Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1 Giới thiệu khái quát về NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng được hình thành theo nghị định số: 53/HĐBT. Ngày 26 tháng 3 năm 1988. Từ chi nhánh Ngân hàng Nhà nước cấp huyện bóc tách ra thành hai Ngân hàng: Một bộ phận thuộc quản lý hành chính Nhà nước thành phòng Đại diện Ngân hàng Nhà nước và một bộ phận quản lý các Doanh nghiệp, hộ nông dân và nhận tiền gửi dân cư thành Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp và được gọi tên là: Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp huyện Quảng Uyên. Để thực hiện các chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng trung gian “tạo tiền” (tạo ra thanh toán).

Năm 1990, với sự ra đời của hai pháp lệnh Ngân hàng là “Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước” và “Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty Tài chính” đã phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh tín dụng, tiền tệ, cung ứng và điều hoà lưu thông tiền tệ… Với chức năng kinh doanh của các Ngân hàng thương mại; cùng với thời điểm này năm 1990, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp huyện Quảng Uyên  được đổi  tên thành  Ngân hàng Nông  nghiệp  huyện Quảng Uyên theo Quyết định số: 603/NH-QĐ, ngày 22 tháng 12 năm 1990 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đến tháng 6 năm 1998 lại đổi tên một lần nữa được gọi là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn theo quyết định số: 198/1998/QĐ-NHNN, ngày 02 tháng 6 năm 1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Cũng như chức năng của các ngân hàng thương mại khác ở Việt Nam, Chi nhánh có các chức năng như: Trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Cụ thể như: Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước; Cho vay ngắn, trung và dài hạn; Chiết khấu thương phiếu, công trái và giấy tờ có giá; Cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức điều hành. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

NHNo&PTNT Quảng Uyên có tổng số 19 cán bộ, trong đó 70% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, 30% cán bộ trình độ trung cấp. Có 60% cán bộ là đảng viên.

Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Quảng Uyên theo ngành dọc bao gồm: Giám đốc chịu trách nhiệm chung toàn ngân hàng và các trưởng phòng phụ trách các phòng ban liên quan.

Giám đốc: ( Bà Vương Thị Dung): Có nhiệm vụ chủ yếu là điều hành và quản lý mọi hoạt động của chi nhánh theo đúng pháp luật nhà nước, các thông tư, chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước và NHNo&PTNT Việt Nam.

Phòng kế hoạch kinh doanh: (Trưởng phòng: Bà Ma Thị Kiều): Phụ trách công tác kế hoạch của Chi nhánh, làm nhiệm vụ huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện một số dịch vụ ngân hàng cho khách hàng theo đúng quy định, thể lệ của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các hướng dẫn thực hiện của NHNo&PTNT Việt Nam.

Phòng kế toán và ngân quỹ: ( Trưởng phòng: Bà Nguyễn Thu Hậu): Chịu trách nhiệm về công tác tài chính và hạch toán kế toán của chi nhánh theo đúng các quy định của Nhà nước và của ngành. Là phòng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ thanh toán của các phòng ban tại chi nhánh. Thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ kho quỹ, quản lý quỹ nghiệp vụ của chi nhánh, thu chi tiền mặt, quản lý các tài sản quỹ và hồ sơ thế chấp cầm cố.

Phòng kiểm soát: (Trưởng phòng: Bà Trịnh Hồng Điệp): Chịu trách nhiệm kiểm tra toàn bộ hoạt động của các nghiệp vụ tại chi nhánh.

  • Sơ đồ 1.1: Bộ máy tổ chức NHNo&PTNT Quảng Uyên.

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Với đặc điểm là ngân hàng cấp 3 của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng có bề dày lịch sử phát triển lâu dài, các hoạt động của ngân hàng đã hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong nhiều năm qua đã thể hiện vai trò quan trọng của ngân hàng ở địa phương. Song, do đặc điểm kinh tế xã hội, trình độ dân cư còn thấp, ngân hàng được đặt trên địa bàn là huyện vùng núi còn nhiều khó khăn, nên sự phát triển của ngân hàng chưa thật sự tương xứng với tiềm năng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

  • Bảng 2.1: Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Về doanh thu, năm 2024 doanh thu của ngân hàng là 188.391 triệu đồng, tăng 5.090 triệu đồng so với năm 2023, với tỷ lệ tăng 27.77%. Năm 2025, doanh thu tăng nhẹ 7.78% so với năm 2024, lên mức 203.060 triệu đồng.

