Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT thị xã Quảng Yên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Khái quát về NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên

1. Quá trình hình thành và phát triển

Đi theo đường lối đổi mới do Đại hội Đảng VI khởi xướng năm 1986 và xác định đổi mới hệ thống ngân hàng là khâu then chốt, ngày 26/03/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành nghị định 53/HĐBT thành lập các ngân hàng chuyên doanh trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông Nghiệp Việt Nam – Tiền thân của Agribank ngày nay.

Lịch sử Agribank là lịch sử có nhiều thăng trầm và dấu ấn đáng ghi nhớ, với những tên gọi khác nhau gắn với những nhiệm vụ khác nhau trong từng thời kỳ phát triển kinh tế đất nước: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (1988 – 1990); Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (1990 – 1996); Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (1996 – nay). Và chính sự trải nghiệm qua những thăng trầm, thử thách ấy đã tôi luyện lên một bản lĩnh, một ý chí, một phong cách nghề nghiệp đặc trưng của Agribank: không ngừng cố gắng vượt lên mọi khó khăn, có những đột phá sáng tạo, cách làm mới trong việc gánh vác sứ mệnh mà Đảng và nhà nước tin tưởng giao phó.

Theo nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng, Ngân hàng phát triển Nông nghiệp huyện Yên Hưng được chuyển giao sang từ Ngân hàng Nhà nước huyện Yên Hưng, trực thuộc Ngân hàng Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh quản lý. Ngân hàng cũng đã trải qua nhiều lần đổi tên phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước và địa phương: Ngân hàng phát triển nông nghiệp huyện Yên Hưng (1988-1990); Ngân hàng Nông nghiệp huyện Yên Hưng (1990 – 1996); Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Hưng (1996 – 2024); và cùng với quyết định thành lập thị xã Quảng Yên trên cơ sở huyện Yên Hưng của tỉnh Quảng Ninh, NHNo & PTNT huyện Yên Hưng được đổi tên thành NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên từ ngày 25/11/2024 cho đến nay. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, có bảng cân đối kế toán, bảng cân đối tài sản riêng, ngoài chi nhánh trụ sở chính tại số 1, đường Ngô Quyền, phường Quảng Yên, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Ngân hàng còn có 3 phòng giao dịch: Phòng giao dịch Hà Nam, Phòng giao dịch Minh Thành và Phòng giao dịch phường Quảng Yên.

Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: Chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên là NHTM Nhà nước trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh, nhằm phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế của địa phương với trọng tâm nông nghiệp, nông dân và nông thôn trên toàn thị xã, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Nhiệm vụ cụ thể:

  • Thực hiện huy động tiền gửi bằng VNĐ và ngoại tệ.
  • Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
  • Thực hiện các dịch vụ thanh toán cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế
  • Chi trả kiều hối, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh WESTERN UNION và các dịch vụ ngân hàng khác.

Bước sang giai đoạn lịch sử mới, với phương châm “Mang phồn thịnh đến với khách hàng”, xác định rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên đã chủ động huy động đủ vốn cho đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thị xã. NHNo & PTNT thị xã quảng Yên đã thực hiện xây dựng đề án cơ cấu lại ngân hàng thời kỳ 2001 – 2018 và 2023 với mục tiêu: tiếp tục duy trì và mở rộng kinh doanh phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế địa phương, giữ vững vị thế của một NHTM nhà nước nên công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành, việc chấp hành quy chế và hiệu quả trong kinh doanh được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó Ngân hàng cũng quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, hệ thống mạng máy tính hiện đại…cùng với sự nỗ lực không ngừng nghỉ của toàn thể cán bộ công nhân viên đã giúp Ngân hàng đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần vào sự phát triển chung của toàn ngành ngân hàng.

2. Cơ cấu tổ chức – chức năng nhiệm vụ các bộ phận

Sau khi pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực thi hành, mô hình tổ chức kinh doanh của NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên được ghi rõ: Là một pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước và là chi nhánh trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh XHCN theo cơ chế thị trường. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bộ máy biên chế tổ chức tính đến thời điểm 14/01/2026 tổng số cán bộ nhân viên chi nhánh là 32 người.

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên:

  • Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận:
  • Giám đốc: là người có quyền cao nhất trong cơ quan, điều hành quản lý mọi hoạt động của Ngân hàng, chịu tránh nhiệm về mọi hoạt động của Ngân hàng mình với Ngân hàng No tỉnh Quảng Ninh.
  • Phó giám đốc: là người hỗ trợ giám đốc lãnh đạo cơ quan, phó giám đốc có quyền điều hành Ngân hàng khi giám đốc đi vắng, chịu trách nhiệm về mọi mặt nghiệp vụ và chế độ của Ngân hàng.
  • Phòng hành chính nhân sự: Quản lý về mặt nhân sự, quản lý thanh toán tiền lương, giải quyết các chế độ quyền lợi hoặc xử lý kỷ luật theo quyết định của giám đốc, quản lý chăm lo mọi hoạt động của cơ quan như tiếp khách thăm hỏi cán bộ công nhân viên khi đau ốm, tổ chức tham quan…..
  • Phòng kế toán – ngân quỹ: Là một phòng trong bộ máy hoạt động của Ngân hàng, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xử lý, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý tài chính và tài sản của cơ quan, đồng thời chịu trách nhiệm thu, chi tiền mặt, tổng hợp kế toán thu chi tiền mặt để báo cáo lên ban lãnh đạo, bảo đảm an toàn tài sản của nhà nước.
  • Phòng kế hoạch – kinh doanh: thực hiện cho vay, thu nợ với các khoản vay ngắn, trung, dài hạn, cho vay cầm cố và các nghiệp vụ bảo lãnh, kiểm tra giám sát và đề ra kế hoạch kinh doanh cho từng thời kỳ.
  • Ba phòng giao dịch: thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tại địa bàn được phân công, quản lý toàn bộ số vốn và tài sản tại phòng giao dịch, thực hiện các nhiệm vụ khác do lãnh đạo giao.

3. Đặc điểm kinh tế – xã hội địa bàn hoạt động của Ngân hàng

  • Đặc điểm tự nhiên

Quảng Yên là một thị xã ven biển nằm ở phía tây nam tỉnh Quảng Ninh. Thị xã Quảng Yên có đặc điểm địa hình và đất đai của một đồng bằng cửa sông ven biển, có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản với diện tích đất đồng bằng chiếm 44% diện tích gồm chủ yếu đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê, vùng đồi núi chiếm 18,3% diện tích bao gồm các loại đất feralit vàng đỏ và nâu vàng, còn lại là đất bãi bồi cửa sông, ven biển.

Quảng Yên có khí hậu đặc trưng của vùng ven biển miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh thuận lợi cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

  • Đặc điểm kinh tế – xã hội

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, thị xã Quảng Yên được thành lập trên cơ sở huyện Yên Hưng của tỉnh Quảng Ninh. Thị xã bao gồm 11 phường và 8 xã. Người dân nơi đây chủ yếu sinh sống bằng nghề nông truyền thống và nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản, trình độ chuyên môn hóa chưa cao, thu nhập cũng như chất lượng đời sống dân cư chỉ ở ngưỡng trung bình.

Quảng Yên được đánh giá là một vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, bên cạnh các cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Quảng Yên còn sở hữu khá nhiều di tích, danh thắng và các lễ hội truyền thống đặc sắc. Hơn thế nữa, nơi đây còn lưu giữ được không gian yên tĩnh, thanh bình của một làng quê nông nghiệp thuần khiết, tuy nhiên du lịch Quảng Yên vẫn chỉ ở dạng tiềm năng, chưa trở thành điểm dừng chân của khách du lịch trong và ngoài nước.

Kể từ năm 2025, khi chính thức được lên thị xã, Quảng Yên đã nhận được sự quan tâm rất lớn từ Nhà nước và các nhà đầu tư, cơ sở vật chất, hạ tầng được nâng cấp, nhiều dự án cho khu công nghiệp, du lịch bắt đầu được xây dựng, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân, đời sống nhân dân đang ngày càng cải thiện rõ rệt, nhu cầu gửi cũng từ đó mà tăng cao hơn so với những năm trước. Tuy nhiên thách thức mà chi nhánh phải đối mặt đó là mất đi vị thế gần như là độc quyền của mình khi 2 năm trở lại đây có khá nhiều các ngân hàng đã mở chi nhánh tại Quảng Yên như: VietinBank, Eximbank, BIDV, Ngân hàng phát triển   nhà  Đồng  bằng  sông  Cửu Long,…kéo theo đó là sự canh tranh khó tránh giữa các Ngân hàng.

4. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

  • Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn được xem là một trong những nghiệp vụ không thể thiếu trong hoạt động của NHTM nói chung và chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên nói riêng. Với phương châm là “đi vay để cho vay” Ngân hàng coi huy động vốn là công cụ chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Từ đó Ngân hàng đã đa dạng hóa các hoạt động, các hình thức, các phương pháp huy động nhằm thu hút được lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu tiền mặt, đầu tư cho nền kinh tế và hạn chế lạm phát bằng cách: mở rộng mạng lưới hoạt động, thực hiện các hình thức huy động vốn như tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi các tổ chức kinh tế, phát hành kì phiếu, trái phiếu, tranh thủ các nguồn vốn có kì hạn, lãi suất thấp của các tổ chức tài chính kinh tế như tiền gửi kho bạc, bưu điện, bảo hiểm xã hội, nguồn vốn ủy thác đầu tư, vận động khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng, luôn lắng nghe ý kiến đóng góp từ phía khách hàng….Dưới sự chỉ đạo linh hoạt về lãi suất phù hợp với mặt bằng lãi suất chung trên địa bàn, đặc biệt là công tác kế hoạch hóa, cơ chế khoán và phân phối tiền lương kinh doanh đã tác động làm chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cán bộ công nhân viên trước yêu cầu đòi hỏi của công tác kinh doanh là ý thức trách nhiệm, phong cách phục vụ của cán bộ ngày được nâng cao.

Trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực, cố gắng của mình, từ một đơn vị ban đầu thường thiếu vốn đến nay Ngân hàng không những huy động đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu tín dụng tại địa phương mà có lúc còn thừa vốn điều chuyển nên ngân hàng cấp trên, nguồn vốn không ngừng tăng trưởng đã tác động tích cực tới kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Kết quả hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Kết quả hoạt động huy động vốn giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng vốn huy động 469.019 100 765.589 100 817.248 100
Tiền gửi 452.794 96,54 758.546 99,08 810.040 99,12
Phát hành giấy tờ có giá 15.889 3,39 6.899 0,90 7.064 0,86
Vay TCTD khác 336 0,07 144 0,02 144 0,02

(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bảng số liệu trên cho thấy tổng nguồn vốn của Ngân hàng luôn giữ được sự ổn định và tăng trưởng qua mỗi năm, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất và doanh nghiệp: năm 2024 tổng nguồn vốn huy động tăng 63,2% (ứng với 296.570 triệu đồng) so với năm 2023. Tốc độ tăng trưởng vốn huy động năm 2025 so với 2024 là 6,7% (ứng với 51.659 triệu đồng).

Qua đó cũng thấy được cơ cấu và xu hướng chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn huy động huy động của Ngân hàng thời gian qua: tiền gửi là nguồn huy động chủ yếu (luôn chiếm trên 90%) và vẫn tiếp tục gia tăng cả về mặt số lượng cũng như tỷ trọng, ngược lại, vốn vay các TCTD khác có tỷ trọng thấp nhất (dưới 1%) và đang có xu hướng giảm dần theo thời gian.

  • Hoạt động tín dụng

NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên là một NHTM xuất phát từ môi trường kinh doanh, gắn liền với sản xuất nông nghiệp và nông thôn đòi hỏi hoạt động ngân hàng cũng phải đổi mới cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh nông nghiệp nông thôn. Những khách hàng truyền thống trước kia của Ngân hàng là các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể nay được cổ phần hóa và được thay thế bằng các thành phần kinh tế doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất và đã trở thành khách hàng truyền thống của Ngân hàng.

Đặc biệt là sau khi có Nghị định 41-NĐ/ TTg của thủ tướng chính phủ. NHNo & PTNT Thị xã Quảng Yên đã xác định công tác triển khai Nghị định 41 là cơ sở để mở rộng quy mô tín dụng, đáp ứng vốn kịp thời cho người nông dân, đây cũng là một trong nhiệm vụ chủ yếu xuyên suốt quá trình kinh doanh của Ngân hàng. Hoạt động tín dụng NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên có nhiều khó khăn song Ngân hàng đã từng bước khẳng định vị trí vai trò của mình để tồn tại và phát triển, sử dụng tốt nguồn vốn cho vay, bám sát mục tiêu định hướng của Nhà nước và của Ngân hàng cấp trên, Chương trình phát triển kinh tế thị xã để mở rộng đầu tư đúng hướng và chất lượng với phương châm “An toàn và hiệu quả”.

Trong những năm gần đây nhờ bám sát chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao, thực hiện điều tra, khảo sát nhu cầu vốn vay đến từng địa bàn, vùng kinh tế, xếp loại khách hàng, nắm bắt kịp thời nhu cầu về vốn của cá nhân và các tổ chức kinh tế trên địa bàn, Ngân hàng đã đưa ra rất nhiều sản phẩm tín dụng mới đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cao, như cho vay tiêu dùng mua sắm phương tiện, xây dựng, sửa chữa nhà ở… kết hợp với việc tăng cường các hoạt động quảng bá, nâng cao năng lực trình độ nghiệp vụ của cán bộ…công tác tín dụng của Ngân hàng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, doanh số cho vay tăng trưởng khá đều, chất lượng tín dụng được củng cố, tỷ lệ nợ xấu luôn dưới mức cho phép. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: đầu tư tín dụng được quan tâm mở rộng song chưa tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương, dư nợ năm 2025 không đạt kế hoạch, không tăng trưởng so với cùng kỳ, rủi ro tín dụng còn tiềm ẩn.

Do đặc điểm nền kinh tế địa phương là sản xuất nông, ngư nghiệp, nền công nghiệp chưa phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là chủ yếu nên nhu cầu vay vốn chỉ dừng lại ở đồng nội tệ, Ngân hàng không có cho vay bằng ngoại tệ do đó ở đây ta chỉ xét đến cơ cấu dư nợ tín dụng của Ngân hàng theo thành phần kinh tế và theo kỳ hạn. Kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh trong những năm gần đây được thể hiện qua các bảng sau: Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bảng 2: Dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng nợ 237.610 100 285.740 100 274.188 100
Cho vay hộ gia đình, tư nhân, cá thể 191.514 80,6 246.308 86,2 239.092 87,2
Cho vay doanh nghiệp 46.096 19,4 39.432 13,8 35.096 12,8

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Biểu đồ 1: Dư nợ theo thành phần kinh tế

Bảng số liệu cho thấy tổng dư nợ của Ngân hàng có sự biến động trong 3 năm qua: năm 2024 tăng 48.130 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 20,3% so với năm 2023; năm 2025 so với năm 2024 đã giảm 11.552 triệu đồng ứng với tỷ kệ giảm 4,04%. Năm 2025, tổng dư nợ giảm là hệ quả của tổng doanh số cho vay giảm, cộng với việc nhiều khách hàng trả nợ trước hạn. Có thể lý giải là do năm 2025 nền kinh tế cả nước và địa bàn nói riêng vẫn đang trong giai đoạn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khó khăn của ngành than đã tác động lớn đến đầu tư cho vay ngành vận tải thủy nội địa, một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương, hơn nữa giá cả biến động, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, thị trường bất động sản trầm lắng, hàng hóa tồn kho ứ đọng khiến các hoạt động đầu tư giảm, nhu cầu về vốn giảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro vốn tín dụng; mặt khác Ngân hàng cũng phải chia sẻ nguồn khách hàng của mình với các ngân hàng thương mại mới trên địa bàn nên dư nợ có xu hướng giảm đi trong năm 2025. Để tăng trưởng dư nợ, nâng cao năng lực cạnh tranh, Ngân hàng phải nỗ lực hơn nữa trong việc tìm kiếm các dự án, phương án khả thi của khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Có sự chênh lệch khá lớn về tỉ trọng giữa các thành phần kinh tế trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng. Do đặc trưng nền kinh tế địa bàn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mục tiêu chính của Ngân hàng lại là phát triển nông thôn nên cho vay hộ gia đình, tư nhân, cá thể chiếm đa số với tỷ trọng 80,6% năm 2023; 86,2% năm 2024 và 87,2% năm 2025; cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ với 19,4% năm 2023; 13,8% năm 2024 và 12,8% năm 2025 do số lượng doanh nghiệp trên địa bàn chưa nhiều. Thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 41- NĐ/TTg của Thủ tướng chính phủ về cho vay hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản nên xu hướng biến động về cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế của Ngân hàng trong thời gian qua là: tăng tỷ trọng cho vay hộ gia đình, tư nhân, cá thể và giảm cho vay doanh nghiệp.

Những năm gần đây, cho vay hộ gia đình, tư nhân, cá thể tuy có sự biến động về doanh số nhưng lại luôn tăng về tỷ trọng trong tổng dư nợ của Ngân hàng: năm 2024 doanh số tăng 54.794 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 29% so với năm 2023, theo đó tỷ trọng cũng tăng lên 5,6%. Năm 2025 so với năm 2024 doanh số giảm 7.216 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 3%; tỷ trọng tăng 1%. Ngược lại, cho vay doanh nghiệp lại giảm cả về doanh số lẫn tỷ trọng: năm 2024 doanh số giảm 6.664 triệu đồng (giảm 14%), tỷ trọng giảm 5,6% so với năm 2023; tỷ trọng cho vay doanh nghiệp năm 2025 so với năm 2024 giảm 1%, về doanh số cho vay doanh nghiệp cũng giảm 4.336 triệu đồng (tức là giảm 11%).

Bảng 3: Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn giai đoạn 2023 -2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng nợ 237.610 100 285.740 100 274.188 100
Dư nợ ngắn hạn 50.090 21,1 98.333 34,4 87.337 31,9
Dư nợ trung hạn 181.805 76,5 181.857 63,7 182.636 66,6
Dư nợ dài hạn 5.715 2,4 5.550 1,9 4.215 1,5

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Biểu đồ 2: Dư nợ tín dụng theo kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy có sự không cân đối trong cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn: do khách hàng vay vốn của Ngân hàng chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp với mục đích vay là mua sắm tài sản cố định như tàu, thuyền, công cụ đánh bát thủy hải sản; máy móc, xây dựng chuồng trại cho chăn nuôi; đầu tư nuôi trồng thủy sản và cho vay tiêu dùng nên dư nợ trung hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ, tiếp theo là dư nợ ngắn hạn và dư nợ dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất. Dư nợ ngắn hạn năm 2024 so với năm 2023 tăng 48.243 triệu đồng (ứng với tỷ lệ tăng rất cao là 96,3%); năm 2025 so với năm 2024 giảm 10.996 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 11.2%; về tỷ trọng lại đang có xu hướng tăng lên. Dư nợ trung hạn không có sự thay đổi đáng kể về doanh số nhưng lại thay đổi về tỷ trọng trong tổng dư nợ: năm 2024 so với 2023 tỷ trọng dư nợ loại này giảm 12,8%, năm 2025 so với năm 2024 lại tăng thêm 2,9%. Trong khi đó dư nợ dài hạn giảm cả về doanh số lẫn tỷ trọng: năm 2024 so với năm 2023 doanh số giảm 165 triệu đồng, tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm 0,5%; năm 2024 so với năm 2023 doanh số giảm 1335 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,4%. Ngân hàng chủ yếu cho vay các dự án vừa và nhỏ, số lượng cho vay các dự án lớn vẫn còn rất khiêm tốn. Ngân hàng cũng đang có những chiến lược mới trong cho vay nhằm đạt được sự cân đối hơn nữa trong cơ cấu dư nợ.

