Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. THỊ TRƯỜNG THAN THẾ GIỚI
1. Phân bổ trữ lượng than trên thị trường thế giới
Mảng màu than không bao giờ chìm khuất trong bức tranh năng lượng. Nhu cầu năng lượng của nhân loại, trong đó có nhu cầu về than luôn tăng song bao giờ cũng được thoả mãn đầy đủ. Sau đây là những nét đặc trưng về tình hình khai thác và tiêu thụ than trên thế giới.
Cung ứng 25% nhu cầu năng lượng của thế giới với trữ lượng dồi dào và rộng khắp trong khi giá cả lại tương đối rẻ, than đá được xem là nguồn nhiên liệu “tình thế” trong giai đoạn nhân loại đang cố gắng tách khỏi sự lệ thuộc vào dầu khí và chuyển dần sang các dạng nhiên liệu bền vững, thân thiện với môi trường như năng lượng mặt trời và gió.
Trước thực trạng dầu khí luôn biến động giá và nguồn cung không ổn định, than đá được dự báo sẽ đóng vai trò chủ chốt trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của thế giới trong vòng 20 năm nữa. Để đảm bảo an ninh năng lượng, hiện nay không chỉ các nước tiêu thụ năng lượng hàng đầu như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ mà nhiều nước khác cũng đang tích cực nghiên cứu phát triển các công nghệ biến đổi than đá – vốn rất gây ô nhiễm cho môi trường – thành những dạng năng lượng sạch thay thế xăng dầu. Đi đầu trong xu hướng này là Trung Quốc. Theo kế hoạch phát triển khoa học công nghệ quốc gia của Trung Quốc công bố hồi tháng 2 năm nay thì trong vòng 15 năm tới nền kinh tế lớn thứ tư thế giới sẽ ưu tiên phát triển các công nghệ biến than đá – nguồn tài nguyên có trữ lượng dồi dào nhất hiện nay của nước này – thành nhiều dạng nhiên liệu sạch. Một trong số đó là công nghệ hút khí carbon dioxide (CO2) sinh ra trong quá trình đốt than đá nhằm đạt mức thải CO2 gần bằng 0.
So với dầu khí, than đá là nguồn tài nguyên có ưu thế vượt trội hơn hẳn, chẳng hạn như phạm vi phân bổ rộng khắp các nước trên thế giới với trữ lượng có thể phục hồi ở khoảng 70 nước. Với mức khai thác như hiện nay, ước tính trữ lượng than đá trên thế giới sẽ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân loại trong khoảng 200 năm nữa. Trong khi đó, hơn 68% trữ lượng dầu và 67% trữ lượng khí đốt trên thế giới tập trung chủ yếu ở Trung Đông và Nga. Với đà sử dụng không có xu hướng giảm như hiện nay, nguồn dầu thô và khí đốt ước tính sẽ cạn kiệt trong vòng 45 – 65 năm nữa.
Trung Quốc là nước sản xuất và tiêu thụ than đá lớn nhất trên thế giới trong khi Mỹ là nơi có trữ lượng than đá lớn nhất hành tinh, kế đến là Ấn Độ, Trung Quốc, Australia, Nga, Ukraina, Phần Lan, Nam Phi, Canada…
Thị trường xuất nhập khẩu than quốc tế có nhiều biến động trong những thập kỷ qua. Những năm 60 – 70 là thời kỳ Tây Âu mua nhiều than nhất (54,7%), tiếp đến là Đông Âu và thứ 3 là Nhật Bản. Kể từ đầu những năm 80 trở lại đây, Châu Á Thái Bình Dương và đứng đầu là Nhật Bản có tốc độ tăng nhập khẩu than hết sức nhanh chóng, chiếm tới 49% khối lượng than buôn bán trên toàn thế giới hiện nay. [Nguồn: (31)]. Tình hình xuất nhập khẩu than thế giới được thể hiện qua bảng 4.
Người ta dự báo rằng trong giai đoạn 2027 – 2040, nhu cầu than trên toàn thế giới có thể sẽ tăng với tỷ lệ trung bình năm là 2,2%. Trong đó nhu cầu than của khu vực Trung Đông dự báo tăng 5%/năm; ở châu Á, tỉ lệ tăng trung bình năm của Trung Quốc là 3,1%, các nước khác là 3,8%. Nếu nhận xét về khối lượng thì châu Á vẫn là khu vực tiêu thụ than nhiều nhất thế giới. Có nhiều dự báo trái ngược nhau về nhu cầu than của châu Âu trong những năm tới. Có dự báo nhu cầu than của châu Âu sẽ giảm 0,6% trong giai đoạn 2015 – 2040 còn bộ năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu than của châu Âu sẽ tăng 21% trong giai đoạn này. Cũng theo bộ này, nhu cầu than của châu Á sẽ tăng 59% trong giai đoạn nói trên. [Nguồn: (27)]
- Bảng 4: Tình hình ngành công nghiệp than của một số nước
Việt Nam cũng là quốc gia có tiềm năng than đáng kể, tổng tài nguyên than Việt Nam là trên 230 tỷ tấn (tính đến 2026, chưa tính tài nguyên than biến chất thấp ở thềm lục địa Việt Nam), trong đó:
- Than biến chất thấp (lignit-as bitum), tính tối đa dến -3500m: 211.424 triệu tấn (91,9%), phân bố chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng (210 tỷ tấn).
- Than biến chất trung bình (bitum), tính tối đa đến -400m: 79 triệu tấn (0,04%), phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên và Tây Bắc.
- Than biến chất cao (antraxit), tính tối đa đến -1500m: 18.541 triệu tấn (8,06%), phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh.
2. Đặc điểm thị trường than thế giới hiện nay Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Cạnh tranh than trên thị trường than thế giới hiện nay càng ngày càng trở nên gay go quyết liệt. Ngoài các nước từ trước đến nay vẫn cung ứng than cho thị trường than thế giới như Australia, Mỹ, Nam Phi, Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Canada…còn có nhiều nước xuất khẩu than mới trỗi dậy và đang có xu thế phát triển nhanh như Indonesia, Colombia, Việt Nam…Đây là những nước đang có xu hướng mở rộng lượng than xuất khẩu trong khi các nước kia lại chững lại trong xuất khẩu than.
