Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa ở Việt Nam giai đoạn từ 2021 đến 2025 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Chiến lược marketing quốc gia trong trong giai đoạn 2021- 2025

2.1.1. Tầm nhìn, mục tiêu phát triển

  • Mục tiêu chung

Trong giai đoạn 2021-2025, Đảng và Nhà nước ta chủ trương vẫn giữ vững ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết thông qua Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025. Sau đó, Chính phủ ban hành Chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết trên xác định mục tiêu về kinh tế, chính trị và xã hội rất rõ. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Về kinh tế, Chương trình hành động có nêu ra mục tiêu là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế; nâng cao hiệu quả, tính bền vững và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trước hết, cần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp; phát triển bền vững các ngành nghề truyền thống đồng thời gắn với việc bảo vệ môi trường; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Chính phủ cũng đề ra rằng cần tập trung nguồn lực phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển. Thêm vào đó, cần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của khu vực công nghiệp bằng cách: phát triển ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều lao động; khuyến khích đầu tư phát triển các ngành sản xuất nguyên vật liệu quan trọng, công nghệ cao, công nghệ thông tin; chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống; quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong giai đoạn 2021-2025, Việt Nam phải chủ động và tạo bước ngoặt trong hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Nhà nước chủ trương đẩy mạnh và nâng cao chất lượng xuất khẩu; tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có nhiều giá trị tăng thêm, hàm lượng công nghệ và sức cạnh tranh cao, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao sức cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, phát triển thị trường, xây dựng và bảo vệ thương hiệu.

Về chính trị – xã hội, bản kế hoạch nêu lên đó là duy trì ổn định chính trị- xã hội, phát triển giáo dục, y tế; tạo công ăn việc làm cho người dân; bảo vệ môi trường; đảm bảo an ninh quốc phòng; chống lãng phí và nạn tham nhũng.

  • Mục tiêu xuất khẩu

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng về phê duyệt “Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2021 – 2025” được ban hành ngày 30/06/2021 có nêu lên quan điểm nước ta về phát triển lĩnh vực xuất khẩu đó là: thực hiện đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa nhằm góp phần tăng trưởng GDP, phát triển sản xuất và thu hút lao động; Khuyến khích, huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, từng bước tạo ra các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới.

Về mục tiêu tổng quát, Nhà nước ta chủ trương phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Trong giai đoạn này, mục tiêu cụ thể trong lĩnh vực xuất khẩu là phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 17,5%/năm và đến năm 2025 đạt khoảng 72,5 tỷ USD. Đến năm 2025, xuất khẩu các mặt hàng nông – lâm – thuỷ sản chiếm khoảng 13,7%, nhóm hàng nhiên liệu – khoáng sản chiếm khoảng 9,6%, nhóm hàng công nghiệp và công nghệ cao chiếm khoảng 54,0% và nhóm hàng hoá khác chiếm 22,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá.

2.1.2. Nhận diện địa phương

Trong phần này, tác giả chỉ để cập đến vấn đề nhận diện địa phương đối với lĩnh vực phát triển xuất khẩu.

  • Điểm mạnh

Về điều kiện tự nhiên, nước ta có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu. Là đất nước có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, có bờ biển dài, địa hình đa dạng gồm cả núi, cao nguyên, đồng bằng. Việt Nam có nhiều sông ngòi, “có đường bờ biển dài 3.260 km” rất thuận lợi để nước ta phát triển các ngành kinh tế biển như nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sản. Phần biển Đông của Việt Nam còn là con đường giao lưu hàng hải quốc tế, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nên việc giao thương buôn bán với nước ngoài rất thuận tiện. Nước ta có nhiều đồng bằng với bề mặt bằng phẳng như: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng ven biển. Cùng với đó, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều đã tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp lúa nước lâu đời, đưa nước ta đã trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Vùng đất đỏ Tây Nguyên lại rất thích hợp cho trồng cây cà phê với sản lượng và chất lượng cao. Nước ta trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu cà phê trong nhiều năm nay. Các loại cây trồng khác như: chè, tiêu, điều, cao su… cũng rất thuận lợi để phát triển. Hệ sinh thái phong phú, diện tích rừng rộng lớn chiếm tới 3/4 diện tích đã tạo điều kiện cho nước ta phát triển các ngành lâm nghiệp, khai thác và chế biến gỗ. Có thể nói, Việt Nam là một quốc gia có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế, bao gồm cả nông – lâm – ngư nghiệp và các ngành công nghiệp liên quan.

Về điều kiện kinh tế – xã hội, tốc độ phát triển kinh tế từ khi cải cách tới nay luôn ở mức cao và ổn định qua các năm. Năm 2021, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8,2%. Năm 2024, mặc dù kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nhưng tốc độ kinh tế của nước ta đạt được vẫn là 5,32%. Xã hội cũng phát triển thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người tăng, chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam liên tục tăng trong hai thập kỷ qua. Năm 1990 Việt Nam chỉ được 0,618 điểm nhưng tới năm 2022 tăng lên 0,725 điểm. Mỗi năm HDI của Việt Nam tăng thêm 1,16% bất kể có lúc kinh tế tăng trưởng chậm lại. Nền chính trị ổn định cũng là một điểm mạnh của nước ta để phát triển kinh tế nói chung và xuất khẩu nói riêng.

Về văn hóa – lịch sử, nước ta có bề dày bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Con người Việt Nam chăm chỉ, cần cù, có sức sống bền bỉ, dẻo dai, có tinh thần quật cường, thông minh, sáng tạo trong sống, chiếu đấu và lao động sản xuất từ muôn đời nay. Một đất nước có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, một đất nước trong gian khổ vẫn hiên ngang và lạc quan đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng nhiều người trên thế giới. Chính những yếu tố này cũng đã góp phần tạo nên một Việt Nam đầy sức sống và quyến rũ. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

  • Điểm yếu

Về điều kiện tự nhiên, do nước ta nằm gần biển Đông, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều nên hiện tượng bão lũ xảy ra thường xuyên, nhất là vào hè thu, hiện tượng gió mùa đông bắc vào đông – xuân gây nhiều thiệt hại về người và của, ảnh hưởng tới sản xuất và cuộc sống của người dân. Địa hình núi non hiểm trở gây khó khăn nhiều cho các cơ quan chức năng quản lý nạn buôn lậu, chặt phá rừng làm ảnh hưởng tới môi trường sống và xã hội.