Tại NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên Ban giám đốc đã thường xuyên chỉ đạo phòng kinh doanh thực hiện và làm tốt quy trình phòng ngừa và xử lý nợ có vấn đề. Thể hiện từ khâu thẩm định ban đầu đến việc kiểm tra thường xuyên việc sử dụng vốn vay của khách hàng, hàng quý đều thực hiện phân loại nợ theo từng nhóm để có biện pháp chỉ đạo thu hồi và hạn chế nợ xấu xảy ra. Với những cố gắng như vậy nên trong những năm gần đây tỷ lệ nợ xấu luôn ở mức cho phép, đến 31/12/2025 tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh chỉ là 0,1%/tổng dư nợ.

Nhìn chung, trong năm vừa qua tuy có thể đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho người dân trên địa bàn song doanh số cho vay và tổng dư nợ của Ngân hàng đã giảm trong khi nguồn vốn huy động vẫn tăng, Ngân hàng chưa thực sự sử dụng tối đa nguồn vốn huy động để cho vay, điều này có thể ảnh hưởng đến nguồn thu nhập từ lãi vay của Ngân hàng. Trong những năm tiếp theo, Ngân hàng cần cố gắng hơn nữa trong công tác tăng cường cho vay, quan hệ với khách hàng, cải thiện các thủ tục xin vay…để đạt được những kết quả tốt hơn.

  • Hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng

Bên cạnh hoạt động huy động vốn và tín dụng, để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu khác nhau của khách hàng đồng thởi để tăng cường uy tín, vị thế của mình trên thị trường cũng như tăng nguồn thu nhập, Ngân hàng còn cung cấp đa dạng các dịch vụ ngân hàng khác như: kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán (dịch vụ phát hành thẻ ATM, dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thu hộ, chi hộ, ủy nhiệm thanh toán), Mobile Banking SMS, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ ủy thác…Nhờ không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, thái độ phục vụ khách hàng nên nguồn thu từ các dịch vụ này đang ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong lợi nhuận mà Ngân hàng thu được. Kết quả từ hoạt động cung cấp dịch vụ của NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4: Kết quả hoạt động dịch vụ giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng thu dịch vụ 989,4 100 1597,4 100 1.613 100
Thu dịch vụ thanh toán 731,4 73,9 1.343 84 1.345 83,4
Thu kinh doanh ngoại tệ 65,1 6,6 119,5 7,6 119,8 7,4
Thu dịch vụ ngân quỹ 55,6 5,6 79,7 5 79,8 4,9
Thu dịch vụ ủy thác 0 0 6,4 0,4 19,6 1,2
Thu dịch vụ bảo lãnh 16,9 1,7 18,1 1,1 18,8 1,2
Thu khác 120,4 12,2 30,7 1,9 30 1,9

(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản chi tiết năm 2023, 2024, 2025)

Bảng số liệu trên cho thấy thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng tăng trưởng qua mỗi năm, năm sau đều cao hơn năm trước. Năm 2024 so với năm 2023 tăng 608 triệu đồng (ứng với tăng 61,5%); năm 2025 thu nhập từ dịch vụ đạt 1.613 triệu đồng, tăng 16,5 triệu đồng (ứng với tăng 0,98%).

Dễ dàng nhận thấy rằng thu từ dịch vụ thanh toán luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu dịch vụ của Ngân hàng. Loại thu nhập này tăng đều qua các năm về số tuyệt đối tuy nhiên lại có sự biến động về tỷ trọng trong tổng thu dịch vụ (năm 2024 tăng 10,1% so với năm 2023; năm 2025 giảm 0,6% so với năm 2024). Thu từ việc kinh doanh ngoại tệ tăng đều qua các năm cả về doanh số và tỷ trọng trong tổng thu dịch vụ. Các loại thu nhập từ các dịch vụ còn lại như: dịch vụ ngân quỹ, bảo lãnh và ủy thác đều tăng dần qua các năm chứng tỏ chất lượng các dịch vụ của Ngân hàng đang được nâng cao, lượng khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng ngày càng đông. Ngoài ra, Ngân hàng cũng tiếp tục phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm khác mang lại tiện ích tối đa cho khách hàng như dịch vụ thanh toán qua thẻ ATM, hệ thống tin nhắn báo biến động số dư tài khoản, SMS Banking, tín dụng dự phòng, thu chi tại nhà đối với khách hàng cá nhân… Cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chuẩn vụ đă góp phần tăng nguồn thu dịch vụ cho ngân hàng.

  • Kết quả hoạt động kinh doanh Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Doanh thu cao và tối đa hóa lợi nhuận luôn là mục tiêu hướng đến hàng đầu của các NHTM và NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên cũng không ngoại lệ.

Lợi nhuận của NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên sau khi đã chi trả cho người lao động theo mức khoán của ngân hàng cấp trên sẽ được chuyển trực tiếp về NHNo tỉnh và được Ngân hàng tỉnh tính toán và nộp thuế thu nhập nên ở đây ta chỉ xét đến lợi nhuận kế toán trước thuế mà đơn vị thực hiện.

Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025 2024/2023 2025/2024
Số tiền % Số tiền %
Tổng doanh thu 63.012 101.512 103.690 38.500 61,1 2.178 2,1
Tổng chi phí 50.988 74.015 83.314 23.027 45,2 9.299 12,6
Lợi nhuận trước thuế 12.024 27.497 20.376 15.473 128,7 -7.121 -26

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Biểu đồ 3: Kết quả hoạt động kinh doanh

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rõ sự thay đổi về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng giai đoạn 2023 – 2025. Tổng doanh thu và chi phí có xu hướng tăng dần qua mỗi năm tuy nhiên lợi nhuận thu về lại có sự biến động, không có được sự tăng trưởng đều đặn. Cụ thể:

Tổng doanh thu của Ngân hàng tăng qua các năm: năm 2024 tăng 38.500 triệu đồng ứng với tốc độ tăng rất nhanh là 61,1% so với năm 2023; năm 2025 so với năm 2024 tốc độ tăng của doanh thu giảm còn 2,1% (tăng 2.178 triệu đồng). Doanh thu năm 2025 tăng ít là do nguồn thu chủ yếu từ tín dụng đã giảm xuống.

Tổng chi phí của Ngân hàng năm 2024 so với năm 2023 tăng 23.027 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 45,2%; năm 2025 so với năm 2024 chi phí tăng 9.299 triệu đồng tức là tăng 12,6%. Nguyên nhân là do chi phí huy động vốn tăng và các chi phí khác như chi dự phòng, giấy tờ in, vật liệu văn phòng, điện nước…cũng tăng nên đã đẩy tổng chi phí tăng lên cao hơn.

Có thể thấy rằng, năm 2024 so với năm 2023, tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn rất nhiều tốc độ tăng của chi phí do đó lợi nhuận mà Ngân hàng thu được cũng tăng 15.473 triệu đồng (ứng với tỷ lệ tăng 128,7%). Ngược lại, năm 2025 so với năm 2024 tuy cả doanh thu và chi phí của Ngân hàng đều tăng nhưng mức tăng của chi phí lại cao hơn mức tăng của doanh thu (gấp 4,3 lần) dẫn lợi nhuận giảm 26%. Qua đó cũng cho thấy Ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động được để đầu tư kinh doanh.

Kết quả kinh doanh như trên cũng một phần do chịu ảnh hưởng từ môi trường kinh tế địa phương cũng như khó khăn chung trong ngành ngân hàng. Bước sang năm 2026, khi nền kinh tế địa bàn đang dần phục hồi và có dấu hiệu khởi sắc, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại trên thị xã ngày càng gay gắt, Ngân hàng phải nỗ lực cố gắng tìm kiếm các phương án thật sự hiệu quả để cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí, tăng doanh thu và tối đa hóa lợi nhuận để giữ vững thương hiệu, uy tín của mình trên thị trường và giữ vững niềm tin nơi khách hàng.

II. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

1. Chiến lược huy động vốn

Trong những năm qua, trước diễn biến phức tạp của thị trường vốn và sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM, Ngân hàng luôn coi công tác huy động vốn là một trong những trọng tâm hàng đầu và xuyên suốt. Bởi việc tăng cường nguồn vốn huy động giúp cho ngân hàng mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh. Do đó, Ngân hàng luôn cố gắng xây dựng chiến lược huy động vốn sao cho đạt được hiệu quả cao nhất. Cụ thể chiến lược huy động vốn của Ngân hàng như sau:

Bên cạnh những hình thức huy động vốn truyền thống, Ngân hàng đã xây dựng chiến lược thị trường, thị phần theo tinh thần chỉ đạo của NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh, trong đó đưa ra nhiều giải pháp tích cực để huy động vốn như giao chỉ tiêu huy động vốn cho từng cán bộ, nhân viên trong cơ quan, tổ chức tiếp cận nhanh và phân tích thị trường vốn để đưa ra các hình thức huy động vốn thích hợp, nhiều tiện ích, phù hợp với nhiều đối tượng gửi tiền.

Quá trình giao dịch tiền gửi: nộp tiền, rút tiền, chuyển tiền…tất cả được thực hiện tự động thông qua hệ thống mạng thanh toán ngân hàng IPCAS đảm bảo độ chính xác và nhanh chóng, thuận tiện cho cả khách hàng và nhân viên Ngân hàng.

Về các hoạt động marketing, Ngân hàng tăng cường quảng cáo về hình ảnh, các sản phẩm, dịch vụ mà mình cung cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua các trang báo mạng uy tín, mở các đợt khuyến mãi tiết kiệm thông minh vào các dịp đặc biệt như lễ tết…làm cho mọi người đều biết đến câu sologan của Ngân hàng “Agribank – mang phồn thịnh đến khách hàng”.

Tổ chức hội nghị khách hàng theo định kỳ để qua đó tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Hằng năm vào các ngày lễ lớn Ngân hàng đều trực tiếp gửi hoa và quà tới chúc mừng, tổ chức giao lưu với khách hàng truyền thống của mình… Với sự quan tâm duy trì mối quan hệ với khách hàng sau khi họ đã gửi tiền tại ngân hàng như vậy thì khách hàng sẽ giữ vững lòng tin nơi Ngân hàng hơn và chính từ những người khách hàng này sẽ mang thương hiệu của ngân hàng đến cho nhiều người khác nữa, như vậy sẽ góp phần mang lại hiệu quả cho công tác huy động tiền gửi tại Ngân hàng.

