoản vay có đảm bảo thường đòi hỏi khách hàng sở hữu những tài sản có giá trị hay có sự bảo lãnh từ một bên thứ ba. Những điều kiện này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc thanh toán khoản nợ khi đến hạn đối với các khách hàng đang gặp khó khăn về tài chính. Những tài sản đảm bảo có thể bù đắp một phần hay toàn bộ khoản tiền mà khách hàng nợ tuỳ vào tính thanh khoản, giá trị của tài sản vào thời điểm thanh lí. Việc có sự bảo lãnh từ bên thứ ba cũng đem lại kết quả tương tự. Ngược lại, các khoản vay không đảm bảo thường rất rủi ro bởi ngân hàng chủ yếu dựa vào uy tín và ý thức của khách hàng. Khi khách hàng không thể hoàn trả khoản vay, ngân hàng không có khoản thứ hai để bù đắp số tiền thiếu hụt đó nên lượng giá trị ngân hàng thu hồi nợ thường thấp hơn lượng thu hồi nợ đối với những khoản vay có đảm bảo. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Theo phương thức hoàn trả nợ vay, tình hình dư nợ tín dụng cá nhân trung – dài hạn được thể hiện như sau:

  • Bảng 2.9. Dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay theo phương thức hoàn trả nợ vay từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, có thể thấy mức tỉ trọng dư nợ của những khoản vay với phương thức hoàn trả một lần nhìn chung đều lớn hơn mức tỉ trọng dư nợ của những khoản vay với phương thức trả góp nhưng mức chênh lệch không nhiều. Trên thực tế, cả hai phương thức trả nợ này đều được khách hàng ưa thích sử dụng bởi mỗi phương thức lại có những điểm vượt trội riêng. Nếu phương thức hoàn trả một lần giúp khách hàng có đủ thời gian tích luỹ tiền để trả nợ thì phương thức trả góp lại giúp những khách hàng có thu nhập ổn định có thể trả dần dần những khoản tiền nhỏ theo định kì thay vì trả toàn bộ khoản vay. Tuy nhiên, dường như khách hàng có phần ưa chuộng phương thức trả góp hơn bởi nó không tạo quá nhiều áp lực trong việc trả nợ. Chính vấn đề tâm lí này đã tác động đến ý thức trả nợ của khách hàng, đồng thời khiến mức tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay tương đối nhỏ và thường nhỏ hơn mức tỉ trọng dư nợ tương ứng đối với phương thức hoàn trả một lần.

Theo mục đích sử dụng, tình hình dư nợ tín dụng cá nhân trung – dài hạn được thể hiện như sau:

  • Bảng 2.10. Dư nợ và tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay theo mục đích sử dụng từ 2023 – 2025

Từ bảng, có thể thấy mức tỉ trọng dư nợ đối với các khoản Cho vay mua ô tô thường lớn hơn mức tỉ trọng dư nợ đối với các khoản Cho vay cá nhân khác. Điều này cũng dễ hiểu bởi thường các khoản Cho vay mua ôtô có giá trị lớn hơn các khoản Cho vay cá nhân khác nên việc trả nợ của khách hàng cũng khó khăn hơn. Hơn nữa, đối với các khoản vay lớn như mua ôtô, phương thức trả nợ thường được áp dụng là trả góp, thời gian trả nợ cũng dài nên ở một thời điểm cố định đang xét, mức doanh số thu nợ cũng tương đối thấp hay nói cách khác, tỉ trọng mức dư nợ trong tổng doanh số cho vay tương đối cao. Ngược lại, đối với các khoản vay có giá trị không lớn (như cho vay tiêu dùng, cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp,…thuộc loại Cho vay cá nhân khác), phương thức trả nợ thường là hoàn trả một lần, thời gian trả nợ ngắn nên giá trị mức doanh số thu nợ tại thời điểm đang xét tương đối lớn hay mức tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay khá nhỏ.