Về kinh tế – xã hội, nền kinh tế nước ta tuy đạt được tốc độ tăng trưởng cao qua nhiều năm nhưng chất lượng tăng trưởng chưa cao. Biểu hiện ta có thể thấy đầu tiên là hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho tăng trưởng kinh tế còn thấp thể hiện rõ qua sự tăng nhanh của hệ số đo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ICOR, tỷ lệ thất nghiệp tuy có giảm nhưng vẫn còn cao, chất lượng lao động vẫn còn thấp. Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp còn được thể hiện qua cả yếu tố đầu ra. Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm tới 50% GDP của cả nước (cao thứ 6 trong khu vực ASEAN, thứ 9 ở châu Á và thứ 17 trên thế giới), nhưng cơ cấu xuất khẩu của chúng ta đang đối mặt với nhiều vấn đề. Hàng nguyên liệu, hàng thô, hàng sơ chế, hàng gia công hiện vẫn chiếm tỷ trọng khá cao, do đó khả năng thu ngoại tệ chưa khai thác hết. Kim ngạch của các mặt hàng này chiếm tới 3/4 trong tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu là do sự tăng nhanh về lượng của các mặt hàng than đá, dầu thô, cà phê, hạt tiêu, điều, chè và sự tăng nhanh về giá của các mặt hàng dầu thô, than đá, gạo, cao su, hạt điều, lạc,… Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm và lạc hậu, vẫn tập trung ở một số ngành và sản phẩm truyền thống có hàm lượng công nghệ không cao như dệt may, giày da. Ngoài ra, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng cùng với quá trình giảm nghèo. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Tài nguyên môi trường chưa được khai thác hiệu quả, ô nhiễm môi trường gia tăng. Tại một số thành phố và trung tâm công nghiệp, ô nhiễm môi trường nước, không khí và chất thải công nghiệp đã vượt quá mức cho phép. Vấn đề khai thác tài nguyên, đầu tư vào tài sản môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường đang đe dọa sự phát triển bền vững của Việt Nam. Năng lực cạnh tranh quốc gia thấp và khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực có xu hướng tăng. Việt Nam hiện đang ở trong tình trạng năng lực cạnh tranh thấp và có xu hướng tụt hạng so với thời kỳ trước năm 1996. Vào năm 2018, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới về năng lực cạnh tranh, tăng 5 bậc so với năm 2017, nhưng giảm 7 bậc so với thứ hạng 53 của năm 2015 và giảm 21 bậc so với thứ hạng năm 1998. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 75/133 trong khi năm 2023 xếp thứ 70/134. Xét theo từng tiêu chí, tình hình cụ thể như sau: thể chế kinh tế xếp thứ 74; kết cấu hạ tầng xếp thứ 83; kinh tế vĩ mô xếp thứ 53; giáo dục phổ thông và y tế xếp thứ 56; giáo dục đại học xếp thứ 90; hiệu quả của cơ chế thị trường xếp thứ 73; công nghệ xếp thứ 85… Nếu so sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với một số nước ASEAN thì Việt Nam chỉ xếp trên Cam-pu-chia. Các nước Lào, Bru-nây, Mi-an-ma chưa được xếp hạng về năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh thấp và có xu hướng tụt bậc này cho thấy, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều nguy cơ có thể bị tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Về văn hóa – lịch sử, do ảnh hưởng của nền kinh tế lúa nước lạc hậu trong một thời gian dài nên con người Việt Nam còn thiếu những đức tính quan trọng của một người lao động trong xã hội hiện đại như: đúng giờ, tinh thần trách nhiệm của cá nhân, làm việc độc lập… Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động của nước ta, hơn nữa, những hạn chế này khó mà có thể thay đổi được trong một sớm một chiều. Thêm vào đó, Việt Nam là một đất nước có tới 54 bộ tộc anh em. Sự đa dạng về bộ tộc dẫn tới sự đa dạng về văn hóa nhưng mặt khác cũng đem lại khó khăn cho việc quản lý, tuyên truyền cho họ. Bất ổn về chính trị nhiều khi là do sự không hiểu biết của một số người bị kẻ xấu lợi dụng, kích động. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển sản xuất và xuất khẩu của nước ta.

2.1.3. Thẩm định địa phương Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Năng lực địa phương của nước ta để phát triển xuất khẩu tuy rằng đã và đang được cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung còn nhiều yếu điểm và non kém.

Trước hết, quan điểm, văn hóa của địa phương đang từng bước thay đổi theo hướng tích cực nhưng tốc độ chuyển biến còn chậm. Trước 1986, chúng ta vẫn giữ mãi quan điểm đóng cửa nền kinh tế trong một thời gian khá dài, dẫn đến nền kinh tế trì trệ nghiêm trọng. Sau cải cách, nước ta thực hiện mở cửa nền kinh tế và đã gặp rất nhiều khó khăn. Cả một giai đoạn dài chúng ta đóng cửa nền kinh tế, không biết mình đang đứng ở đâu, đang như thế nào. Trong khi đó, nền kinh tế thế giới phát triển như vũ bão, giao lưu văn hóa, hợp tác kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ. Sự chuyển biến quá chậm về quan điểm đã kéo theo sự tụt hậu của nền kinh tế nước ta hàng chục năm, thậm chí là hàng trăm năm so với các nước trên thế giới. Lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa nước ta cũng chịu ảnh hưởng theo. Tuy vậy, mở cửa dù muộn thì cũng là một bước ngoặt lớn, góp phần cải thiện đáng kể nền kinh tế – xã hội nước ta.

Sự cố kết của quốc gia còn chưa được chặt chẽ. Cuộc sống xã hội hiện đại, đất nước phát triển sẽ hình thành lên ngày càng nhiều tầng lớp xã hội mới với mức sống chênh lệch nhau. Chính điều này tạo nên khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa. Nước ta là một đất nước đa dạng về văn hóa, tôn giáo và tộc người dẫn đến nhiều mâu thuẫn và căng thẳng trong xã hội. Nếu không có có sự gắn kết những nhóm người này lại, không tạo dựng mối quan hệ bền chặt thì những vấn đề xấu rất dễ xảy ra. Ở nước ta, nhiều hình thức như từ thiện, chương trình vì người nghèo,… cũng đã góp phần cải thiện mối quan hệ này. Tuy vậy, nhiều cộng đồng người dân, tầng lớp nhân dân vẫn còn xa cách. Mối quan hệ giữa người dân trồng trọt, chăn nuôi với tầng lớp thương nhân cần đoàn kết hơn nữa để tạo môi liên kết thúc đẩy xuất khẩu và tạo ra của cải vật chất nhiều hơn cho xã hội. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Các nguồn lực sẵn có của nước ta rất phong phú nhưng cũng chưa phát huy được nhiều tác dụng, đôi khi còn gây cản trở cho nền kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên giàu có cả về đất, rừng và biển đã giúp cho quốc gia có ưu thế cạnh tranh hơn hẳn. Tuy nhiên điều này cũng không hoàn toàn đúng như trong trường hợp của Nhật Bản hay Singapore. Hai đất nước này rất không được thiên nhiên ưu đãi nhưng họ lại phát triển vượt bậc, đứng thứ hạng cao trên thế giới về kinh tế. Chính vì vậy, nước ta dù tài nguyên thiên nhiên đa dạng nhưng không biết cách sử dụng hiệu quả thì cũng ngày một cạn kiệt mà không đem lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế ở nước ta. Quy mô dân số càng đông thì càng có lợi thế cạnh tranh trong vấn đề nguồn lao động. Nước ta có một nguồn lao động dồi dào, giá rẻ phục vụ phát triển kinh tế. Nhưng một cách nhìn khác lại cho thấy, quá đông dân sẽ làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề như: nạn thất nghiệp, tội phạm, môi trường sống mất cân bằng, xã hội phải chi nhiều phúc lợi công… Nguồn lao động dồi dào nhưng phải đi kèm với chất lượng cao thì sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh lớn cho đất nước. Cơ sở hạ tầng cũng là một yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến năng lực cạnh tranh cao hay thấp của một địa phương. Cơ sở hạ tầng ở đây bao gồm cả về sản xuất, giao thông, công nghệ thông tin,… Một quốc gia có cơ sở hạ tầng tốt, phát triển đầy đủ sẽ tạo thuận lợi cho địa phương phát triển cả về kinh tế lẫn xã hội. Nhưng hiện tại, cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn còn hết sức yếu kém. Đặc biệt, giao thông vẫn đang là một vấn nạn đau đầu các nhà quản lý nước ta hiện nay. Những điều này đã làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của Việt Nam, gây tác động không nhỏ tới sản xuất và lưu thông hàng hóa xuất khẩu.

Tổ chức ngành của Việt Nam cũng vẫn còn kém. Chủ yếu các tập đoàn kinh tế lớn của nước ta là của khu vực Nhà nước. Các tập đoàn này khai thác kinh doanh tài nguyên khoáng sản như: dầu khí, than và các ngành kinh tế nhà nước nắm thế độc quyền như: hàng không, ngân hàng, tài chính, viễn thông, điện lực… Những lĩnh vực đòi hỏi cao về công nghệ thì đều là các tập đoàn của doanh nghiệp nước ngoài. Khối doanh nghiệp tư nhân vẫn còn hết sức yếu kém. Mặc dù là các tập đoàn kinh tế lớn nhất của nước ta nhưng doanh thu của các doanh nghiệp này cũng chỉ gần tương đương doanh thu của các doanh nghiệp nằm trong 10 doanh nghiệp cuối bảng xếp hạng của Fortune 500 (2021). Các tập đoàn này chưa có sự liên kết chặt chẽ để tạo nên một khối sức mạnh vững chắc nhằm tạo rào cản ngăn nhập siêu, thúc đẩy xuất khẩu và đẩy nhanh phát triển kinh tế đất nước.

Các nhà lãnh đạo nước ta đang từng bước thay đổi quan điểm, cách nghĩ và tìm hướng đi đúng đắn cho đất nước. Mở cửa kinh tế, gia nhập thị trường thế giới là quyết định sáng suốt của giai cấp lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ quá độ nên gặp không ít sai sót trong cơ chế chính sách, trong các văn bản Luật để rồi sau đó phải sửa đổi không ít lần. Điều này ảnh hưởng lớn tới kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động kinh tế – xã hội. Nạn tham nhũng, nhận hối lộ đã làm giảm năng lực cạnh tranh, làm suy yếu hình ảnh quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế và làm cản trở sự phát triển kinh tế đất nước. Các thủ tục hành chính, thủ tục hải quan còn phức tạp, cồng kềnh, quan liêu đã khiến cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư tốn không ít thời gian, tiền bạc khi bước vào Việt Nam.