Để thay đổi thói quen tiết kiệm của dân cư, Ngân hàng đã thành lập nhóm nhân viên chuyên đảm trách việc tuyên truyền, vận động người dân gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng thay vì lưu giữ tiền mặt tại nhà hay mua vàng.

Ngân hàng cũng đưa ra các chính sách ưu đãi khuyến khích mở tài khoản cá nhân để dân chúng gửi tiền chi tiêu qua ngân hàng, giữ bí mật tuyệt đối số dư trên tài khoản cá nhân cũng như những chi tiêu của chủ tài khoản

Về công tác đào tạo cán bộ ngân hàng: trong quá trình hoạt động Ngân hàng đã thường xuyên cử cán bộ đi học các lớp học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức các lớp tập huấn về sử dụng các chương trình phần mềm tin học đặc biệt là chương trình gửi và rút tiền gửi cho khách hàng.

2. Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Nghiệp vụ huy động vốn tuy là một hoạt động độc lập, riêng rẽ nhưng nó lại có mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết với việc sử dụng vốn, mà không có vốn thì ngân hàng không cho vay được, do đó vốn huy động càng lớn thì hoạt động tín dụng mới có cơ hội để mở rộng. Ngược lại, hoạt động tín dụng có hiệu quả, nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện có thêm nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nó là tiền đề để mở rộng nguồn vốn huy động cho ngân hàng. Chính vì vậy, ngân hàng phải thực hiện chiến lược kinh doanh tổng hợp trong đó nghiệp vụ huy động vốn phải được chú trọng kết hợp cùng với hai nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian, có như vậy thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới phát huy được hiệu quả cao nhất.

Với đặc điểm là kinh doanh tiền tệ, khác với các doanh nghiệp bình thường, vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động, muốn mở rộng kinh doanh, tối đa hóa lợi nhuận thì ngân hàng phải thường xuyên có những biện pháp hữu hiệu để thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn huy động. Nhận thức được vấn đề này, NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên luôn quan tâm nghiên cứu tình hình kinh tế địa phương và khảo sát nhu cầu của khách hàng trong từng thời kỳ để đưa ra những hình thức huy động vốn hữu hiệu, nhờ vậy mà quy mô nguồn vốn huy động của Ngân hàng ngày càng được mở rộng qua các năm. Từ nguồn vốn thành lập ban đầu năm 1988 là 1.041 triệu đồng đến 31/12/2025 tổng nguồn vốn thực hiện là 844.306 triệu đồng, trong đó nguồn vốn tự huy động là 817.248 triệu đồng, tăng gấp 785,1 lần sau 24 năm hoạt động. Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của Ngân hàng trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 6: Tình hình tăng trưởng vốn huy động giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Chỉ tiêu Tổng vốn huy động Số tăng (giảm) tuyệt đối Số tăng (giảm) tương đối (%)
Năm 2023 469.019
Năm 2024 765.589 296.570 63,2
Năm 2025 817.248 51.659 6,7

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Biểu đồ 4: Tốc độ tăng trưởng vốn huy động giai đoạn 2023 – 2025

Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng không ngừng tăng trưởng qua 3 năm với tốc độ tăng trưởng trung bình 35%. Đến 31/12/2025 nguồn vốn huy động của Ngân hàng đạt 817.248 triệu đồng, đạt 118,6% kế hoạch, tăng 348.229 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 74,2% so với năm 2023. So sánh số liệu với mỗi năm trước đó thì năm 2024 tổng nguồn vốn huy động tăng 63,2% (ứng với 296.570 triệu đồng) so với năm 2023. Tốc độ tăng trưởng vốn huy động năm 2025 so với 2024 là 6,7% (ứng với 51.659 triệu đồng). Sở dĩ tốc độ tăng trưởng vốn huy động năm 2025 so với năm 2024 giảm rõ rệt là do năm 2025 chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá cả leo thang, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ; thời tiết nắng nóng, mưa lớn thất thường khiến tình hình nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp ảnh hưởng xấu đến năng suất nông sản và chăn nuôi khiến thu nhập của dân cư cũng như doanh nghiệp giảm, từ đỏ làm giảm lượng tiền gửi vào Ngân hàng.

Sự tăng trưởng này đã chứng tỏ những nỗ lực vượt bậc của toàn thể cán bộ công nhân viên Ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế hiện đang gặp nhiều khó khăn. Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp như giao khoán huy động vốn cho từng cán bộ theo từng thời điểm từ 300-500 triệu đồng/người.quý kết hợp với khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác, áp dụng rộng rãi các hình thức huy động như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm trả lãi trước, tiền gửi tiết kiệm trả lãi sau, tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi bậc thang, tiền gửi góp, tiền gửi linh hoạt, tiền gửi tích lũy, tiền gửi bằng vàng, tiết kiệm học đường…với mức lã hàng gửi tiền vào Ngân hàng như: tiết kiệm dự thưởng đặc biệt “may mắn nhân ba”- khách hàng gửi tiền có cơ hội nhận được xe ô tô Toyota và Camry; chương trình khuyến mại “Chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn dự thưởng – mùa vàng trên quê hương” đem lại cơ hội nhận được vàng ba chữ A cho khách hàng; tổ chức quay số trúng thưởng vào các dịp đặc biệt như mừng xuân mới, chào mừng ngày Quốc khánh 2/9, chào mừng 60 năm thành lập ngành ngân hàng. Bên cạnh việc thực hiện nhận tiền gửi của khách hàng tại quầy giao dịch, Ngân hàng còn thành lập các tổ huy động vốn, nhiệm vụ của tổ huy động vốn là thường xuyên nắm bắt các thông tin trên địa bàn, khi khách hàng có nhu cầu gửi tiền lớn Ngân hàng tạo điều kiện đến tận nơi để tiếp nhận tiền gửi cho khách hàng, như vậy khách hàng đảm bảo vừa được an toàn vừa giữ được bí mật. Khi có nguồn huy động tiền lớn và tập trung như đền bù giải phóng mặt bằng, đấu thầu đầm hải sản…Ngân hàng chủ động liên hệ với các đơn vị và vận động khách hàng gửi tiền qua chuyển khoản hoặc nhận hộ khách hàng từ nhà đầu tư mang lại cho khách hàng sự yên tâm và thuận tiện. Tất cả các giải pháp đó đã giúp Ngân hàng đạt hiệu quả cao trong việc tăng cường huy động vốn trong giai đoạn 2023 – 2025.

Kết quả này đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận cũng như thị phần hoạt động của Ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh, uy tín, vị thế của Ngân hàng trên thị trường.

3. Cơ cấu nguồn vốn huy động Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Để đánh giá kết quả của công tác huy động vốn một cách chính xác, đầy đủ hơn cần xét đến những biến động trong cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng trong thời gian vừa qua. Với mục tiêu phát triển bền vững Ngân hàng đã thực hiện đa dạng hóa các hình thức, các biện pháp, các kênh huy động vốn khác nhau nhằm tạo cho nguồn vốn tăng trưởng, ổn định. Hiện nay chi nhánh đã và đang thực hiện tốt công tác huy động vốn. Nguồn vốn huy động của chi nhánh bao gồm: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng; phát hành giấy tờ có giá và vốn vay các tổ chức tín dụng trong nước.

  • Cơ cấu vốn huy động theo nguồn hình thành

Cơ cấu vốn huy động theo nguồn hình thành (phương thức huy động) của Ngân hàng trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 7: Cơ cấu vốn huy động theo nguồn hình thành giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng vốn huy động 469.019 100 765.589 100 817.248 100
Tiền gửi 452.794 96,54 758.546 99,08 810.040 99,12
Phát hành giấy tờ có giá 15.889 3,39 6.899 0,90 7.064 0,86
Vay TCTD khác 336 0,07 144 0,02 144 0,02

(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Biểu đồ 5: Cơ cấu vốn huy động theo nguồn hình thành

Bảng số liệu và biểu đồ trên cho thấy nguồn vốn huy động của Ngân hàng được hình thành từ 3 nguồn: tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá và vay các tổ chức tín dụng khác. Trong đó vốn tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động, các nguồn vốn huy động còn lại đều chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Để tìm hiểu rõ hơn về sự biến động cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng ta đi vào xem xét chi tiết từng thành phần:

  • Tiền gửi

Với mỗi NHTM nói chung và NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên nói riêng, tiền gửi giữ một vai trò quan trọng và là một trong những nguồn vốn cơ bản của Ngân hàng. Nguồn vốn này chính là nền tảng cho sự phát triển của Ngân hàng, là cơ sở để Ngân hàng thực hiện các hoạt động tín dụng. Do đó, tăng cường vốn huy động tiền gửi luôn được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược huy động vốn của Ngân hàng. Kết quả, vốn tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn huy động (cả 3 năm đều trên 90%), và tỷ trọng này vẫn đang không ngừng gia tăng: năm 2024 tăng 2,54% so với năm 2023; năm 2025 tăng 0,04% so với năm 2024. Về mặt số lượng cũng gia tăng theo thời gian. Cụ thể:

Bảng 8: Cơ cấu tiền gửi giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng tiền gửi 452.794 100 758.546 100 810.040 100
Tiền gửi của KBNN 31.677 7,0 5.235 0,69 55.106 6,80
Tiền gửi của TCTD 33 203 0,03 204 0,03
Tiền gửi của TCKT 39.408 8,7 101.834 13,42 101.718 12,56
Tiền gửi của dân cư 381.676 84,3 651.274 85,86 653.012 80,61

(Nguồn: Bảng cân đối chi tiết năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bảng số liệu trên cho thấy tổng tiền gửi của Ngân hàng đều tăng qua mỗi năm, năm sau cao hơn năm trước: tổng tiền gửi năm 2024 so với năm 2023 tăng 305.753 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng khá cao 67,5%; năm 2025 so với năm 2024 tổng tiền gửi tăng nhưng tốc độ tăng thấp hơn cùng kỳ – tăng 51.494 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 6,8%. Xét trong bối cảnh nền kinh tế đầy khó khăn của địa phương năm vừa qua thì đây là một cố gắng đáng ghi nhận của Ngân hàng.

