Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Quá trình phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

1. Sự ra đời của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Với cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn trước năm 1986 gặp rất nhiều khó khăn. Trước yêu cầu cấp bách của tình hình kinh tế-xã hội, năm 1986 Đảng và Nhà nước đã đề ra công cuộc đổi mới đất nước, đến năm 1988 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng đã triển khai kế hoạch đổi mới toàn diện nhằm khắc phục tình trạng lạm phát phi mã, khôi phục nền kinh tế. Nhưng tình trạng bất ổn của xã hội trong giai đoạn này đã dẫn đến hàng loạt các cuộc đổ vỡ mang tính dây chuyền của các Hợp tác xã tín dụng nông thôn và Quỹ tín dụng đô thị trên toàn quốc (gần 8000 Hợp tác xã và Quỹ tín dụng phải đóng cửa).

Trong bối cảnh đó, để lấy lại niềm tin của nhân dân, hoạt động BHTG đã được khởi đầu bằng Quyết định 101/TCQĐ-BHTG ngày 01/02/2004 của Bộ tài chính. Theo Quyết định này, công ty bảo hiểm Bảo Việt có trách nhiệm bảo hiểm đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại các quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trong giai đoạn này phát triển chậm, mới chỉ triển khai được với một số lượng khách hàng rất nhỏ (chỉ có khoảng 30% Quỹ tín dụng nhân dân tham gia, còn các loại hình tổ chức tín dụng khác có huy động tiền gửi nhưng không tham gia). Hoạt động BHTG cũng bộc lộ nhiều hạn chế, không đảm bảo các yếu tố quyết định thành công đối với hoạt động này trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam như: quy định tham gia bảo hiểm là tự nguyện, hoạt động BHTG là vì mục đích lợi nhuận, không có các hoạt động hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG, lợi ích duy nhất mà tổ chức tham gia BHTG có được là được chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức đó phá sản và không có khả năng thanh toán.

Trong điều kiện của quá trình đổi mới đang diễn ra tại Việt Nam, hoạt động ngân hàng đang ngày càng phát triển, số lượng các đơn bị tham gia trong lĩnh vực ngân hàng, tham gia huy động tiền gửi ngày càng tăng, đi đôi với nó là yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh này cũng ngày càng trở nên phức tạp. Những vấn đề đó đã dặt ra yêu cầu cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời và ngày 01/09/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/2009/NĐ-CP về BHTG và tổ chức BHTG Việt Nam đã chính thức được thành lập. Hoạt động BHTG ở Việt Nam từ đây được phổ cập hóa, được công nhận là một trong những giải pháp tích cực bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, kiểm soát rủi ro hoạt động của các tổ chức tín dụng, khắc phục được những hạn chế của hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trước đây.

BHTG Việt Nam là đại diện Nhà nước trong việc bảo vệ người gửi tiền, bảo vệ người tiêu dùng trong sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng. Với cơ chế BHTG bắt buộc hiện nay, người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG thông qua việc họ được BHTG Việt Nam chi trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán.

2. Sự cần thiết phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Vai trò và tác dụng tích cực của hoạt động BHTG đối với sự ổn định và phát triển của nền tài chính, ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế, xã hội nói chung đã được cả thế giới công nhận. Trong thời gian tới, sự phát triển mang tính chất toàn cầu hóa của hoạt động này là một yêu cầu tất yếu. Không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới, việc phát triển hoạt động BHTG tại Việt Nam là một yêu cầu khách quan được xuất phát từ chính sự đòi hỏi của tình hình kinh té, xã hội thực tế tại Việt Nam.

2.1. Nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường

Từ năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương và dẫn dắt nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Với quy luật cạnh tranh, chọn lọc tự nhiên, phá sản là điều không thể tránh khỏi và nó gắn liền với nền kinh tế thị trường. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền tại các ngân hàng, Việt Nam cần phải xây dựng một Hệ thống BHTG hiệu quả.

Hơn nữa, quy luật của nền kinh tế thị trường là ưu thế luôn thuộc về các ông lớn. Tham gia vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay gồm có Ngân hàng Nhà nứoc, 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 50 Ngân hàng thương mại cổ phần, hơn 900 Quỹ tín dụng nhân dân, 5 công ty tài chính, 8 công ty cho thuê tài chính; trong đó Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là ngân hàng trung tâm-cơ quan quản lý toàn bộ hoạt động ngân hàng, còn các ngân hàng khác tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Nhưng các ngân hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam rất khác nhau cả về qui mô vốn và khả năng hoạt động nên sức cạnh tranh cũng cách biệt nhau rất lớn. Có thể thấy rõ điều này khi phân tích bảng số liệu về tình hình huy động vốn của các ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng Việt Nam dưới đây.

  • Bảng 1: Huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Từ bảng số liệu chúng ta thấy, trong hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam gia đoạn 2000-2004, huy động vốn của Ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, trong đó 3 năm từ 2000-2002 chiếm trên 78% tổng mức huy động vốn toàn hệ thống, nhưng từ năm 2003-2004, tỷ trọng này đã có xu hướng giảm và giữ ở mức 75%. Thị phần nhỏ bé còn lại được chia đều cho các ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh–các tổ chức tín dụng không phải là doanh nghiệp của Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Như vậy, BHTG Việt Nam ra đời một mặt sẽ góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt giúp các ngân hàng có qui mô vốn nhỏ với thời gian hoạt động chưa lâu bình đẳng hơn với các ngân hàng lớn trong việc huy động vốn. Mặt khác, đối với các ngân hàng lớn, việc tham gia BHTG sẽ giúp họ có được một phương thức đảm bảo hoạt động an toàn ở qui mô lớn hơn và có tính hiệu quả hơn.

2.2. Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong quá trình hoạt động, Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn còn rất nhiều yếu kém, bất cập, khả năng cạnh tranh thấp thể hiện trên những mặt sau:

Qui mô vốn nhỏ: tình hình chung của các ngân hàng thương mại Việt Nam là nhỏ bé về quy mô và vốn hoạt động Các ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm 75% thị phần tín dụng nhưng chỉ có vốn khoảng 15.500 tỷ đồng (bình quân khoảng 3.100 tỷ đồng/ngân hàng), tương đương 1 tỷ USD. So với vốn bình quân của các ngân hàng trong khu vực, quy mô vốn bình quân của ngân hàng Việt Nam còn quá nhỏ bé. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quy mô vốn lớn nhất cũng vào khoảng 6000 tỷ đồng (khoảng 400 triệu USD, vốn của các ngân hàng thương mại Nhà nước còn lại bình quân khoảng từ 450–600 tỷ đồng. Trong đó, trong vốn tự có của ngân hàng Việt Nam hiện nay, khoảng 50% là vốn danh nghĩa do Bộ Tài Chính cấp bằng trái phiếu đặc biệt.

Tỷ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có của các ngân hàng (ROE-Return on Equity) ở mức thấp, chỉ bằng 43,6% so với chuẩn quốc tế, đạt 6,54% trong khi quốc tế trung bình đạt 15%. Tỷ lệ lợi nhuận ròng sau thuế trên tổng tài sản (ROA–Return on Assets) của các ngân hàng Việt Nam bình quân là 0,65% trong khi tỷ lệ này ở các nước châu Á-Thái Bình Dương là 0,94%, ở các nước Đông Nam Á là 0,77%. Hệ số ROA trung bình của các ngân hàng Việt Nam mới bằng 38% so với mức đạt yêu cầu quốc tế.

Tỷ lệ nợ xấu lớn: theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước, tổng nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại Nhà nước năm 2005 là 57.582 tỷ đồng, chiếm 20,7% tổng dư nợ (tăng 9,62% so với năm 2004).

