Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Chi nhánh Hồng Bàng
- Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)
- Tên tiếng Việt: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
- Tên tiếng Anh: Sai Gon Commercial Bank
- Tên thương hiệu: SCB
- Hội sở chính: 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Với thương hiệu là SCB – Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn đã khẳng định việc hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam của mình ngày càng vững mạnh. Hội sở chính của Ngân hàng được đặt tại 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn được cấp giấy phép hoạt động: 00018/NH-GP và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số:4103001562. Là loại hình đơn vị công ty cổ phần tư nhân nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn lại sở hữu vốn điều lệ lớn, nằm trong nhóm 5 Ngân hàng TMCP lớn của Việt Nam. Kể từ ngày 1/1/2024, vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (hợp nhất) là 10.584.000.000.000 đồng (Mười ngàn năm trăm tám mươi tư tỷ đồng).
Ngân hàng TMCP Sài Gòn tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo giấy phép số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc NHNN Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND thành phố Hồ Chí Minh cấp đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB).
SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam. Cụ thể: tính đến ngày 27/12/2022. Vốn điều lệ của SCB đạt 4.184.795.040.000 (Bốn ngàn một trăm tám mươi tư tỷ bảy trăm chín lăm triệu bốn mươi ngàn đồng) và ngày 30/09/2023 tổng tài sản của SCB đạt tới 77.985.000.000.000 (Bảy mươi bảy nghìn chín trăm tám lăm tỷ đồng), tăng gần 30% so với đầu năm 2023. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Ngày 26/12/2023 Thống đốc NHNN Việt Nam chính thức cấp giấy phép số 238/GP-NHNN về việc thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở hợp nhất và tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiabank). Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) theo quyết định số 2716/QĐ-NHNN ngày 26-12-2023 của thống đốc NHNN. Chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2024 với vốn điều lệ: 10.584.000.000.000 đồng, tổng tài sản của Ngân hàng: 154.000.000.000 đồng, nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của Ngân hàng hơn 11.000.000.000.000 đồng. LNST lũy kế trên 1.300.000.000.000 đồng. Hiện nay, hệ thống từ Hội sở chính đến các chi nhánh, phòng giao dịch, quầy giao dịch, điểm giao dịch của SCB là trên khoảng 230 đơn vị được phân bố trải dài từ Nam ra Bắc. Mạng lưới rộng khắp này giúp cho KH giao dịch thuận lợi và tiết kiệm nhất có thể.
SCB còn tạo dựng thế mạnh của mình bằng việc liên kết với các tổ chức tín dụng khác: ký hợp toàn diện với các Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn…SCB hiện đang đứng thứ 4 và tổng tài sản và đứng thứ 3 về dư nợ Tín dụng so với các Ngân hàng TMCP khu vực Tp. Hồ Chí Minh.
Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
- Tên đơn vị: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng.
- Địa chỉ: Số 5A Hoàng Văn Thụ, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, Hải Phòng
- Loại hình đơn vị: chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Trước hợp nhất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng là Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hải Phòng trực thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Chi nhánh Hải Phòng được thành lập từ ngày 19/11/2019 tại 97 Điện Biên Phủ, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Hồng Bàng tuy mới chỉ đi vào hoạt động được hơn 4 năm nhưng SCB Hải Phòng đã xây dựng được lòng tin và sự yêu mến của đông đảo khách hàng tại địa phương nhờ sản phẩm đa dạng, phong phú với nhiều lợi ích vượt trội cùng phong cách phục vụ tận tình, chu đáo của đội ngũ cán bộ công nhân viên. Với những thành tựu trong 4 năm qua đạt được, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) – Chi nhánh Hồng Bàng ngày càng khẳng định được vị thế và uy tín của mình trên thị trường Ngân hàng.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
- Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Bộ máy quản lý chi nhánh
Ngân hàng TMCP Sài Gòn chi nhánh Hồng Bàng hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công với sự điều hành của ban lãnh đạo chi nhánh gồm:
- Giám đốc chi nhánh: Ông Phạm Thống Nhất
- Trưởng phòng kế toán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên
- Trưởng phòng kinh doanh: Ông Trương Anh Đức
- Trưởng bộ phận hành chính: Bà Vũ Thu Hà
- Giám đốc phòng GD Lạch Tray: Ông Lưu Dũng Anh
- Giám đốc phòng GD Trần Nguyên Hãn: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh
- Phó giám đốc phòng GD Đông Bắc: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh
Chức năng, nhiệm vụ cơ bản:
Nhìn vào sơ đồ cơ cấu tổ chức trên, ta thấy được cơ cấu tổ chức hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng bao gồm:
Giám đốc chi nhánh
- Nhiệm vụ: Chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ bộ máy quản lý của Ngân hàng, trực tiếp phụ trách phòng kinh doanh, phòng kế toán, bộ phận hành chính và 3 phòng GD.
Chức năng: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Lập chiến lược phát triển và các công cụ chiến lược triển khai trong chi nhánh ngân hàng.
- Lập kế hoạch làm việc, phân công công việc, ủy quyền và quản lý thực hiện công việc.
- Quản lý rủi ro và chất lượng nợ tại chi nhánh.
- Quản lý chất lượng dịch vụ tại chi nhánh.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp.
Phòng kinh doanh
- Nhiệm vụ:
Phụ trách việc tìm kiếm, liên hệ với khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn, nghiên cứu chiến lược kinh doanh và đề xuất chính sách ưu đãi với khách hàng.
Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kĩ thuật, danh mục khách hàng, lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và hiệu quả, thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền, tiếp nhận và thực hiện chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước… thường xuyên phân loại nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục.
Bộ phận hỗ trợ kinh doanh
- Chức năng:
Hỗ trợ trong quá trình phân tích và thẩm định dự án, thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau có liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, tính toán các chỉ tiêu tài chính dựa vào các báo cáo tài chính và dự án đầu tư của khách hàng
Hỗ trợ trong việc soạn thảo: hợp đồng tín dụng hạn mức, hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố, thế chấp, hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản đảm bảo của bên thứ 3 với khách hàng, thông báo tín dụng cho khách hàng.
Cùng với chuyên viên khách hàng thực hiện việc định giá, quản lý, giám sát tài sản đảm bảo, lập biên bản định giá tài sản đảm bảo.