Về tiền gửi của Kho bạc Nhà nước: là nguồn tiền gửi tuy tỷ trọng nhỏ nhưng lại chiếm vị trí khá quan trọng trong tổng nguồn vốn huy động vì đây là nguồn vốn có chi phí thấp, tạo điều kiện cho Ngân hàng giảm được chi phí trong huy động vốn. Tiền gửi Kho bạc Nhà nước có sự biến động khá lớn trong giai đoạn 2023 – 2025: năm 2023 số lượng tiền gửi này là 31.677 triệu đồng, chiếm 7%; năm 2024 số lượng giảm mạnh xuống còn 235 triệu đồng (giảm tới 26.442 triệu đồng tức là giảm 83,5%) kéo theo tỷ trọng cũng giảm xuống còn 0,69% (giảm 6,31%) nhưng tới năm 2025 thì lại tăng đáng kể, số lượng tăng tới 49.871 triệu đồng so với năm 2024 và tỷ lệ tăng đột biến 952,6%; theo đó tỷ trọng cũng tăng lên 6,11% . Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm thanh toán các khoản chi tiêu của Chính phủ và các khoản thuế mà Kho bạc Nhà nước nhờ Ngân hàng thu hộ. Nguyên nhân loại tiền này giảm trong năm 2024 là do kinh tế gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, giá cả có xu hướng tăng, nhất là thời điểm cuối năm nên Chính phủ đã thắt chặt chi tiêu công nhằm hạn chế lạm phát cộng với việc nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ khiến tiền thuế thu nhập nhờ thu giảm xuống.

Về tiền gửi của các tổ chức tín dụng: Ngân hàng nhận tiền gửi thanh toán của các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn như: Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long. Tiền gửi loại này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu tiền gửi của Ngân hàng (luôn dưới 1%). Năm 2023 số lượng tiền gửi tổ chức tín dụng còn rất khiêm tốn với 33 triệu đồng và tỷ trọng không đáng kể nhưng kể từ năm 2024 trở đi khi có sự xuất hiện ngày càng nhiều Phòng giao dịch của các NHTM và tổ chức tín dụng khác trên địa bàn thì số lượng tiền gửi này đã tăng thêm 170 triệu đồng, tỷ trọng cũng nhích lên 0,03%. Năm 2025 so với năm 2024, tiền gửi của tổ chức tín dụng hầu như không hề có sự biến động.

Về tiền gửi của tổ chức kinh tế: các tổ chức kinh tế mở tài khoản và gửi tiền vào Ngân hàng với mục đích chính là phục vụ nhu cầu thanh toán nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Đây là loại tiên gửi chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong cơ cấu nguồn vốn huy động. Năm 2024 so với năm 2023 tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng mạnh cả về số lượng lẫn tỷ trọng: số lượng tăng 62.426 triệu đồng (ứng với tăng 158%), tỷ trọng cũng tăng 4,72% chứng tỏ lượng khách hàng doanh nghiệp đến mở tài khoản và giao dịch với Ngân hàng đã tăng lên. Tuy nhiên, năm 2025 so với năm 2024, tiền gửi loại này lại giảm đi một chút: giảm 116 triệu đồng (ứng với tỷ lệ giảm 0,11%), về tỷ trọng cũng giảm 0,86%. Điều này có thể giải thích là do năm 2025 là năm kinh tế địa phương gặp nhiều khó khăn do tác động của lạm phát, thị trường bất động sản trầm lắng, giá cả biến động đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hơn nữa sự không ổn định của ngành than mang lại nhiều khó khăn cho ngành vận tải thủy nội địa, nhiều doanh nghiệp đã phải bán tàu thậm chí cắt tàu bán sắt vụn, vì vậy thu nhập của họ giảm xuống, lượng tiền gửi của tổ chức kinh tế vào Ngân hàng cũng giảm theo. Trong những năm tới, khi nền kinh tế đã có dấu hiệu khởi sắc trở lại, khi Quảng Yên đang nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư, Ngân hàng cần có nhiều biện pháp tích cực hơn nữa để khai thác triệt để tiềm năng tiền gửi của các tổ chức kinh tế.

Về tiền gửi của dân cư: là khối lượng tiền nhàn rỗi của người dân gửi vào Ngân hàng để hưởng lăi hoặc tiết kiệm cho chi tiêu tương lai. Đây là nguồn vốn huy động có tính ổn định cao nhất và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động và cũng là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng thực hiện đầu tư. Trong những năm 2023 – 2025 số lượng tiền gửi luôn tăng trưởng. Năm 2024 tiền gửi dân cư là 651.274 triệu đồng, tăng 179.598 triệu đồng (tốc độ tăng 47%) so với năm 2023; năm 2025 huy động được 653.012 triệu đồng, tăng 1.738 triệu đồng (tức là tăng 0,27%). Qua đây, ta thấy được rằng chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên luôn ý thức rất rõ về tầm quan trọng của vốn tiền gửi từ dân cư, Ngân hàng luôn đẩy mạnh công tác huy động loại tiền gửi này bằng cách đa dạng hóa các hình thức huy động, chính sách lãi suất phù hợp, công tác chi trả thuận tiện, nhanh chóng kết hợp với các đợt tiết kiệm dự thưởng và ưu đãi, kết quả đạt được là số lượng tiền gửi dân cư đă tăng theo các năm như ta đã thấy ở bảng trên. Bên cạnh đó có một điểm dễ nhận ra là tuy số lượng vẫn tăng theo các năm nhưng tỷ trọng của tiền gửi dân cư lại tăng giảm không đều: năm 2024 so với năm 2023 tỷ trọng này tăng 1,56% nhưng năm 2025 lại giảm 5,25% so với năm 2024. Hậu khủng hoảng kinh tế, mất mùa do thiên tai, chăn nuôi khó khăn do dịch bệnh, nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn do diễn biến thất thường của thời tiết, lạm phát tăng cao khiến thu nhập dân cư giảm, người dân phải chi nhiều hơn cho tiêu dùng do đó số tiền nhàn rỗi gửi tiết kiệm vào Ngân hàng tăng rất ít đồng thời tỷ trọng tiền gửi loại này cũng giảm đi trong năm 2025. Để nguồn tiền gửi tiết kiệm tiếp tục tăng trong các năm tới đây, Ngân hàng cần tiếp tục giữ gìn và phát huy uy tín của mình đối với khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

  • Phát hành giấy tờ có giá

Các giấy tờ có giá hiện tại Ngân hàng đang phát hành bao gồm: chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kỳ phiếu ngắn hạn và trái phiếu Agribank kỳ hạn 10 năm. Năm 2024 so với năm 2023 mệnh giá giấy tờ có giá đã phát hành giảm cả về mặt số lượng và tỷ trọng: giảm 8.990 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 56,6%; tỷ trọng giảm 2,49%. Năm 2025 mệnh giá giấy tờ có giá phát hành tăng về mặt số lượng nhưng lại giảm về tỷ trọng so với năm 2024: tăng 165 triệu đồng ứng với tăng 2,4% và tỷ trọng giảm 0,04%. Loại vốn huy động này luôn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn huy động và hoàn toàn chịu sự chỉ đạo, điều hành của NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh.

  • Vay các tổ chức tín dụng trong nước

Đây là nguồn vốn thứ yếu và luôn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng vốn huy động của Ngân hàng (năm 2023 là 0,07%; năm 2024 và 2025 là 0,02%). Vốn vay các tổ chức tín dụng khác năm 2024 giảm 192 triệu đồng ứng với tỷ lệ giảm 57,1%; về tỷ trọng cũng giảm 0,05% so với năm 2023. Năm 2025 hoàn toàn không có sự thay đổi về vốn vay so với năm 2024. Sở dĩ nguồn vốn di vay luôn chiếm tỷ trọng không đáng kể và đang có xu hướng giảm đi là vì Ngân hàng đã làm rất tốt công tác huy động vốn tiền gửi đủ để đầu tư cho tín dụng và các hoạt động dịch vụ nên không cần sử dụng đến vốn vay.

  • Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn

NHTM muốn hoạt động thực sự có hiệu quả, ngoài việc xác định một cách chính xác cơ cấu nguồn hình thành thì cần phải quan tâm tới tính chất kỳ hạn của các nguồn vốn huy động. Thời hạn của các nguồn huy động giúp ngân hàng phân tích một cách chính xác mức độ biến động cơ cấu để từ đó có phương án sử dụng hợp lý. Theo tiêu chí này, cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng gồm:

 Vốn huy động không kỳ hạn: tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của tổ chức tín dụng trong nước, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng.

Vốn huy động ngắn hạn: tiền gửi của khách hàng có kỳ hạn dưới 12 tháng, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kỳ phiếu ngắn hạn.

Vốn huy động trung và dài hạn: vay các tổ chức tín dụng trong nước, tiền gửi của khách hàng có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, phát hành trái phiếu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn của Ngân hàng được thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 9: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng vốn huy động 469.019 100 765.589 100 817.248 100
1. Không kỳ hạn 61.265 13,1 71.276 9,3 121.076 14,8
+ Tổ chức kinh tế 61.069 99,7 71.270 99,99 121.070 99,99
+ Dân cư 196 0,3 6 0,01 6 0,001
2. Ngắn hạn 326.939 69,7 551.138 72 550.304 67,3
+ Tổ chức kinh tế 8.850 2,7 36.003 6,5 35.958 6,5
+ Dân cư 318.089 97,3 515.135 93,5 514.346 93,5
3. Trung, dài hạn 80.815 17,2 143.175 18,7 145.868 17,9
+ Tổ chức kinh tế 1.536 1,9 144 0,1 144 0,1
+ Dân cư 79.279 98,1 143.031 99,9 145.724 99,9

(Nguồn: Bảng cân đối chi tiết năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Biểu đồ 6: Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn

Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy rõ cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng theo kỳ hạn: vốn huy động ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 60%), nguồn vốn huy động không kỳ hạn và vốn huy động trung, dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn.