  • Bảng 2: Tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại Nhà nước giai đoạn 2000 – 2005

Từ bảng số liệu ta thấy, tổng tài sản của các ngân hàng đều tăng qua các năm. Cùng với tăng tài sản, mức tổng dư nợ cũng tăng theo nhưng tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ của các ngân hàng đã được giảm dần, từ mức 29,57% (2000) xuống chỉ còn 20,70% (2005). Đây được xem là thành công lớn của các ngân hàng trong công cuộc cải tổ cơ cấu lại ngân hàng thương mại Nhà nước và Quyết định số 149/2001/QĐ-TTG ngày 5/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại Nhà nước. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn khá cao so với khu vực và thế giới. Hơn nữa, việc phân loại nợ của các ngân hàng Nhà nước hiện chưa phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng, không phù hợp với kết quả phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp. Đến nay đã có 14 ngân hàng thương mại cổ phần bị sáp nhập hoặc rút giấy phép hoạt động do tỷ lệ nợ xấu lớn và hoạt động kém hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Mức độ an toàn vốn thấp: trong hoạt động kinh doanh các ngân hàng phải đảm bảo một hệ số an toàn vốn (CAR–Capital Adequacy Ratio) nhất định. Hệ số an toàn vốn của các ngân hàng trong nước còn thấp, bình quân chỉ đạt 4,5%, trong khi chuẩn mực quốc tế tối thiểu là 8%, và hệ số an toàn vốn của các nước châu Á – Thái Bình Dương là 13,1%, của các nước Đông Nam á như Thái Lan, Malaysia, Philippin là 12,3%. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, chỉ riêng 5 ngân hàng thương mại Nhà nước, để đạt được hệ số an toàn 8% vào năm 2030 thì phải có lượng vốn tăng thêm từ 65-70 nghìn tỷ đồng. Trong những năm qua các ngân hàng thương mại Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh mức vốn điều lệ, nhưng nhìn chung quy mô vốn vẫn còn hạn chế. Riêng với các ngân hàng thương mại Nhà nước, Bộ Tài Chính cũng đã nỗ lực tăng vốn bằng trái phiếu chuyển đổi, nhưng các ngân hàng này chưa nhận được đồng vốn thực nào vì thực chất đó là vốn danh nghĩa. Vì thế, hệ số an toàn vốn của các ngân hàng Việt Nam khó có thể bằng hệ số an toàn vốn của các nước trong khu vực.

2.3. Nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển

Kể từ sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, trong những năm qua Việt Nam đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt được những thành công nhất định. Hiện nay, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất ở châu Á, tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao: từ 7,1% năm 2000, đến năm 2004 là 7,7% và đến năm 2005 đạt 8,4%. Tổ chức xếp hạng BMI (Business Monitor International) đánh giá phát triển kinh tế ngắn hạn Việt Nam đạt mức 66/104 quốc gia, phát triển kinh tế dài hạn đứng 38/71 quốc gia.

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu đầu tư trong nước cũng liên tục tăng, năm 2005 huy động vốn cho đầu tư phát triển toàn xã hội tăng khá, đạt gần 39% GDP, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đạt cao nhất từ năm 2007 trở lại đây đạt gần 5,84 tỷ USD. Mức tiết kiệm trong nước mặc dù cũng tăng theo các năm nhưng tiết kiệm vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho đầu tư do vốn từ tiết kiệm luôn thấp hơn mức vốn đầu tư. Bên cạnh đó, để có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2001-2030 như GDP năm 2030 ít nhất phải gấp đôi năm 2000, tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP…thì cần có biện pháp khuyến khích dân chúng gửi tiền vào hệ thống tài chính ngân hàng. Tâm lý chung của người dân khi gửi tiền vào ngân hàng là sự an toàn cho tài sản của mình, chính vì vậy BHTG được coi như là một giải pháp chính sách góp phần không nhỏ trong việc khuyến khích người dân gửi tiền tiết kiệm vào hệ thống tài chính ngân hàng.

2.4. Nhu cầu hội nhập của nền kinh tế Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam chính thức mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng cho các nhà cung cấp tài chính nước ngoài. Đến nay, đã có 4 ngân hàng liên doanh, 38 chi nhánh ngân hàng nước ngoài có mặt ở Việt Nam; chủ yếu là các ngân hàng của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Australia, Pháp, Đài Loan…Hiện nay, Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo Hiệp định khung thương mại dịch vụ (AFTS) của ASEAN, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và Hiệp chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO.

Theo lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải từng bước tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng đối với cả bên cung cấp và bên sử dụng. Theo đó, các chủ thể không phân biệt trong hay ngoài nước có nhu cầu cung cấp dịch vụ ngân hàng nếu đáp ứng được đủ các điều kiện theo qui định của pháp luật Việt Nam, đều được phép tham gia vào thị trường dịch vụ ngân hàng. Như vậy, đến năm 2030 Việt Nam sẽ phải nới lỏng các hạn chế đối với ngân hàng nước ngoài về nhận tiền gửi, dần dần gỡ bỏ các quy định về việc khống chế tham gia tỷ lệ góp vốn, dịch vụ, số lượng các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng và tổng giá trị giao dịch… Điều này đồng nghĩa với việc cắt giảm bảo hộ về kinh doanh dịch vụ ngân hàng đối với các ngân hàng thương mại ở nước ta. Các ngân hàng nước ngoài được đối xử bình đẳng như các ngân hàng trong nước, và họ sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng trong nước. Xu thế này sẽ buộc các ngân hàng trong nước phải tự nâng cao chất lượng dịch vụ để có thể tồn tại, một mặt thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngân hàng, nhưng mặt khác cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro nhiều hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn như áp lực cạnh tranh gia tăng, nguy cơ phá sản cao. Với thực trạng hoạt động yếu kém như hiện nay của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhất là hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước, thì áp lực cạnh tranh này trong thời gian tới sẽ là rất lớn. Áp lực cạnh tranh lớn có thể khiến các ngân hàng tham gia kinh doanh những lĩnh vực có rủi ro cao hơn để tồn tại dẫn đến nguy cơ phá sản cao và ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người gửi tiền, do đó tham gia vào tổ chức BHTG sẽ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền. Bên cạnh đó, mở cửa thị trường tài chính với việc tham gia rộng rãi của các ngân hàng nước ngoài vào hệ thống ngân hàng quốc gia thì việc quản lý hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ trở nên phức tạp và khó khăn hơn và sự góp mặt của tổ chức BHTG trong hệ thống an toàn tài chính quốc gia sẽ góp phần giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam quản lý, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống.

Tham gia BHTG là một biện pháp giảm thiểu rủi ro và tăng uy tín cho ngân hàng. Nhưng để BHTG thực sự là biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả đối với các ngân hàng thì bản thân tổ chức BHTG cũng phải hội nhập quốc tế để nâng cao năng lực của mình nhằm đánh giá, kiểm soát và điều tiết rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG một cách hiệu quả. Từ ngày 07/03/2003, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã được chấp nhận là thành viên của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế (IADI). Điều này tạo điều kiện cho BHTG Việt Nam nâng cao hơn nữa năng lực của tổ chức thông qua các chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng về BHTG, trao đổi thông tin…Mặt khác, cũng buộc BHTG Việt Nam phải có những giải pháp để hoạt động hiệu quả hơn, chuẩn hoá hơn.

II. Thực trạng hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

1. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

1.1. Quy định chung

Tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thực hiện theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg, ngày 28/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ và được quy định như sau:

BHTG Việt Nam, có tên giao dịch quốc tế bằng Tiếng Anh là Deposit Insurance of Vietnam – DIV, là tổ chức tài chính Nhà nước có tư cách pháp nhân, được quản trị và điều hành bởi Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc; và chịu sự quản lý của Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính quyền địa phương các cấp ở lĩnh vực có liên quan. Tổ chức BHTG Việt Nam hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn lành mạnh hệ thống ngân hàng. Vốn điều lệ của tổ chức do Nhà nước cấp là 1.000 tỷ đồng Việt Nam và được bổ sung từ nguồn thu phí BHTG hàng năm.

1.2. Cơ cấu tổ chức

Theo Quyết định số 218/2009/QĐ-TTG ngày 09/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, cơ cấu tổ chức của BHTG Việt Nam được quy định như sau:

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị điều hành của BHTG Việt Nam gồm Hội đồng quản trị (gồm 05 thành viên), Ban kiểm soát (gồm 03 thành viên) và Tổng giám đốc – là đại diện pháp nhân của BHTG Việt Nam.