Chí phí của ngân hàng cũng biến động tăng qua các năm. Năm 2023, chi phí của ngân hàng là 151.852 triệu đồng. Năm 2024, tăng lên mức 153.693 triệu đồng, tăng 1.841 triệu đồng so với năm 2023 và tỷ lệ tăng là 12.12%. năm 2025, chi phí ngân hàng tăng 17.673 triệu đồng lên mức 171.366 triệu đồng, tăng 11.5% so với năm 2024.

Năm 2023, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng là 31.449 triệu đồng, đóng góp vào ngân sách nhà nước 7.862 triệu đồng và lợi nhuận ròng trong năm là 23.587 triệu đồng. Năm 2024, lợi nhuận sau thuế là 26.024 triệu đồng, tăng 10.33% so với năm 2023. Năm 2025, lợi nhuận sau thuế giảm 8.66% so với năm 2024 ở mức 23.771 triệu đồng, đóng góp ngân sách nhà nước 7.923 triệu đồng.

2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

2.2.1 Về tăng trưởng quy mô vốn tiền gửi huy động.

Tiền gửi của khách hàng là cơ sở để tạo lập nguồn vốn kinh doanh ổn định và vững chắc nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phát triển kinh tế địa phương.

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Quảng Uyên luôn tích cực khai thác mọi nguồn vốn trong dân cư và sử dụng lãi suất linh hoạt, coi huy động vốn là nghiệp vụ hàng đầu để đứng vững sự tồn tại và phát triển đa dạng hoá hình thức huy động kết hợp với đòn bẩy lãi suất phù hợp, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị. Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng đặc biệt là áp dụng ứng dụng tin học vào giao dịch được nhanh chóng và thuận lợi, đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng đầy đủ. Được khách hàng tin tưởng và tín nhiệm.

  • Bảng 2.2: Quy mô vốn tiền gửi huy động tại NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Qua bảng số liệu trên ta thấy, vốn huy động tiền gửi của ngân hàng có sự tăng trưởng qua các năm nhưng không đồng đều. Năm 2023, quy mô vốn tiền gửi huy động đạt 244.141 triệu đồng. Năm 2024, mặc dù nền kinh tế chung còn trong giai đoạn khó khăn, song hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHNo&PTNT Quảng Uyên vẫn có sự tăng trưởng vượt mức kế hoạch lên 303.536 triệu động, tương ứng tỷ lệ 24.33%. Sang năm 2025, mức tăng trưởng quy mô vốn tiền gửi của NH chỉ đạt 2.55% so với năm 2024 với 311.279 triệu đồng.

Từ số liệu thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng, ta có:

  • Tốc độ tăng trưởng vốn tiền gửi năm 2024 =  x100 = 124.33%
  • Tốc độ tăng trưởng vốn tiền gửi năm 2025 =  x100 = 102.55%

Như vậy, trong giai đoạn nghiên cứu, hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng xét về khía cạnh gia tăng theo quy mô là có sự tăng trưởng. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng vốn đạt 124.33% so với năm 2023. Sang năm 2025, mặc dù sức tăng trưởng là nhẹ, đạt 102.55% so với năm 2024. Mức tăng trưởng vốn qua các năm không đồng đều được lý giải rằng, năm 2024 sở dĩ NH đạt được mức tăng trưởng này là do bối cảnh kinh tế khó khăn, các kênh đầu tư khác không còn hấp dẫn dân chúng, đồng thời việc hạn chế chi tiêu, gia tăng vốn tích lũy cũng được quan tâm nhiều hơn. Sang năm 2025, nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi cảnh trì trệ, nên kênh đầu tư của dân chúng hầu như ít thay đổi, hơn nữa phản xạ của dân chúng đối với nền kinh tế cũng đã hình thành và ổn định từ năm 2024, nên dòng tiền gửi vào ngân hàng cũng ít biến động, vì vậy mức tăng trưởng vốn tiền gửi của ngân hàng năm 2025 tăng trưởng ít hơn so với mức tăng trưởng năm 2024. Song, trong cả giai đoạn nghiên cứu, hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng xét về quy mô là hiệu quả.