Hỗ trợ chuyên viên khách hàng trong việc chuyển giao hồ sơ giữa phòng và các phòng, ban khác. Phối hợp với chuyên viên khách hàng trong việc thực hiện các chính sách chăm sóc khách hàng theo quy định của chi nhánh ngân hàng. Lưu trữ và quản lý hò sơ của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Theo dõi dư nợ của khách hàng, định kì phối hợp với chuyên viên khách hàng thông báo cho khách hàng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi và các nghĩa vụ có liên quan khác.
Bộ phận kinh doanh
- Chức năng:
Xây dựng và mở rộng các mối quan hệ với các hiệp hội, tổ chức liên quan để mang tới các đầu mối khách hàng doanh nghiệp như hiệp hội ngành, sở kế hoạch đầu tư, sở thương mại, cơ quan thuế …
Xây dựng danh mục các ngành nghề mục tiêu và danh sách các khách hàng tiềm năng cho toàn bộ hệ thống khách hàng doanh nghiệp.
Nghiên cứu, cung cấp thông tin về thị trường phục vụ cho việc xây dựng chiến lược và định hướng phát triển khách hàng doanh nghiệp và nhu cầu thẩm định theo yêu cầu của các đơn vị trong hệ thống.
Soạn thảo các bản tin ngành định kì.
Chuẩn bị, tổ chức các chương trình ra mắt sản phẩm mới, thực hiện các hoạt động quan hệ công chúng phục vụ phát triển sản phẩm theo sự phân công của lãnh đạo phòng.
Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động bán sản phẩm ngân hàng doanh nghiệp trên toàn hệ thống.
Bộ phận tín dụng
- Chức năng:
Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ tín dụng của khách hàng chuyển đến đảm bảo phù hợp với quy định của ngân và của pháp luật hiện hành. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Thực hiện các thủ tục để hoàn thành khoản vay.
Gặp gỡ khách hàng, nghiên cứu hồ sơ, chất vấn chuyên viên khách hàng, lập báo cáo tái thẩm định, đệ trình lên cấp có thẩm quyền xem xét và phê duyệt các khoản vay món thuộc hạn mức tín dụng, các khoản hạn mức tín dụng ngắn hạn.
Thực hiện tái thẩm định tất cả các khoản cho vay thể nhân theo sản phẩm, các khoản vay ngắn hạn, chiết khấu, mở L/C, bảo lãnh thuộc hạn mức khách hàng đã được cấp có thẩm quyền duyệt hạn mức.
Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu của cấp phê duyệt đối với các khoản vay. Kịp thời phát hiện những vi phạm và các dấu hiệu ảnh hưởng đến mức độ an toàn của khoản vay, trình cấp có thẩm quyền xử lý.
Ghi nhớ và thấu hiểu các chính sách tín dụng, thực hiện thẩm định tuân thủ các chính sách và có thể diễn giải nội dung áp dụng chính sách tín dụng vào hồ sơ cụ thể.
Hiểu rõ về các sản phẩm phục vụ khách hàng doanh nghiệp và các rủi ro tiềm ẩn của sản phẩm để đảm bảo nội dung chất lượng của công tác thẩm định.
Bộ phận thanh toán quốc tế
- Chức năng:
Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu mở L/C của phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, các phòng giao dịch và các chi nhánh.
Mở thư tín dụng, chuyển cho Kiểm soát viên kiểm soát và cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Kiểm tra chứng từ hàng nhập khẩu, làm thông báo cho khách hàng trình cấp có thẩm quyền duyệt sau đó chuyển cho phòng Doanh nghiệp, các phòng giao dich, các chi nhánh. Liên hệ với phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, phòng giao dịch, chi nhánh khi bộ chứng từ đến hạn thanh toán.
Làm điện thông báo ra nước ngoài khi bộ chứng từ có sai sót, hủy L/C, hay các vấn đề liên quan đến L/C khi có phát sinh. Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, phát điện đi. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền quốc tế. Ghi sổ chứng từ chuyển tiền và thanh toán L/C. Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát sinh. Lưu các hồ sơ có liên quan.
Phòng kế toán
- Nhiệm vụ:
Trong tổ chức, quản lí công tác kế toán, tài chính giúp cho Ngân hàng hoạt động theo đúng quy định của Ngân hàng và Nhà nước, giúp Giám đốc Ngân hàng điều hành và quản lí nguồn vốn và tài sản của Ngân hàng một cách chính xác, an toàn, hiệu quả và phát triển vốn theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Tham mưu xây dựng về công tác kế toán, tài chính. Tính toán và phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của Ngân hàng một cách đầy đủ, chính xác tuyệt đối, trung thực, kịp thời và có hệ thống, tổ chức thiết lập đầy đủ hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ các chứng từ kế toán, phân tích tình hình tài chính, hoạt động của Ngân hàng qua đó tham mưu cho Giám đốc tổ chức quản lí hoạt động tài chính, phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Bộ phận kế toán nội bộ
Chức năng:
- Kế toán chi tiêu nội bộ (quản lý và hạch toán các khoản chi tiêu của Ngân hàng).
- Kế toán thuế.
- Kế toán tài sản (bao gồm cả quản lý và hạch toán TSCĐ, công cụ lao động, vật liệu, chi phí chờ phân bổ của Ngân hàng).
- Các khoản thanh toán nội bộ trong hệ thống (điều chuyển vốn, thu chi hộ).
Bộ phận kế toán giao dịch
Chức năng:
- Nhận và chi trả gốc cộng lãi tiền gửi.
- In sổ phụ.
- Trả lời thắc mắc về lãi suất huy động.
Bộ phận ngân quỹ
- Chức năng:
Thực hiện thu, chi tiền mặt, ngân phiếu thanh toán và các loại ngoại tệ. Kiểm tra, kiểm soát các loại chứng từ trước khi thu, chi: chữ kí, chứng minh thư nhân dân, số tiền… Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Đối chiếu bảng kê thu, chi tiền khớp đúng với chứng từ thực tế.
Kiểm tra phát hiện tiền giả, lập biên bản thu giữ theo đúng quy định hiện hành. Chọn lọc tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, loại bỏ tiền theo quy định.
Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục nộp/lĩnh tiền, giải đáp mọi thắc mắc cho khách hàng về các nghiệp vụ liên quan. Nhập số liệu vào máy, căn quỹ cuối ngày.