Cơ cấu tổ chức của BHTG Việt Nam bao gồm cơ quan Trung ương của BHTG Việt Nam là Hội sở chính tại Hà Nội và 06 Chi nhánh BHTG Việt Nam khu vực tại các tỉnh thành trong cả nước. Hội sở chính bao gồm nơi làm việc của Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và các phòng ban chức năng; có nhiệm vụ hoạch định các chính sách và các quy định để triển khai hoạt động của BHTG Việt Nam, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quy định được ban hành. Các chi nhánh BHTG Việt Nam khu vực có trách nhiệm triển khai các nghiệp vụ cụ thể tới tổ chức tham gia BHTG Việt Nam. Tổ chức tham gia bảo hiểm ở địa bàn nào sẽ do chi nhánh BHTG Việt Nam ở địa bàn đó phục vụ. Hội sở chính quản lý trực tiếp một số tổ chức tham gia BHTG Việt Nam tại các địa bàn chưa có chi nhánh khu vực của BHTG Việt Nam. Sau đây là sơ đồ cơ cấu bộ máy của BHTG Việt Nam.

1.3. Quy tắc hoạt động của tổ chức Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam chưa có Luật bảo hiểm tiền gửi, hoạt động và các quy tắc bảo hiểm tiền gửi được điều chỉnh trực tiếp bởi các văn bản dưới luật: Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 01/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 01/9/2009, và Thông tư số 03/2026/TT-NHNN ngày 25/4/2026 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 01/9/2009 và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005. BHTG Việt Nam hoạt động theo các quy tắc sau:

  • Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Tổ chức tham gia BHTG Việt Nam là các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng đúng quy định của Luật các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân. Như vậy, việc tham gia bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc đối với các tổ chức có nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của các cá nhân, các tổ chức và các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của cá nhân, tổ chức thì cũng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm.

Các tổ chức tham gia BHTG phải niêm yết công khai về việc tham gia BHTG tại trụ sở và các địa điểm giao dịch. Cụ thể, các tổ chức là thành viên của BHTG Việt Nam phải niêm yết giấy chứng nhận BHTG tại trụ sở và các địa điểm giao dịch của mình.

  • Đối tượng được bảo hiểm Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia BHTG, trừ những trường hợp sau:

  • Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia BHTG đó.
  • Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc) của tổ chức tham gia BHTG đó.
  • Tiền gửi dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền.
  • Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia BHTG phát hành. Như vậy, khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng chi trả, BHTG

Việt Nam tiến hành chi trả bảo hiểm cho những loại tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của các cá nhân (bao gồm người cư trú và người không cư trú) tại tổ chức tham gia BHTG gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn; tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bao gồm cả tiền gửi trên tài khoản cá nhân; tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức tham gia BHTG phát hành.

  • Hạn mức chi trả bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hay một người đại diện cho pháp luật) tại một tổ chức tham gia BHTG thuộc đối tượng được bảo hiểm tối đa là 50 triệu đồng.Việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài Chính.

Như vậy, hạn mức chi trả bảo hiểm được xác định theo người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG và hạn mức này chỉ tính cho từng tổ chức huy động tiền gửi nên người gửi tiền có tiền gửi ở nhiều ngân hàng, nếu trong trường hợp các ngân hàng này cùng đóng cửa thì người gửi tiền này sẽ được nhận tiền bảo hiểm tại mỗi ngân hàng mà mình gửi tiền không quá 50 triệu Việt Nam Đồng.

Đối với các khoản tiền gửi được bảo hiểm của các đồng chủ tài khoản (bao gồm nhiều cá nhân, một hoặc nhiều cá nhân và tổ chức, nhiều tổ chức) sẽ được coi là tiền gửi của một người gửi tiền và mức chi trả tiền bảo hiểm tối đa là 50 triệu đồng sẽ được chia theo tỷ lệ bằng nhau cho các chủ đồng tài khoản. Nếu một trong các đồng chủ tài khoản có các khoản tiền gửi khác nhau được bảo hiểm tại cùng một tổ chức tham gia BHTG thì các khoản tiền gửi đó sẽ được cộng với phần được chi trả bảo hiểm theo tài khoản đồng sở hữu để xác định tính mức chi trả bảo hiểm cho tổ chức, cá nhân đó.

  • Phí bảo hiểm Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ nộp cho tổ chức tham gia BHTG để được bảo hiểm cho tiền gửi của khách hàng. Phí BHTG được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia BHTG.

Tổ chức tham gia BHTG phải nộp phí BHTG theo mức 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Phí BHTG được tính và nộp làm bốn kỳ trong một năm theo định kỳ hàng quý và được nộp vào tải khoản của BHTG Việt Nam chậm nhất vào ngày 20 tháng đầu tiên của quý thu phí BHTG. Cơ sở tính phí BHTG là toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm của quý trước quý nộp phí BHTG. Số phí BHTG phải nộp cho một quý tính bằng công thức sau:

Trong đó:

  • P là số phí BHTG phải nộp trong quý
  • S0 là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm đầu tháng thứ nhất của quý trước quý thu phí BHTG
  • S1, S2, S3 là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm ở cuối các tháng thứ nhất, thứ hai, thứ ba của quý trước sát với quý thu phí BHTG.

Việc điều chỉnh mức phí BHTG theo loại hình tổ chức tham gia BHTG hoặc trên cở sở đánh giá, xếp loại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài Chính. BHTG Việt Nam có trách nhiệm kiểm tra tình hình nộp phí BHTG tại tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm truy thu số phí còn thiếu hoặc thoái thu đối với số phí nộp thừa trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày BHTG Việt Nam phát hiện có sự thiếu chính xác trong việc tính và nộp phi. Đối với tổ chức tham gia BHTG vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm theo quy định, ngoài việc nộp đủ số phí còn thiếu, phải chịu phạt mỗi ngày nộp chậm 0,1% số tiền nộp chậm.

1.4. Nội dung hoạt động Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg, ngày 28/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức BHTG Việt Nam thực hiện những nghiệp vụ chính sau:

  • Thu phí BHTG của các tổ chức tham gia BHTG theo quy định.
  • Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định.
  • Theo dõi giám sát và kiểm tra việc chấp hành quy định tại các Nghị định của Chính phủ về BHTG và các quy định trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG.
  • Hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm khi có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt.
  • Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản.
  • Kiến nghị với các Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về BHTG.
  • Tuyên truyền về BHTG đối với công chúng; tổ chức tập huấn, đào tạo và tư vấn về nghiệp vụ liên quan đến BHTG.
  • Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực hoạt động của BHTG Việt Nam và của các tổ chức tham gia BHTG.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ

2. Tình hình hoạt động của Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

BHTG Việt Nam hoạt động nhằm mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống ngân hàng thông qua hai chức năng cơ bản là thực hiện giám sát hoạt động các tổ chức tham gia BHTG và thực hiện cho vay hỗ trợ đối với các tổ chức tín dụng gặp khó khăn. Để đánh giá tình hình thực hiện chức năng, nhịêm vụ của BHTG Việt Nam, chúng ta sẽ đánh giá thông qua các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức này trong 6 năm hoạt động vừa qua theo nội dụng hoạt động được quy định tại Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg, ngày 18/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ.