Tóm lại, Việt Nam không những cần phải nâng cao năng lực quốc gia và đề ra chính sách phát triển quốc gia phù hợp, mà còn cần phải có đội ngũ lãnh đạo các cấp tài tình, sáng suốt, nhiệt huyết và thống nhất cả trong tư tưởng và hành động. Có như vậy, nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng mới có thể phát triển nhanh và bền vững được.

2.1.4. Xây dựng chiến lược marketing quốc gia Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Chúng ta cần phải nhận biết được mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của chiến lược marketing quốc gia. Mục tiêu trước mắt là nhằm tận dụng tối đa những lợi thế đã có của chúng ta. Các ngành xuất khẩu có lợi thế của nước ta tập trung vào lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp như: lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, thủ công mỹ nghệ, thủy hải sản… Những sản phẩm này có khả năng thu hút lớn các nhà đầu tư cũng như các nhà xuất nhập khẩu. Vì vậy, Nhà nước ta cần kết hợp với các địa phương, tạo điều kiện tốt nhất để thu hút những đối tượng này. Về mục tiêu lâu dài, Việt Nam cần phải nhận biết được phân khúc thị trường nào là thích hợp nhất cho địa phương mình để tập trung nhiều nguồn lực hơn phát triển nó. Nước ta trong dài hạn mong muốn phát triển ngành công nghiệp nhiều hơn nữa, tăng cơ cấu ngành công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam cần đề ra những chiến lược marketing cho phù hợp với từng giai đoạn.

Vấn đề thương hiệu quốc gia có vai trò hết sức quan trọng trong thương mại quốc tế ngày nay. Tuy nhiên đây vẫn còn là vấn đề hết sức nan giải với Việt Nam. “Hình ảnh địa phương là tổ hợp những niềm tin, ý tưởng mà người ta có về một địa phương đó.”20 Một thương hiệu địa phương hay thương hiệu quốc gia là tên và các biểu trưng hay dấu hiệu nhận biết giúp người ta liên tưởng ngay đến địa danh đó. Chẳng hạn nói đến sản phẩm công nghệ bền thì người ta nghĩ ngay đến Nhật Bản, nói đến sản phẩm giá rẻ thì người ta lại nghĩ ngay đến Trung Quốc. Trong khi đó, khi nhắc đến Việt Nam, bạn bè quốc tế chỉ nghĩ tới chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu mạnh các mặt hàng tiêu dùng, nông thủy hải sản, thực phẩm,… với chất lượng không thua kém với các sản phẩm quốc tế. Tuy nhiên, khoảng 90% sản phẩm Việt Nam vào thị trường thế giới hầu hết thông qua trung gian dưới dạng thô hoặc gia công cho các thương hiệu nước ngoài. Do đó, hình ảnh thương hiệu Việt Nam thường mờ nhạt đối với khách hàng nước ngoài. Chưa kể một số thương hiệu Việt Nam thường phải đối phó với những tranh chấp thương hiệu trên thị trường thế giới (trường hợp Trung Nguyên, Vinataba, Sa Giang, Biti’s,…). Vì thế, các doanh nghiệp của nước ta cần phải xây dựng cho mình một thương hiệu bền vững trong môi trường cạnh tranh và kinh doanh toàn cầu gay gắt như hiện nay bởi vì thương hiệu ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định mua sắm của khách hàng. Vấn đề xây dựng thương hiệu là một khía cạnh không thể thiếu trong chiến lược marketing quốc gia, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững doanh nghiệp, tạo dựng một hình ảnh đẹp, ấn tượng và lâu bền về sản phẩm Việt Nam cũng như về đất nước chúng ta. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Phía Nhà nước, các cơ quan chính quyền, và trực tiếp đó là Cục Xúc tiến Thương mại của Việt Nam cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đăng ký thương hiệu và chứng nhận xuất xứ hàng hóa quốc gia. Theo kết quả nghiên cứu mới nhất về top 200 doanh nghiệp Việt Nam của UNDP thì: “Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam được hỏi đều cho rằng tạo dựng thương hiệu ở nước ngoài là việc làm tốn kém và khó khăn. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường quốc tế thông qua các tập đoàn phân phối toàn cầu dưới thương hiệu của họ. Những tập đoàn này không sẵn sàng chấp nhận việc các doanh nghiệp tạo dựng thương hiệu độc lập. Dù sao, làm như vậy vẫn còn là điều vượt quá năng lực và nguồn lực của phần lớn các doanh nghiệp lớn của Việt Nam“. Theo số liệu của Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Quốc tế WIPO thì kể từ khi nhãn hiệu đầu tiên của Việt Nam được đăng ký quốc tế theo Thoả ước Madrid (năm 1986) đến tháng 10/2022, mới có 156 nhãn hiệu của Việt Nam được đăng ký và nộp đơn theo hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế theo Madrid. Trong khi đó, số lượng nhãn hiệu từ các nước chỉ định đăng ký tại Việt Nam là 59.014. Nhìn vào con số này có thể nhận thấy số lượng nhãn hiệu của Việt Nam được đăng ký quốc tế còn rất hạn chế so với số lượng nhãn hiệu từ các nước chỉ định vào Việt Nam. Việc đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài có thể được thực hiện bằng cách nộp đơn đăng ký đơn lẻ tại từng quốc gia nơi doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá hoặc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế theo hệ thống Madrid. Việt Nam đã gia nhập Thoả ước Madid từ năm 1949. Ngày 11/7/2021 Việt Nam tiếp tục trở thành thành viên chính thức tham gia Nghị định thư Madrid về nhãn hiệu hàng hoá. Đây là cơ hội để nhãn hiệu của các nước trong hệ thống Madrid được bảo hộ ở Việt Nam và hàng hoá trong nước vươn ra thị trường quốc tế. Có như vậy, các doanh nghiệp mới có thể trụ vững và khẳng định vị thế của mình trên thương trường quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề đăng ký nhãn hiệu vần cần phải có sự phổ biến thông tin, sự giúp đỡ từ phía Chính quyền và các tổ chức Nhà nước có liên quan.

Thêm vào đó, Nhà nước cần phối hợp với doanh nghiệp, với các vùng miền tổ chức ngày hội triển lãm hàng Việt Nam nhằm thu hút các nhà đầu tư cũng như giới kinh doanh toàn cầu quan tâm tới nước ta tìm kiếm cơ hội và khiến họ thay đổi suy nghĩ chưa tốt về hàng Việt. Nhà nước cũng cần kết hợp với các hiệp hội doanh nghiệp của nước ta ở các nước trên thế giới thường xuyên mở hội chợ, triển lãm hàng Việt Nam. Những việc làm này sẽ làm thay đổi suy nghĩ của thế giới về hàng Việt, hình ảnh đất nước cũng như con người Việt. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Người dân có thể là những nhà marketing trực tiếp tốt nhất cho quốc gia. Một đất nước có trình độ dân trí cao; thái độ người dân thân thiện, văn minh; phong cách làm việc của người lao động hiện đại, năng động, sáng tạo sẽ góp phần đánh bóng thêm cho hình ảnh quốc gia. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất quan tâm về vấn đề nguồn nhân lực khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó. Người dân cần cù, sáng tạo trong lao động và sản xuất góp phần không nhỏ làm cho năng suất cũng như chất lượng sản phẩm trở nên tốt hơn, giúp thúc đẩy xuất khẩu và khẳng định thương hiệu hàng .

Tóm lại, chiến lược marketing quốc gia cần có sự kết hợp của tất cả các chủ thể liên quan thì mới đạt hiệu quả cao.