  • Biểu đồ 2.1: Quy mô vốn tiền gửi huy động của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng giai đoạn 2023 – 2025.

2.2.2 Về cơ cấu vốn tiền gửi huy động. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

2.2.2.1 Cơ cấu vốn tiền gửi phân theo đối tượng gửi tiền.

  • Bảng 2.3: Cơ cấu vốn tiền gửi tại NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng phân theo đối tượng gửi tiền.

Tiền gửi của dân cư: Năm 2023, tiền gửi của dân cư là 187.183 triệu đồng, chiếm 76.67% tổng vốn tiền gửi huy động của NH. Năm 2024, nguồn vốn tiền gửi của dân cư đạt 236.115 triệu đồng, chiếm 77.92% quy mô vốn tiền gửi huy động trong năm và tăng 26.14% so với năm 2023. Năm 2025, nguồn vốn tiền gửi NH huy động được trong dân cư là 243.358triệu đồng, tăng 3.07 so với năm 2024, đạt tỷ trọng 78.18% trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động trong năm. Như vậy, quy mô vốn tiền gửi huy động từ bộ phận dân cư luôn đạt mức cao và có sự tăng trưởng trong 3 năm nghiên cứu, tỷ trọng vốn tiền gửi cũng ở mức cao nhất trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động của NH. Điều đó cho thấy NH đã làm tốt vai trò định vị khách hàng và tạo được niềm tin từ bộ phận khách hàng này. Vì thế nguồn vốn tiền gửi huy động từ bộ phận dân cư là hiệu quả.

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế giao động ở mức 14% đến 17% trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động của NH và có sự suy giảm dần theo các năm nghiên cứu. Năm 2023, tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 42.810 triệu đồng, chiếm 17.57% cơ cấu vốn tiền gửi huy động trong năm. Năm 2024, với tốc độ tăng trưởng 2.46% so với năm 2023, bộ phận vốn này tăng lên mức 43.861 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 14.45 cơ cấu vốn tiền gửi huy động trong năm. Năm 2025, số tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 45.385 triệu đồng, tăng 3.47% so với năm 2024. Ta thấy quy mô và tốc độ tăng trưởng của bộ phận vốn này còn khiêm tốn, nguyên nhân xuất phát từ tác động của kinh tế khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp, việc sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Do đó nhu cầu gửi tiền trong NH của doanh nghiệp cũng giảm. Điều đó cho thấy hoạt động huy động vốn tiền gửi từ bộ phận này không đạt hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng khác được giữ giao động dưới 8%, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động của NH. Năm 2023, quy mô nguồn vốn này là 14.148 triệu đồng, chiếm 5.76% cơ cấu vốn tiền gửi huy động. Năm 2024, với tỷ lệ tăng trưởng 66.53%, mức vốn này tăng lên 23.560 triệu đồng, chiếm 7.63% cơ cấu vốn huy động trong năm. Năm 2025, nguồn vốn này suy giảm nhẹ 4.35% xuống còn 22.536 triệu đồng, chiếm 7.24% cơ cấu vốn huy động. Như vậy, sự biến động của nguồn vốn này cho thấy, mặc dù kinh tế khó khăn, song ngân hàng đã làm tốt công tác thanh toán thông qua hệ thống liên ngân hàng. Vì tiền gửi của các Tổ chức tín dụng khác tại ngân hàng chỉ mang mục đích thanh toán hộ nên tính chất ổn định của nguồn vốn này là thấp. Trong 3 năm nghiên cứu, cơ cấu của thành phần vốn này chỉ giao động dưới mức 8% được coi là hợp lý.

  • Biểu đồ 2.2: Cơ cấu vốn tiền gửi huy động theo đối tượng gửi tiền của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng

2.2.2.2 Cơ cấu vốn tiền gửi phân theo kỳ hạn.

  • Bảng 2.4: Cơ cấu vốn tiền gửi tại NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng phân theo kỳ hạn gửi tiền.

Sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn của NH luôn hấp dẫn khách hàng hơn so với sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn. Trong đó tiền gửi ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất, điều này cho thấy tâm lý của khách hàng không muốn gửi tiền dài hạn do không dự báo trước được biến động của lãi suất, mặt khác là để thuận tiện cho việc sử dụng tiền khi có nhu cầu phát sinh.