- Phòng hành chính
Nhiệm vụ: Thực hiện công tác giao dịch, tiếp đón khách hàng đến liên hệ công tác. Đứng đầu là trưởng phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo các cán bộ của phòng mình trong công việc quản lí công tác tổ chức cán bộ của chi nhánh, công việc mua sắm và thanh lí các tài sản của cơ quan phục vụ theo yêu cầu công tác của Ngân hàng.
- Chức năng:
Phân tích năng suất lao động, các chỉ tiêu đo lường kết quả công việc của các cán bộ nhân viên làm cơ sở tư vấn cho Lãnh đạo về các giải pháp tăng năng suất lao động.
Tiếp nhận hồ sơ nhân sự, nhập, lưu trữ, tổng hợp và cung cấp các thông tin nhân sự trên toàn hệ thống.
Tham mưu về bố trí vị trí công việc toàn hệ thống căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nhân sự và thay đổi nhân sự trong từng thời kì.
- Các phòng giao dịch
Thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.1.4 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Chi nhánh Hồng Bàng năm 2022 – 2024 Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2022 – 2023 – 2024
Tuy giai đoạn năm 2022 – 2024 là những năm khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng nhưng Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng vẫn vượt lên được khó khăn đó để đem lại tổng lợi nhuận tăng đều qua các năm thể hiện sự nỗ lực và cố gắng của cán bộ nhân viên Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.
Thu nhập từ lãi và các khoản tương tự năm 2023 là 119.943,6 triệu đồng tăng 31.695,2 triệu đồng ứng với 35,92% so với năm 2022 (88.248,4 triệu đồng). Năm 2024 tốc độ tăng trưởng lên tới 165.051 triệu đồng, tăng 45.107,4 triệu đồng ứng với 37,61%. Trong những năm này thu nhập chủ yếu kiếm được từ lãi suất cho vay. Tình hình thực tế như hiện nay, nguồn vốn huy động ngày càng khan hiếm, lạm phát tăng cao thì lãi suất cho vay không thể giảm trong thời gian ngắn. Việc tăng thu nhập cũng làm tăng chi phí lãi.
Chi phí lãi năm 2022 là 66.217,7 triệu đồng sang năm 2023 tăng lên 99.142,5 triệu đồng và năm 2024 là 139.273,4 triệu đồng. Giai đoạn 2022 –2023 tăng 49,72% và giai đoạn 2023 – 2024 tăng 40,48%. Đó là do tốc độ tăng của tiền gửi khách hàng trong năm 2023 là lớn nhất, điều đó lí giải một cách hợp lý cho chi phí lãi tăng.
Thu nhập lãi thuần năm 2023 là 20.081 triệu đồng thấp nhất trong 3 năm (2022 là 22.030,7 triệu đồng và 2024 là 25.777,6 triệu đồng). Mức chênh lệch giữa thu nhập và chi phí này giúp ta nhận thấy rằng trong năm 2023 ngân hàng nắm trong tay lợi thế về huy động nhưng đã không xử lý tốt trong quản lý, sử dụng và gây ra lãng phí làm tăng chi phí lãi.
Năm 2022 là 1.168,4 triệu đồng; năm 2023 tăng thêm 3.279,8 triệu đồng ứng với 280,71% và 2024 là 4.991,5 triệu đồng. So với việc quản lý từ lãi, ngân hàng đã xử lý tốt chi phí từ hoạt động dịch vụ (376,8 – 370,6 – 434,7 triệu đồng), tỷ lệ thuận với thu nhập ở giai đoạn 2022 – 2023 – 2024. Giai đoạn 2022 – 2023 tăng 3286 triệu đồng ứng với 415,11%. Một mức tăng báo hiệu tốt cho việc điều hành quản lý và phát triển tốt các hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Sang giai đoạn 2023 – 2024 mức lãi vẫn tăng nhưng chỉ là 11, 75% tương ứng với 479,2 triệu đồng. Vận dụng tốt thế mạnh và cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã làm cho mức thu nhập từ hoạt động dịch vụ của mình tăng dần qua các năm.
Lãi thuần từ hoạt động khác của ngân hàng giảm đi ở những năm 2022 –2023 từ 139,8 triệu đồng xuống 59,7 triệu đồng và năm 2024 còn 36,3 triệu đồng do chi nhánh chú trọng tới các sản phẩm hay ngành nghề chính của mình nhằm cải thiện và nâng cấp chúng nên các hoạt động khác ngoài chuyên môn ngân hàng đã thu hẹp lại.
Qua đó năm 2022 lãi thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro là 14.452,2 triệu đồng. Năm 2023 tăng lên là 14.560 triệu đồng tăng 107.977 triệu đồng tương ứng với 0,75%. Năm 2024 tăng lên là 15.912,3 triệu đồng so với giai đoạn 2022 – 2023 là 9,29%. Lợi nhuận thuần năm 2024 tăng nhiều như vậy là do thu nhập lãi thuần và lãi từ hoạt động cao nhất trong 3 năm. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Chi phí dự phòng dự phòng rủi ro tài chính năm 2022 là 1.415,7 triệu đồng làm cho lợi nhuận trước thuế của chi nhánh Hồng Bàng giảm còn 13.036,4 triệu đồng nhỏ nhất so với các năm 2023 – 2024 (2023 là 14.560 triệu đồng và 2024 là 15.912,3 triệu đồng). Mức tăng trưởng đều của chi nhánh cho thấy kết quả việc hoạt động hiệu quả với quản lý tốt chi phí và thu nhập đã đem lại kết quả kinh doanh khả quan.
2.1.5 Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng.
Đánh giá khả năng sinh lời
- Suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Ý nghĩa: 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
- Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Ý nghĩa: 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Dựa vào số liệu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng giai đoạn 2022 – 2025 đưa ra được bảng đánh giá khả năng sinh lời như sau:
- Bảng 2.1: Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
Nhìn qua bảng số liệu ta thấy ROA của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng giảm đều qua các năm 2022 – 2025. Năm 2022 1 đồng tài sản tạo ra 1,58 đồng lợi nhuận sau thuế. Sang đến năm 2023 1 đồng tài sản tạo ra 1,46 đồng lợi nhuận sau thuế. Con số này giảm tiếp sang năm 2024 chỉ còn 1,32. Và giảm mạnh khi năm 2025, 1 đồng tài sản tạo ra 1,27 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân của việc giảm suất sinh lời của tổng tài sản là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế chậm hơn so với tốc độ tăng của tổng tài sản bình quân. Trong tình hình kinh tế khủng hoảng việc đem lại lợi nhuận tăng trưởng cao qua các năm là việc khá khó khăn đối với toàn thị trường ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng nói riêng.