2.1. Công tác cấp chứng nhận bảo hiểm

Tổ chức tín dụng chỉ được coi là đã tham gia BHTG khi được tổ chức BHTG Việt Nam cấp giấy chứng nhận BHTG. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và để minh bạch hóa hoạt động nghiệp vụ, việc cấp giấy chứng nhận BHTG được BHTG Việt Nam thực hiện thường xuyên và theo đúng quy định. Theo thông tư số 03/2026/TT-NHNN các tổ chức tham gia BHTG phải hoàn tất thủ tục tham gia BHTG trước khi bắt đầu tiến hành hoạt động nhận tiền gửi. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng kí tham gia BHTG, BHTG Việt Nam có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho tổ chức tham gia BHTG. Giấy chứng nhận BHTG gồm những nội dung sau:

  • Tuyên bố của BHTG Việt Nam nhận bảo hiểm đối với các khoản tiền gửi tại tổ chức được bảo hiểm.
  • Các loại tiền được bảo hiểm.
  • Nguồn luật điều chỉnh hoạt động của BHTG Việt Nam là Nghị định 89/2009/NĐ-CP, Nghị định 109/2005/NĐ-CP và Thông tư số 03/2026/TT-
  • Ngày bắt đầu bảo hiểm tiền gửi.
  • Ngày phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm tiền gửi.
  • Biểu tượng của BHTG Việt

Từ năm 2000-2005, BHTG Việt Nam đã cấp giấy chứng nhận cho 1091 đơn vị, nhưng tính đến cuối năm 2005 chỉ có 990 đơn vị được cấp giấy chứng nhận hiện đang tham gia vào tổ chức BHTG Việt Nam. Tình hình này là do trong quá trình hoạt động, do hoạt động không hiệu quả và không đảm bảo tuân thủ đúng quy định BHTG nên 101 đơn vị đã bị BHTG Việt Nam thu hồi giấy chứng nhận BHTG. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

  • Biểu đồ 1: Số lượng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Như vậy, ngay trong năm đầu tiên đi vào hoạt động, BHTG Việt Nam đã nhanh chóng tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức tham gia BHTG và đã có 1026 tổ chức tín dụng tham gia BHTG Việt Nam. Nhưng giai đoạn 2001-2003, số lượng các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam đã giảm xuống, cụ thể năm 2001 giảm còn 984 tổ chức, năm 2002 còn 970 tổ chức và năm 2003 chỉ còn 961 tổ chức. Nguyên nhân là do trong thời gian đầu BHTG Việt Nam mới hoạt động, một số tổ chức tín dụng vẫn chưa thực sự chấp hành đúng các quy định của BHTG và những quy định về an toàn hoạt động (trong đó có 33 Quỹ tín dụng nhân dân bị giải thể) nên dẫn đến việc bị BHTG Việt Nam thu hồi giấy chứng nhận BHTG. Cũng trong thời gian này, hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện công cuộc cải tổ, cải cách cơ cấu nên một số ngân hàng thương mại cổ phần đã được mua lại hoặc được sáp nhập với các ngân hàng khác để tăng cường năng lực hoạt động khiến số lượng tổ chức tham gia BHTG Việt Nam giảm.

Từ năm 2004, số lượng các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam tăng trở lại, năm 2004 có 969 tổ chức, năm 2005 tăng lên 990 tổ chức. Nguyên nhân là do hiệu quả tích cực của hoạt động cải tổ hệ thống ngân hàng từ năm 2001 và những đóng góp to lớn của BHTG Việt Nam trong việc ổn định hệ thống tài chính, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn và hiệu quả, nhiều tổ chức tín dụng mới được thành lập. Bên cạnh đó, Nghị định 109/2005/NĐ-CP được ban hành đã có thay đổi trong việc quy định tổ chức tín dụng tham gia BHTG với Nghị định 89/2009/NĐ-CP, mở rộng đối tượng được bảo hiểm (khoản 2 điều 1). Tại Nghị định 89 quy định “tiền gửi được bảo hiểm là Đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG”, tại Nghị định 109 ngoài cá nhân, đối tượng được bảo hiểm đã mở rộng thêm gồm: hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Như vậy, số người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi được bảo hiểm sẽ tăng lên đáng kể, điều này là phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Năm 2005 BHTG Việt Nam đã cấp mới chứng nhận bảo hiểm tiền gửi cho 24 tổ chức nhận tiền gửi, cấp đổi cho hơn 73 đơn vị, cấp bổ sung cho 200 đơn vị mạng lưới, nâng tổng số tổ chức tham gia BHTG lên 990 tổ chức, trong đó bao gồm các loại hình: 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 33 Ngân hàng thương mại cổ phần, 4 Ngân hàng liên doanh, 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, 919 Quỹ tín dụng nhân dân.

  • Công tác giám sát từ xa Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Giám sát từ xa luôn là một trong những hoạt động chủ chốt của tổ chức BHTG Việt Nam trong vai trò ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng. Hoạt động giám sát của BHTG Việt Nam được tiến hành một cách thường xuyên đối với 100% tổ chức tham gia BHTG và được coi là hệ thống đánh giá những rủi ro tiềm ẩn của tổ chức tham gia bảo hiểm, từ đó cảnh báo sớm và đề xuất biện pháp giúp họ khắc phục và phòng ngừa. Vì hoạt động giám sát từ xa luôn gắn liền với các thông tin báo cáo của các tổ chức tham gia BHTG, các văn bản pháp quy Nhà nước nên BHTG Việt Nam luôn chú trọng công tác nghiên cứu, thu thập các văn bản chế độ, thu thập thông tin, tài liệu. Kết quả giám sát thời gian qua đã phát hiện 4.638 lượt tổ chức tham gia BHTG có vi phạm trong hoạt động, trong đó số lượt vi phạm các quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng chiếm 83,7%. Trong quá trình giám sát, tổ chức BHTG Việt Nam cũng luôn thông báo những thông tin rủi ro cho các đơn vị liên quan theo dõi, đôn đốc, xử lý vì vậy nên đã có tác dụng lớn củng cố hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG.

BHTG Việt Nam cũng luôn quan tâm đến việc cứu xây dựng hệ thống thông tin quản lý khách hàng phục vụ công tác tiếp nhận, xử lý thông tin đầu vào của các tổ chức tham gia bảo hiểm. Để chuẩn bị cho những bước đổi mới trong hoạt động giám sát, từ giữa năm 2005, BHTG Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng đề án giám sát từ xa theo mô hình CAMELS với các tiêu chí giám sát theo chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam như tiêu chí về vốn, chất lượng, tài sản có, huy động vốn và cho vay, dự phòng rủi ro, kết quả kinh doanh và các tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng. Đề án này hứa hẹn sẽ đem lại cho tổ chức BHTG Việt Nam nhiều thành công và hiệu quả trong công tác giám sát từ xa.

2.3. Công tác kiểm tra tại chỗ

Hoạt động kiểm tra tại chỗ của BHTG Việt Nam có một vị trí quan trọng trong chương trình giám sát tổ chức nhận tiền gửi được bảo hiểm vì chỉ có thông qua hoạt động kiểm tra tại chỗ mới đánh giá được thực trạng của tổ chức tham gia BHTG từ đó uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động ngân hàng, đặc biệt là các quỹ tín dụng nhân dân và ngân hàng cổ phần.

Kể từ năm 2000 đến nay, sau 6 năm hoạt động, BHTG Việt Nam đã thực hiện thành công 1.611 cuộc kiểm tra trực tiếp đối với tổ chức tham gia BHTG trong cả nước. Đặc biệt trong 2 năm gần đây công tác này càng được chú trọng. Năm 2004, BHTG Việt Nam tiến hành 440 cuộc kiểm tra tại chỗ (bao gồm 1 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 413 Quỹ tín dụng nhân dân, 12 Ngân hàng thương mại cổ phần, 11 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 3 Ngân hàng liên doanh). Qua công tác này, BHTG Việt Nam đã phát hiện 176 đơn vị tính sai số phí bảo hiểm theo quy định, 1 Ngân hàng thương mại cổ phần và 222 Quỹ tín dụng nhân dân không đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Năm 2005, BHTG Việt Nam đã đổi mới về Tổ chức phối hợp trong công tác kiểm tra giữa Trụ sở chính và Chi nhánh để có thay đổi lớn về quy mô và chất lượng kiểm tra. Đồng thời, BHTG Việt Nam cũng xây dựng kế hoạch kiểm tra việc tuân thủ các quy định về BHTG và việc chấp hành các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng với nội dung phù hợp với đối tượng nhóm khách hàng. BHTG Việt Nam đã thực hiện 300 cuộc kiểm tra đối với tổ chức tham gia BHTG và chi nhánh trực thuộc; hoàn thành việc kiểm tra đối với 02 hệ thống ngân hàng thương mại lớn là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam; 16 Ngân hàng thương mại cổ phần; 09 Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 4 công ty tài chính và 96 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Mặc dù số cuộc kiểm tra tại chỗ của BHTG Việt Nam năm 2005 ít hơn năm 2004 nhưng mở rộng hơn đối với cả Trụ sở chính và các Chi nhánh trực thuộc.