2.2. Hoạt động marketing quốc gia trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thời gian qua Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

2.2.1. Hoạt động marketing hình tượng

Marketing hình tượng là nhằm tạo dựng nên một hình ảnh đẹp để hấp dẫn thị trường xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của quốc gia đó. Việt Nam đang cố gắng xây dựng một hình ảnh đẹp trong lòng người dân trên toàn thế giới. Rất nhiều Hội thảo Xúc tiến Đầu tư, Hội thảo về cơ hội kinh doanh ở Việt Nam được tổ chức ở khắp các nước trên thế giới từ đó mang hình ảnh Việt Nam vươn ra xa hơn đối với bạn bè quốc tế. Có thể thấy như Hội thảo về Đầu tư và Xuất khẩu tại Việt Nam ở Đức diễn ra vào ngày 16/4/2023 với tiêu đề “Việt Nam – Điểm xuất khẩu và đầu tư hấp dẫn cho nền kinh tế Đức”, Hội thảo Xúc tiến Đầu tư vào Việt Nam tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Italia, Singapore, Nga và nhiều nước khác nữa. Nhiều người ngày nay không những chỉ biết đến Việt Nam qua những cuộc chiến tranh, qua tà áo dài hay nón lá. Việt Nam bây giờ còn được biết đến qua các thương hiệu Việt chất lượng cao. Nhắc đến Việt Nam bây giờ còn có cà phê Trung Nguyên, sản phẩm may sẵn của Việt Tiến, sữa tươi Vinamilk…

Một điểm nữa đó là, ở Việt Nam, các địa phương áp dụng phương thức marketing hình tượng này khá lâu rồi. Nhiều địa danh của nước ta có thể coi là đã tạo dựng được cho mình một hình tượng để thu hút xuất khẩu. Một cách thức được áp dụng phổ biến trong trường hợp này là gắn liền tên sản vật của địa phương với tên tuổi của địa phương mình, ví dụ như: kẹo dừa Bến Tre, bưởi Năm Roi, bánh đậu xanh Hải Dương, nhãn lồng Hưng Yên… Những thương hiệu như thế này giúp cho người tiêu dùng rất dễ nhận biết. Hơn nữa, nó còn tạo ấn tượng mạnh và lâu bền trong tâm trí người tiêu dùng bởi chỉ có Việt Nam mới có Hải Dương, mới có Bến Tre, mới có Hưng Yên và cũng chỉ có Việt Nam mới có những sản phẩm đặc trưng gắn liền với những tên tuổi đó. Việc xây dựng thương hiệu sản phẩm của địa phương như thế này có tác dụng rất lớn đối với thu hút thị trường xuất khẩu cho Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Tuy vậy, nhìn chung Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hình ảnh đồng nhất cho mình nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Hoạt động marketing hình tượng mới chỉ tập trung ở một số thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… mà chưa có sự đồng bộ chặt chẽ với nhau. Còn nhiều vùng của Việt Nam có tiềm năng phát triển các sản phẩm xuất khẩu nhưng vẫn chưa ý thức được giá trị của thương hiệu đối với việc thu hút và phát triển xuất khẩu, phát triển kinh tế địa phương mình. Họ mới chỉ dừng lại ở những hoạt động quảng bá chung chung và không tạo ra sự khác biệt giữa các địa phương chứ chưa xác định được hình tượng hay một hướng đi, mục tiêu cụ thể cho địa phương mình. Nguồn lực của nước ta có hạn, đặc biệt là thiếu vốn. Vì vậy, Việt Nam cần xác định rõ ngành nào là ngành mũi nhọn, các địa phương của nước ta cần nhận biết sản phẩm nào là sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của mình để đầu tư phát triển nhiều hơn.

Những nỗ lực quảng bá hình ảnh quốc gia mới chỉ dừng lại ở các hoạt động riêng lẻ trên từng khía cạnh: đầu tư, du lịch, xuất khẩu và dân cư mà chưa có sự phối hợp với nhau. Trên thực tế, cả bốn lĩnh vực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Du lịch, dân cư và đầu tư phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu tăng theo và ngược lại. Dù biết như vậy nhưng nhìn chung, nước ta chưa biết tận dụng mối quan hệ này nhiều trong marketing hình ảnh cho quốc gia mình. Mỗi ngành có kế hoạch và thực hiện công việc marketing theo những hướng khác nhau. Marketing cho xuất khẩu và đầu tư cũng được kết hợp với nhau nhưng chưa được rõ nét. Chúng ta có thể thấy một số Hội nghị Xúc tiến Đầu tư ở nước ta được tổ chức là nhằm vào các ngành khuyến khích xuất khẩu như da giầy, dệt may… Tuy nhiên sự kết hợp như thế này không phải là nhiều. Việt Nam vẫn chưa tận dụng được hết sự tác động từ phía các thị trường liên quan để đẩy mạnh xuất khẩu.

Việt Nam chưa xác định được hình tượng riêng biệt cho từng vùng để gây ấn tượng và không bị nhầm lẫn với những nơi khác trên thế giới. Nước ta nêu lên chủ trương là khuyến khích đầu tư và phát triển các ngành có thế mạnh xuất khẩu. Thế nhưng, từng vùng, từng địa phương vẫn chưa có khẩu hiệu riêng nói lên được thế mạnh, mong muốn của mình trong từng giai đoạn. Điều này khiến cho các nhà đầu mất nhiều thời gian để tìm hiểu nếu muốn đầu tư và kinh doanh tại địa phương. Hơn thế nữa, việc chưa tạo dựng được hình ảnh cũng khiến cho ấn tượng về Việt Nam khó sâu đậm và bền vững trong lòng các nhà đầu tư kinh doanh. Vấn đề này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của lĩnh vực xuất khẩu của nước ta trong cả ngắn và dài hạn. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Vấn đề quảng bá hình ảnh quốc gia cũng chưa được tốt. Những nỗ lực quảng bá địa phương mới chỉ dừng lại ở các hoạt động của Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư ở các tỉnh theo kiểu: mạnh cơ quan nào cơ quan ấy tiến hành, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau dẫn đến phát triển không đều. Mặt khác, từ trước tới nay, quan niệm về xúc tiến đầu tư chỉ đơi thuần làm đến khâu cấp phép đầu tư là các nhà xúc tiến hết vai trò và nhiệm vụ. Do vậy, quá trình hoạt động xúc tiến đầu tư hoặc ngay cả khi tiến hành đầu tư thì nhà đầu tư chưa được hướng dẫn và chỉ đường tới tận đích mà còn bị bỏ lửng ở giai đoạn giữa. Điều đó khiến cho hiệu quả đầu tư, sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu bị giảm sút hơn rất nhiều. Bây giờ cần phải nhận thức rõ được rằng hoạt động xúc tiến đầu tư cần vươn tới sau giấy phép vì sau giấy phép còn hàng loạt các vấn đề khác. Một số vấn đề về giải phóng mặt bằng, giao đất, thủ tục về quy hoạch, cấp phép xây dựng, xử lý môi trường rồi tuyển dụng lao động… của doanh nghiệp cũng rất cần sự hỗ trợ, tư vấn của cơ quan Xúc tiến Đầu tư.

Hơn thế nữa, các dịch vụ công cơ bản về an ninh, giáo dục, giao thông công cộng… của nước ta còn yếu kém đã kéo theo hình tượng và sức hấp dẫn của nước ta bị giảm sút nhiều. Nhìn chung tình trạng an ninh nước ta ổn định. Tuy nhiên, nạn trộm cắp, móc túi… nhiều cũng đã khiến người nước ngoài e ngại khi đến Việt Nam. Tình trạng giao thông công cộng ách tắc, ý thức giao thông của người dân còn kém, giáo dục còn lạc hậu và thiên về lý thuyết… cũng đã làm giảm đáng kể hình tượng Việt Nam trong mắt người nước ngoài khi tới nước ta. Chính vì thế, các hoạt động marketing dựa vào các dịch vụ công còn chưa được nhắc đến nhiều khi marketing cho hình tượng nước mình.

2.2.2. Hoạt động marketing các điểm hấp dẫn Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Trong khi các điểm hấp dẫn đối với thị trường du lịch là các phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, các di tích lịch sử thì các điểm hấp dẫn đối với xuất khẩu lại là những nơi có điều kiện sản xuất các sản phẩm đặc trưng với chất lượng tốt và số lượng lớn, hoặc những nơi tập trung khu công nghiệp với cơ sở hạ tầng và giao thông thuận lợi… Việt Nam có nhiều hoạt động giúp thế giới biết đến Việt Nam với nhiều vùng đất giàu tiềm năng lớn để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu. Bây giờ nói đến Việt Nam, thế giới có thể biết đến như là một đất nước xuất khẩu lúa gạo và cà phê đứng thứ 2 trên thế giới, với những cánh đồng lúa trải rộng hay những vườn cà phê phủ đầy vùng đất cao nguyên.