Xét về ROE trong năm 2022, 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 103,57 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2023 trung bình 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 105,52 đồng lợi nhuận sau thuế. Sang năm 2024, 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 104,435 đồng lợi nhuận sau thuế. Và đến năm 2025 trung bình 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra 103,04 đồng lợi nhuận sau thuế. Ta thấy tỷ lệ ROE có xu hướng giảm dần qua các năm đó là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế tăng chậm hơn so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu bình quân. Tỷ lệ ROE giảm nhẹ chứng tỏ ngân hàng đang sử dụng chưa hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối 1 cách chưa hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
Ý nghĩa: để tạo ra một đồng thu nhập phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí.
Dựa vào số liệu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng giai đoạn 2022 – 2025 đưa ra bảng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh như sau:
- Bảng 2.2: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
Thu nhập và chi phí là hai chỉ tiêu đánh giá quan trọng của ngân hàng. Trong năm 2022 – 2025 tổng chi phí tăng 43.41% tăng hơn so với tốc độ tăng của tổng thu nhập là 38.95%. Xét về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong năm 2022 để tạo ra một đồng thu nhập phải bỏ ra 85.55 đồng chi phí. Nguyên nhân đó là do tổng chi phí lớn hơn tổng thu nhập. Năm 2023, 1 đồng thu nhập phải bỏ ra 88.31 đồng chi phí. Tổng chi phí năm 2023 – 2024 giảm xuống còn 40,29% ứng với tổng chi phí năm 2024 là 154.166,5 triệu đồng và năm 2023 là 109.891,4 triệu đồng. Đó là nguyên nhân mà hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng năm 2023 thấp hơn năm 2024. Năm 2024 để tạo ra một đồng thu nhập cần 90.64 đồng chi phí – một tỉ lệ cao nhất trong 4 năm 2022 – 2025. Năm 2025, một đồng thu nhập phải bỏ ra 89.40 đồng chi phí. Hiệu quả hoạt động kinh doanh trong năm 2025 đã khả quan hơn năm 2024. Đó là do những chính sách khắc phục và biện pháp hiệu quả của ngân hàng trong thời kì kinh tế khó khăn này.
2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
2.2.1 Phân tích quy mô nguồn vốn huy động
Vốn huy động của ngân hàng là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức trong nền kinh tế. Nguồn vốn của mỗi tổ chức, cá nhân thường rất nhỏ nhưng nếu xét trong toàn bộ nền kinh tế thì tổng số vốn đó là vô cùng lớn. Chính vì vậy, việc huy động các nguồn vốn này để đưa vào kinh doanh thông qua các ngân hàng thương mại không những mang lại lợi nhuận cao cho các ngân hàng mà còn góp phần sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn cso trong nước. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy. Trong giai đoạn 2022 – 2025 ngân hàng đã có sự tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động.
- Bảng 2.3: Biến động vốn huy động của SCB – chi nhánh Hồng Bàng 2022 –2025
Qua bảng số liệu ta nhận thấy rõ năm 2022 tổng vốn huy động trên địa bàn là 732.717 triệu đồng. Năm 2023 tổng vốn huy động tăng lên 916.990 triệu đồng. So với năm 2022 năm 2023 tăng 184.273 triệu đồng tương ứng với 25,15%. Sang năm 2024 vốn huy động giảm xuống còn 903.732 triệu đồng. Đây là một kết quả của một năm kinh tế khủng hoảng, so với năm 2023 thì vốn huy động được của ngân hàng giảm 13.258 triệu đồng tương ứng với 1,45%. Tuy năm 2024 lượng tiền huy động của chi nhánh giảm nhưng tới năm 2025 lại có một kết quả đáng khích lệ. Năm 2025 tổng vốn huy động trên địa bàn là 987.155 triệu đồng.So với năm 2024, năm 2025 tăng 83.423 triệu đồng tương ứng với 9,23%. Đây là năm mà nguồn vốn tăng mạnh và rõ nét nhất. Tất cả nhờ những chính sách hợp lý và khả năng nhìn nhận nhạy bén với thị trường của chi nhánh ngân hàng đã giúp lượng tiền huy động được tăng lên so với giai đoạn 2022 – 2025
Kết luận : qua những số liệu phân tích trên ta thấy với quy mô vốn huy động là 987 tỷ đồng vẫn là con số còn thấp so với quy mô của SCB- chi nhánh Hồng Bàng và so với mặt bằng các chi nhánh ngân hàng khác trên địa bàn. Vì vậy SCB- chi nhánh Hồng Bàng cần sớm đưa ra những giải pháp nhanh chóng cho vấn đề huy động của mình.
2.2.2 Phân tích thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ
- Bảng 2.4a: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ qua các năm 2022 – 2025
Dựa trên biểu số liệu bảng 2.4a ta đưa ra được biểu số tiền chênh lệch với tỷ trọng trong huy động vốn nội tệ, ngoại tệ qua các năm như sau:
- Bảng 2.4b: Cơ cấu huy động theo tiền tệ qua các năm 2022 – 2025
Năm 2022, số nội tệ huy động được là 615.702 triệu đồng tương ứng với 84,03% so với tổng vốn huy động là 732.716 triệu đồng. Năm 2023 số nội tệ huy động được tăng thêm 186.389 triệu đồng ứng với 30,27%. Chính việc tăng thêm vào năm 2023 đã giúp cho tỷ trọng của số tiền nội tệ tăng 3,44% so với 2022. Đến năm 2024 thì nội tệ còn 771.245 triệu đồng, giảm 30.846 triệu đồng hay 3,85% so với 2023. Tỷ trọng nội tệ năm 2024 còn 85,34% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 2,13% so với năm 2023. Đây là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn nên tổng nguồn vốn huy động năm 2024 là 903.732 triệu đồng, giảm 13.258 triệu đồng so với năm 2023 là 916.990 triệu đồng. Nhưng tới năm 2025 nội tệ tăng 57.077 triệu đồng so với 2024 hay 828.322 triệu đồng ứng với 7,4%. Đó là tín hiệu đáng mừng cho chi nhánh khi mà số nội tệ huy động đã tăng. Vì nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên nếu việc huy động nội tệ giảm sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền mà ngân hàng huy động. Tuy năm 2025 tăng nội tệ nhưng tỷ trọng của nội tệ 2024 với tổng nguồn vốn huy động là 987.155 triệu đồng lại giảm 1,43% ứng với 83,91%.