Riêng với loại hình Cho vay mua nhà dự án, ngay trong năm đầu tiên triển khai đã có những tín hiệu khả quan từ việc thu hồi nợ bởi tỉ trọng dư nợ trong tổng doanh số cho vay của loại hình này tương đối thấp, nhỏ hơn 50%. Điều này cho thấy khả năng thu hồi nợ của ngân hàng đối với sản phẩm này khá tốt. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

2.2.5.4. Tỉ lệ nợ quá hạn

Đây là một trong các chỉ tiêu quan trọng giúp đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết mức độ nợ quá hạn của khách hàng, từ đó có thể phân loại khách hàng, phân loại nhóm nợ để có những xử lí phù hợp. Nó cũng là một kênh đưa ra những cảnh báo kịp thời về vấn để rủi ro tín dụng, từ đó giúp ngân hàng nắm bắt được tình trạng tín dụng hiện tại cũng như đề ra các biện pháp khắc phục. Và để hiểu thêm về tình hình nợ quá hạn của PGD trong 3 năm từ 2023 – 2025, áp dụng Công thức 1.3 ở trên cũng như những số liệu do bộ phận tín dụng của PGD cung cấp, có được bảng sau:

  • Bảng 2.11. Tỉ lệ nợ quá hạn trong trung – dài hạn từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, có thể thấy tỉ lệ nợ quá hạn ngày càng tăng (tức cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành, số đồng quá hạn ngày càng tăng). Thật ra, tỉ lệ nợ quá hạn này chưa phản ánh được một cách chính xác chất lượng tín dụng trong từng năm bởi số nợ quá hạn có thể không hoàn toàn phát sinh từ các khoản PGD tiến hành cho vay trong năm đó mà từ các năm trước đó và đến thời điểm xét, nó đã quá hạn. Tuy nhiên, tỉ lệ này vẫn cho thấy chất lượng tín dụng của PGD đang có xu hướng kém đi. Như vậy, mặc dù tình hình thu nợ rất khả quan nhưng số tiền khách hàng nợ quá hạn vẫn ngày càng tăng, chưa có biện pháp để kiểm soát và hạn chế.

2.2.5.5. Hệ số thu nợ

Hệ số này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay, khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng. Cụ thể, khi áp dụng công thức 1.4 ở trên cùng các số liệu sẵn có sẽ được bảng sau:

  • Bảng 2.12. Hệ số thu nợ trung – dài hạn từ 2023 – 2025

Từ bảng trên, có thể thấy hệ số thu nợ biến động tăng giảm xung quanh một mức nhất định (khoảng 70%) và đang có xu hướng thu hẹp lại. Như vậy, trong 100 đồng cho vay, số đồng ngân hàng nhận lại được đang có xu hướng giảm dần. Điều này cho thấy việc sử dụng vốn vay của PGD chưa thật sự hiệu quả bởi nó còn chịu tác động từ nhiều phía. Thứ nhất, điều kiện kinh tế có chút biến đổi, giá cả tăng, khiến nguồn tiền eo hẹp. Đối mặt với tình trạng như vậy, việc khách hàng có thể thanh toán các khoản nợ vay cũng tương đối khó khăn. Thứ hai, quá trình kiểm soát việc vay vốn và sử dụng đúng mục đích, kiểm soát các nguồn thu nhập của khách hàng, kiểm soát khả năng trả nợ thông qua ý thức,… còn nhiều thiếu sót và chưa có biện pháp khắc phục. Tất cả những điều này đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mức doanh số thu nợ, làm tăng giảm hệ số thu nợ như đã thấy ở trên. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

2.2.5.6. Tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân

Nếu hệ số thu nợ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay thông qua việc thu hồi được phần nợ gốc thì tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân dường như lại phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay thông qua việc thu được phần lãi của số tiền gốc đã cho vay. Khi tỉ lệ này tăng, tức khả năng sinh lời từ 100 đồng dư nợ cũng tăng và ngược lại, khi tỉ lệ này giảm, tức khả năng sinh lời từ 100 đồng dư nợ cũng giảm. Và để biết được tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân tại PGD tăng hay giảm, áp dụng công thức 1.5 cùng các số liệu đã được cung cấp, sẽ được bảng sau:

  • Bảng 2.13. Tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân trung – dài hạn từ 2023 – 2025

Nhìn vào bảng, có thể thấy tỉ lệ sinh lời của tín dụng cá nhân ngày càng giảm, tức từ 100 đồng dư nợ, số đồng lãi thu lại ngày càng giảm. Nguyên nhân có thể do sự chưa hợp lí về mặt lãi suất. Với một mức lãi suất quá thấp, thu nhập từ hoạt động tín dụng không cao. Với một mức lãi suất quá cao, điều này sẽ gây khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn, cũng sẽ làm thu nhập từ hoạt động tín dụng không cao. Bên cạnh đó, có thể thấy tín dụng là một mảng nghiệp vụ truyền thống, hiện nay ngoài thu nhập từ tín dụng, ngân hàng còn chú trọng phát triển và khai thác khả năng sinh lời của các mảng nghiệp vụ khác nên mức độ đầu tư cho tín dụng giảm, làm thu nhập từ tín dụng cũng giảm.