Các nước hiện nay nhìn chung đều coi trọng mục tiêu tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường sinh thái. Do đó họ ra sức khống chế lượng than nhập khẩu. Mặt khác cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á cũng làm cho lượng than nhập khẩu các nước Đông Á và Đông Nam Á giảm mạnh, giá than cốc giảm khoảng 18%, than động lực có độ nhớt nhỏ giảm giá 15%. Những điều này đã cản trở không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu than của các nước. Trong tình hình như vậy, thị trường than thế giới hiện nay thể hiện những đặc điểm sau:
Thị trường than thế giới đặt ra yêu cầu chất lượng, chủng loại than có xu hướng nghiêm ngặt hơn. Tiêu chuẩn than trên thị trường thế giới hiện nay bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu như: Nhiệt trị phải đạt được tiêu chuẩn của hộ sử dụng; Lưu huỳnh cháy đạt 0,8 % trở xuống; Hàm lượng clorua đạt 0,03 % trở xuống; Trong than không được chứa tạp chất; Tính chất kết dính của than phải đạt được chỉ tiêu theo yêu cầu của hộ sử dụng; Độ trơ phải đạt trị số thấp.
Các nhà xuất khẩu than phải đảm bảo cho lượng than cung cấp luôn ổn định. Các nhà xuất khẩu than phải tuân thủ đúng hợp đồng đã ký kết về các mặt số lượng, chất lượng than, thời gian, địa điểm giao hàng với các hộ sử dụng than thì mới chiếm được thị phần than trên thế giới một cách bền vững. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Thị trường than thế giới có tính tập trung tương đối cao. Có 9 nước xuất khẩu than chính của thế giới là Australia, Mỹ, Nam Phi, Canada, Indonesia, Trung Quốc, Colombia, Nga, Ba Lan (các nước này chiếm tới 90% lượng giao dịch than xuất khẩu). Còn các nước nhập khẩu than chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và các nước khối Cộng đồng chung châu Âu.
Tỷ trọng than cốc và than động lực trên thị trường than thế giới có xu hướng đảo ngược. Nguyên nhân chính là do các nước có nền gang thép lớn đã không ngừng áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao năng lượng hoặc áp dụng kỹ thuật công nghệ mới như công nghệ phun than nên họ đã dùng than không khói thay cho than cốc. Kể từ những năm 90 của thế kỷ 20, tỷ trọng than động lực trên thị trường than thế giới đã vượt quá 50%.
Nhu cầu than Antraxit trên thế giới là rất lớn và ngày càng tăng (điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam vì sản lượng than chủ yếu ở nước ta là Antraxit). Ngày nay thế giới lại đang rất quan tâm đến vấn đề môi trường, ở nhiều nước chính phủ không cho phép xây dựng nhà máy điện nguyên tử, không có điều kiện xây dựng nhà máy thuỷ điện. Vì vậy người ta có xu hướng quay lại phát triển nhiệt điện, trong đó có nhiệt điện chạy than.
Ở các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu, Mỹ việc kiểm soát môi trường được tiến hành hết sức chặt chẽ, do vậy có nhu cầu sử dụng than Antraxit nhiệt lượng cao, hàm lượng lưu huỳnh, photpho, nitơ và các chất độc hại thấp được pha trộn với than cốc để luyện kim, xi măng hay hoá chất…Có thể nói nhu cầu trên thị trường thế giới về than Antraxit sẽ lớn hơn nhiều so với lượng cung trong tương lai.
II. MẶT HÀNG THAN TRONG CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Than là loại nhiên liệu quý không có khả năng phục hồi. Than là mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân như dùng để đun nấu (than cám, than tổ ong). Than còn được dùng rất nhiều làm nguồn nhiên liệu quan trọng trong các ngành chế biến vật chất khác như: luyện kim, điện lực, hoá chất. Trên thế giới có rất nhiều quốc gia cần sử dụng nguyên liệu này phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Như thị trường Tây Âu cần nhập khẩu than để phục vụ một số ngành công nghiệp sản xuất thép và titan, Châu Âu và Nam Phi lại cần nhập khẩu than để làm nhiên liệu đốt sưởi vào mùa đông. Các nước như Nhật Bản thì cần nhập khẩu than để phục vụ cho các ngành sản xuất công nghiệp như thép, xi măng nên số lượng nhập khẩu tương đối ổn định.
Việt Nam là nước xuất khẩu ròng mặt hàng than đá với quy mô nhỏ nhưng tăng trưởng nhanh nên tiềm năng xuất khẩu cũng được xếp ở mức cao. Trong điều hành và thống kê xuất khẩu hàng năm, đến năm 2026, nước ta có 25 mặt hàng (hoặc nhóm hàng) xuất khẩu chủ yếu. Có 18 mặt hàng hiện đã đạt trên 100 triệu USD, đó là: (1) dầu thô; (2) dệt may; (3) giày dép; (4) thuỷ sản; (5) gỗ và sản phẩm gỗ; (6) điện tử, máy tính; (7) gạo; (8) cao su; (9) cà phê; (10) than; (11) dây điện và dây cáp điện; (12) hạt điều; (13) sản phẩm nhựa; (14) sản phẩm gốm sứ; (15) rau quả; (16) sản phẩm mây, tre, cói, thảm; (17) hạt tiêu; (18) xe đạp và phụ tùng xe đạp. Như vậy là đã tăng 4 mặt hàng so với năm 2020 (than; sản phẩm mây, tre, cói, thảm; sản phẩm nhựa; xe đạp và phụ tùng xe đạp).
Có 12 mặt hàng xuất khẩu sau đây đạt trên 500 triệu USD, được các chuyên gia gọi là câu lạc bộ các mặt hàng xuất khẩu “đại gia”, tăng 5 thành viên so với năm 2020 (than, dây điện và cáp điện, cao su, hạt điều, sản phẩm gỗ).
- Bảng 5: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta
Đối tác nhập khẩu than chính của than Việt Nam là Nhật Bản (32%), Trung Quốc (27%), Thái Lan (11%), Hàn Quốc (9%), Hà Lan (8%). Tuy mặt hàng than có tốc độ tăng bình quân từ 2021 – 2025 cao nhất trong các mặt hàng chủ lực nhưng để tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước, chúng ta không thể khai thác lớn hơn được, mục tiêu xuất khẩu chỉ ở mức khoảng 150 triệu USD.
III. HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
1. Kim ngạch xuất khẩu và thị trường xuất khẩu
1.1 Kim ngạch xuất khẩu
Về sản lượng, trong những năm gần đây, sản lượng than xuất khẩu của Tập đoàn ngày càng tăng được thể hiện qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 1: Sản lượng than xuất khẩu của TKV những năm gần đây
Qua biểu đồ trên, ta thấy sản lượng xuất khẩu của ngành than đã tăng từ 3076 nghìn tấn (năm 2020) lên 20940 nghìn tấn (năm 2026), tức là tăng 680%. Cho đến tháng 8/2027, sản lượng xuất khẩu của Tập đoàn là 15900 nghìn tấn, tăng 22% so cùng kỳ năm trước.