Năm 2022 số ngoại tệ là 97.015 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 15,97%. Năm 2023 số ngoại tệ là 114.899 triệu đồng. So với năm 2022 ngoại tệ tăng 17.884 triệu đồng ứng với 18,43%. Nhưng xét theo tỷ trọng giữa ngoại tệ với tổng nguồn vốn huy động thì ngoại tệ giảm 3,44% vì năm 2023 là 12,53%. Đến năm 2024 ngoại tệ là 132.487 triệu đồng tăng 17.588 triệu đồng ứng với 15,31%. Tỷ trọng ngoại tệ của năm 2024 tăng 2,13% ứng với 14,66% so với năm 2023. Năm 2025, ngoại tệ chiếm 16,09% ứng với 158.833 triệu đồng trên tổng nguồn vốn huy động 987.155 triệu đồng so với năm 2024 ngoại tệ tăng 26.346 triệu đồng tăng 19,89% giúp cho tỷ trọng tăng tương ứng với 1,43%.
Việc tăng nội tệ giúp ta thấy được công tác huy động vốn của ngân hàng với đối tượng khách hàng trong nước. Đây gần như là nhóm khách hàng quan trọng của ngân hàng. Còn xét về ngoại tệ chính là đối tượng khách hàng quốc tế hay các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Cơ cấu huy động theo động vốn theo kì hạn huy động
- Bảng 2.5a: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn huy động
Dựa trên số liệu bảng trên ta thấy cơ cấu huy động vốn theo kì hạn được biểu hiện với tỷ trọng trong huy động vốn không kì hạn, ngắn hạn, trung và dài hạn qua các năm như sau:
- Bảng 2.5b: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn huy động
Nếu phân loại tiền theo thời gian ta sẽ có được 3 loại là: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng.
Nhìn qua bảng số liệu ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Vì tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn các nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. Do nhận định nguồn tiền gửi không kỳ hạn là nguồn tiền có tính chất kém ổn định nhưng chi phí hoạt động rất thấp, hưởng chênh lệch cao nên ngân hàng cần có nhiều biện pháp để đẩy mạnh nguồn tiền này.
Năm 2022 tiền gửi không kỳ hạn là 62.721 triệu đồng chiếm 8,56% tổng nguồn vốn 732.716 triệu đồng. Năm 2023 tiền gửi không kỳ hạn là 69.324 triệu đồng . So với năm 2022 thì năm 2023 tiền gửi không kỳ hạn tăng 6.603 triều đồng tương ứng 10.53%. Nhưng tỷ trọng lại giảm 1% vì 2023 tổng vốn huy động là 916.990 triệu đồng mà tiền gửi không kì hạn chỉ chiếm 7,56% trong số đó. Năm 2024 tiền gửi không kì hạn giảm 30.825 triệu đồng so với năm 2023. Năm 2024 còn 38.499 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 4,26% vốn huy động. Tỷ lệ giảm 44,46% đây là năm mà tiền gửi ko kì hạn giảm mạnh nhất trong 4 năm 2022-2025. Sang năm 2025 tiền gửi ko kì hạn là 99.110 triệu đồng, tăng trở lại một cách mạnh chiếm tỷ trọng những 10,04% nguồn vốn huy động. So với năm 2024 năm 2025 tăng 60.611 triệu đồng ứng với 157,43% tăng 150% so với năm trước. Năm 2025 tiền gửi ko kì hạn tuy chiếm 10,04% nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng của các chi nhánh ngân hàng. Lãi suất của tiền gửi ko kì hạn thường rất thấp cho nên nguồn vốn này tăng nhiều sẽ giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Nên ngân hàng cần quan tâm tới đẩy mạnh nguồn tiền này hơn nữa.
Loại tiền thứ 2 chính là tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng. Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, được xếp vào loại tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng, lãi suất sẽ cao hơn tiền gửi không kì hạn. Nhìn vào bảng số kiệu ta thấy tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng tăng đều qua các năm 2022 –2025, tuy năm 2025 có giảm so với năm 2024 nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao. Năm 2022 tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng là 452.819 triệu đồng chiếm 61,8% so với vốn huy động. Năm 2023 là 598.244 triệu đồng chiếm 65,24%. So với năm 2022 năm 2023 tăng 145.425 triệu đồng ứng với 32,12%. Trong năm 2022 thì tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng tăng mạnh trong 3 loại tiền gửi khiến cho tỉ trọng cũng tăng 3,44%. Sang năm 2024 loại tiền này là 710.333 triệu đồng tăng 112.089 triệu đồng ứng với 18,74%. Năm 2024 tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng chiếm 78,6% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động, tỉ trọng tăng 13,36% so với năm 2023. Năm 2025 tiền gửi ngắn hạn là 689.429 triệu đồng chiếm 69,84%. So với năm 2024 tiền gửi ngắn hạn giảm 20.904 triệu đồng ứng với 2.94%. Đây là năm duy nhất trong 4 năm 2022 – 2025 loại tiền gửi này giảm tỉ trọng trong vốn huy động, giảm 8,76% tuy vậy với tỉ trọng là 69,84% thì con số này vẫn đứng chủ đạo trong 3 loại tiền gửi. Việc giảm tỷ trọng này là do loại tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh vào năm 2025 như ta đã phân tích ở trên. Qua phân tích số liệu các năm ta thấy ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã đạt kết quả tốt trong công tác thu hút nguồn vốn ngắn hạn do vậy chi nhánh cần phát huy những kết quả đạt được trong các năm tiếp theo.