2.2.5.7. Tính đa dạng của sản phẩm tín dụng cá nhân

Hiện nay, đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường ngân hàng, việc đa dạng hoá các sản phẩm gần như là một phương án giúp đảm bảo sự sinh tồn, nhất là đối với một nghiệp vụ truyền thống như tín dụng. Trước mắt, PGD đang triển khai 3 sản phẩm tín dụng cá nhân bao gồm:

  • Sản phẩm Cho vay trả góp mua nhà dự án
  • Sản phẩm Cho vay mua ôtô
  • Sản phẩm Cho vay cá nhân khác: đây là một sản phẩm đặc biệt, tích hợp trong đó những sản phẩm khác như cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng nói chung, cho vay kinh doanh,… Tuy nhiên, những sản phẩm này chưa được xây dựng hoàn chỉnh nên được gộp lại tạo nên một sản phẩm chung.

Như vậy, xét về mức độ đa dạng, các sản phẩm tín dụng của PGD chưa thật sự đa dạng. Điều này khiến cho mức độ cạnh tranh của PGD không cao trong tình hình hiện nay.

2.3. Đánh giá tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD Sao Đỏ Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Như vậy, thông qua những phân tích về tình hình, thực trạng hiện tại của hoạt động tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD, có thể tổng hợp lại và đưa ra những nhìn nhận khái quát như sau:

2.3.1. Kết quả đạt được và những tồn tại

Đến nay, PGD đã thành lập gần 6 năm, một khoảng thời gian không phải ngắn nhưng cũng không phải quá dài để có những bước tiến vượt bậc và trưởng thành thật sự. Vậy nên, với phạm vi tìm hiểu tình hình tín dụng cá nhân trung – dài hạn trong vòng 3 năm trở lại đây, bằng những nỗ lực của mình, PGD cũng đã đạt được những thành tích đáng kể. Cụ thể những kết quả PGD đã gặt hái trong 3 năm qua như sau:

  • Mức doanh số cho vay cá nhân luôn tăng qua các năm ở tất cả các loại hình tín dụng đã xét. Và tính đến năm 2025, mức doanh số cho vay đã đạt ngưỡng gần 7.000.000.000 đồng, chiếm tỉ trọng xấp xỉ 62% trên tổng mức doanh số cho vay.
  • Mức doanh số thu nợ cũng luôn tăng. Từ 2023 – 2025, mức doanh số này đã tăng 3.848.000.000 đồng (từ 668.000.000 đồng đến 4.516.000.000 đồng), tương ứng 576,05%.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, PGD vẫn tồn tại những mặt yếu kém trong hoạt động tín dụng. Điều này được thể hiện qua 4 điểm bất ổn sau:

  • Tỉ lệ nợ quá hạn ngày càng tăng và đang ở ngưỡng cao. Đến năm 2025, tỉ lệ này đã đạt mức 74,99%, tăng 24,99% so với năm 2023.
  • Hệ số thu nợ có xu hướng giảm nhưng không nhiều. Nếu năm 2023, hệ số thu nợ đạt 70,32% thì đến năm 2025, hệ số thu nợ chỉ còn 66,66%.
  • Tỉ lệ sinh lời cũng giảm dần theo các năm. Đến năm 2025, tỉ lệ này chỉ còn 8,66%, giảm 0,5% so với năm 2023.
  • Mức độ đa dạng của các sản phẩm tín dụng chưa cao, nhiều sản phẩm vẫn đang trong quá trình triển khai, chưa hoàn chỉnh và còn nhiều thiếu sót.

2.3.2. Đánh giá, nhận xét Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

Từ việc thống kê lại những thành tựu cũng như những mặt còn tồn tại của hoạt động tín dụng đã trình bày ở trên, có thể đưa ra những đánh giá như sau:

Thứ nhất, nhìn chung mức độ cho vay và tiến trình thu nợ vẫn diễn ra bình thường. Qua các năm, những chỉ số về doanh số cho vay, doanh số thu nợ vẫn tăng. Tuy nhiên, khi đi vào tìm hiểu sâu hơn, sẽ thấy những giá trị này chưa cao, chưa xứng tầm với tiềm lực hiện có của PGD.