Trong quá trình kiểm tra tại chỗ, BHTG Việt Nam đã tiến hành xử lý và xử phạt đối với các đơn vị tính sai số phí BHTG theo đúng quy định, yêu cầu các tổ chức sai phạm phải nộp đủ số phí bảo hiểm còn thiếu (kết quả kiểm tra tại chỗ năm 2005 đã truy thu gần 25 tỷ đồng tiền phí nộp thiếu). Đối với các tổ chức vi phạm an toàn hoạt động ngân hàng, tổ chức BHTG Việt Nam đã thông báo và phối hợp với Ngân hàng Nhà nước đôn đốc chấn chỉnh sai phạm. Nhờ vậy mà sau 6 năm BHTG Việt Nam hoạt động, các tổ chức tín dụng ngày càng tuân thủ chặt chẽ các quy định hoạt động ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã hoạt động an toàn, hiệu quả hơn thể hiện qua số lượng các tổ chức tín dụng hoạt động không hiệu quả và bị phá sản đã giảm hẳn (trong số 33 Quỹ tín dụng nhân dân bị giải thể trong giai đoạn 2000-2026, năm 2004 chỉ có 2 tổ chức, năm 2005 không có tổ chức nào bị giải thể).

2.4. Công tác thu phí bảo hiểm tiền gửi Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Phí BHTG được dùng để lập Quỹ dự phòng nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu chi trả tiền cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG Việt Nam bị giải thể, phá sản. Vì vậy, để đảm bảo quỹ đủ lớn mạnh, có khả năng chi trả toàn bộ tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, BHTG Việt Nam luôn chú trọng công tác thu phí và xác định việc thu phí bảo hiểm phải chính xác, kịp thời và tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Từ khi thành lập đến nay, phí bảo hiểm được tính và áp dụng theo cơ chế phí đồng hạng là 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Việt Nam, được quy định đóng 4 lần trong năm, đóng vào tháng đầu mỗi quý. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu về ngân hàng, hoạt động ngân hàng ở Việt Nam có độ rủi ro trung bình, và tham chiếu biên độ về tỷ lệ phí BHTG hàng năm áp dụng phổ biến trên thế giới từ 0,00%-2,00% tổng giá trị tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại mỗi tổ chức tham gia BHTG thì tỷ lệ phí BHTG hàng năm ở Việt Nam được xác định ở mức 0,15% tính trên tổng số dư bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại mỗi tổ chức tham gia BHTG Việt Nam là vừa phải, không cao.

Để đảm bảo thu phí BHTG được chính xác, đúng quy định, những năm vừa qua BHTG Việt Nam đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp như ban hành hướng dẫn quy định tính và nộp phí áp dụng đối với các tổ chức tham gia BHTG, kiểm tra tại chỗ việc tính và nộp phí của tổ chức tham gia BHTG, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm nên thời gian qua hoạt động thu phí BHTG đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tính đến hết quý II/2026, tổng số phí bảo hiểm tiền gửi mà BHTG Việt Nam đã thu được để lập quỹ dự phòng nghiệp vụ là hơn 900 tỷ đồng, đây là nguồn tài chính quan trọng để tăng cường năng lực tài chính cho hoạt động BHTG tại Việt Nam.

  • Bảng 3: Kết quả thu phí bảo hiểm tiền gửi

Từ bảng số liệu về kết quả thu phí BHTG của các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam có thể thấy về mặt số tuyệt đối tổng số phí thu năm sau luôn cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 56%/năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng cao nhất là năm 2001/2000 đạt gần 150,2%/năm, nhưng giảm và ở mức thấp nhất năm 2002/2001 đạt 27,7%/năm, và sau đó tốc độ tăng trưởng tiếp tục tăng trở lại vào những năm tiếp theo, năm 2005/2004 đạt 31,3%.

Do Việt Nam vẫn đang áp dụng tỷ lệ phí đồng hạng nên nếu chúng ta đối chiếu với số lượng các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam giai đoạn 2000-2005 gần như không tăng đáng kể, thậm chí có năm số lượng tổ chức tham gia bảo hiểm còn giảm so với năm trước (2001-2003), thì có thể thấy phí bảo hiểm tiền gửi tăng chủ yếu do mức tăng đáng kể của lượng tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam. Thực tế đó đã cho thấy hoạt động hiệu quả của các ngân hàng trong thời gian qua, đặc biệt là trong hoạt động huy động tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm và đã cho thấy tác dụng tích cực của hoạt động BHTG tới việc huy động vốn cho đầu tư, phát triển nói chung. Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn được thể hiện qua mức tăng số lượng phí BHTG thu được tại mỗi tổ chức tham gia BHTG Việt Nam; cụ thể là so với năm 2000, năm 2005 các Ngân hàng thương mại Nhà nước tăng 7,4 lần, các Ngân hàng thương mại cổ phần tăng 8,4 lần, các Quỹ tín dụng nhân dân tăng 8,5 lần, ngân hàng nước ngoài tăng 18 lần, ngân hàng liên doanh tăng 9,8 lần, công ty tài chính tăng 1,2 lần. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Do tính tiện lợi và dễ triển khai, hình thức tính phí BHTG theo tỷ lệ phí bảo hiểm đồng hạng rất phù hợp với thực tế của Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động của tổ chức BHTG Việt Nam và khi các yếu tố đánh giá ngân hàng chưa phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên cơ chế này đã bộc lộ nhiều bất cập như không tạo sự bình đảng giữa các tổ chức tham gia BHTG và có thể khiến các ngân hàng yếu kém ỷ lại vào sự đóng góp tài chính từ các ngân hàng lớn hoạt động hiệu quả. Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 01/9/2009 về bảo hiểm tiền gửi cũng đã có quy định mới, theo đó, BHTG Việt Nam có thể áp dụng mức phí bảo hiểm phải nộp khác nhau giữa các tổ chức nhận tiền gửi, nhưng đến nay chưa có hướng dẫn thi hành cụ thể cách tính phí này.

  • Biểu đồ 2: Cơ cấu tổng phí bảo hiểm tiền gửi giai đoạn 2000-2005

Về cơ cấu tổng phí BHTG trong giai đoạn 2000-2005, phí BHTG hầu như do 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước đóng góp chiếm 78%, 50 ngân hàng thương mại cổ phần đóng góp 17%, 900 Quỹ tín dụng nhân dân nhưng chỉ đóng góp được 4% trong tổng phí bảo hiểm. Kết quả này cho thấy thị phần tín dụng gần như thuộc về các Ngân hàng thương mại Nhà nước và cho thấy vai trò chủ đạo của các ngân hàng này trong hoạt động huy động vốn cho đầu tư và phát triển tại Việt Nam. Vì vậy, đối với các Ngân hàng thương mại Nhà nước, BHTG Việt Nam luôn lưu ý giám sát chặt chẽ, đảm bào an toàn, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này và có chính sách ưu tiên hỗ trợ khi các ngân hàng gặp khó khăn.

2.5. Công tác chi trả tiền bảo hiểm và thanh lý các tổ chức tín dụng bị giải thể

  • Công tác chi trả tiền bảo hiểm

Công tác chi trả tiền BHTG có vai trò đặc biệt quan trọng vì đây chính là hoạt động để BHTG Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của người gửi tiền một cách trực tiếp. Việc chi trả tiền BHTG được quy định trong Nghị định 89 là: Khi tổ chức tham gia BHTG bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó bị mất khả năng thanh toán, BHTG Việt Nam sẽ tiến hành việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền. Trong vòng 15 ngày kể từ khi có văn bản chấm dứt hoạt động, tổ chức tham gia BHTG phải có danh sách người gửi tiền tại tổ chức mình nộp cho BHTG Việt Nam. Căn cứ trên danh sách đó, BHTG Việt Nam sẽ xác minh lại và tiến hành chi trả, việc chi trả sẽ được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Người gửi tiền phải đăng ký nhận tiền bảo hiểm với BHTG Việt Nam và được lựa chọn hình thức chi trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Thực hiện việc chi trả tiền BHTG, BHTG Việt Nam luôn chú trọng việc chi trả kịp thời, đầy đủ và thuận tiện tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG bị rút giấy phép, giải thể, phá sản nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền. Như vậy, về mặt thủ tục hành chính, việc chi trả tiền bảo hiểm là dễ dàng và thuận tiện, đảm bảo được quyền lợi cho người gửi tiền đồng thời củng cố được lòng tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng.