Loại tiền gửi thứ 3 chính là tiền gửi trung và dài hạn. Đây là nhóm tiền gửi mà có tính ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng, theo nguyên tắc kì hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Nhìn chung ta thấy tiền gửi trung và dài hạn trong chi nhánh còn thấp luôn trong khoảng từ 20 – 29% trong tổng vốn huy động. Nhưng trong 4 năm 2022 – 2025 thì tỉ trọng của loại tiền này giảm đều qua các năm. Điều này có thể có thể hiểu được vì trong những năm kinh tế khó khăn, khủng hoảng tài chính kéo dài trên thế giới và không ngoại trừ thị trường Việt Nam, việc giữ ổn định những khoản tiền huy động với kì hạn dài là rất khó. Năm 2022 số tiền trung và dài hạn là 217.177 triệu đồng chiếm 29,64%. Năm 2023 tiền gửi trung và dài hạn là 249.422 triệu đồng chiếm 27,2%, so với năm 2022 tăng 32.245 triệu đồng ứng với 14,85%, tỷ trọng giảm 2,44%. Năm 2024 loại tiền này chiếm 17,14% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động ứng với tương ứng với 154.900 triệu đồng. So với năm 2023 tiền gửi trung và dài hạn giảm 94.522 triệu đồng ứng với 37,89% , tỉ trọng giảm 10,06%. Nhưng tới năm 2025 khi tiền gửi trung và dài hạn tăng nhưng không tăng bằng năm 2023. Tiền gửi kì hạn trung và dài hạn là 198.616 triệu đồng vào năm 2025 ứng với tỉ trọng 20,12%. So với năm 2024 năm 2025 đã tăng 43.716 triệu đồng ứng với 28,22%. Qua đó ta thấy chi nhánh chủ yếu thu hút nguồn vốn ngắn hạn mà chưa chú trọng tới nguồn vốn trung và dài hạn. Do vậy, trong các năm tiếp theo, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng cần phải tăng cường thu hút nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các chính sách như lãi suất, marketing…
Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Bảng 2.6a: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
Dựa trên biểu số liệu bảng 2.6a ta đưa ra được biểu số tiền chênh lệch với tỷ trọng trong huy động vốn tiền gửi cá nhân, tiền gửi của tổ chức kinh tế và tiền gửi của tổ chức tín dụng qua các năm như sau:
- Bảng 2.6b: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
Năm 2022 tiền gửi cá nhân là 454.871 triệu đồng chiếm 62,08% trong tổng số vốn huy động được. Điều này chứng tỏ dịch vụ và những sản phẩm của chi nhánh ngân hàng đã thu hút tối đa nguồn tiền rảnh rỗi của dân cư, đó là tín hiệu tốt cho uy tín và tăng trưởng vị thế của chi nhánh Hồng Bàng trong thành phố Hải Phòng. Năm 2023, tiền gửi cá nhân là 652.072 triệu đồng chiếm 71,11% trong 916.990 triệu đồng số huy động. So với năm 2022, năm 2023 tăng 197.201 triệu đồng tương ứng với 43,35%, tỷ trọng tăng 9,03%. Sang năm 2024 loại tiền gửi này tăng 24.371 triệu đồng ứng với 3,74%. Tuy năm 2024 số tiền là 676.443 triệu đồng nhưng chỉ là mức tăng thấp so với năm 2022 – 2025. Trong năm 2024 tỷ trọng tiền gửi cá nhân chiếm 74,85% tăng 3,74% so với năm 2023. Năm 2025 tiền gửi cá nhân là 755.765 triệu đồng chiếm tỷ trọng là 76,56% so với vốn huy động. So với năm 2024, năm 2025 tăng 79.322 triệu đồng ứng với 11,73%, tỷ trọng tăng thêm 1,71%. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, không giải ngân được nhiều do khách hàng không đáp ứng được các điều khoản tín dụng, mặt khác lãi suất tiền gửi dân cư thường cao hơn các thành phần kinh tế khác cho nên hoạt động huy động vốn của loại hình này đã không còn mang lại hiệu quả cao nữa.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận nhàn rỗi tạm thời như: Khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật liệu, các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khan thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến… Để đảm bảo đồng vốn an toàn và vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng.
Tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, năm 2022 tiền gửi của tổ chức kinh tế là 208.238 triệu đồng, năm 2023 giảm xuống chỉ còn 195.869 triệu đồng; tỷ lệ giảm là 12.369 triệu đồng ứng với 5,94%. Năm 2024 tiền gửi của tổ chức kinh tế là 167.371 triệu đồng, giảm so với năm 2023 là 28.498 triệu đồng ứng với 14,55%, tỷ trọng giảm 2,84%. Năm 2025 loại tiền này còn 184.894 triệu đồng ứng với tỷ trọng là 18,73%. Giai đoạn 2024 – 2025 tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng 17.523 triệu đồng ứng với 10,47% làm cho tỷ trọng trong tổng huy động vốn tăng thêm 0,21%. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế qua các năm 2022 – 2025 chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, ngân hàng ngày càng đánh mất nguồn vốn này trong dịch vụ huy động của mình vì vậy cần có những giải pháp để khắc phục lại nguồn vốn huy động này trong những năm tới. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Nhìn tổng quát giai đoạn 2022 – 2025 ta thấy nhóm tiền gửi của tổ chức tín dụng có xu hướng giảm đều qua các năm. Năm 2022 tiền gửi của tổ chức tín dụng là 69.608 triệu đồng chiếm tỷ trọng 9,5% trong tổng vốn huy động. Năm 2023 là 69.049 triệu đồng ứng với 7,53%. So với năm 2022 thì năm 2023 giảm 559 triệu đồng tương ứng với 0,8%, tỷ trọng cũng giảm 1,97%. Năm 2024, tiền gửi tổ chức tín dụng giảm mạnh, chỉ còn 59.558 triệu đồng chiếm tỷ trọng 6,63% trong tổng vốn huy động. Giai đoạn 2023 – 2024 loại tiền này giảm 9.491 triệu đồng ứng với 13,75%. So với tỷ trọng của năm 2023 thì năm 2024 giảm 0,9%. Đặc biệt năm 2025 tiền gửi của nhóm tổ chức tín dụng chỉ còn 46.496 triệu đồng chiếm 4,71%. So với năm 2024 thì năm 2025 giảm 13.062 triệu đồng ứng với 21,93%, tỷ trọng giảm 1,92%. Loại tiền gửi tổ chức tín dụng cũng là nguồn vốn huy động thiết yếu của ngân hàng. Nhưng giai đoạn 2022 – 2025 là những năm biến động kinh tế khó khăn nên toàn thế giới và các tổ chức tín dụng trong nước ta cũng nằm trong vòng khủng hoảng này. Đó chính là điều làm cho nguồn vốn huy động về dòng tiền của tổ chức tín dụng giảm dần.