Vốn huy động không kỳ hạn: là loại vốn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng vốn huy động. Nhận thấy ưu điểm của tiền gửi không kỳ hạn là chi phí huy động thấp, Ngân hàng đã tập trung tăng cường huy động nguồn vốn này kết hợp với cung cấp đầy đủ các dịch vụ liên quan mang lại tiện ích cho khách hàng như: gửi tiền vào tài khoản, chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu… Do đó, nguồn vốn huy động của Ngân hàng tăng trưởng đều qua 3 năm: năm 2024 tăng 10.011 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 16,3% so với năm 2023; năm 2025 tăng 49.800 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 69,9%. Tuy nhiên về tỷ trọng của vốn huy động ngắn hạn trong tổng vốn lại tăng giảm không đều: năm 2024 so với năm 2023 tỷ trọng giảm 3,8% nhưng đến năm 2025 lại tăng lên 5,5% so với năm 2024.

Dễ dàng nhận thấy rằng nguồn vốn huy động không kỳ hạn chủ yếu được huy động từ các tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng, dân cư chỉ chiếm một phần rất rất nhỏ không đáng kể. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi mục đích chính của các doanh nghiệp khi gửi tiền là để thanh toán, ngược lại, người dân thường không chọn hình thức gửi tiền này vì mục đích chính của họ là hưởng lãi và tiết kiệm. Xu hướng trong huy động vốn không kỳ hạn của Ngân hàng là tiếp tục tăng cường tiền gửi thanh toán của tổ chức kinh tế và giảm huy động tiền gửi không kỳ hạn từ dân cư.

Vốn huy động ngắn hạn: là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn huy động do phần lớn dân cư trên địa bàn làm nông nghiệp và buôn bán nhỏ, sản xuất chăn nuôi mang tính vụ mùa, vốn cần quay vòng nhanh hơn nữa xu thế của khách hàng không muốn gửi tiền thời gian quá dài để có thể rút ra khi cần và quan trọng là lãi suất cho mức kỳ hạn này cũng ở mức khá hấp dẫn. Nguồn vốn này tuy dễ huy động do phù hợp với nhu cầu của khách hàng tuy nhiên lại có tính ổn định không hẳn cao, có thể gây ra rủi ro thanh khoản khi sử dụng một phần cho vay trung và dài hạn. Số lượng và tỷ trọng của nguồn vốn này có sự biến động tăng giảm không đều trong 3 năm qua: năm 2024 so với năm 2023 số lượng vốn ngắn hạn huy động được tăng 224.199 triệu đồng (tăng 68,6%) và tỷ trọng cũng tăng 2,3%. Năm 2025 số lượng vốn huy động loại này giảm 834 triệu đồng (giảm 0,15%) và tỷ trọng giảm 4,7%. Sở dĩ tỷ trọng của loại tiền gửi này giảm là do khó khăn chung của nền kinh tế, năm 2025 Ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi trong năm từ 14%/năm xuống còn 9%/năm. Khác với tiền gửi không kỳ hạn, vốn huy động ngắn hạn được hình thành phần lớn từ tiền gửi của dân cư. Năm 2024 so với năm 2023 tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng 197.046 triệu đồng (tức là tăng 61,9%); trong khi đó tiền gửi ngắn hạn của tổ chức kinh tế tăng với tốc độ nhanh hơn là 306,8% (tăng 27.153 triệu đồng). Năm 2025 so với năm 2024 tiền gửi dân cư kỳ hạn dưới 12 tháng giảm 789 triệu đồng và tiền gửi tổ chức kinh tế giảm 345 triệu đồng. Tuy tỷ trọng của tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn có xu hướng giảm đi nhưng vẫn luôn ở mức trên 90% trong tổng vốn huy động ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Vốn huy động trung và dài hạn: đây là loại vốn chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong tổng vốn huy động và được hình thành chủ yếu từ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 12 tháng trở lên của dân cư (chiếm trên 98%). Xu hướng thay đổi của loại vốn này trong thời gian vừa qua là tăng về số lượng và ít biến động về tỷ trọng. Năm 2024 vốn huy động trung và dài hạn tăng 62.360 triệu đồng với tốc độ tăng khá nhanh 77,2% so với năm 2023. Năm 2025 tăng 2.693 triệu đồng với tốc độ tăng 1,9% so với năm 2024. Về xu hướng thay đổi trong cơ cấu vốn huy động trung, dài hạn: tăng huy động từ tiền gửi có kỳ hạn dài của dân cư và giảm tiền gửi loại này của tổ chức kinh tế.

  • Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền

Bên cạnh đồng nội tệ là VND NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên còn nhận tiền gửi ngoại tệ của các cá nhân và tổ chức kinh tế – xã hội. Sự biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền trong những năm vừa qua được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 10: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Tổng vốn huy động 469.019 100 765.589 100 817.248 100
Nội tệ 451.196 96,2 741.090 96,8 799.268 97,8
Ngoại tệ (đã quy đổi) 17.823 3,8 24.499 3,2 17.979 2,2

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Biểu đồ 7: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bảng số liệu và biểu đồ trên phản ánh một cách rõ nét cơ cấu nguồn vốn huy động theo loại tiền của Ngân hàng trong những năm vừa qua. Do đặc thù nền sản xuất tại địa bàn chủ yếu là sản xuất nông, ngư nghiệp, không có những mặt hàng xuất khẩu nên phần lớn khách hàng gửi tiền thường chọn gửi bằng đồng nội tệ. Do vậy nguồn vốn nội tệ luôn chiếm tỉ trọng chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng (cả 3 năm tỷ trọng vốn nội tệ luôn lớn hơn 95%), nguồn vốn ngoại tệ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn huy động (năm 2023 là 3,8%, năm 2024 là 3,2% và năm 2025 là 2,2%).

Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền trong giai đoạn 2023 – 2025 thay đổi theo xu hướng: vốn huy động bằng nội tệ tăng trưởng liên tục cả về số lượng và tỷ trọng, ngược lại, giảm tỷ trọng vốn huy động ngoại tệ. So sánh số liệu của năm 2024 với năm 2023 ta thấy vốn nội tệ đã tăng 289.894 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng khá nhanh 64,3% và vốn ngoại tệ cũng tăng 6.676 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng 37,4%. Năm 2025 vốn nội tệ tiếp tục tăng 58.178 triệu đồng (tăng 7,9%) Trong khi đó vốn ngoại tệ lại giảm 6.520 triệu đồng, tức là giảm 26,6% so với cùng kỳ. Sau 3 năm, tỷ trọng vốn nội tệ trong tổng vốn huy động đã tăng lên 1,6% hay tỷ trọng vốn ngoại tệ giảm 1,6%. Điều này có thể được giải thích do Ngân hàng chủ yếu phục vụ cho người nông dân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ – những đối tượng không thường xuyên sử dụng ngoại tệ cộng với việc xuất khẩu lao động nước ngoài trên địa bàn những năm gần đây có xu hướng hạ nhiệt nên lượng kiều hối chuyển về cũng giảm theo.

4. Hiệu quả huy động vốn tại NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên

  • Chi phí huy động vốn

Chi phí huy động vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động hoạt động huy động vốn, nó bao gồm chi phí trả lãi và một số chi phí khác như chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản lý, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo, chi phí khấu hao, bảo quản…Trong đó chi phí lãi là phần chiếm tỷ trọng chủ yếu cao nhất. Do đó, ở đây ta chỉ xét đến chi phí trả lãi tiền gửi, lãi tiền vay và lãi phát hành giấy tờ có giá. Chi phí hoạt động huy động vốn của Ngân hàng những năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 11: Chi phí trả lãi bình quân giai đoạn 2023 – 2025

Đơn vị: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Chỉ tiêu

Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Tổng vốn huy động (1) 469.019 765.589 817.248
Chi phí trả lãi (2) 37.825 68.815 69.404
Chi phí trả lãi bình quân (3) = (2) / (1) 8,06% 9% 8,5%

(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản năm 2023, 2024, 2025)

Dựa vào bảng trên ta thấy chi phí trả lãi bình quân trên mỗi đồng vốn huy động của Ngân hàng có sự thay đổi tăng, giảm qua mỗi năm. Cụ thể năm 2023 chi phí trả lãi cho 1 đồng vốn huy động của Ngân hàng là 8,06%, đây là mức thấp nhất trong 3 năm. Sang năm 2024, do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình hình lạm phát gia tăng khiến Ngân hàng gặp không ít khó khăn trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói chung, Ngân hàng phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 20% cộng với ảnh hưởng từ cuộc chạy đua lãi suất với các NHTM mới thành lập trên địa bàn nên chi phí trả lãi bình quân đã tăng 0,94% so với năm 2023. Tốc độ tăng của chi phí trả lãi năm 2024 so với năm 2023 là 81,9% cao hơn gấp 1,3 lần so với tốc độ tăng của tổng vốn huy động (63,2%).

Đến năm 2025 tuy tình hình nền kinh tế địa phương và những khó khăn trong kinh doanh ngân hàng vẫn chưa được khắc phục nhưng nhờ bám sát định hướng, giải pháp kinh doanh của ngành cộng với sự nỗ lực, phấn đấu hết mình tích cực triển khai các biện pháp huy động vốn, tăng cường đổi mới thái độ, tác phong giao dịch nên công tác huy động vốn của Ngân hàng đã đạt được hiệu quả nhất định. Chi phí trả lãi bình quân trên 1 đồng vốn huy động là 8,5% giảm 0,5% so với năm 2024. Điều này một phần là do lãi suất tiền gửi ngắn hạn trong năm đã được điều chỉnh giảm xuống trong khi số lượng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi không kỳ hạn vẫn tăng. Mặt khác ta có thể thấy năm 2025 so với năm 2024 tốc độ tăng của tổng vốn huy động cao hơn tốc độ tăng của chi phí trả lãi (tổng vốn huy động tăng 6,7% trong khi chi phí trả lãi chỉ tăng 0.86%). Như vậy, công tác huy động vốn của Ngân hàng đã thực sự hiệu quả hơn giai đoạn trước đó.