Có được kết quả đó là do Tập đoàn đã tăng cường hoạt động khai thác, sản xuất than, nhờ đó tăng được số lượng than thương phẩm. Ngành than đã chú trọng đến đầu tư cho công tác thăm dò cùng với đẩy mạnh sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại để tăng khối lượng than khai thác. Hiện tại, toàn ngành có 5 mỏ lộ thiên lớn sản xuất với công suất trên dưới 2 triệu tấn than nguyên khai/năm, 15 mỏ lộ thiên vừa và công trường lộ thiên (thuộc các công ty than hầm lò quản lý) sản xuất với công suất từ 100.000 tấn – dưới 1 triệu tấn than nguyên khai/năm, trên 30 mỏ hầm lò đang hoạt động (trong đó 8 mỏ có trữ lượng huy động lớn, công nghệ và cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, khai thác với công suất từ 1 triệu tấn/năm trở lên; các mỏ còn lại có sản lượng khai thác dưới 1 triệu tấn/năm). Xuất khẩu hiện chiếm khoảng 30% tổng sản lượng than của tập đoàn, đó không phải là một con số nhỏ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Về giá trị kim ngạch xuất khẩu của Tập đoàn, ta có thể thấy rằng trị này không ngừng tăng lên qua các năm theo biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2: Giá trị kim ngạch xuất khẩu than của TKV những năm gần đây
Qua biểu đồ ta thấy giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm 2020 – 2025. Nhưng đến năm 2026, kim ngạch xuất khẩu than tăng vụt, lần đầu tiên mặt hàng than được tham gia vào là câu lạc bộ các mặt hàng xuất khẩu “đại gia” (giá trị kim ngạch đạt trên 500 triệu USD). Sự tăng trưởng vượt bậc đó phần nhiều là do kết quả của việc chuyển đổi Tổng Công ty Than Việt Nam thành Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam vào cuối năm 2025 cùng với đó là những nỗ lực đổi mới cách thức quản lý điều hành hiệu quả hơn và ngày càng hiện đại hoá máy móc thiết bị trong khai thác chế biến than. Sự chuyển đổi thành Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam chính là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của ngành than Việt Nam.
1.2 Thị trường xuất khẩu
Thời kỳ trước đổi mới, thị trường xuất khẩu than của ta chỉ có Liên Xô, các nước thuộc Đông Âu và Cuba. Nhưng sau khi hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ cùng với giai đoạn đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, lúc khó khăn trong các thị trường truyền thống thì sau đó là những nỗ lực mở rộng sang các thị trường châu Á và châu Âu như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Bungary, Ấn Độ, Cộng hoà Séc, Philipins, Thuỵ Điển…
Cuộc khủng hoảng tài chính tiện tệ ở châu Á vào cuối năm 2017 đã tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, trong đó có xuất khẩu than của nước ta. Nhận thấy rõ khó khăn trước mắt, Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là TKV) đã nỗ lực hết mình, chủ động tìm kiếm bạn hàng mới, cùng với kinh nghiệm và uy tín của mình, TVN đã tìm được hướng đi đúng đắn cho mình, thể hiện qua hai bảng 6 và 7. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Qua 2 bảng này ta thấy các thị trường tiêu thụ lớn của Tập đoàn là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Tây Âu; thị trường xuất khẩu than ngày càng mở rộng, đặc biệt là bắt đầu từ năm 2020 có thêm những thị trường mới đầy tiềm năng như Malaysia, Trung Quốc, Pháp, Cộng hoà Séc, Thuỵ Điển thể hiện trên bảng 6:
- Bảng 6: Thị trường xuất khẩu than qua các năm 2018 – 2021
Đến năm 2026, Tập đoàn lại có thêm những bạn hàng mới như Ấn Độ, Indonesia, Lào (bảng 7) giúp mối quan hệ làm ăn ngày càng mở rộng. Hiện nay, TKV luôn duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các bạn hàng, không ngừng tìm kiếm mở rộng thị trường. Nếu như trước đây, than Antraxit ở Việt Nam dưới tên “Hongay Antraxit” rất nổi tiếng ở châu Âu, Nhật Bản dùng trong sưởi ấm thì ngày nay, Antraxit Việt Nam còn được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp của trên 30 nước trên thế giới: luyện thép, luyện niken, titan, xi măng, điện cực, hoá chất điện lực…ở cả châu Á, châu Âu, châu Phi, Châu Úc và châu Mỹ.
- Bảng 7: Thị trường xuất khẩu than qua các năm 2020 – 2026
Trên thị trường than thế giới, than Việt Nam là đối thủ tương đối nhỏ. Úc, Mỹ, Nam Phi là ba nước sản xuất than lớn nhất hiện nay. Indonesia, Colombia, Venezuela là những nước mới nổi trong xuất khẩu than hiện nay. Tuy nhiên, phần lớn trữ lượng than của Việt Nam là than Antraxit có chất lượng cao và loại than này đã được khai thác hết ở nhiều nước sản xuất than khác. Việt Nam là nước đứng đầu về xuất khẩu than Antraxit, chiếm khoảng 25 – 30% tổng số than Antraxit xuất khẩu trên thế giới. Than Việt Nam được xuất khẩu vào thị trường khoảng 30 nước, lớn nhất là thị trường Nhật Bản (chiếm khoảng 40% tương đương 2,5 triệu tấn than Antraxit). Ngoài ra thị trường châu Âu (Tây Âu và Bungary), các nước ASEAN và gần đây là thị trường châu Mỹ (kể cả Mỹ) và Nam Phi cũng trở thành điểm đến trong xuất khẩu than của Tập đoàn.
2. Giá cả than xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
2.1 Tình hình giá than xuất khẩu thời gian gần đây
Giá than xuất khẩu của Việt Nam thời gian gần đây được thể hiện qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 3: Giá than xuất khẩu của Tập đoàn từ năm 2020 – 2026
Ta thấy giá than xuất khẩu từ năm 2020 đến năm 2023 giảm, nhưng từ năm 2023 đến nay giá than xuất khẩu của Việt Nam lại tăng trở lại. Năm 2023 giá than xuất khẩu mới là 25.51 USD/tấn thì đến năm 2026 đã là 40.04 USD/tấn.
Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do giá than xuất khẩu của Tập đoàn do giá than thế giới quyết định. Trước năm 2023 trở lại, tuy nhu cầu tiêu thụ than thế giới tiếp tục tăng nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ than của thị trường thế giới, nhiều nước đã triển khai thực hiện các chính sách đẩy mạnh khai thác, sản xuất và xuất khẩu than. Như ngành than của Nga đẩy mạnh thực hiện chính sách tư nhân hoá. Chính phủ Trung Quốc thì có chính sách rõ ràng về phát triển ngành than nhằm đẩy nhanh việc xây dựng các mỏ than đá cỡ lớn và trung bình đồng thời xây dựng nhiều mỏ than đá hiện đại; sử dụng nhiều công nghệ tiên tiến trong khâu tuyển, rửa than. Hỗ trợ các doanh nghiệp lớn hợp nhất thành các tập đoàn lớn, thiết lập mối quan hệ giữa các nhà máy than và nhà máy điện để sản xuất và tiêu thụ than có hiệu quả. Cùng với việc nhiều nước áp dụng các công nghệ hiện đại trong sản xuất than để hạ giá thành, cuộc cạnh tranh xuất khẩu than tiếp tục diễn ra gay gắt. Nổi lên trong cuộc cạnh tranh trên thị trường than thế giới là cuộc cạnh tranh xuất khẩu than của Ôxtrâylia với các nước Trung Quốc, Nga và Inđônêxia.