Chi phí huy động vốn
- Bảng 2.7: Chi phí huy động vốn Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng 2022 – 2025
Dựa vào bảng số liệu ta thấy, chi phí huy động vốn có sự biến động thất thường trong giai đoạn 2022 – 2025. Năm 2023, chi phí cho 1 đồng vốn huy động đạt 0,135 đồng, tăng so với năm 2022 là 0.015 đồng. Nguyên nhân là do năm 2023, chi nhánh chịu ảnh hưởng của cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các Ngân hàng thương mại nên chi phí huy động vốn đã tăng so với năm 2022. Nhưng sang năm 2024, chi phí cho 1 đồng vốn huy động của Ngân hàng giảm xuống còn 0,078 đồng, giảm 0,057 đồng so với năm 2023. Nguyên nhân là do Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng chính sách trần lãi suất huy động đối với tất cả các Ngân hàng thương mại để giảm sự căng thẳng về thanh khoản, giảm sự bất ổn về lãi suất huy động sau cuộc chạy đua lãi suất giữa các Ngân hàng thương mại vào năm 2023. Sang năm 2025, để huy động 1 đồng vốn mất 0,073 đồng chi phí, giảm 0,005 đồng so với năm 2024. Việc giảm chi phí huy động vốn vào năm 2024 – 2025 có thể thấy là một dấu hiệu tốt cho Ngân hàng trong việc giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh.
2.2.3 Sự cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
- Bảng 2.8: Hiệu suất sử dụng vốn
Qua số liệu các năm 2022 – 2025 ta thấy trong những năm vừa qua ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn mà không phải sử dụng vốn điều chuyển từ hội sở. Năm 2022 số vốn huy động là 732.717 triệu đồng trong đó cho vay là 589.608 triệu đồng tức là cứ 0,8047 đồng dư nợ thì có sự đóng góp của 1 đồng vốn huy động. Sang năm 2023, hiệu suất sử dụng vốn là 69,78% chi nhánh vẫn đáp ứng đủ nguồn vốn huy động để phục vụ cho vay. Song trong 2 năm 2022 – 2023, chi nhánh chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động để cho vay do vậy nguồn vốn huy động được vẫn còn dư thừa. Sang năm 2024, hiệu suất sử dụng vốn là 103,61% vốn huy động không đủ để đáp ứng nhu cầu cho vay, chi nhánh cần điều chuyển vốn từ hội sở song không đáng kể nên đây vẫn là năm chi nhánh sử dụng tốt nguồn vốn huy động, không để vốn ứ đọng, tạo lợi nhuận cho chi nhánh. Nhìn chung hiệu suất sử dụng vốn mà ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng có được là tương đối tốt cho thấy chi nhánh đã chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn của mình. Do vậy trong những năm tiếp theo, bên cạnh việc đầu tư vào hoạt động tín dụng thì chi nhánh Hồng Bàng cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm đạt được số vốn huy động nhiều hơn nữa để đem lại lợi nhuận ngày càng cao.
- Bảng 2.9: Huy động vốn và cho vay ngắn hạn
Qua số liệu các năm 2022 – 2025 ta thấy chủ yếu nguồn vốn huy động ngắn hạn được sử dụng để cho vay ngắn hạn. Năm 2022, chi nhánh huy động được 452.819 triệu đồng nguồn vốn ngắn hạn và cho vay ngắn hạn là 403.288 triệu đồng. Như vậy hầu hết nguồn vốn huy động ngắn hạn được trong năm đều dùng để cho vay ngắn hạn. Trong 3 năm 2023 – 2025, chi nhánh cũng thực hiện tốt chính sách dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay ngắn hạn, đảm bảo chất lượng tín dụng. Điều đó chứng tỏ trong giai đoạn 2022 – 2025 chi nhánh Hồng Bàng đã thực hiện rất hiệu quả công tác huy động vốn ngắn hạn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn ngắn hạn của tổ chức, cá nhân trên địa bàn.
- Bảng 2.10: Huy động vốn và cho vay trung và dài hạn
Nguồn vốn dài hạn của chi nhánh trong các năm 2022 – 2025 chiếm tỉ trọng nhỏ và giảm đều qua các năm. Nguyên nhân là do nền kinh tế Việt Nam đang trải qua thời kì biến động không ngừng và gặp nhiều khó khăn. Lãi suất huy động thấp không đủ sức hấp dẫn nên khách hàng chủ yếu chuyển sang kì gửi ngắn hạn. Điều này đã ảnh hưởng đến việc cho vay trung và dài hạn của chi nhánh. Năm 2022, vốn huy động trung và dài hạn là 217.177 triệu đồng đáp ứng đủ nhu cầu cho vay trung và dài hạn là 201.929 triệu đồng. Năm 2023 là năm vốn huy động trung và dài hạn chiếm tỉ trọng cao nhất trong 4 năm 2022 – 2025 đáp ứng đủ nhu cầu cho vay trung dài hạn là 148.875 triệu đồng nhưng chưa hiệu quả. Vì trong năm 2023, nguồn vốn huy động trung và dài hạn tăng so với năm 2022 nhưng dư nợ cho vay trung và dài hạn lại giảm khiến cho vốn huy động được bị ứ đọng không luân chuyển được để tạo lợi nhuận cho chi nhánh. Sang năm 2024, vốn huy động trung và dài hạn là 154.900 triệu đồng trong khi cho vay lên tới 212.372 triệu đồng như vậy chi nhánh đã không đủ nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay. Năm 2025, chi nhánh đã tiến hành công tác huy động vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn khá tốt. Hầu hết nguồn vốn trung và dài hạn huy động được đều được dùng để cho vay trung và dài hạn đảm bảo chất lượng tín dụng. Nhìn chung, trong giai đoạn 2022 – 2025 chi nhành Hồng Bàng đã huy động đủ vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn.