Marketing các điểm hấp dẫn là hoạt động được nước ta áp dụng từ lâu. Ví như nói đến vùng xuất khẩu gạo chúng ta có thể nghĩ đến ngay khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây được coi là vựa lúa chính của Việt Nam. Khu vực này cũng đã thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu lúa gạo cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Nước ta cũng chú trọng đầu tư về cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa các khâu thu hoạch và sơ chế lúa gạo nhằm đạt được chất lượng sản phẩm cao, giúp gia tăng xuất khẩu.

Một ví dụ điển hình cho khu công nghiệp ở Việt Nam thu hút thành công phát triển nhiều ngành công nghiệp phục vụ cả cho xuất khẩu đó là khu công nghiệp Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ở đây không chỉ có dệt, may mặc, kim loại, thiết bị điện, hóa chất mà còn có rất nhiều các mặt hàng khác. Vùng này trở thành một điểm hấp dẫn thu hút xuất khẩu do tập trung được nhiều yếu tố thuận lợi như: gần các thành phố lớn, gần sân bay, cảng biển, nhà ga; có hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng tốt. Với những yếu tố thuận lợi như trên, khu công nghiệp Biên Hòa ngày càng thu hút nhiều doanh nghiệp sản xuất đa dạng mặt hàng không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn gia tăng xuất khẩu. Nhắc đến các khu công nghiệp ở Việt Nam, không thể thiếu khu công nghiệp Biên Hòa – Đồng Nai.

Một công cụ marketing thường được đề cập đến là xây dựng các website để quảng bá các điểm hấp dẫn của Việt Nam đến các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư trên thế giới. Trang web: vnex.com. cung cấp hệ thống thông tin khá đầy đủ về các vùng miền và sản phẩm có thể phát triển ở đó đã giúp đánh bóng các điểm hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư cũng dễ dàng hơn nhiều trong việc tìm thông tin về lĩnh vực mình quan tâm và địa phương cần đến cho mình. Có thể thấy như các nhà đầu tư muốn đầu tư phát triển xuất khẩu lúa gạo thì về An Giang, Tiền Giang… ở phía nam, hay Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội… ở phía bắc. Hiện nay, hầu hết các địa phương đã xây dựng được website riêng cho mình. Nhiều địa phương đã sử dụng website như một công cụ hiệu quả, một nguồn thông tin để doanh nghiệp, các nhà đầu tư quan tâm có thể tiếp cận khu muốn tìm hiểu về địa phương đó như thành phố Hồ Chí Minh (hochiminh.gov.vn). Tuy nhiên, nhiều tỉnh vẫn chưa tận dụng được công cụ này hiệu quả mặc dù cũng đã có website riêng cho mình.

2.2.3. Hoạt động marketing cơ sở hạ tầng

Việt Nam không phải là một quốc gia có cơ sở hạ tầng phát triển, thậm chí còn thua kém rất xa với nhiều nước trong khu vực và đi sau nhiều trăm năm đối với các nước phát triển khác trên thế giới. Tuy nhiên, là một quốc gia có nền chính trị ổn định và đang trên đà phát triển nhanh, Việt Nam cũng đang là một điểm đến đáng tin cậy của nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng như để phát triển lĩnh vực xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Việt Nam chỉ thực hiện hoạt động marketing cơ sở hạ tầng cho một số thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội, Quảng Ninh… và cũng chỉ những thành phố lớn này mới có khả năng thực hiện được hoạt động marketing. Các thành phố này có điều kiện kinh tế phát triển hơn, cuộc sống của người dân cũng khá giả hơn nên cơ sở hạ tầng cũng tốt hơn những vùng khác. Vì vậy mà trụ sở của các công ty hay nơi tổ chức các hội nghị vẫn thường chỉ tập trung ở những thành phố này.

Bên cạnh đó, một số địa phương của Việt Nam đã tận dụng được vị trí thuận lợi của mình là gần các thành phố trung tâm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cùng với việc nỗ lực phát triển cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư cũng như phát huy được điểm mạnh của địa phương mình đã đạt được những thành tựu đáng kể trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm của địa phương mình. Các địa phương có thể kể đến như: Bình Dương, Đồng Nai, Khánh Hòa, Hải Dương, Vĩnh Phúc…

2.2.4. Hoạt động marketing con người

Hoạt động marketing con người hầu như mới chỉ được sử dụng để thu hút du lịch còn với thị trường xuất khẩu thì hoạt động này vẫn còn chưa khai thác được nhiều hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy phương thức marketing con người với sản phẩm cà phê Trung Nguyên. Thương hiệu cà phê Trung Nguyên không chỉ được biết đến trong nước mà còn cả trên thế giới. Đến nay, cà phê Trung Nguyên có mặt ở nhiều nước như: Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Đức, Úc, Canada, Trung Quốc,… và đạt được nhiều thành công trong khoảng thời gian ngắn. Người tâm huyết với việc xây dựng cho thương hiệu Trung Nguyên chính là Tổng giám đốc Đặng Lê Nguyên Vũ. Vượt lên từ khó khăn, với đầu óc dám nghĩ dám làm và luôn trăn trở cho hình ảnh thương hiệu quốc gia chưa được thừa nhận trên trường quốc tế mặc dù Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê thứ 2 trên thế giới, anh Nguyên Vũ là người đi tiên phong trong việc gây dựng hình ảnh cà phê Việt. Anh là gương một chiến sĩ thực thụ, chiến đấu trên thương trường vì thương hiệu Việt. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Một cách thức marketing dựa vào con người nữa mà nước ta sử dụng đó là thông qua những bài cảm nhận, lời phát ngôn của những người đã từng sống ở Việt Nam. Thông qua đó, chúng ta có thể biết được cách họ nghĩ về hàng Việt. Những nhận xét tích cực của họ là một cách marketing cho sản phẩm một cách hiệu quả, giúp nâng cao hình ảnh hàng hóa Việt và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong đợt điều tra về chất lượng hàng Việt Nam, người tiêu dùng nước ngoài đánh giá hàng Việt Nam nhìn chung có chất lượng ở mức điểm 3,7 theo thang điểm từ 1 là bình thường đến 5 là rất tốt. Năm mặt hàng được người nước ngoài chọn mua và đánh giá chất lượng cao nhất: Sữa tươi Vinamilk, Cà phê Trung Nguyên, Bút bi Thiên Long, Bánh ngọt Kinh Đô, Áo sơmi Việt Tiến. Những nhận xét này đã góp phần làm thay đổi cách nhìn của nhiều người về hàng Việt hiện nay.

Marketing dựa vào người kinh doanh lâu đời cũng được nước ta áp dụng. Ông John C. Mingé, Tổng giám đốc tập đoàn dầu khí hàng đầu Anh quốc BP (Việt Nam) cho biết, tính đến nay BP đã có mặt ở Việt Nam hơn 15 năm. Mặc dù mới sống và làm việc tại Việt Nam được 2 năm, nhưng ông có thể cảm nhận được sự đổi thay từng ngày của Việt Nam – một sự đổi thay tích cực. Nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng trong vài năm trở lại đây. Ông cũng khẳng định sẽ tiếp tục đầu tư vào Việt Nam thêm nhiều năm nữa. Một ví dụ nữa đó là công ty Sinopharm của Trung Quốc đã thành lập công ty liên doanh ở Việt Nam nhiều năm nay. Ông Lý Chí Tân, Phó Tổng giám đốc Sinopharm, cũng đã nói tốt về thị trường Việt Nam “Chúng tôi muốn đầu tư nhiều hơn nữa vào Việt Nam bởi Việt Nam là một thị trường rộng lớn, người dân Việt Nam cần cù, sáng tạo, nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng. Chúng tôi mong muốn được xây dựng thêm một số nhà máy sản xuất tại Việt Nam.” Những ý kiến nhận xét tích cực của những nhà đầu tư sống và làm việc lâu năm ở Việt Nam như hai ví dụ ở trên sẽ có sức thuyết phục lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đang và chưa có ý định đầu tư vào nước ta. Marketing dựa vào người nổi tiếng cũng chưa được khai thác sử dụng ở nước ta.

2.3. Hoạt động marketing quốc gia trong một số ngành xuất khẩu chủ yếu của nước ta Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

2.3.1. Hàng nguyên liệu xuất khẩu

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta thì mặt hàng nguyên liệu xuất khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn qua nhiều năm. Năm 2022, trên 60% giá trị kim ngạch là mặt hàng xuất khẩu ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp. Nước ta đang cố gắng chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỉ trọng của nhóm hàng này nên các hoạt động marketing quốc gia đối với hàng nguyên liệu xuất khẩu không nhiều lắm. Trong nhóm ngành này, tác giả chỉ phân tích hoạt động marketing với một mặt hàng tiêu biểu đó là dầu thô.