Thứ hai, khả năng thu hồi vốn vay chưa cao. Đây là một điều khá tối kị trong hoạt động tín dụng bởi nếu việc thu hồi lượng vốn đã cho vay không thuận lợi, ngân hàng dễ dàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khiến mọi hoạt động kinh doanh đều có thể bị ngưng trệ. Điều này cũng phần nào cho thấy mức thu nhập của người dân đang có xu hướng giảm bởi những biến động bất thường hiện tại (mất việc, giáng chức, kinh doanh thua lỗ, giá cả tăng,…).

Thứ ba, mức độ sinh lời từ tín dụng cá nhân trung – dài hạn không cao. Điều này cho thấy, việc sử dụng nguồn vốn cho vay không thật sự hiệu quả cũng như PGD vẫn chưa tập trung chú trọng phát triển nghiệp vụ này. Dẫu biết đây là một mảng khá truyền thống và cổ điển nhưng tín dụng vẫn là xương sống của ngân hàng. Thiếu tín dụng, một ngân hàng khó có thể tồn tại và phát triển vững bền.

Thứ tư, cơ cấu các sản phẩm tín dụng chưa thật sự đa dạng. Điều này làm cho sức cạnh tranh của PGD đối với các ngân hàng khác không cao bởi khi khách hàng không có quá nhiều sự lựa chọn, họ sẽ tới một ngân hàng khác. Khi đó, nguồn lợi thu được từ tín dụng cá nhân sẽ không nhiều, ngân hàng cũng khó phân tán được rủi ro.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay, PGD vẫn đang trong quá trình xây dựng và phát triển nghiệp vụ tín dụng cá nhân. Mọi nỗ lực, cố gắng về đầu tư trang thiết bị, tuyển chọn nhân viên có trình độ, thay đổi cách thức kinh doanh năng động, hiệu quả,… đều đã được đền đáp qua các con số khả quan nhưng vẫn không thể dừng lại ở đó. Bởi tiến trình xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng uy tín, xây dựng chỗ đứng và chiếm lĩnh thị phần còn yếu. Tiếp nữa, khâu thẩm định tín dụng còn tồn tại nhiều bất cập về tính xác thực và đầy đủ của thông tin, bước giám sát còn chưa thật sự hiệu quả dẫn đến mất kiểm soát về vấn đề khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích. Tồn tại những lỗ hổng lớn như vậy nên vấn đề sử dụng vốn vay, thu hồi nợ, tính sinh lời từ tín dụng vẫn đang ở mức báo động. Cuối cùng, với tiềm lực hiện tại, việc nghiên cứu và hoàn thiện các sản phẩm mới của PGD vẫn còn khá dang dở, chưa được chú trọng đúng mức nên tính đa dạng trong cơ cấu sản phẩm chưa cao, chưa thu hút được khách hàng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Như vậy, thông qua Chương 2, trước hết, có thể hiểu thêm về đối tượng nghiên cứu của khoá luận là PGD Sao Đỏ và nghiệp vụ tín dụng cá nhân trung – dài hạn. Về PGD Sao Đỏ, mặc dù chỉ thành lập được gần 6 năm nhưng hoạt động kinh doanh hầu hết đều diễn ra thuận lợi, đã đạt những thành công nhất định trên con đường chiếm lĩnh thị phần. Đây cũng là một PGD có tiềm lực ẩn dấu khá lớn, đang trong quá trình khai thác. Về nghiệp vụ tín dụng cá nhân trung – dài hạn, đây là mảng truyền thống trong hoạt động của một ngân hàng với những đặc trưng riêng của nó như: đối tượng vay chủ yếu là cá nhân và hộ gia đình, thời hạn vay dài hoặc rất dài (trên 1 năm trở lên),…

Thứ hai, qua tìm hiểu, phân tích cụ thể, chi tiết về tín dụng cá nhân trung – dài hạn tại PGD qua 7 tiêu chí, có thể thấy tình hình kinh doanh tín dụng ở đây cũng khá tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó, PGD còn khá nhiều lỗ hổng trong hoạt động này: không chú trọng phát triển đúng mức, khả năng sử dụng vốn vay chưa tốt, mức độ sinh lời không cao, các sản phẩm chưa thật sự đa dạng,…

Và đứng trước những mặt còn tồn tại như vậy, sang Chương 3, những giải pháp được đưa ra hi vọng sẽ phần nào xử lí được những lỗ hổng trên. Khóa luận: Thực trạng tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp tín dụng cá nhân trung dài hạn Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x