Còn từ năm 2023 đến nay, giá than thế giới cũng như Việt Nam lại tăng lên. Nguyên nhân là do các quốc gia dần hạn chế nguồn cung do nhận thấy nguồn tài nguyên than quý giá đang dần cạn kiệt và ưu tiên hơn cho tiêu dung nội địa tránh lãng phí nguồn tài nguyên quốc gia trong khi nhu cầu than của thế giới vẫn không ngừng tăng lên và trong thời gian tới có lẽ giá than sẽ ngày càng tăng chứ không giảm nữa.
2.2 Chính sách giá than của Tập đoàn Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Trong tình hình kinh doanh hiện nay, doanh nghiệp nào cũng muốn bán được sản phẩm của mình với giá cao, thu được lợi nhuận cao nhất có thể. Nếu không doanh nghiệp đó không thể tồn tại lâu dài được bởi vì hiện nay có rất nhiều đối thủ cạch tranh trên thị trường, họ sẵn sàng giảm giá để thu hút khách hàng. Vì vậy để có thể phát triển trong tương lai thì TKV phải có chính sách giá thích hợp để làm sao vừa có mức giá cạch tranh, vừa đảm bảo doanh nghiệp thu được khoản lợi nhuận xứng đáng trong dài hạn. TKV đã xác định rằng mình không thể chạy theo lợi nhuận trước mắt mà phải tính tới lợi nhuận trong lâu dài. Do vậy, Tập đoàn thường rất linh động trong chính sách giá của mình, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà đề ra mức giá cho phù hợp nhất là đối với các thị trường khó tính và nhạy cảm.
Thông thường, Tập đoàn đề ra quy định đối với giá các loại than xuất khẩu là mức giá sàn. Giá than xuất khẩu được xác định thông qua chi phí sản xuất và giá cả các loại than đồng loại trên thị trường than thế giới. Còn mức giá đưa ra cho khách hàng thì còn tuỳ thuộc vào sự tính toán về chi phí hợp lý và các yếu tố khác. Khi tiến hành hoạt động xuất khẩu, mức giá được Tập đoàn áp dụng là giá FOB và CIF. Sau khi đã tiến hành tính toán tất cả các chi phí như phí uỷ thác, phí kiểm định, phí chuyên chở…Tập đoàn sẽ đưa than ra bến cảng và đưa đi xuất khẩu, lúc này giá than xuất khẩu ở cảng sẽ là một trong hai loại giá trên (FOB hoặc CIF). Nhưng thông thường, Tập đoàn xuất khẩu theo giá FOB tức là khi hàng hoá được chuyển qua lan can tàu thì Tập đoàn sẽ không còn phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá nữa, quá trình chuyên chở từ cảng về đến điểm đích cuối cùng sẽ do phía khách hàng chịu mọi trách nhiệm. Hình thức này giúp cho Tập đoàn bớt phải lo một công đoạn khó khăn trong khâu giao hàng nhưng lại bỏ qua một lợi thế cạnh tranh. Tuy đối với tàu có trọng tải nhỏ hơn thì áp dụng theo giá CIF nhưng nhìn chung mức giá xuất khẩu của Tập đoàn chủ yếu là giá FOB, điều này chưa thực sự đem lại hiệu quả cho Tập đoàn vì chưa tận dụng được lợi thế cạnh tranh về chi phí vận chuyển và điều này cũng làm cho giá than xuất khẩu của Việt Nam thường cao hơn.
Tuy rằng các nước có nhu cầu lớn về nhập khẩu than của Việt Nam nhưng trên thế giới vẫn còn rất nhiều các nhà cung cấp than xuất khẩu khác như Nam Phi, Australia, Trung Quốc, Indonesia…khiến cho tình hình xuất khẩu than ngày càng quyết liệt. Hiện nay so với giá xuất khẩu các loại than cùng loại của các nước thì giá của Việt Nam là tương đối cao. Có thể lấy ví dụ về giá than cám và than đá xuất khẩu bình quân của Việt Nam và của thế giới để thấy rõ hơn về mức giá than xuất khẩu của Việt Nam cao hơn như thế nào: Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
- Bảng 8: Giá một số loại than xuất khẩu bình quân qua các năm 2020 – 2026
Như vậy Tập đoàn vẫn phải tiếp tục hoàn thiện chính sách giá cho hợp lý để đảm bảo lợi nhuận cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong bối cảnh kinh tế thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay.
2.3 Giá than nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và phát triển bền vững
- Giá than ảnh hưởng xuất khẩu than tăng
Những năm gần đây xuất khẩu than liên tục giá tăng với tốc độ ngày càng cao, cụ thể như trên bảng sau:
- Bảng 9: Sản lượng than xuất khẩu những năm gần đây
Theo bảng trên ta thấy trong 2 năm 2024 – 2025, sản lượng than xuất khẩu của cả nước có tốc độ tăng là 58,9% và 55,2%; trong đó của TKV là 61,5% và 40,0%, của các đơn vị khác là 37,5% và 200,0%. Việc tăng nhanh sản lượng than xuất khẩu đã khiến cho dư luận quan tâm lo ngại về sự mau chóng cạn kiệt nguồn tài nguyên không thể tái tạo này và sự thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu than ngày càng cao của nền kinh tế trong tương lai. Vậy nguyên nhân làm cho xuất khẩu than ngày càng tăng nhanh là gì?