Tiền gửi không kỳ hạn trong 3 năm giao động quanh mức 15%. Năm 2023, nguồn tiền gửi này chiếm 16.47% cơ cấu vốn tiền gửi, năm 2024 là 14.93% và năm 2025 là 14.24%. Phần vốn này duy trì ở mức thấp do nó là nguồn tiền không ổn định, lãi suất thấp nên khách hàng không mặn mà và chỉ duy trì ở mức tối thiểu phục vụ cho nhu cầu thanh toán.

Nguồn vốn tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng: của chi nhánh trong 3 năm nghiên cứu có sự tăng trưởng. Năm 2023, quy mô vốn ngắn hạn là 178.540 triệu đồng, chiếm 73.13% quy mô vốn huy động. Năm 2024, khi nhu cầu tiết kiệm của dân cư tăng cao thì nguồn vốn này đã tăng trưởng 61.67% so với năm 2023 lên mức 228.654 triệu đồng. Tính đến hết năm 2025, nguồn vốn này đạt 235.296 triệu đồng, chiếm 75.59% trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động của NH, tăng trưởng 6.64% so với năm 2024. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động của ngân hàng khi duy trì mức trên 73% cơ cấu vốn tiền gửi huy động trong 3 năm nghiên cứu. Điều đó cho thấy ngân hàng đã làm tốt công tác huy động vốn từ phân đoạn vốn này. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định nên NH có thể chủ động sử dụng cho các nhu cầu kinh doanh của mình.

Nguồn vốn tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng: Thành phần vốn này có sự gia tăng về quy mô trong giai đoạn nghiên cứu. Năm 2023, với quy mô 25.391 triệu đồng, vốn trung và dài hạn chiếm 10.4% cơ cấu vốn huy động. Năm 2024, quy mô vốn tăng trưởng 16.43% lên mức 29.564 triệu đồng, song tỷ trọng vốn trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động giảm nhẹ xuống còn 9.74% tổng vốn tiền gửi huy động. Năm 2025, nguồn vốn này chiếm 10.17% cơ cấu vốn huy động trong năm, với quy mô huy động là 31.657 triệu đồng, tỷ lệ tăng 7.08% so với năm 2024. Vậy, đối với loại tiền gửi trên 12 tháng, mặc dù có sự tăng trưởng qua các năm, song tỷ trọng thấp trong cơ cấu vốn tiền gửi huy động. Đây là nguồn vốn ổn định nhất trong các kênh huy động vốn tiền gửi của ngân hàng, mức huy động trong 3 năm nghiên cứu như vậy là chưa hiệu quả, nên việc gia tăng nguồn vốn này là cần thiết.

  • Biểu đồ 2.3: Cơ cấu vốn huy động phân theo kỳ hạn của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

2.2.3 Về chi phí huy động vốn tiền gửi bình quân. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

  • Bảng 2.5: Chi phí lãi tiền gửi NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.
  • Biểu đồ 2.4: Chi phí huy động vốn tiền gửi NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng

Chi phí huy động bao gồm chi phí trả lãi vay và chi phí phi lãi. Chi phí huy động vốn bình quân có sự biến động trong 3 năm nghiên cứu.

Năm 2023, với mức lãi suất huy động BQ 12.35%/năm, chi phí huy động vốn tiền gửi của NH là 30.176 triệu đồng. Như vậy, trong năm 2023, để được sử dụng 1 đồng vốn tiền gửi ngân hàng phải bỏ ra 0.1235 đồng chi phí.

Năm 2024, lãi suất bình quân tăng lên mức 15.53% khiến tổng chi phí huy động vốn tiền gửi tăng lên 47.169 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 56.31% so với năm 2023, nguyên nhân của sự tăng trưởng cao này là do nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp trong thời điểm này là rất cao, do vậy các ngân hàng đua nhau sử dụng chính sách lãi suất nhằm thu hút vốn từ bộ phận dân cư để đáp ứng các nhu cầu cho vay của mình. Như vậy, trong năm 2024, để huy động được 1 đồng vốn tiền gửi, ngân hàng phải bỏ ra 0.1553 đồng chi phí, tăng 0.0318 đồng so với năm 2023. Do đó, có thể nói hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng trong năm 2024 được xem là kém hiệu quả hơn so với năm 2023 nếu dùng thước đo chi phí huy động để đo lường.