Kể từ năm 1986 – thời điểm tấn dầu thô đầu tiên được khai thác từ mỏ Bạch Hổ đến nay, hàng năm ngành dầu khí đã đóng góp khoảng 20% vào GDP và 30% vào tổng thu ngân sách của đất nước. Kim ngạch xuất khẩu toàn tập đoàn chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Như vậy có thể nói ngành dầu khí có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều thông tin về sản phẩm & dịch vụ, các hoạt động sản xuất kinh doanh, vấn đề khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, các hoạt động về an toàn – sức khỏe – môi trường của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam qua website cổng thông tin của tập đoàn. Hình ảnh của tập đoàn vì thế cũng được biết đến rõ nét, gần gũi hơn. Vào ngày 12/9/2024, Hội Dầu khí Việt Nam chính thức ra đời. Hội Dầu khí là tổ chức xã hội nghề nghiệp, tập hợp đoàn kết những người đã và đang công tác khoa học, kỹ thuật trong ngành dầu khí để duy trì, phát triển, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, góp phần xây dựng phát triển ngành dầu khí trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn ở Việt Nam. Trang web này cung cấp rất nhiều thông tin về giao thương, chào bán, chào mua, đầu tư, tình hình xuất nhập khẩu, … đã giúp cho những khách hàng, các nhà xuất nhập khẩu ở các nước trên thế giới có thể dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu về các sản phẩm dầu khí của nước ta, giúp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này. Cách thức marketing thời công nghệ số này giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc, phá bỏ rào cản về khoảng cách giữa các nước, giữa các doanh nghiệp trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Thông qua các hội thảo trong nước và quốc tế về năng lượng, Việt Nam đã mang hình ảnh về đất nước có giàu tiềm năng phát triển ngành dầu khí đến với thế giới. Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị APEC lần thứ 14 vào năm 2021 và đã gặt hái được rất nhiều thành công. Suốt quá trình Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC 14 diễn ra và kết thúc thành công, rất nhiều hãng truyền thông trên thế giới đã có bài ca ngợi về Việt Nam. Đặc biệt, thông điệp “Việt Nam, một đất nước giàu tiềm năng, một môi trường giàu cơ hội đầu tư và kinh tế Việt Nam đang có những bước nhảy vọt” là nội dung chính của những bài viết này. Với tựa đề “Việt Nam, APEC và hơn thế nữa”, bài xã luận của báo Dân tộc (Thái Lan) phát hành ngày 20/11, khẳng định: Hội nghị cấp cao Hà Nội của Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) là giá trị thật sự của những cuộc gặp gỡ quan trọng, đã tạo ra những cơ hội tiếp xúc và thảo luận song phương giữa những nhà lãnh đạo cấp cao nhất của 21 nền kinh tế thành viên. Ở đây, những cuộc gặp song phương và đa phương đã cho thấy hình ảnh một đất nước Việt Nam năng động, đang trên đà phát triển mạnh mẽ, mở ra cơ hội làm ăn mới cho Việt Nam nói riêng và nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương nói chung. Bài báo còn nêu rõ, nước chủ nhà Việt Nam đã sử dụng hiệu quả diễn đàn APEC này để thể hiện sự phát triển kinh tế nhanh chóng của mình. Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc cũng vừa đăng bài viết nhan đề “Việt Nam ngày càng đĩnh đạc tự tin”. Ngoài ra còn có hãng thông tấn BBC của Anh, báo Toàn cảnh Frankfurt của Đức, hãng truyền thông AFP của Pháp cũng không ngớt lời ca ngợi về sự thành công của hội nghị APEC. Việt Nam vì thế mà đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà lãnh đạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư về một Việt Nam còn giàu tiềm năng phát triển trong ngành dầu khí và nhiều lĩnh vực khác nữa. Một ví dụ nữa đó là ngày 20/8/2024, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) và Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) đã tổ chức hội thảo quốc tế “Quy hoạch và Chiến lược phát triển năng lượng Việt Nam”. Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào cho biết: Chính phủ Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đầu tư vào công trình năng lượng. Trong thời gian tới, chiến lược phát triển năng lượng được thực hiện bằng các chính sách hợp tác quốc tế về xuất nhập khẩu năng lượng; phát triển khoa học công nghệ; phát triển nguồn năng lượng mới và tái tạo; cải cách cơ cấu tổ chức ngành năng lượng, hình thành thị trường năng lượng cạnh tranh; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Với những hội thảo như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tin tưởng đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu về lĩnh vực năng lượng vào nước ta hơn, trong đó có dầu khí. Các Hội thảo và Hội chợ, Triển lãm Quốc tế về Năng lượng (VE Expo 2022, 2023, 2024) đã tạo ra cơ hội cho các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc nghiên cứu và tìm kiếm thị trường phát triển, tiêu thụ sản phẩm năng lượng. Điều này góp phần không nhỏ vào chiến lược marketing quốc gia của Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng dầu khí này, từ đó đã giúp xuất khẩu dầu khí gia tăng cả về số lượng và giá trị qua các năm.

2.3.2. Hàng sơ chế xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Cũng giống như nhóm hàng nguyên liệu, nhóm hàng này đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam. Các mặt hàng sơ chế xuất khẩu chủ yếu thuộc ngành nông – lâm – ngư nghiệp như: gạo, cao su, thủy hải sản sơ chế… Các mặt hàng này là thế mạnh của nước ta nhưng do chỉ xuất khẩu dưới dạng sơ chế nên nguồn thu cũng bị giảm đáng kể và nhìn chung là chưa xứng đáng với tiềm năng dồi dào của nước ta. Điều này là do chúng ta chưa có thương hiệu riêng cho mình. Các sản phẩm sơ chế này được bán cho các nhà nhập khẩu, sau đó các nhà nhập khẩu mới đóng gói, gắn mác của họ vào và bán cho người tiêu dùng với giá cao hơn hẳn. Thiệt thòi không chỉ là về doanh thu xuất khẩu mà còn cả về thương hiệu, dẫn đến tình trạng là hàng Việt Nam có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới nhưng không có mấy ai biết chính mình đang dùng hàng Việt Nam. Vì vậy, chiến lược marketing quốc gia trong ngành hàng này cũng được quan tâm hơn cả.

Trong giới hạn bài luận văn này, tác giả chỉ xin phân tích hoạt động marketing cho mặt hàng gạo sơ chế xuất khẩu.

Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những mặt hàng có giá cả không ổn định nhất trong giỏ hàng xuất khẩu của nước ta. Sản lượng và giá trị gạo xuất khẩu của nước ta có xu hướng tăng qua các năm. Nhìn vào biểu đồ bên dưới, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2024 tăng gần gấp 2 lần so với năm 2015, nhưng có biến động trong giai đoạn này. Năm 2023, sản lượng gạo đạt 4,65 triệu tấn. Sản lượng gạo năm 2024 đạt lớn nhất từ trước tới nay, lên tới 6,025 triệu tấn. Tuy nhiên, giá trị gạo xuất khẩu gạo năm 2024 chỉ đạt 2,7 tỉ USD, thấp hơn con số 2,9 tỉ USD của năm 2023. Từ đó có thể thấy giá gạo xuất khẩu của nước ta không ổn định, nhìn chung còn thấp. ( Biểu đồ 2)

Biểu đồ 2: Sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 2015 – 2024 Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Thông tin về nông sản Việt Nam, thông tin về thị trường và biến động giá gạo thế giới được Bộ Công Thương cập nhật trên website của Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam (Viettrade.gov.vn) và Cổng Thông tin Xuất khẩu Việt Nam (ngoaithuong.vn). Từ đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước có phản ứng nhanh chóng và phù hợp trước những biến động trên, nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo tránh được những tổn thất và thu được lợi nhuận cao hơn. Trang web Cổng Thông tin Xuất khẩu Việt Nam vnex.com.vn giới thiệu đầy đủ và cập nhật về các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, tiềm năng xuất khẩu, thương mại và đầu tư của Việt Nam và 63 tỉnh/thành phố trên cả nước (do 63 Sở Công Thương duy trì, cập nhật). Các doanh nghiệp muốn nhập khẩu gạo Việt Nam có thể tìm hiểu dễ dàng thông tin về loại gạo, các nhà xuất khẩu gạo của nước ta từ đó mà vấn đề giao thương buôn bán cũng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Hơn nữa, đây là cổng thông tin trực thuộc Bộ Công thương Việt Nam nên các doanh nghiệp có thể hoàn toàn tin tưởng được vào nội dung thông tin được cung cấp. Trang web cũng được viết bằng tiếng Anh giúp các doanh nghiệp nhập khẩu gạo nước ngoài có thể hiểu được dễ dàng hơn. Ngoài ra, các website của Hội Nông dân Việt Nam, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cũng góp phần không nhỏ trong việc định vị thương hiệu cho lúa gạo nước ta và đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này.