Trước hết, nguyên nhân căn bản là giá bán than trong nước thấp hơn so với giá thành và quá thấp so với giá xuất khẩu, đặc biệt là giá bán than cho các hộ tiêu thụ trọng điểm gồm: nhiệt điện than, xi măng, phân bón, hoá chất như bảng sau:
- Bảng 10: Giá thành than tiêu thụ và giá bán than qua các năm 2020 – 2025
Như vậy giá than nội địa bình quân thời gian qua luôn thấp hơn giá thành tiêu thụ và chỉ bằng 3/5 – 3/4 giá than xuất khẩu bình quân. Trong đó giá than bán cho các hộ tiêu thụ trọng điểm so với giá than xuất khẩu cùng loại còn thấp hơn nhiều. Có thể thấy rõ điều này qua tìm hiểu giá một số loại than được bán cho các hộ tiêu thụ trọng điểm trong bảng 11:
- Bảng 11: Giá các loại than cho các hộ tiêu thụ trong điểm năm 2025
Qua số liệu 3 bảng trên ta thấy chênh lệch giữa giá than nội địa và giá than xuất khẩu càng lớn thì sản lượng than xuất khẩu càng tăng, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật thị trường. Tuy nhiên ở Trung Quốc thì ngược lại với ta: giá than nội địa cao hơn giá than xuất khẩu nên xuất khẩu than giảm xuống, chẳng hạn than xuất khẩu của Trung Quốc năm 2025 giảm xuống còn 71,8 triệu tấn, trong khi xuất khẩu năm 2023 đạt trên 90 triệu tấn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Do giá than nội địa thấp nên trong thời gian qua TKV xuất khẩu than là để: (1) Bù lỗ phần sản lượng than tiêu thụ trong nước; (2) Thu lợi nhuận để tái đầu tư duy trì và nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng tăng cao; (3) Xuất khẩu một số chủng loại than mà trong nước tạm thời chưa có nhu cầu, trong đó có cả nguyên nhân nhu cầu than thực tế cho sản xuất điện và ximăng luôn thấp hơn nhu cầu dự kiến trong kế hoạch và quy hoạch. Chẳng hạn năm 2025, TKV xuất khẩu 14,7 triệu tấn, trong đó theo tính toán gần 2 triệu tấn than để bù lỗ cho than tiêu thụ trong nước, khoảng 10 triệu tấn để thu lợi nhuận đáp ứng 30% tổng vốn đầu tư, số còn lại khoảng 2,7 triệu tấn là các loại than trong nước chưa có nhu cầu. [Nguồn: (8)]
Nguyên nhân thứ hai làm tăng xuất khẩu là do quản lý phần than tiêu thụ trong nước chưa chặt chẽ. Do giá than trong nước thấp và giá than xuất khẩu cao như đã nêu trên nên một khối lượng than gọi là tiêu thụ trong nước nhưng đã bị xuất khẩu lậu để ăn chênh lệch giá. Như năm 2026 có khoảng 2,7 triệu tấn than đã xuất khẩu lậu theo kiểu này.
- Giá than ảnh hưởng tới tổn thất than trong quá trình khai thác.
Tỉ lệ tổn thất than trong quá trình khai thác thời gian qua tuy phần nào đã được cải thiện nhờ có tích luỹ đầu tư áp dụng công nghê mới song vẫn ở mức cao, nhất là ở các mỏ hầm lò. Một trong những nguyên nhân làm cho tổn thất than còn ở mức cao là do giá than thấp nên trong nhiều trường hợp một phần than có giá thành khai thác cao bị doanh nghiệp bỏ lại trong lòng đất và ngoài bãi thải.
Rõ ràng qua những phân tích ở trên cho thấy nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm tăng cao xuất khẩu than là do giá bán than trong nước quá thấp. Việc duy trì cơ chế bán than nội địa thấp, nhất là giá bán cho các hộ tiêu thụ chính không những gây tiêu cực trong buôn bán và xuất khẩu than mà còn góp phần làm cho việc sử dụng than lãng phí, đồng thời cũng làm tăng đà suy thoái môi trường, gây thiệt hại cho ngành kinh tế, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt nguồn “vàng đen” hữu hạn không thể tái tạo của đất nước.
3. Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu
Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu càng ngày càng tăng, được thể hiện qua bảng 12. Bảng đã tính toán cho thấy trước năm 2024, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu là do sản lượng tăng nhanh, còn giá xuất khẩu lại giảm. Từ năm 2024 đến nay, giá đã tăng trở lại, sản lượng xuất khẩu còn tăng nhanh hơn nữa làm kim ngạch xuất khẩu tăng vượt bậc, doanh thu xuất khẩu cũng có những bước tiến dài. Theo bảng ta cũng tính được mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân từ 2020 – 2026 là 49,03%/năm, trong đó giai đoạn 2020 – 2023 là 22,95% trong khi giai đoạn 2023 – 2026 tăng bình quân là 75,10%. Kim ngạch xuất khẩu tăng cao giúp Tập đoàn bù lỗ cho phần sản lượng than tiêu thụ trong nước, thu lợi nhuận để tái đầu tư.
- Bảng 12: Sản lượng kim ngạch xuất khẩu trung bình từ năm 2020 – 2026
V. NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THAN CỦA TKV
1. Thành công Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Để đánh giá chính xác lợi ích kinh tế mà hoạt động xuất khẩu mang lại, chúng ta cần xem xét những khía cạnh trong xuất khẩu, đó là: chất lượng, chủng loại than xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu; giá cả; phương thức xuất khẩu; hiệu quả xuất khẩu, thị trường xuất khẩu và xúc tiến thương mại.
1.1 Về chất lượng, chủng loại than xuất khẩu
Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất khi đánh giá hiệu quả xuất khẩu vì có thực hiện tốt khâu này thì than Việt Nam mới có thể được các nước biết tới, chấp nhận nhập khẩu than của Việt Nam và có thể nâng cao kim ngạch sang nước đó. Chất lượng sản phẩm than là kết quả của quá trình sản xuất trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn, chất lượng than chính là yếu tố đánh giá cuối cùng của quá trình sản xuất. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam cũng đặc biệt chú ý tới chất lượng than xuất khẩu.
Đầu tiên, mẫu mã, quy cách phẩm chất của các loại sản phẩm than đều được các khách hàng quy định rất cụ thể, rõ ràng trong các hợp đồng mua bán sản phẩm giữa hai bên. Chính vì vậy việc đáp ứng các nhu cầu khắt khe của khách hàng phải được thực hiện và tuân thủ một cách nghiêm túc ngay ở dưới các hầm mỏ khai thác than sao cho quá trình khai thác và sàng tuyển chọn ra được những loại than phù hợp với yêu cầu khách hàng. Thông thường việc xuất khẩu than của Việt Nam chỉ việc dựa vào những tiêu chuẩn kỹ thuật mà khách hàng đòi hỏi như về độ trơ, độ ẩm, chất bốc lưu huỳnh, các bon cố định, nhiệt năng và cỡ hạt của than. Đây là những đặc tính kỹ thuật quan trọng nhất nói đến tính năng sử dụng cũng như khả năng đáp ứng tiêu chuẩn để có thể làm nguyên liệu cho quá trình cung cấp năng lượng và nhiệt lượng trong sản xuất. Tuy nhiên quá trình để than từ các mỏ đến tay người tiêu dùng còn phải trải qua một quá trình bao gồm nhiều công đoạn và những công đoạn này thường có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng than. Như trong quá trình vận chuyển có thể có sự va đập dẫn đến cỡ hạt của than nhỏ hơn so với quy định ban đầu hoặc khi trời mưa làm ảnh hưởng tới độ ẩm của than. Vì vậy trước khi tiến hành xuất khẩu than Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) đã thành lập Công ty cổ phần Giám định Than Việt Nam để thực hiện các khâu giám định như đo lường và giám định chất lượng. Đây là đơn vị trực thuộc Tập đoàn được thành lập để thực hiện nhiệm vụ giám định và kiểm tra xem các sản phẩm có phụ hợp với quy cách phẩm chất yêu cầu trước khi xuất khẩu hay không. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Bên cạnh việc thành lập Công ty cổ phần Giám định Than Việt Nam thì TKV còn thiết lập các mối quan hệ với hai trung tâm kiểm tra và giám định chất lượng khác là VINACONTROL và SGS. Đây là 2 trung tâm kiểm tra và giám định chất lượng sản phẩm tại Việt Nam và đều giám định chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Hai trung tâm này cũng thường là những trung tâm được các bên khách hàng của Tập đoàn chọn là cơ quan kiểm định than trước khi xuất khẩu. Việc hợp tác chặt chẽ và có những thông tin chính xác kịp thời từ những trung tâm này đã, đang và sẽ giúp cho Tập đoàn tránh được những sai lệch trong chính sách của mình.