Năm 2025, cùng với các chính sách chung của Nhà nước về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và điều chỉnh lãi suất huy động của ngân hàng, lãi suất huy động vốn bình quân đã giảm xuống mức 12.7%/năm, dẫn đến chi phí huy động vốn bình quân giảm xuống còn 39.854 triệu đồng. So với năm 2024, để sử dụng 1 đồng vốn tiền gửi huy động, ngân hàng chỉ bỏ ra 0.127 đồng chi phí so với 0.1553 đồng, giảm 0.0283 đồng so với năm 2024. Như vậy, hoạt động huy động vốn tiền gửi năm 2025 hiệu quả hơn so với năm 2024, ngân hàng có thể có được lợi nhuận cao hơn. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

2.2.4 Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu cho vay từ nguồn vốn tiền gửi huy động.

  • Bảng 2.6: Tương quan giữa vốn tiền gửi và dư nợ cho vay tại NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.
  • Biểu đồ 2.5: Biểu đồ tương quan vốn huy động và cho vay của NHNo&PTNT Quảng Uyên – Cao Bằng.

Theo biểu đồ trên ta thấy, từ năm 2023 đến năm 2025 tổng vốn huy động tiền gửi luôn đáp ứng được trên 73% tổng nhu cầu vay của khách hàng. Năm 2023 với  244.141 triệu đồng vốn tiền gửi huy động đã đáp ứng được 73.5% nhu cầu vay. Năm 2024, đáp ứng được 80.89% và năm 2025 là 81.16% tổng nhu cầu vay của khách hàng. Như vậy, mức đáp ứng của nguồn vốn tiền gửi như vậy được đánh giá là cao, phần còn lại được huy động từ các kênh huy động khác, đảm bảo cho NH chủ động trong kế hoạch kinh doanh của mình.

2.2.5 Tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động ngắn hạn cho các khoản vay ngắn hạn.

  • Bảng 2.7 : Tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động ngắn hạn cho các khoản vay ngắn hạn.

Từ bảng số liệu trên ta thấy, nguồn vốn tiền gửi huy động ngắn hạn đã đáp ứng trên 79% tổng dư nợ ngắn hạn. Năm 2023, vốn tiền gửi ngắn hạn huy động được là 218.750 triệu đồng và dư nợ ngắn hạn là 257. 982 triệu đồng thì tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vay là 79.26%. Đặc biệt, năm 2024 và 2025 tỷ lệ đáp ứng đạt trên 90%. Như vậy, ngân hàng đã làm tốt công tác huy động vốn tiền gửi. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

  • Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động ngắn hạn cho các khoản ngắn hạn.

2.2.6 Tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động trung và dài hạn cho các khoản vay trung và dài hạn.

  • Bảng 2.8: Tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động trung và dài hạn cho các khoản vay trung và dài  hạn.

Từ bảng số liệu trên ta thấy, nguồn vốn tiền gửi huy động trung và dài hạn không đáp ứng được các nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Năm 2023, với 25. 391 triệu đồng vốn tiền gửi trung và dài hạn huy động được thì chỉ đáp ứng được 34.23% nhu cầu vay trung và dài hạn trong năm.

Năm 2024, mặc dù tỷ lệ đáp ứng nhu cầu vay có tăng trưởng 1.73% so với năm 2023 lên mức 35.96%, với 29.564 triệu đồng vốn tiền gửi huy động trung và dài hạn được đánh giá là hiệu quả hơn so với năm 2023. Song tỷ lệ đáp ứng so với tổng dư nợ trung và dài hạn trong năm vẫn còn thấp, chỉ đạt mức 35.96%.

Năm 2025, tỷ lệ đáp ứng của vốn huy động trung và dài hạn là 39.09% tổng nhu cầu vay trung và dài hạn trong năm, tăng trưởng 3.13% so với năm 2024.

Như vậy cho thấy, khách hàng gửi tiền thường quan tâm hơn tới những sản phẩm tiền gửi ngắn hạn, trong khi khách hàng vay thường có xu hướng vay các khoản tiền trung và dài hạn. Điều này tạo ra khe hở kỳ hạn của các khoản tiền, là nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Như vậy, việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đạt hiệu quả. Trong khi nguồn vốn tiền gửi huy động trung và dài hạn có tính chất ổn định cao, ngân hàng nên có chiến lược thu hút nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn dài hạn của mình. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tiền gửi của Agribank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x