Bảng 12: Chi phí huy động vốn trên tổng chi phí

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Tổng chi phí hoạt động (1) 50.988 74.015 83.314
Chi phí huy động vốn (2) 40.566 70.781 71.330
Chi phí huy động vốn/Tổng chi phí hoạt động (3) = (2) / (1) 80% 96% 86%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2023, 2024, 2025)

Qua bảng trên ta thấy: Năm 2023 chi phí huy động vốn chiếm 80% trong tổng chi phí hoạt động của Ngân hàng, năm 2024 chi phí huy động vốn chiếm 96% (tăng 16% so với năm 2023), đến năm 2025 chi phí huy động vốn chiếm 86% trong tổng chi phí hoạt động (giảm 10% so với năm 2024). Điều này cho thấy năm 2024 chi nhánh phải bỏ ra nhiều chi phí hơn cho hoạt động huy động vốn, trong đó chi phí trả lãi cho tiền gửi của khách hàng tăng gần gấp đôi (tăng 30.990 triệu đồng) và chi phí cho tiếp thị, quảng cáo tăng 67 triệu đồng so với năm 2023. Như vậy, có thể nói rằng công tác quản lý chi phí huy động vốn của chi nhánh năm 2024 chưa thực sự tốt. Đến năm 2025, tình hình này đã được cải thiện khi chỉ tiêu chi phí huy động vốn trên tổng chi phí hoạt động của Ngân hàng đã giảm xuống 10%. Nguyên nhân là do lãi suất tiền gửi trong năm đã được điều chỉnh giảm từ 14% xuống còn 9% đồng thời Ngân hàng cũng cắt giảm 40 triệu đồng chi phí cho tiếp thị, tuyên truyền, quảng cáo so với năm 2024. Đây là một bước đi đúng đắn thể hiện sự cố gắng trong công tác quản lý chi phí huy động vốn của Ngân hàng.

Để nói công tác huy động vốn của ngân hàng đạt hiệu quả hay không ta phải so sánh tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động với mức tăng của chi phí huy động vốn. Năm 2024 tốc độ tăng chi phí huy động vốn (74%) cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của vốn huy động (63,2%), hiệu quả huy động vốn của ngân hàng trong năm 2024 chưa tốt. Sang năm 2025 mức tăng chi phí huy động vốn là 1% và mức tăng trưởng của vốn tiền gửi là 6,7%. Từ kết quả đó có thể khẳng định hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng đang dần được nâng cao hơn trong năm 2025.

  • Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Nguồn vốn huy động và sử dụng vốn có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau. Tính vững chắc và ổn định của nguồn vốn huy động không chỉ ở bản thân việc huy động vốn mà còn phụ thuộc vào quá trình sử dụng vốn.

Công tác huy động vốn của Ngân hàng sẽ đạt hiệu quả cao nếu Ngân hàng biết tận dụng tối đa nguồn vốn huy động và sử dụng nó một cách hợp lý. Nếu Ngân hàng chỉ chú trọng tới huy động vốn mà không thực hiện cho vay hiệu quả thì sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, giảm lợi nhuận. Ngược lại, nếu không huy động đủ vốn để cho vay thì Ngân hàng sẽ mất những cơ hội để mở rộng khách hàng, tăng lợi nhuận và làm giảm uy tín của Ngân hàng trên thị trường. Vì vậy, việc thực hiện kế hoạch cân đối vốn kinh doanh, đảm bảo tính cân xứng giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn, đảm bảo khả năng thanh toán trong hoạt động kinh doanh luôn là vấn đề đặt ra cho bất kỳ ngân hàng nào.

Để thấy được sự tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng ta lần lượt xem xét trên các chỉ tiêu sau:

  • Sự phù hợp giữa huy động vốn và sự dụng vốn về quy mô

Bảng 13: Sự cân đối giữa tổng vốn huy động và tổng dư nợ

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Tổng vốn huy động 469.019 765.589 817.248
Tổng dư nợ 237.610 285.740 274.188
Tổng dư nợ/Tổng vốn huy động 50,7% 37,3% 33,5%

(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy năm 2023 số lượng vốn huy động được dùng để cho vay là 50,7% nhưng tỷ lệ này lại đang có xu hướng giảm đi theo thời gian. Năm 2024 tổng dư nợ/tổng vốn huy động là 37,3% – giảm 13,7% so với năm 2023. Năm 2025 so với năm 2024 lại tiếp tục giảm thêm 3,8% và chỉ còn 33,5%. Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng: năm 2024 vốn huy động tăng 63,2% trong khi tổng dư nợ chỉ tăng 20,3%. Nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng trưởng thấp hơn là do năm 2024 lãi suất cho vay cao (năm 2023 lãi suất cho vay bình quân 18,19%/năm, năm 2024 là 20,63%/năm) khiến khách hàng e ngại. Năm 2025 do cầu tín dụng thấp, hàng hóa tồn kho lớn, giá cả biến động, khách hàng gặp nhiều khó khăn nên hạn chế khả năng hấp thụ vốn vay Ngân hàng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành than không ổn định đã ảnh hưởng đến ngành vận tải, nhất là đối với phương tiện vận tải thủy nội địa – ngành luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng, do đó tổng dư nợ trong năm đã giảm xuống 4,04% so với năm 2024 trong khi tổng vốn huy động vẫn tăng 6,7%.

Nhìn chung tỷ lệ vốn huy động được sử dụng để cho vay của Ngân hàng vẫn còn thấp và đang có xu hướng giảm dẫn đến lượng vốn huy động được không được sử dụng tối đa cho đầu tư kinh doanh, còn hiện tượng thừa vốn huy động, thu nhập từ lãi vay giảm dần, lượng vốn lưu chuyển lên ngân hàng cấp trên ngày càng tăng (tỷ trọng thu phí điều vốn trong tổng thu nhập của Ngân hàng năm 2024 là 41,6%; năm 2025 là 47,6%). Trong những năm tới, Ngân hàng cần có nhiều biện pháp hữu hiệu hơn để cải thiện tình hình này.

  • Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn về kỳ hạn

Bảng 14: Huy động vốn và sử dụng vốn ngắn hạn

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Vốn huy động ngắn hạn 326.939 551.138 550.304
Cho vay ngắn hạn 50.090 98.333 87.337
Tỷ lệ đáp ứng 652% 560% 630%

(Nguồn: Bảng cân đối chi tiết năm 2023, 2024, 2025) Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Bảng số liệu trên cho thấy Ngân hàng chưa có sự cân xứng trong huy động và sử dụng vốn ngắn hạn. Tỷ lệ đáp ứng cho vay ngắn hạn tuy tăng, giảm không đều qua mỗi năm nhưng vẫn luôn duy trì ở mức rất cao (trên 500%), nguồn vốn huy động ngắn hạn của Ngân hàng luôn thừa để cho vay ngắn hạn. Phần dư vốn huy động ngắn hạn khá nhiều và có xu hướng tăng trưởng qua các năm. Cụ thể, năm 2023 số lượng vốn ngắn hạn dư thừa là 276.849 triệu đồng, năm 2024 là 452.805 triệu đồng (tăng 63,6% so với năm 2023), năm 2025 là 462.967 triệu đồng (tăng 2,2%). Đây là hệ quả của sự chênh lệch về tỷ trọng giữa vốn huy động ngắn hạn và cho vay ngắn hạn. Vốn huy động ngắn hạn là nguồn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn (trên 60%) trong khi dư nợ ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ (dưới 20%). Trong những năm gần đây Ngân hàng đang dần tạo được sự thay đổi theo hướng tích cực nhằm cân bằng giữa huy động vốn và cho vay ngắn hạn: tốc độ tăng trưởng của dư nợ ngắn hạn năm 2024 so với năm 2023 là 96,3%% cao hơn tốc độ tăng trưởng của vốn huy động ngắn hạn (68,6%) tuy vậy về mặt số lượng đây vẫn là một con số khiêm tốn. Đến năm 2025 cả vốn huy động và cho vay ngắn hạn đều giảm tuy nhiên tốc độ giảm của cho vay ngắn hạn lại lớn hơn tốc độ giảm của vốn huy động ngắn hạn 11,05% nên tỷ lệ đáp ứng vay ngắn hạn vẫn tăng so với năm 2024.

Bảng 15: Huy động vốn và sử dụng vốn trung dài hạn

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2023 Năm 2024 Năm 2025
Vốn huy động trung. dài hạn 80.815 143.175 145.868
Cho vay trung, dài hạn 187.520 187.407 186.851
Tỷ lệ đáp ứng 43,1% 76,4% 78,1%

(Nguồn: Bảng cân đối chi tiết năm 2023, 2024, 2025)

Ngược lại với vốn huy động ngắn hạn, vốn huy động trung, dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn huy động (17%) trong khi dư nợ lại chủ yếu là dư nợ trung, dài hạn (trên 70%) nên nguồn vốn huy động trung, dài hạn của Ngân hàng không đủ để đáp ứng nhu cầu vay trung, dài hạn của khách hàng. Cụ thể, năm 2023 vốn huy động trung, dài hạn thiếu 106.705 triệu đồng, năm 2024 thiếu 44.232 triệu đồng, năm 2025 thiếu 40.983 triệu đồng chứng tỏ Ngân hàng đã sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn mà nguồn vốn ngắn hạn tuy có chi phí huy động thấp hơn nhưng tính ổn định lại không cao nên điều này có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của Ngân hàng.

Tuy tỷ lệ đáp ứng cho vay trung, dài hạn của Ngân hàng còn thấp nhưng tỷ lệ này đang được nâng cao dần qua các năm: năm 2024 là 76,4% tăng 33,3% so với năm 2023, năm 2025 là 78,1% tăng 1,7% so với năm 2024. Sự mất cân đối trong huy động và sử dụng vốn trung, dài hạn cũng đang dần được cải thiện, số lượng vốn thiếu hụt ngày càng ít đi. Số lượng vốn huy động trung, dài hạn tăng lên theo thời gian trong khi doanh số cho vay trung, dài hạn lại có xu hướng giảm đi: tốc độ tăng của vốn huy động năm 2024 so với năm 2023 là 77,2%; năm 2025 so với năm 2024 là 1,9%. Dư nợ trung, dài hạn năm 2024 giảm 0,06% so với năm 2023, năm 2025 giảm 0,3% so với năm 2024.

Tóm lại, Ngân hàng chưa đạt được sự cân đối giữa huy động và sử dụng vốn theo kỳ hạn. Trong những năm tới, để tìm kiếm nguồn vốn an toàn, ổn định hơn cũng như hạn chế rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng Ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu hơn nữa nhằm cơ cấu lại nguồn vốn huy động và đảm bảo cân đối trong huy động và sử dụng nguồn vốn huy động.

III. Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

1. Những kết quả đạt được

Giai đoạn 2023 – 2025 là khoảng thời gian khó khăn với nền kinh tế cả nước nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng nhưng nhờ sự cố gắng, nỗ lực hết mình của toàn bộ cán bộ công nhân viên, chi nhánh NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên đã đạt được những kết quả tích cực đáng khích lệ, góp phần phát triển kinh tế địa phương và khẳng định uy tín, vị thế của Agribank – một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam.

Thứ nhất, trong thời gian qua nguồn vốn huy động của Ngân hàng không ngừng tăng trưởng với tốc độ khá cao, doanh số vốn huy động luôn đạt kế hoạch và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nhờ đó Ngân hàng không những đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các hộ gia đình và doanh nghiệp mà còn có vốn điều chuyển lên ngân hàng cấp trên.

Thứ hai, các hình thức huy động vốn rất phong phú đa dạng cộng với các dịch vụ cung cấp đi kèm như rút tiền, gửi tiền, chuyển tiền, thông báo số dư tài khoản tự động, phát hành các loại thẻ thông minh…mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng đồng thời góp phần tăng thu nhập cho Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Thứ ba, Ngân hàng đã thực hiện tốt công tác thanh toán, giao dịch khách hàng trên hệ thống IPCAS đảm bảo nhanh, chính xác, kịp thời, an toàn tài sản; chủ động triển khai và làm tốt các dịch vụ ngân hàng; làm tốt công tác thu – chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng, đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu tiền mặt cho khách hàng tới giao dịch.

Thứ tư, nguồn vốn nội tệ luôn giữ vai trò chủ đạo trong tổng nguồn vốn huy động tiền gửi của chi nhánh. Điều này phù hợp với đặc điểm kinh tế địa bàn và nhu cầu vay vốn nội tệ của khách hàng tại thị xã. Vốn huy động từ tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn tiền gửi huy động được, đặc biệt vốn huy động trung và dài hạn ngày càng tăng khẳng định được uy tín và thương hiệu của ngân hàng trong lòng công chúng.

Thứ năm, chất lượng phục vụ khách hàng đến gửi tiền và giao dịch với Ngân hàng đang từng bước được cải thiện và nâng cao. Rút ngắn thời gian giao dịch, phong cách phục vụ lịch sự văn minh, ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động ngân hàng nên lượng khách hàng đến gia dịch với Ngân hàng ngày càng tăng.

  • Có được những thành tựu trên là nhờ Ngân hàng đã thực hiện tốt các biện pháp:

Trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách huy động vốn, chi nhánh đã theo dõi, nắm bắt kịp thời mọi biến động trên thị trường để từ đó điều chỉnh lăi suất huy động đáp ứng được nhu cầu cạnh tranh.

Ngân hàng đã phân công cán bộ nghiên cứu thị trường ở từng khu vực, đặt ra chỉ tiêu huy động vốn cho mỗi cán bộ công nhân viên .Điều này cho thấy sự linh hoạt, nhạy bén trong hoạt động của Ngân hàng từ trước tới nay, phù hợp với quy luật khách quan khi đánh giá một vấn đề đều phải dựa trên những yếu tố thực tế.

Quản lý tốt quan hệ với khách hàng, xây dựng được lòng tin với khách hàng. Trong thời gian qua, ngân hàng đã thiết lập được danh mục những khách hàng truyền thống, tìm kiếm những khách hàng tiềm năng, cung cấp cho họ những sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

Ngân hàng luôn coi trọng công tác hiện đại hóa ngân hàng, trang bị những phần mềm tiện ích hiện đại giúp nhân viên ngân hàng thực hiện các giao dịch một cách thuận tiện, nhanh chóng và chính xác, mang lại hiệu quả cho huy động vốn cũng như quản lý sử dụng vốn.

Công tác marketing, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi…cũng được Ngân hàng chú trọng đẩy mạnh.

2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

  • Những hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được kể trên, hoạt động huy động vốn của NHNo & PTNT thị xã Quảng Yên còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục như:

Thứ nhất, doanh số vốn huy động tăng trưởng qua các năm nhưng chưa có sự phù hợp, cân đối và tương xứng với việc sử dụng vốn. Nguồn vốn huy động ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn huy động trong khi Ngân hàng dư nợ chủ yếu lại là trung, dài hạn dẫn đến việc Ngân hàng phải sử dụng một phần vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn.

Thứ hai, vốn huy động của Ngân hàng tăng lên qua các năm chủ yếu là do Ngân hàng huy động được nguồn tiền gửi với khối lượng lớn từ các cá nhân và tổ chức kinh tế. Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá mới chỉ là chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và kỳ phiếu Agribank kỳ hạn 10 năm với số lượng nhỏ. Đây là một hạn chế có thể ảnh hưởng tới tính chủ động trong kinh doanh của Ngân hàng cũng như năng lực cạnh tranh với các NHTM khác trên địa bàn.

Thứ ba, tỷ trọng nguồn vốn không kỳ hạn trong tổng vốn huy động tăng giảm không đều và vẫn chiếm tỷ lệ thấp qua các năm. Nguồn vốn huy động của chi nhánh chủ yếu vẫn là huy động tiền gửi trong dân cư, tiền gửi thanh toán của các cá nhân cũng như tổ chức kinh tế thường không duy trì ổn định trên tài khoản. Điều này là một trong những yếu tố làm tăng chi phí huy động vốn của chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Thứ tư, cơ cấu tiền gửi theo loại tiền chưa thật sự hợp lý bởi chiếm tỷ trọng chủ yếu là vốn huy động nội tệ, nguồn tiền gửi ngoại tệ chỉ chiếm tỷ trọng rất rất nhỏ và đang có xu hướng giảm dần. Việc tăng cường giao dịch bằng đồng ngoại tệ sẽ giúp Ngân hàng chủ động, linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế đất nước hiện nay.

Thứ năm, một số sản phẩm huy động vốn chưa thực sự có hiệu quả, dịch vụ đi kèm nhiều dạng, phong phú, đa tiện ích nhưng chưa đáp ứng được nhiều nhu cầu, thị hiếu của người sử dụng trên địa bàn vùng nông nghiệp nông thôn (thẻ ghi nợ nội địa, thẻ liên kết thương hiệu, CoBrand Card, dịch vụ Mobile banking….).

  • Nguyên nhân
  • Nguyên nhân chủ quan:

Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng tuy đa dạng, phong phú song chưa thực sự có sự khác biệt nổi trội mang tính cạnh tranh cao, chưa thu hút và đáp ứng được tất cả nhu cầu của khách hàng, hình thức huy động qua phát hành giấy tờ có giá chưa được quan tâm triển khai, lượng tiền gửi chủ yếu từ khách hàng là tiền gửi có kỳ hạn ngắn đã tạo ra sự mất cân đối trong cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng.

Công nghệ ngân hàng mặc dù được đổi mới nhưng vẫn còn bộc lộ một vài hạn chế. Tuy đã có các phần mềm ứng dụng trong công tác huy động vốn và quản lý luồng tiền vào ra hàng ngày nhưng vẫthiện để phần mềm vận hành tốt nên đôi lúc vẫn xảy ra lỗi hệ thống, mạng bị treo gây ảnh hưởng đến các nghiệp vụ đang thao tác, khiến khách hàng phải chờ đợi.

Công tác đào tạo, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, năng lực cán bộ được quan tâm đào tạo tuy nhiên còn có cán bộ chưa thực sự cố gắng nên kết quả thực hiện nhiệm vụ còn thấp.

  • Nguyên nhân khách quan:

Môi trường kinh tế, tình hình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thời gian qua có nhiều biến động bất thường tác động mạnh mẽ tới hoạt động ngân hàng. Đặc biệt là trong hai năm gần đây lại có những biến động không thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của Ngân hàng như: lạm phát tăng cao, giá vàng biến động thất thường…do đó ảnh hưởng đến tâm lý người dân trong việc cân nhắc sử dụng khoản tiền nhàn rỗi của mình.

Hiện nay người dân Việt Nam vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán, chưa quen sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng nên việc huy động tiền gửi thanh toán của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, doanh số huy động tiền gửi thanh toán của ngân hàng bị hạn chế khiến cho tỷ trọng nguồn tiền gửi không kỳ hạn thấp.

Sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống ngân hàng hiện nay khi có sự xuất hiện ngày càng nhiều của các NHTM khác trên địa bàn như Eximbank, Ngân hàng Công thương (Vietin bank), Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long và Ngân hàng chính sách xã hội. Các ngân hàng không chỉ quan tâm đến lãi suất huy động mà còn chú ý hơn đến việc đa dạng hóa sản phẩm huy động vốn, quảng cáo, liên tục tung ra các chiến dịch huy động vốn kèm theo các đợt khuyến mại tặng quà, nhận mã số dự thưởng khiến cho công tác huy động vốn của chi nhánh không còn dễ dàng như giai đoạn trước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

Sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán cũng ảnh hưởng phần nào đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng vì thị trường chứng khoán đã thu hút một phần vốn trung và dài hạn từ công chúng và tổ chức kinh tế thay cho gửi vào hệ thống ngân hàng.

Tóm lại: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trong những năm qua đã đạt được một số kết quả đáng kể song vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định góp phần làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung cũng như hoạt dộng huy động vốn nói riêng của Ngân hàng. Có thể nói rằng, mỗi bước đi của ngân hàng đều xuất phát từ nguồn vốn, mọi biến động cũng xảy ra ở nguồn vốn. Trong môi trường tài chính tiền tệ vốn chứa đựng những yếu tố bất ổn, vấn đề đặt ra cho Ngân hàng là cần có một chiến lược nguồn vốn sâu sắc hơn, hướng vào mục tiêu bền vững, có sức chịu đựng trước những biến đổi bất lợi đồng thời phải đưa ra các giải pháp đồng bộ, khả thi để khắc phục những hạn chế còn tồn tại, nâng cao hiệu quả huy động vốn và tiếp tục phấn đấu là ngân hàng có uy tín hàng đầu trên địa bàn. Có như vậy, Ngân hàng mới đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường cũng như vững vàng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động huy động vốn tại Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x