Một trong những yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng tơi chất lượng than xuất khẩu là quá trình vận chuyển than từ nơi sản xuất đến cầu cảng để xuất khẩu. Thường thì than được xuất khẩu cho khách hàng nước ngoài có khối lượng lớn, do đó việc chuẩn bị hàng để xuất khẩu là rất quan trọng, vì vậy đây là một vấn đề mà Tập đoàn đặc biệt quan tâm tới khi ký kết hợp đồng mua bán với bất kỳ đối tác nào. Điều này được thể hiện qua việc Tập đoàn không ngừng tăng cường đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho quá trình sang tuyển, phân loại than. Cho đến nay Tập đoàn đã có ba cụm sang tuyển trung tâm tại Cửa Ông (Cẩm Phả – Quảng Ninh), Nam Cầu Trắng (Hạ Long – Quảng Ninh), và Nhà máy sàng Vàng Danh (Uông Bí – Quảng Ninh).
Việt Nam có cả than nâu, than bùn, than mỡ song lợi thế tuyệt đối của than Việt Nam trên thị trường thế giới là than Antraxit. Bể than Antraxit của Quang Ninh – Việt Nam được coi là chất lượng hàng đầu thế giới với những tính năng ưu việt, hoàn toàn có thể cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác như: nhiệt lượng cac (7350 – 8200 kcal/kg), độ tro thấp và hàm lượng lưu huỳnh thấp, tỷ lệ cacbon ổn định (80 – 90%), rất phù hợp cho ngành sản xuất nhựa, ximăng, công nghiệp luyện kim, đóng tàu. Trữ lượng Antraxit tính từ độ vỉa đến độ sâu -300m thì hiện nay còn khoảng 3,3 tỷ tấn, nếu khai thác mỗi năm 20 – 25 triệu tấn thì chúng ta còn khai thác được hơn 70 năm nữa. Ngoài ra theo thăm dò của ngành địa chất, tính từ độ sâu -300 đến -1000m trữ lượng còn khoảng 10 tỷ tấn2.
Than xuất khẩu của TKV hiện nay chủ yếu tập trung vào một số chủng loại có giá trị xuất khẩu cao như than cục, than cám 1, 2, 3. Đây là loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng nên TKV tiếp tục xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu…Ngoài ra, một số loại than chất lượng thấp mà trong nước chưa sử dụng hết như than cám 5, 6, 7, TKV sẽ tiếp tục xuất sang thị trường Trung Quốc. TKV sẽ thắt chặt hơn công tác quản lý, chỉ cung cấp than cho các công ty là đại lý của TKV cũng như giao than xuống tận cuối nguồn cho các hộ lớn để chống thất thoát nguồn than.
Trong điều kiện thương mại quốc tế ngày càng phát triển, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì yếu tố chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố cần được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Chất lượng tốt không những đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trên thị trường nội địa mà còn giúp doanh nghiệp vươn ra trên thị trường nước ngoài. Chính vì nhận thức được điều này, TKV đã không ngừng nâng cao chất lượng than xuất khẩu, điều đó góp phần giúp Tập đoàn mở rộng thị trường xuất khẩu của mình tới hơn 30 quốc gia trên thế giới.
1.2 Về giá than xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Các năm qua trên thế giới, giá than giảm mạnh từ năm 2020 – 2023 và tăng trở lại từ năm 2024 đến nay. Ví dụ than Antraxit, năm 2018 có giá là 70 USD/tấn thì đến 2021 chỉ còn 54 USD/tấn và đến 2024 tăng trở lại là 74 USD/tấn. Khi giá cả giảm, nó không những ảnh hưởng đến lợi nhuận của Tập đoàn mà còn gây khó khăn trong công tác dự trữ lượng than xuất khẩu của Tập đoàn để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nhận thức được điều này, Tập đoàn đã xây dựng chế độ giá cả phù hợp có thể chấp nhận được như đã phân tích ở trên với những khách hàng có hợp đồng dài hạn, khối lượng hợp đồng lớn như Hàn Quốc, Bungary…Tuy nhiên giá cả ở đây phải đảm bảo kinh doanh không lỗ, chính sách giá cả này đã được khách hàng hưởng ứng và nó đã đem lại những kết quả rất khả quan.
1.3 Về kim ngạch xuất khẩu
Trong những năm qua, than đá là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nếu như cuối những năm 1990, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm xuống (trung bình trong giai đoạn 2016 – 2020 mỗi năm giảm 4,7%, đến năm 2020 chỉ còn 94 triệu USD) thì từ năm 2021, xuất khẩu than không những đã phục hồi mà còn đạt được tốc độ tăng trưởng đáng chú ý. Trong giai đoạn 2020 – 2026, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân là 49%, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2024 đến nay. Năm 2025 đã vượt ngưỡng 500 triệu USD kim ngạch xuất khẩu giúp mặt hàng than trở thành một trong những “đại gia” xuất khẩu chủ lực của nước ta, đến năm 2026 kim ngạch xuất khẩu than đã là 875 triệu USD, gần đạt mức 1 tỷ USD chứng tỏ sự tăng trưởng vượt bậc của Tập đoàn những năm gần đây.