Từ năm 2000-2005, hạn mức chi trả tiền BHTG là 30 triệu đồng/người, hạn mức này được đánh giá là cao so với thế giới. Để so sánh hạn mức chi trả tiền bảo hiểm ở các quốc gia khác nhau thông thường căn cứ vào thu nhập quốc nội bình quân đầu người của mỗi quốc gia. Hạn mức chi trả tiền bảo hiểm bình quân trên thế giới là 3 lần thu nhập quốc nội bình quân/người/năm, ở châu Phi là 6,2 lần, châu Á là 4 lần, châu Âu là 1,6 lần, châu Mỹ là 3,7 lần. Hạn mức chi trả tiền bảo hiểm ở Việt Nam giai đoạn này là 30 triệu đồng, tương đương 5,5 lần thu nhập quốc nội bình quân đầu người. Với mức hạn mức chi trả này, thời gian qua công tác chi trả tiền bảo hiểm của BHTG Việt Nam đã đạt được kết quả đáng khích lệ.

  • Biểu đồ 3: Kết quả chi trả tiền gửi được bảo hiểm Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Sau 6 năm hoạt động, tổ chức BHTG Việt Nam đã tiến hành chi trả tiền bảo hiểm cho 1.432 người gửi tiền tại 33 tổ chức tham gia BHTG Việt Nam bị giải thể bắt buộc trên 10 địa bàn trên cả nước với tổng số tiền chi trả là 16,34 tỷ đồng, tương đương 1.902 món tiền gửi. Số tiền bảo hiểm chủ yếu được chi trả trong 3 năm đầu tiên (2000-2003) từ khi BHTG Việt Nam đi vào hoạt động (gần 13.8 tỷ đồng cho 1.235 người gửi tiền). Việc chi trả tiền gửi được bảo hiểm được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật đã góp phần bảo đảm cho việc giải thể các tổ chức tham gia BHTG Việt Nam diễn ra an toàn, duy trì lòng tin của người gửi tiền, và ổn định hoạt động của hệ thống ngân hàng. Nhờ vậy, số lượng các tổ chức tín dụng bị bắt buộc giải thể đã giảm hẳn, năm 2004 chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho 124 người tại 2 tổ chức bị giải thể với 162 món tiền gửi và số tiền là 2,089 tỷ đồng tương đương 89,12% tổng số tiền gửi tại 2 tổ chức đó. Riêng năm 2005 không có tổ chức nào bị giải thể phá sản hay chấm dứt hoạt động, và BHTG Việt Nam cũng không phải thực hiện chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền.

Từ năm 2026, thi hành Nghị định 109/2005/NĐ-CP, hạn mức chi trả tiền bảo hiểm được nâng lên là 50 triệu Đồng Việt Nam, tương đương 7,4 lần thu nhập quốc nội bình quân đầu người/ năm của Việt Nam. Như vậy với quy định này và với mức độ, qui mô tiền chi trả bảo hiểm được BHTG Việt Nam thực hiện thời gian qua đã thể hiện chính sách BHTG ở Việt Nam đảm bảo quyền lợi của đa số người gửi tiền, đặc biệt là tầng lớp người gửi tiền có thu nhập thấp, góp phần tích cực ổn định và củng cố hoạt động ngân hàng.

  • Công tác thanh lý các tổ chức tín dụng bị giải thể

Để có thể bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, BHTG Việt Nam luôn tích cực tham gia vào công tác thanh lý các tổ chức tín dụng bị phá sản nhằm tận thu tài sản cho Nhà nước và trả nốt tiền bảo hiểm cho người gửi tiền theo như quy định khoản 2, điều 15 Nghị định 89/2009/NĐ-CP: “Số tiền gửi (bao gồm cả gốc và lãi) vượt qua mức tối đa được tổ chức BHTG tiền gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG phù hợp với quy định của Luật phá sản”. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Theo khoản 6, khoản 11, điều 1 Nghị định số 109/2005/NĐ-CP sửa đổi bổ sung điều 20 Nghị định 89/2009/NĐ-CP, đã khẳng định BHTG Việt Nam trở thành chủ nợ của tổ chức nhận tiền gửi bị giải thể với số tiền bảo hiểm đã chi trả và xác định rõ vị trí chủ nợ của BHTG Việt Nam đối với các khoản hỗ trợ tài chính: khoản hỗ trợ tài chính này được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tham gia BHTG. Đồng thời, BHTG Việt Nam được phép tham gia vào quá trình, quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của pháp luật.

  • Biểu đồ 4: Kết quả thanh lý các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam luỹ kế đến năm 2005

Tính đến năm 2005, BHTG Việt Nam đã trực tiếp theo dõi và tham gia thanh lý 33 tổ chức tín dụng bị giải thể trên địa bàn 10 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng thu thanh lý đạt 1,998 tỷ đồng, nâng mức lũy kế thu thanh lý đến nay là 16,323 tỷ đồng; tổng chi thanh lý là 1,951 tỷ đồng, lũy kế đến nay là 14,607 tỷ đồng, trong đó thanh toán cho BHTG Việt Nam là 1,348 tỷ đồng, lũy kế đến nay là 2,724 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức thu thanh lý mới chỉ bằng 1/3 số phải thu (49,7 tỷ đồng) nên BHTG Việt Nam cần phải phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp tục công tác thanh lý hiệu quả hơn nữa để có thể truy thu tài sản cho Nhà nước.

  • Công tác hỗ trợ tài chính

Hỗ trợ tài chính là một trong hai chức năng cơ bản của BHTG Việt Nam thực hiện mục tiêu ổn định hoạt động các tổ chức tham gia BHTG nên BHTG Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng và xây dựng các đề án thực hiện sao cho có hiệu quả nhất. Nhưng do năng lực tài chính còn hạn chế và do chưa có cơ chế xử lý rủi ro thỏa đáng nên hoạt động này chưa được BHTG Việt Nam thực hiện rộng rãi.

Để hỗ trợ các tổ chức trong trường hợp gặp khó khăn về vốn, thực hiện vai trò của BHTG, góp phần ổn định hoạt động của hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia, từ tháng 8/2005, BHTG Việt Nam đã triển khai thí nghiệm nghiệp vụ hỗ trợ tài chính trên địa bàn 3 Chi nhánh BHTG khu vực: Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc Bộ. BHTG Việt Nam đã tiếp nhận và xử lý trên 32 bộ hồ sơ đề nghị vay vốn, tuy nhiên, chỉ có 01 đơn vị là Quỹ tín dụng Lộc Sơn – Lâm Đồng đủ điều kiện vay hỗ trợ và đã được BHTG Việt Nam chấp thuận cho vay 3 tỷ đồng, hiện đã giải ngân được 2,6 tỷ đồng.

Sau một thời gian thực hiện thử nghiệm, BHTG Việt Nam đã tiến hành sơ kết, rút kinh nghiệm và quyết định mở rộng triển khai trên địa bàn toàn quốc đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Điều kiện được vay hỗ trợ tài chính của BHTG Việt Nam dược quy định rõ trong Quyết định số 199/QĐ-BHTG11 ngày 20/7/2005 của Tổng giám đốc BHTG Việt Nam về Ban hành quy định tạm thời về cho vay hỗ trợ đối với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở như: Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở xếp loại A thực sự khó khăn về khả năng chi trả vì lý do khách quan nhưng chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, được BHTG Việt Nam xác định việc giải thể có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế-xã hội; mức cho vay tối đa gấp 3 lần vốn tự có của quỹ tín dụng theo lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước tại thời điểm cho vay với thời hạn tối đa 03 tháng và chỉ cho vay một lần/năm sau khi đã hoàn trả hết nợ cũ (nếu có) cho BHTG Việt Nam.

Vì hoạt động hỗ trợ có ý nghĩa rất lớn đối với các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng gặp khó khăn, hoạt động này cần được quan tâm và thực hiện rộng rãi có hiệu quả hơn nữa vì đây cũng chính là biện pháp hữu hiệu giúp các ngân hàng củng cố và tâng cường hoạt động, tự vượt qua khó khăn tiếp tục hoạt động kinh doanh, do đó đảm bảo được sự phát triển an toàn và hiệu quả.