Năm 2024, nước ta tổ chức Festival lúa gạo Việt Nam lần đầu tiên tại Hậu Giang đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người cũng như các tổ chức trong nước và quốc tế. Festival là một hình thức tổ chức phối hợp, là điểm đến, là chiếc cầu nối cho những suy nghĩ, những sáng kiến, những ước mơ về lúa gạo Việt Nam góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu lúa gạo Việt Nam, làm cho hạt gạo Việt Nam có tính cạnh tranh ngày càng cao. Với chủ đề vì sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Festival được tổ chức, thu hút nhiều tỉnh, thành phố và các đơn vị sản xuất, kinh doanh ngành lúa gạo và phục vụ nhu cầu sản xuất lúa gạo cả nước tham gia. Festival sẽ có sự tham dự của đại diện Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), nhiều nước có quan hệ mua bán lúa gạo với Việt Nam, đến giới thiệu về kỹ thuật sản xuất lúa gạo, tham dự hội thảo, tham quan, tìm hiểu cây lúa nước, tìm hiểu thị trường và ký kết mua bán. Có nhiều hoạt động đan xen diễn ra liên tục trước trong và sau thời gian chính thức diễn ra Festival, nhiều cơ quan văn hóa truyền thông uy tín làm bảo trợ thông tin và tuyên truyền cho Festival như Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam… Festival có gần 20 hoạt động và bốn cuộc hội thảo gồm: hội thảo quốc tế “Lúa gạo Việt Nam – Xuất khẩu và Hội nhập”, hội thảo về “Xúc tiến Đầu tư”, hội thảo về “Kinh xáng Xà No – Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”, hội thảo về “Cây lúa nước Việt Nam”. Những hoạt động phong phú trên đã làm nên một Festival lúa gạo Việt Nam thành công tốt đẹp dù mới tổ chức lần đầu tiên. Từ đó, mở ra nhiều hướng đi mới cho gạo xuất khẩu của Việt Nam.

Ngoài ra, chiến lược marketing điểm hấp dẫn cũng được áp dụng trong xuất khẩu gạo. Các vùng trồng lúa với sản lượng và chất lượng cao như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Hậu Giang, Long An, thành phố Hồ Chí Minh…), các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nội…) cũng đang ra sức tạo dựng hình tượng tốt đẹp cho mình về tiềm năng phát triển trồng lúa nước. Các điểm này sẽ trở thành những nơi dẫn đầu cả nước về sản xuất lúa gạo và thu hút đầu tư cũng như doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu về thu mua, đặt hợp đồng sớm với giá cả ổn định hơn những nơi khác. Điều này giúp cho bà con nông dân có nguồn thu nhập cao và ổn định để tái sản xuất.

Như vậy, mặc dù hoạt động marketing quốc gia cho nhóm hàng sơ chế này không phải là ít nhưng mới chỉ dừng lại ở mục đích là đẩy mạnh xuất khẩu về số lượng trong thời gian trước mắt. Về lâu dài, để tạo dựng thương hiệu cho các sản phẩm của Việt Nam, các chiến lược marketing quốc gia cần phải tập trung nhiều hơn vào việc tạo dựng thương hiệu cho chính sản phẩm của mình, để hàng Việt được mang đúng tên vốn có của nó khi đến tay người tiêu dùng trong và ngoài nước.

2.3.3. Hàng gia công xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Đây là nhóm hàng xuất khẩu mũi nhọn của nước ta tiêu biểu có dệt may, da giầy… Hoạt động marketing quốc gia cho nhóm hàng này cũng được chú trọng hơn trong những năm gần đây. Vì thế, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, nhìn chung kết quả đạt được cũng chỉ là sự gia tăng về số lượng và giá trị xuất khẩu của ngành hàng gia công. Vấn đề thương hiệu hàng gia công Việt Nam vẫn còn hết sức nan giải. Trong giới hạn bài luận văn này, tác giả xin phân tích hoạt động marketing cho một mặt hàng tiêu biểu đó là dệt may.

Dệt may là ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong nhiều năm qua, ngành dệt may đã có những bước tăng trưởng nhanh chóng, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới. Từ năm 2015 đến nay, ngành dệt may Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng bình quân trên 20%/năm, thu hút gần 2 triệu lao động, đóng góp 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Biểu đồ dưới cho ta thấy trong khoảng 10 năm từ năm 2015 tới năm 2024, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam tăng gần 5 lần và tăng đều qua các năm. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu dệt may chỉ đạt 1,87 tỷ USD nhưng tới năm 2024 thì con số này là 9,1 tỷ USD (Biểu đồ 3).

Dệt may là ngành được thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải kí quyết định “Chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2025” vào năm 2016. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Mục đích của chiến lược này là nhằm phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu. Trong đó có nêu rằng ngành dệt may cần chú trọng công tác thiết kế các sản phẩm dệt

Biểu đồ 3: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam từ 2015 – 2024

mới, nhằm từng bước củng cố vững chắc uy tín nhãn mác hàng dệt Việt Nam trên thị trường quốc tế. Các thông tin về ngành dệt may được cung cấp trên các website của Bộ Công thương, Cục Xúc tiến Thương mại Việt Nam, hay như qua website Cổng giao dịch điện tử ngành dệt may Việt Nam. Qua cổng giao dịch này, các nhà nhập khẩu nước ngoài có thể tìm thấy các thương hiệu dệt may uy tín nhất của Việt Nam cùng các thông tin về giá cả thị trường dệt may trong nước và thế giới biến động như thế nào. Các thương hiệu như Hanosimex, Nhabeco, Viettien, Thai Tuan, Phuoc Long… đã trở thành biểu tượng uy tín về chất lượng hàng đầu của dệt may Việt Nam. Những công ty này cũng đã có website riêng cho mình, góp phần tạo dựng thương hiệu vững mạnh, độc quyền của dệt may Việt Nam. Kết quả mà ngành dệt may nước ta đạt được những năm gần đây không chỉ là kim ngạch xuất khẩu đạt được lớn mà hơn nữa, thương hiệu dệt may Việt dần dần đã được người tiêu dùng trên thế giới biết đến nhiều hơn. Đó là thành công lớn của ngành dệt may nước ta. Trong đó, Việt Tiến được người nước ngoài đánh giá là hàng Việt Nam chất lượng cao được ưa chuộng nhất.

Hàng năm, Hiệp hội dệt may Việt Nam có tổ chức chương trình xúc tiến thương mại, có nêu rõ những hoạt động ngành dệt may sẽ thực hiện trong từng năm. Nước ta cũng tổ chức và tham gia rất nhiều hội chợ thời trang, triển lãm vải, triển lãm giao thương, Hội chợ hàng Việt Nam ở các nước khác trên thế giới như Mỹ, Ailen, Bangkok, Colombo, Myanma, Nhật Bản và các nước EU khác. Từ đó mà các cơ hội giao thương, tên tuổi hàng Việt cũng được biết đến nhiều hơn. Ngày 18/12/2024, Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) phối hợp với Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) tổ chức Hội nghị đón đoàn các nhà nhập khẩu Dệt May vào Việt Nam. Hội nghị là cầu nối giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tiếp cận các nhà nhập khẩu nước ngoài, trong đó chủ yếu là thị trường Hoa Kỳ. Hội thảo đã thu hút được nhiều nhà nhập khẩu quan tâm và đến tìm cơ hội giao thương với doanh nghiệp dệt may nước ta, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao thương hiệu dệt may Việt.

Ngoài ra, các cuộc thi “Thợ giỏi ngành dệt may Việt Nam” cũng được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh người lao động trong ngành dệt may, từ đó thúc đẩy người lao động không ngừng phấn đấu nâng cao tay nghề, làm ra những sản phẩm chất lượng cho dệt may nước nhà, tạo niềm tin cho nhà nhập khẩu thế giới với sản phẩm dệt may Việt.