1.4 Về mặt phương thức xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng về mặt chất lượng sản phẩm than, đề ra mức giá xuất khẩu hợp lý đã tạo những lợi thế cạnh tranh nhất định cho sản phẩm than trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên các lợi thế này chỉ có tác dụng trong thời gian nhất định. Khi chất lượng sản phẩm trở nên đồng đều ở tất cả các thị trường, khi mức giá xuất khẩu than trên thị trường nhỏ hơn hoặc bằng giá xuất khẩu than của Việt Nam, đồng thời hiện nay có nhiều đối thủ cạnh tranh quyết liệt trong hoạt động xuất khẩu than thì chính sách phân phối sản phẩm than sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình cạnh tranh. Trong chính sách phân phối sản phẩm thì quan trọng hơn cả là duy trì kênh phân phối như thế nào để sản phẩm có thể xuất khẩu và đem lại lợi nhuận cho nhà xuất khẩu. Hiện nay TKV đã và đang tiến hành xuất khẩu than sang các thị trường trên thế giới thông qua hai kênh phân phối đó là: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp (tức là thông qua các tổ chức kinh doanh độc lập trong nước, xuất khẩu thông qua trung gian). Nhìn chung thì kênh xuất khẩu trực tiếp là hiệu quả nhất vì không phải tốn phí, không phải thông qua trung gian, không mất phí uỷ thác và làm tăng thu nhập doanh nghiệp. Đối với kênh gián tiếp xuất khẩu thông qua tổ chức kinh doanh độc lập trong nước thì Tập đoàn cũng bán cho các công ty đó nhưng lượng hàng bán bị hạn chế do than là ngành kinh doanh độc quyền. Tập đoàn còn sử dụng kênh thông qua trung gian xuất khẩu như xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản qua Công ty Thống Nhất Coal, xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc thông qua Công ty Sam Sung.
Lượng tiêu thụ và doanh số tiêu thụ chủ yếu là từ kênh gián tiếp, thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 13: Kim ngạch xuất khẩu than theo các hình thức xuất khẩu
1.5 Về thị trường xuất khẩu
Cho đến nay Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã xuất khẩu than được sang 30 thị trường, trong đó Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Âu, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan đều là những bạn hàng lớn và bền vững của thị trường than Việt Nam, có một số thị trường mà Tập đoàn đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD/ năm.
Những năm vừa qua Tập đoàn đã kế thừa và mở rộng thị trường tiêu thụ trên và một số thị trường khác như Philipins, Nam Mỹ, Nam Phi…nhờ vào chính sách bạn hàng đúng đắn, sự cung cấp ổn định về khối lượng, chất lượng với giá cả cạnh tranh cho khách hàng. TKV đã ký được hợp đồng dài hạn 3 năm, 5 năm và thậm chí là 15 năm cho một số nhà tiêu thụ ở Nhật Bản, Philipins, Thái Lan và Trung Quốc.
1.6 Về hiệu quả xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Hiệu quả xuất khẩu của Tập đoàn được thể hiện trên hai khía cạnh, đó là hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội mà hoạt động xuất khẩu than đem lại.
Đánh giá về mặt kinh tế của việc xuất khẩu than chính là đánh giá những lợi ích nhất định về kinh tế cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu than nói riêng. Thông qua hoạt động xuất khẩu, chúng ta sẽ thu được nguồn vốn, nguồn ngoại tệ lớn góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, cải thiện cán cân thanh toán, cán cân thương mại, làm tăng dự trữ ngoại tệ. Cụ thể đối với hiệu quả về mặt kinh tế được đánh giá trên khía cạnh lợi nhuận xuất khẩu, mức đóng góp của kim ngạch xuất khẩu than trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
- Bảng 14: Lợi nhuận xuất khẩu của Tập đoàn qua các năm 2020 – 2026
Hiệu quả xuất khẩu than Việt Nam trong những năm thể hiện thông qua chỉ tiêu doanh thu xuất khẩu và nhất là qua chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu. So với những năm đầu thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam đến nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam thì tổng doanh thu tăng gần 7 lần từ năm 2015 là 1410 tỷ đồng đến năm 2026 là 9546 tỷ đồng. Lợi nhuận xuất khẩu cũng tăng lên thể hiện qua bảng 14.
Qua bảng số liệu này ta thấy lợi nhuận xuất khẩu than tăng dần qua các năm, trở thành thế mạnh xuất khẩu của đất nước. Nó góp phần tăng thu ngoại tệ và phát huy lợi thế so sánh của đất nước.
Hiệu quả về mặt xã hội khi kim ngạch xuất khẩu than ngày càng tăng thể hiện rất rõ qua việc Tập đoàn đã sử dụng một lực lượng lao động rất lớn, đặc biệt đã giải quyết một số lượng việc làm lớn cho công nhân vùng mỏ. Bên cạnh đó, mức lương trả cho người lao động ngày càng đảm bảo cho cuộc sống của họ. Nếu như năm 2015 mức lương của cán bộ công nhân viên vùng mỏ chỉ là 667.000 đồng/người/ tháng thì đến năm 2026 đã là 3,8 triệu đồng/tháng. Trong những năm qua thông qua hoạt động xuất khẩu than ngày càng được tăng cường đã giúp cho việc phát triển các ngành kinh doanh khác, ngày càng đem lại lợi ích cho nền kinh tế đất nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
1.7 Xúc tiến thương mại trong hoạt động bán hàng
Trong hoạt động xuất khẩu, các hoạt động xúc tiến đóng một vai trò quan trọng, giúp sản phẩm được mở rộng, khuyếch trương để khách hàng biết đến trên các thị trường. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã có rất nhiều hoạt động khuyếch trương sang các thị trường khác nhau, Tập đoàn thường có quan hệ với các cơ quan hợp tác chính phủ các nước mà than Việt Nam được xuất khẩu như: Tổ chức thăm dò than vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong chương trình hợp tác với cơ quan phát triển tổng hợp kỹ thuật năng lượng mới (NEDO), nghiên cứu chung về công tác khai thác than với trung tâm năng lượng Nhật Bản (JCOAL). Ngoài ra TKV còn có quan hệ với các tập đoàn kinh tế lớn của các nước như tập đoàn Sumitomo, Nippon Steel, Nihon Cemen, Itochu, Nittetsusoji (Nhật Bản), Đại Hàn Coal, Samsung (Hàn Quốc). TKV thường áp dụng các biện pháp bán hàng trực tiếp, tham gia hội chợ triển lãm, phát hành tạp chí để quảng bá cho sản phẩm của mình. Đối với hình thức bán hàng trực tiếp, Tập đoàn thường tìm thông tin trên các mạng rồi tìm đến các khách hàng có tiềm năng, có nhu cầu sử dụng than lớn để chào hàng các loại than mà Tập đoàn có khả năng đáp ứng. Hơn nữa, các lãnh đạo của Tập đoàn còn trực tiếp đi cùng các đoàn doanh nghiệp Việt Nam theo các đoàn lãnh đạo của Chính phủ sang thị trường các nước để tìm kiếm và mở rộng cơ hội làm ăn của ngành than trên thị trường đó. Chính nhờ các chuyến đi này mà Tập đoàn có thể ký được các hợp đồng quan trọng với khách hàng mới. Bên cạnh tham gia các hội chợ trong nước, Tập đoàn còn tham gia các hội chợ thương mại quốc tế bởi đây là những cơ hội tốt cho Tập đoàn trong việc quảng bá sản phẩm của mình tới các bạn hàng trên thế giới. Mặc dù hoạt động này còn chưa nhiều song việc tham gia vào các hội chợ này cũng đem lại những hiệu quả nhất định cho Tập đoàn. Ngoài hình thức bán hàng trực tiếp, tham dự hội chợ triển lãm quốc tế, tập đoàn còn phát hành tạp chí đặc biệt để giới thiệu về Tập đoàn và các công ty của mình, giới thiệu các thành tựu đã đạt được của mình. Đây được coi là hình thức quảng cáo hiệu quả và trong thời gian tới Tập đoàn sẽ tiếp tục mở rộng.