3. Đánh giá hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Với mục tiêu duy trì ổn định hoạt động các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển lành mạnh hoạt động ngân hàng, hoạt động BHTG ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Thực trạng hoạt động của tổ chức BHTG Việt Nam trong 6 năm qua đã phần nào cho thấy kết quả thực hiện chưc năng, nhiệm vụ của tổ chức này. Nhưng để có thể đánh giá một cách chính xác hơn về hoạt động BHTG của tổ chức BHTG Việt Nam, xin được đưa ra những đánh giá về thành tựu đạt được trong việc thực hiện mục tiêu của BHTG và những hạn chế cần khắc phục khiến BHTG Việt Nam chưa thực sự tương xứng với vai trò và nhiệm vụ của mình.

3.1. Thành tựu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Sau 6 năm hoạt động, BHTG Việt Nam đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Trong thời gian qua, BHTG Việt Nam luôn nỗ lực hết mình thực hiện các mục tiêu, chức năng của tổ chức và đã đạt được những thành tựu ban đầu đáng khích lệ.

  • Hoàn thiện công tác quản trị điều hành

Trong công tác quản trị điều hành thời gian qua, BHTG Việt Nam đã có nhiều thay đổi nhằm xác định rõ vị thế của mình trong hệ thống giám sát tài chính ngân hàng quốc gia như tách bạch công tác quản trị và điều hành; phân cấp, phân quyền, gắn liền quyền hạn và trách nhiệm. Giữa các phòng, ban của Trụ sở chính và các Chi nhánh khu vực BHTG Việt Nam đã có sự phối hợp công tác chặt chẽ trong giải quyết công việc, đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả trong toàn hệ thống.

BHTG Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quản trị quan trọng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoàn thành việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 01/9/2009 của Chính phủ về BHTG. Ngày 24/8/2005, Nghị định số 109/2005/NĐ-CP về BHTG được Chính phủ ký ban hành, theo đó, quyền lợi của các đối tác tham gia trực tiếp trong chính sách BHTG đã được quan tâm nhiều hơn, thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ của BHTG Việt Nam, tiến tới xây dựng Luật BHTG. Ngày 25/4/2026, Thông tư số 03/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được ban hành, hướng dẫn thi hành nội dung của Nghị định số 89/2009/NĐ-CP và Nghị định số 109/2005/NĐ-CP đã cụ thể hóa hơn hoạt động của BHTG, đưa hoạt động BHTG tới sâu rộng quần chúng nhân dân. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Cũng trong năm 2005, BHTG Việt Nam đã hoàn thành xây dựng Chiến lược Phát triển giai đoạn 2026-2035, và xác định Chiến lược Phát triển dài hạn có ý nghĩa quyết định trong việc tái xác định vị thế của BHTG Việt Nam trong hệ thống giám sát tài chính quốc gia, tránh nguy cơ tụt hậu. Đồng thời Chiến lược này đã đồng bộ hóa định hướng phát triển của BHTG Việt Nam với chiến lược phát triển ngành ngân hàng, tài chính và định hưóng phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới của Việt Nam. Chiến lược Phát triển đang được đệ trình Chính phủ phê duyệt thực hiện.

  • Hiệu quả trong hoạt động nghiệp vụ

Hoạt động của khối nghiệp vụ luôn được BHTG Việt Nam triển khai đạt kết quả cao. Trước hết, thông qua hoạt động nghiệp vụ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và thu phí BHTG bắt buộc đối với tất cả các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, BHTG Việt Nam đã tạo lập được một quỹ dự phòng nghiệp vụ riêng biệt và quỹ đang ngày càng lớn mạnh. Cùng với nguồn vốn điều lệ 1000 tỷ đồng được cấp từ Ngân sách Nhà nước, quỹ dự phòng nghiệp vụ của BHTG Việt Nam đã có thể đảm bảo đáp ứng cho công tác hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tín dụng gặp khó khăn và chi trả tiền gửi cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm khi tổ chức này bị phá sản. Ngoài ra, quy định mới tại Nghị định số 109/2005/NĐ-CP sửa đổi Điều 19 Nghị định 89/2009/NĐ-CP đã cho phép BHTG Việt Nam được huy động vốn trong trường hợp vốn hoạt động của tổ chức BHTG tạm thời không đủ để hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm gặp khó khăn dưới các hình thức như vay hoặc tiếp nhận vốn hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ, phát hành Trái phiếu, vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ.

Công tác giám sát kiểm tra là chức năng cơ bản của BHTG Việt Nam trong việc thực hiện mục tiêu ổn định hệ thống tài chính quốc gia, được đánh giá thực sự là kênh kiểm soát hiệu quả đối với hoạt động của tổ chức tín dụng, góp phần giám sát, cảnh báo các rủi ro tiềm ẩn và việc tuân thủ trong hoạt động ngân hàng.

Về công tác chi trả tiền bảo hiểm, BHTG Việt Nam đã thực hiện chi trả kịp thời và đầy đủ cho 33 quỹ tín dụng nhân dân bị giải thể, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, góp phần quan trọng trong ngăn chặn ảnh hưởng dây chuyền đối với hoạt động của tổ chức tín dụng, ổn định chính trị xã hội. Mặc dù số lượng người được chi trả bảo hiểm không nhiều nhưng chính điều này đã cho thấy tác dụng tích cực của BHTG Việt Nam trong công tác ổn định tài chính quốc gia nếu so sánh với con số hơn 8000 Hợp tác xã tín dụng nông thôn và Quỹ tín dụng đô thị phải đóng cửa trên phạm vi cả nước giai đoạn 1980-2000. Tính đến năm 2005, trong tổng số 905 quỹ tín dụng nhân dân có tới 891 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động bình thường, chiếm tỷ lệ 98,5%, 14 quỹ hoạt động yếu kém và không có quỹ nào có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Các chỉ tiêu an toàn hoạt động tiếp tục tăng cao và bền vững thể hiện qua tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm sau cao hơn năm trước.

Hoạt động đầu tư phát triển liên tục tăng mạnh, tuân thủ các quy định của Nhà nước về đầu tư và luôn đảm bảo sự an toàn trong hoạt động, đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho BHTG Việt Nam khi cần thiết trong những năm qua không chỉ nâng cao năng lực tài chính, mang lại lợi nhuận cho BHTG Việt Nam mà còn có tác dụng thúc đẩy hoạt động ngân hàng.

Những kết quả cao đạt được trong hoạt động nghiệp vụ đã có tác dụng trực tiếp tới hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, góp phần củng cố hoạt động ngân hàng thời gian qua, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng có quy mô hoạt động hạn chế củng cố tăng cường hoạt động. Còn đối với 33 Quỹ tín dụng nhân dân gặp khó khăn không thể có giải pháp tháo gỡ để tiếp tục duy trì hoạt động đã được chấm dứt hoạt động kịp thời và không gây ảnh hưởng tới các ngân hàng khác.

Với nguồn vốn ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn của Việt Nam, việc các hệ thống ngân hàng đóng góp vào quỹ BHTG để tài trợ, giải quyết khó khăn của các ngân hàng không thể tiếp tục hoạt động là một giải pháp hữu hiệu, đặc biệt là trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Ngân hàng có khó khăn phải chấm dứt hoạt động sẽ được BHTG Việt Nam giải quyết chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm một cách nhanh gọn bằng chính nguồn vốn tích luỹ của cộng đồng các tổ chức tham gia BHTG. Cơ chế chi trả tương đối đơn giản và kịp thời mà BHTG Việt Nam thực hiện đã tạo điều kiện cho các ngân hàng mạnh dạn chấm dứt hoạt động nếu điều đó là cần thiết và không gây ảnh hưởng bất lợi đến các ngân hàng khác và người gửi tiền.

  • Phát triển nguồn nhân lực Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

BHTG Việt Nam đã xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực phù hợp với lộ trình tái cơ cấu của tổ chức, đặc biệt luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ nhân viên. Cho đến nay, BHTG Việt Nam đã tổ chức 09 khóa đào tạo tập trung về tin học văn phòng, tin học ứng dụng cho hơn 50% cán bộ, thường xuyên cử cán bộ tham gia khóa học đào tạo, hội thảo trong và ngoài nước, nghiên cứu các nội dung xu hướng phát triển hệ thống ngân hàng và BHTG khu vực và quốc tế.