Tuy nhiên, ngoại trừ một vài doanh nghiệp nêu ở trên, hầu hết các doanh nghiệp dệt may vẫn còn đang loay hoay trên con đường tạo dựng thương hiệu cho mình. Khoảng 30% số lượng doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may tại Việt Nam đã được nhiều nhà nhập khẩu biết đến tên doanh nghiệp với nhiều mức độ khác nhau thông qua quan hệ xuất nhập khẩu và đặt hàng thường xuyên, trong đó chỉ có một số rất ít doanh nghiệp Việt Nam được biết rộng rãi trong cộng đồng các nhà nhập khẩu lớn. Đối với sản phẩm xuất khẩu, ngoại trừ một vài doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu dưới thương hiệu riêng của mình (như Công ty Scavi đang xuất khẩu sản phẩm dưới tên CORENE SCAVI và MAILFIX SCAVI, Công ty May Phương Đông xuất khẩu sản phẩm dưới tên F HOUSE ..) còn lại hầu hết đều xuất khẩu sản phẩm dưới nhãn hiệu của nhà nhập khẩu nước ngoài. Có thể nói hoạt động quảng bá thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường nước ngoài gần như chưa có. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam không đủ năng lực tài chính để quảng bá thương hiệu sản phẩm ra nước ngoài, trong khi các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì không quan tâm xây dựng thương hiệu ở Việt Nam mà chủ yếu là sử dụng thương hiệu của công ty mẹ tại nước ngoài. Đây cũng là một thách thức lớn cho ngành dệt may nước ta trên con đường tạo dựng thương hiệu cho mình. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

2.3.4. Hàng chất lượng cao, hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao

Đây là nhóm hàng nước ta đang khuyến khích phát triển trong dài hạn, nhằm tạo nguồn thu lớn hơn cho tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, nhìn nhóm hàng này vẫn chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta và mặt hàng xuất khẩu cũng chưa đa dạng. Nguyên nhân là do chúng ta còn thiếu công nghệ, thiếu những lao động chất lượng cao và còn phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp FDI. Chính vì vậy, hoạt động marketing quốc gia cho hàng chất lượng cao này cũng đang dần được quan tâm hơn, tuy nhiên vẫn chưa đạt được nhiều hiệu quả. Trong giới hạn bài luận văn này, tác giả xin phân tích hoạt động marketing quốc gia trong lĩnh vực dây cáp điện xuất khẩu – một mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của nước ta trong nhóm hàng này.

Dây và cáp điện đang là mặt hàng xuất khẩu đầy tiềm năng, đứng trong top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, mà Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hồng Kông vẫn là những thị trường lớn. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng trung bình khoảng 31%/năm trong giai đoạn 2021 – 2025. (Biểu đồ 4)

Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu dây cáp điện của Việt Nam

Việt Nam cũng đã xây dựng được một số thương hiệu mạnh về dây cáp điện như là: Cadivi, Thịnh Phát, Thượng Đình, Trường Thành, Phú Nhuận, … Trong đó, nổi bật là công ty cổ phần dây và cáp điện Việt Nam Cadivi, trở thành thương hiệu chủ lực của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền. Ngành dây cáp điện Việt Nam cũng tham gia các cuộc Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ hàng xuất khẩu Việt Nam, tham gia các Hội chợ Quốc tế với các nước khác trên thế giới như: Lào, Campuchia, Myanma, Nhật Bản, Hàn Quốc… nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và mang thương hiệu mặt hàng dây cáp điện của Việt Nam tới người tiêu dùng thế giới. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất mặt hàng này cũng được cải thiện đáng kể. Nhiều khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng và trở thành vùng đất hứa hẹn đầy tiềm năng cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Trình độ tay nghề của người lao động cũng được nâng cao. Tất cả những nỗ lực đó đã góp phần đáng kể trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm này.

Việt Nam hiện có trên 100 doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dây và cáp điện. Tuy nhiên, xuất khẩu của nhóm hàng này chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp FDI thực hiện, nhất là các công ty có vốn đầu tư từ Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc như LG – Vina, Sumi – Hanel, ABB, Alpha Nam, E-Hin… Cũng chính bởi điều này trở thành rào cản khó khăn cho các sản phẩm dây cáp của doanh nghiệp trong nước trên con đường tìm chỗ đứng cho sản phẩm mang thương hiệu của chính mình trên thị trường quốc tế, làm giảm nguồn thu cho GDP của nước ta đáng kể.

2.4. Đánh giá chung Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Nhìn chung, các hoạt động marketing quốc gia của nước ta ngày càng được chú trọng nhiều hơn trong những năm gần đây và đạt được thành tựu đáng kể. Việt Nam cùng với các doanh nghiệp trong nước dần dần nhận ra tầm quan trọng cũng như giá trị lớn lao khi có thương hiệu mạnh cho sản phẩm của mình và đang trên con đường gây dựng thương hiệu ấy. Hoạt động marketing quốc gia đã tập trung vào việc xây dựng hình tượng Việt Nam và các địa phương với những tiềm năng lớn cho phát triển xuất khẩu. Các hoạt động marketing điểm hấp dẫn, marketing cơ sở hạ tầng, marketing con người cũng được nước ta áp dụng trong chặng đường phát triển vừa qua. Từ đó, Việt Nam cùng với một số địa phương như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc… được thế giới biết đến nhiều hơn và trở thành những vùng đất đầy hứa hẹn với các nhà đầu tư kinh doanh nước ngoài. Lĩnh vực xuất khẩu phát triển hơn biểu hiện ở việc sản phẩm của Việt Nam được xuất khẩu rộng rãi trên thị trường quốc tế đồng thời đã tìm được cho mình vị trí nhất định trong lòng người tiêu dùng thế giới. Một số mặt hàng như: sản phẩm May Việt Tiến, cà phê Trung Nguyên, cáp điện Cadivi… là những ví dụ điển hình cho thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao được xuất khẩu ra thế giới. Có thể nói, những hoạt động marketing này góp phần không nhỏ trong việc làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao giá trị hàng hóa và thương hiệu hàng Việt trên thị trường quốc tế trong suốt những năm qua. Các ngành thế mạnh được khuyến khích phát triển như: nông – lâm – ngư nghiệp, các ngành thu hút nhiều lao động như: dệt may, thủy hải sản, … đã phát triển với tốc độ nhanh chóng, mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho quốc gia và việc làm cho người lao động trong nước. Xuất khẩu tăng không chỉ về số lượng mà còn cả về giá trị, thị trường xuất khẩu được mở rộng, thương hiệu hàng hóa Việt Nam được xây dựng và củng cố. Như vậy, chiến lược marketing quốc gia trong giai đoạn 2021 – 2025 đã thu được những thành công nhất định, góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu về kinh tế – xã hội được đề ra nói chung và mục tiêu xuất khẩu nói riêng. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

Tuy nhiên, chiến lược marketing quốc gia trong giai đoạn 2021 – 2025 vừa qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chiến lược xây dựng quốc gia bao gồm: thiết kế kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng và việc cung ứng các dịch vụ công cơ bản vẫn còn nhiều bất cập. Những điều này đã khiến cho hình tượng Việt Nam giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế. Bốn chiến lược marketing quốc gia: quảng bá hình tượng quốc gia, quảng bá điểm hấp dẫn, quảng bá cơ sở hạ tầng và quảng bá con người chưa được phối hợp với nhau nhiều. Thêm vào đó, sự hợp tác của ba chủ thể: Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược marketing quốc gia còn lỏng lẻo và chưa ăn khớp. Mối quan hệ giữa thị trường xuất khẩu với thị trường đầu tư, khách du lịch và cư dân cũng chưa được khai thác tốt trong công tác marketing hỗ trợ cho nhau. Hiệp hội ngành hàng, Cục Xúc tiến Thương mại… cũng chưa phát huy được nhiều tác dụng trong việc giúp đỡ và bảo vệ các doanh nghiệp trong nước khi vươn ra thị trường nước ngoài. Chính vì vậy, trong giai đoạn tới, Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm nếu muốn có một chiến lược marketing thực sự hiệu quả.

Chương cuối sẽ nêu một số giải pháp để xây dựng và hoàn thiện chiến lược marketing quốc gia giúp thúc đẩy lĩnh vực xuất khẩu phát triển nhanh và bền vững hơn. Khóa luận: Thực trạng marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Chiến lược marketing lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x