Tất cả những thành tựu mà Tập đoàn đã đạt được ở trên đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu than trong thời gian qua. Tập đoàn làm được như vậy là do ngành than đã không ngừng đổi mới công nghệ, nhập khẩu những máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình khai thác, sàng tuyển, vận chuyển than. Trong những năm qua Tập đoàn đã có nhiều sáng kiến, cải tiến phục vụ cho công việc gia công chế tạo, phục hồi phụ tùng, sửa chữa các sản phẩm truyền thống và sản phẩm mới. Bên cạnh đó, Tập đoàn còn đầu tư sắm mới các loại máy móc chuyên dùng, đa năng hiện đại phục vụ cho việc khai thác than, phát huy phong trào sáng kiến kỹ thuật, hàng năm giá trị làm lợi của các cải tiến kỹ thuật là gần 1 tỷ đồng.
2. Hạn chế cần khắc phục Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Bên cạnh những gì đã đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế trong quá trình xuất khẩu than. Chúng ta sẽ xem xét những hạn chế đó trên các khía cạnh: giá cả, phương thức xuất khẩu, đảm bảo an toàn cho người lao động:
2.1 Về chất lượng than xuất khẩu
Tuy than Việt Nam đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia và được đánh giá là có chất lượng tốt (độ tro, độ ẩm, chất bốc, lưu huỳnh, các bon cố định, nhiệt năng cỡ hạt nhân của than đều đáp ứng các tiêu chuẩn của các nước đề ra) nhưng vẫn còn một vấn đề tồn tại đó là chất lượng than chưa được đảm bảo trong những trường hợp giao hàng với khối lượng lớn. Nguyên nhân là chưa có sự tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của quy trình ngay từ đầu, trong quá trình sản xuất, vận chuyển than từ mỏ ra cảng còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố va đập, mưa làm tăng độ ẩm của than, ảnh hưởng đến chất lượng than xuất khẩu, từ đó ảnh hưởng đến cả giá cả xuất khẩu than của Tập đoàn.
2.2 Về giá than xuất khẩu
Giá than xuất khẩu của Tập đoàn chủ yếu là theo giá FOB, điều này thực sự chưa đem lại hiệu quả cho Tập đoàn, chưa tận dụng được ưu thế cạnh tranh về chi phí vận chuyển, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giá than xuất khẩu cao. Hiện nay so với giá xuất khẩu các loại than cùng loại của các nước khác trên thế giới thì giá than của Việt Nam tương đối cao, gây khó khăn cho xuất khẩu than của Tập đoàn trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mặt khác, giá xuất khẩu cao hơn nhiều so với giá thành và giá than nội địa gây tiêu cực trong buôn bán và xuất khẩu than, đồng thời góp phần làm cho việc sử dụng than lãng phí, gây suy thoái môi trường, gây thiệt hại cho các ngành kinh tế.
2.3 Về phương thức xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
Đây cũng là một nhân tố khiến cho giá than xuất khẩu cao. Trong điều kiện mà Tập đoàn chưa mở được các chi nhánh, văn phòng đại diện của mình tại thị trường nên phần lớn việc xuất khẩu than đều phải qua trung gian. Điều này khiến cho ngành than phải dựa vào đối tác nước ngoài, dẫn đến tình trạng thụ động trong kinh doanh. Tập đoàn không thể liên lạc trực tiếp với khách hàng của mình khiến thông tin giữa hai bên không được điều chỉnh thường xuyên để cập nhật kịp thời.
2.4 Về mặt đảm bảo an toàn cho người lao động
Yếu tố con người trong khai thác, sản xuất và xuất khẩu than cũng quan trọng không kém máy móc thiết bị hiện đại. Trong những năm gần đây, Tập đoàn đã có những bước phát triển mạnh cả về sản lượng khai thác, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu than. Tuy nhiên, song hành với tăng sản lượng than thì số vụ tai nạn lao động trong các đơn vị khai thác than thuộc Tập đoàn cũng không ngừng tăng lên. Chỉ tính riêng năm 2026, các đơn vị thuộc Tập đoàn đã để xảy ra 22 vụ tai nạn lao động làm chết gần 50 người. Nhìn chung các đơn vị đã thực hiện tương đối đủ các quy định của pháp luật về công tác an toàn trong khai thác than nhưng chất lượng thực hiện chưa cao thể hiện:
- Việc biên soạn quy trình của hầu hết các đơn vị còn sơ sài, chưa sát với công nghệ và thiết bị của đơn vị, chưa phân định rõ ràng từng quy trình.
- Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trực tiếp từ lò trưởng, quản đốc phân xưởng, giám sát viên an toàn còn yếu, chưa đáp ứng được công tác điều hành sản xuất và giám sát an toàn.
- Công tác huấn luyện chưa hiệu quả, người lao động chưa hiểu rõ để thực hiện đúng quy trình, quy phạm, thiếu nhiều lao động có kinh nghiệm trong khai thác hầm lò.
- Công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp còn nhiều thiếu sót, chưa tuân thủ đầy đủ các quy định chiếu mẫu về nổ mìn.
Như vậy, chương 2 này đã phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam. Cụ thể, xuất khẩu than của Tập đoàn được nghiên cứu trong bối cảnh thị trường than thế giới đang có nhu cầu lớn đối với than Việt Nam và mặt hàng than lại ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam. Ngoài ra, những số liệu và phân tích cụ thể về kim ngạch xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, giá cả xuất khẩu và doanh thu từ hoạt động xuất khẩu than cùng với những thành công và hạn chế trong xuất khẩu than của Tập đoàn đã thể hiện một cách sinh động hoạt động xuất khẩu than của Tập đoàn thời gian gần đây. Khóa luận: Thực trạng hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu than ở Tập đoàn Than