BHTG Việt Nam cũng đã xây dựng đầy đủ cơ cấu Ban, phòng tham mưu, đảm bảo yêu cầu xử lý tốt công việc trong hoạt động quản trị và điều hành hiện nay. Với việc thành lập 6 Chi nhánh tại 6 khu vực trọng điểm, BHTG Việt Nam đã kịp thời triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đưa chính sách BHTG vào cuộc sống.

3.2. Hạn chế trong hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Trong suốt thời gian hoạt động, tổ chức BHTG Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về các hoạt động nghiệp vụ, công tác quản trị điều hành, về nguồn nhân lực. Những thành tựu này đã đem lại cho BHTG Việt Nam thành công nhất định trong thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, ổn định hệ thống tài chính, tạo điều kiện phát triển hệ thống ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó, BHTG Việt Nam vẫn còn một số hạn chế trong hoạt động cần khắc phục khiến cho tổ chức chưa thực sự thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của một tổ chức BHTG.

  • Cơ sở hạ tầng pháp lý chưa đồng bộ, chưa tương xứng với nhiệm vụ của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và thông lệ quốc tế

Hiện nay, Luật BHTG chưa ra đời, điều chỉnh hoạt động BHTG vẫn chỉ là các văn bản dưới luật ở mức Nghị định Chính phủ, Thông tư nên pháp luật về BHTG chưa tương xứng với các luật khác điều chỉnh các lĩnh vực liên quan, vì vậy còn có nhiều hạn chế nhất định về hiệu lực pháp lý.

Hơn nữa, giữa các văn bản pháp luật liên quan còn thiếu sự đồng bộ, ví dụ như tính không rõ ràng của pháp luật về trật tự ưu tiên thanh toán khi tổ chức tín dụng tham gia BHTG Việt Nam bị giải thể. Theo như quy định của Nghị định số 109/2005/NĐ-CP và Thông tư số 03/2026/TT-NHNN: “Khoản hỗ trợ tài chính của BHTG Việt Nam được ưu tiên trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tín dụng tham gia BHTG”. Nhưng tại điều 36 Luật Phá sản 2004 quy định: “nếu doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh những vẫn không phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi thực hiện việc phân chia tài sản”. Tại điều 96 Luật các tổ chức tín dụng năm 2007 và Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 quy định: “trong trường hợp cấp bách để đảm bảo khả năng chi trả tiền gửi của khách hàng, tổ chức tín dụng có thể được ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng khác cho vay đặc biệt, khoản cho vay đặc biệt này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tín dụng”. Như vậy, nếu một tổ chức tín dụng có tất cả các khoản nợ trên thì chúng ta sẽ không biết khoản nào sẽ được coi là khoản ưu tiên trước nhất.

  • Đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động của bảo hiểm tiền gửi còn hạn hẹp

Đối tượng của BHTG mới chỉ dừng lại ở mức bảo hiểm cho đồng nội tệ, chưa bảo hiểm cho đồng ngoại tệ nên hoạt động BHTG chưa bảo vệ tốt nhất cho người gửi tiền. Điều này cũng không phù hợp với thông lệ chung của quốc tế khi mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã bảo hiểm cho đồng ngoại tệ. Ngoài ra, quy định này cũng không còn phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay khi tâm lý của người dân vẫn thích giữ ngoại tệ mạnh thay vì giữ nội tệ và lượng tiền ngoại tệ chuyển về Việt Nam hàng năm (chủ yếu là kiều hối) ngày càng lớn, năm 2009 là 1200 triệu USD đến năm 2004 đạt mức 2000 triệu USD. Mặc dù việc quyết định có bảo hiểm đồng ngoại tệ hay không còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia nhưng Chính phủ cũng cần lưu tâm tới vấn đề này để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền và khuyến khích thu hút ngoại tệ cho công nghiệp hoá-hiện đại hóa đất nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

Về phạm vi bảo hiểm, việc bắt buộc tham gia BHTG chỉ dừng lại ở các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, chưa mở rộng tới các ngân hàng chính sách, tổ chức bảo hiểm nhân thọ, tổ chức nhận uỷ thác đầu tư chứng khoán, quỹ tiết kiệm bưu điện. Quy định này sẽ tạo ra một sân chơi không bình đẳng giữa những tổ chức cùng tham gia kinh doanh một loại hình dịch vụ do các tổ chức không tham gia BHTG sẽ không phải đóng phí bảo hiểm hàng năm, hơn nữa quyền lợi của chính người gửi tiền tại các tổ chức này lại không được đảm bảo.

Về nội dung hoạt động còn một số hạn chế như chất lượng giám sát kiểm tra tại chỗ chưa cao, thông tin chưa thực sự cập nhật kịp thời. Hơn nữa các cuộc kiểm tra trực tiếp thường tốn nhiều chi phí và nhân lực nên BHTG cần phải giảm bớt công tác này và tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác giám sát từ xa. Hoạt động chi trả tiền bảo hiểm còn diễn ra chậm chạp do chủ yếu chi trả bằng tiền mặt và điều này cũng khiến cho việc tái huy động các khoản tiền bảo hiểm này trở nên khó khăn. Công tác tuyên truyền còn yếu kém, thực tế sau 6 năm BHTG Việt Nam chính thức đi vào hoạt động vẫn còn rất nhiều người chưa biết đến hoạt động BHTG mặc dù hoạt động này bảo hiểm quyền lợi của chính họ.

  • Năng lực tài chính còn yếu

Năng lực tài chính của BHTG Việt Nam còn yếu, chưa thực sự bảo vệ được lợi ích của người gửi tiền một cách rộng rãi theo pháp luật. Hiện nay số vốn điều lệ là 1.000 tỷ đồng do ngân sách Chính phủ cấp, mỗi năm số tiền bổ sung cho nguồn vốn chủ sở hữu nguồn gốc từ thu phí bảo hiểm chỉ khoảng 60 tỷ đồng là con số ít ỏi; nếu như chỉ hai, ba ngân hàng lớn phá sản cùng lúc BHTG Việt Nam sẽ mất khả năng chi trả. Mặt khác, trên thế giới tỷ lệ vốn điều lệ/tổng tiền gửi được bảo hiểm tại các hệ thống BHTG dao động từ 0,5%-50% tùy thuộc vào mức độ ổn định của hệ thống tài chính từng quốc gia, càng những nước mà hệ thống tài chính kém ổn định thì tỷ lệ này càng cao. Ở Việt Nam, tỷ lệ này khoảng 1,5% là con số khá thấp so với thế giới và tình hình thực tế ở Việt Nam. Như vậy, nhu cầu tất yếu là phải tăng vốn điều lệ và tổ chức BHTG Việt Nam đang trình Chính phủ duyệt kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng vào năm 2030, tuy nhiên cũng cần xem xét việc tăng vốn hoạt động nhờ vào các nguồn khác ngoài ngân sách Chính phủ để giảm gánh nặng cho ngân sách Chính phủ và cũng tránh sự ỷ lại của các tổ chức tham gia BHTG vào ngân sách Chính phủ.

Tóm lại: Sau 6 năm chính thức đi vào hoạt động, BHTG Việt Nam về cơ bản đã thực hiện tốt hai chức năng giám sát hoạt động các tổ chức tham gia BHTG và cho vay hỗ trợ đối với các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ của BHTG là bảo vệ quyền và lợi ích hợp phấp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. BHTG Việt Nam đã và đang ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển ổn định của hệ thống tài chính nói riêng và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế, xã hội Việt Nam nói chung. Sự phát triển lớn mạnh của hoạt động BHTG trong thời gian tới tại Việt Nam là một yêu cầu khách quan và cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng buộc Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức mới, ẩn chứa nhiều rủi ro mới, nhất là trong lĩnh vực tài chính. Chính phủ Việt Nam và BHTG Việt Nam cần tiếp tục phát huy những ưu điểm của tổ chức BHTG Việt Nam và nhanh chóng khắc phục những nhược điểm, hạn chế nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động BHTG để hoạt động này tương xứng với vị thế của nó trong hệ thống ổn định tài chính quốc gia. Khóa luận: Thực trạng hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x