2.3 Đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
2.3.1 Những kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Sau 5 năm hoạt động Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã đẩy mạnh kinh doanh đúng hướng, xác định công tác huy động vốn là trọng tâm, mở rộng tín dụng đi đôi với việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp và có bước tăng trưởng khá trên cơ sở định hướng của ngành và các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương. Thông qua vốn tín dụng ngân hàng giải quyết được nhu cầu về vốn và việc làm cho người lao động, chất lượng tín dụng không ngừng được nâng cao. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo năng động sáng tạo đổi mới trong chỉ đạo điều hành, xây dựng đơn vị kỉ cương nề nếp có sự đoàn kết thống nhất cao. Được sự quan tâm đồng tình ủng hộ của cấp ủy, chính quyền và các ban ngành từ huyện đến cơ sở, đời sống vật chất tinh thần, phương tiện làm việc, phúc lợi tập thể từng bước được cải thiện đáp ứng được yêu cầu trong hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng đã tăng cường mọi biện pháp hữu hiệu để khai thác nguồn vốn tiền gửi của tổ chức kinh tế vì nguồn vốn này sẽ mang lại lợi ích trong hoạt động kinh doanh, qua đó cũng giúp các tổ chức kinh tế thuận lợi trong hoạt động thanh toán và chu chuyển vốn. Cụ thể Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, cá nhân nhanh chóng hoàn tất thủ tục mở tài khoản, chuyển tiền gửi vào ngân hàng. Chính vì vậy, mà nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân thông qua việc thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng trưởng một cách ổn định, tạo lợi thế cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Các hình thức tiết kiệm ngày càng phong phú, đa dạng cả về thời gian, lãi suất và loại tiền. Bên cạnh đó, công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại nên đã khai thác được tối đa nguồn vốn huy động cả về nội tệ và ngoại tệ, không kì hạn và có kì hạn. Thực hiện tốt các biện pháp huy động sử dụng đồng bộ các công cụ điều hành như: kế hoạch tổ chức, lãi suất, kiểm tra, thi đua nhờ đó mà quy mô tăng trưởng nhanh hình thức đa dạng hơn. Cơ cấu nguồn vốn được điều chỉnh và phát triển dần, việc khai thác tiền gửi của các đơn vị tổ chức kinh tế, cá nhân cũng tăng nhanh góp phần làm giảm lãi suất đầu vào bình quân thấp tạo lợi thế về tài chính cho chi nhánh. Quy mô hoạt động không ngừng tăng nhanh qua các năm, từng bước thực hiện đa dạng các sản phẩm huy động, vừa tăng cường huy động vốn nội tệ, vừa đẩy mạnh huy động vốn ngoại tệ cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư trên địa bàn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng thường xuyên theo dõi, phân tích nhằm nắm bắt tình hình biến động lãi suất cũng như dự báo biến động nguồn vốn trên thị trường, nhằm có kế hoạch cụ thể điều chỉnh linh hoạt lãi suất cho phù hợp, làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách và chiến lược trong công tác huy động vốn cũng như kế hoạch và mục tiêu hoạt động của chi nhánh.
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
- Hạn chế
Mặc dù hoạt động kinh doanh của Chi nhánh nói chung, hoạt động huy động vốn của Chi nhánh nói riêng trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động của Chi nhánh vẫn còn có những hạn chế cần được khắc phục:
Trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỉ trọng nhỏ và có xu hướng ngày càng giảm năm 2022 là 28,42% xuống còn 18,73% vào năm 2025. Đây là một trong những bất lợi lớn của ngân hàng và nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế là nguồn vốn có chi phí thấp giúp ngân hàng giảm chi phí huy động vốn và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ như: thanh toán, chuyển tiền…
Những năm gần đây nền kinh tế trong giai đoạn này chứa đựng những yếu tố biến động khó dự đoán về lạm phát, tỉ giá, lãi suất… Vì vậy, việc gửi các khoản tiền tiết kiệm có kì hạn ngắn thường được khách hàng lựa chọn để họ dễ dàng chuyển đổi mục đích sử dụng vốn sang mua vàng, ngoại tệ… hơn là gửi tiết kiệm trung và dài hạn. Điều này gây tính thiếu ổn định trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng.
Mặt khác, trong huy động vốn VNĐ có nhiều kênh huy động với lãi suất hấp dẫn như: trái phiếu Chính phủ, kì phiếu của công ty dầu khí… nên công tác huy động vốn của các ngân hàng thương mại nói chung và của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc huy động vốn trung và dài hạn.
- Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
Nguồn vốn huy động tuy lớn nhưng cơ cấu chưa hợp lý, thiếu tính ổn định. Nguồn tiền gửi thanh thanh toán của các tổ chức kinh tế chiếm tỉ trọng lớn nhưng luôn biến động, tiền gửi không kì hạn chiếm tỉ trọng cao. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự cạnh tranh gay gắt về nguồn tiền gửi dân cư giữa các ngân hàng trên địa bàn, lãi suất huy động của chi nhánh thường thấp hơn lãi suất huy động của các ngân hàng TMCP do vậy chưa thu hút được người dân. Bên cạnh đó, các hình thức huy động tiền gửi dân cư vẫn còn đơn điệu, chưa hấp dẫn được người dân.
Cơ cấu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, cho vay tiêu dùng… đã được dịch chuyển theo hướng tích cực, nhưng tốc độ còn chậm, tỷ trọng dư nợ còn thấp, vốn tín dụng vẫn còn tập trung vào một số khách hàng công ty nhà nước, tỉ trọng cho vay có đảm bảo chưa đạt kế hoạch.
Các sản phẩm dịch vụ mới (sản phẩm thẻ) triển khai chậm, thiếu đồng bộ. Các dịch vụ đang khai thác chủ yếu vẫn là sản phẩm truyền thống, không có sự khác biệt trên thị trường. Tỷ trọng thu phí dịch vụ tuy có tăng song còn thấp so với tổng thu nhập, nguồn thu chủ yếu vẫn là khoản thu từ lãi điều hòa vốn, đầu tư và cho vay.
Chương trình hiện đại hóa ngân hàng chưa hoàn thiện và ổn định. Các sự cố kĩ thuật chưa được khắc phục kịp thời, nhiều lúc giao dịch bị gián đoạn kéo dài, khách hàng than phiền nhiều.
Trình độ, năng lực đa số cán bộ tuy đã được nâng lên song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Số cán bộ có trình độ ngoại ngữ, giỏi vi tính còn ít, do đó khả năng tiếp cận khai thác chương trình công nghệ mới phục vụ khách hàng còn hạn chế, công tác tiếp thị chưa có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank
