Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may tại Công ty Haprosimex dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Giới thiệu chung về công ty
1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Haprosimex
- Tên tiếng Việt: Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội
- Tên tiếng Anh: Hanoi General Production and Import-Export Company (Haprosimex Hanoi)
- Tên viết tắt: Haprosimex
- Trụ sở chính: 22 Hàng Lược, Hà Nội Số điện thoại: 04.8257808
Công ty Haprosimex chuyên sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng: dệt may, thủ công mĩ nghệ, nông lâm sản…. Công ty Haprosimex đã xuất khẩu sang hơn 60 quốc gia và vùng lành thổ trên thế giới, trong đó các thị trường xuất khẩu chính là: Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brazil, Anh…..
Là một doanh nghiệp xuất nhập khẩu được Bộ thương mại đánh giá là doanh nghiệp xuất khẩu có uy tín liên tục từ năm 2023 đến nay, công ty Haprosimex luôn nỗ lực hết mình với khẩu hiệu “ Tất cả vì khách hàng”.
Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội có tiền thân là liên hiệp các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Hà Nội.Theo chủ trương đổi mới và để thích nghi với cơ chế thị trường, theo nghị quyết 16/NQ của Bộ Chính Trị và nghị quyết số 146/HĐBT của Hội Đồng Bộ trưởng thực hiện việc giải thể liên hiệp hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, ngày 18/12/1989 UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 591/QĐ-TC chuyển liên hiệp hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Hà Nội thành Liên hiệp sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công nghiệp Hà Nội trên cơ sở tiếp nhận, tổ chức lại lao động, cơ sở vật chất, nguồn vốn…của Liên hiệp hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Theo quyết định này Liên hiệp sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công
nghiệp Hà Nội là một tổ chức kinh tế tập thể có tư cách pháp nhân và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế. Từ năm 1989 đến năm 1993, đây là Liên hiệp xuất nhập khẩu tổng hợp mạnh nhất trực thuộc UBND thành phố Hà Nội, có hoạt động trên mọi lĩnh vực xuất nhập khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: sắt, thép, phân bón, hóa chất, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất…Các mặt hàng xuất khẩu chính là hàng hóa nông lâm sản, khoáng sản, nguyên vật liệu thô, các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp…Tuy nhiên, nhìn chung trong giai đoạn này Liên hiệp vẫn chủ yếu kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, đơn đặt hàng, hạn ngạch do nhà nước cấp, khả năng tự chủ thấp, cơ cấu bộ máy tổ chức còn cồng kềnh, hiệu quả chưa cao.
Năm 1993, công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội được thành lập theo quyết định số 528/QĐ/UB ngày 29 tháng 1 năm 1993 của UBND thành phố Hà Nội với tên gọi ban đầu là Công ty sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công nghiệp Hà Nội trực thuộc Liên hiệp sản xuất, dịch vụ và xuất nhập khẩu tiểu thủ công nghiệp Hà Nội. Theo quyết định này, công ty là doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập, được mở tài khoản tại các ngân hàng kể cả tài khoản ngoại tệ và được sử dụng con dấu riêng theo quyết định của nhà nước. Cũng theo quyết định thành lập này công ty có số vốn kinh doanh ban đầu là 1564,5 triệu đồng, bao gồm: Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
- Vốn cố định là 550,7 triệu đồng
- Vốn lưu động là 1013,8 triệu đồng
Trong đó:
- Vốn ngân sách nhà nước cấp : 1552,5 triệu đồng
- Vốn doanh nghiệp tự bổ sung : 120 triệu đồng
Đến ngày 30 tháng 8 năm 1993, UBND thành phố Hà Nội lại ra quyết định số 3236/QĐ/UB đổi tên công ty thành tên chính thức hiện nay là Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội. Đăng ký kinh doanh số 109194 do Uỷ ban kế hoạch nhà nước cấp ngày 10/09/1993.
Trong những buổi đầu thành lập, công ty đã gặp phải không ít khó khăn cả về khách quan lẫn chủ quan. Đó là do việc chuyển đổi từ một cơ quan hành chính bao cấp sang thành đơn vị sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập cùng với cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, đội ngũ công nhân viên chưa quen với công việc sản xuất kinh doanh mới cộng với việc thanh tra, kiểm tra kéo dài… Bên cạnh đó là những khó khăn do việc các thị trường xuất nhập khẩu truyền thống như Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều xáo trộn, trong khi thị trường Tây Âu và khu vực châu Á tuy có mở rộng nhưng vẫn còn rất mới. Trong tình hình đó, toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty đã đoàn kết phấn đấu vừa sắp xếp lại tổ chức, vừa duy trì hoạt động kinh doanh và từng bước tháo gỡ những vướng mắc về tài sản, về vốn, về tổ chức quản lý. Từ đó công ty nâng cao được kết quả hoạt động kinh doanh, từng bước mở rộng thị trường. Được sự quan tâm chỉ đạo của thành ủy, UBND thành phố Hà Nội cùng các cơ quan chức năng kết hợp với sự năng động sáng tạo của ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên, công ty đã đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không ngừng phát triển với tốc độ năm sau cao hơn năm trước. Đến nay công ty sản xuất và xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội đã là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu của thành phố Hà Nội cũng như của cả nước, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 25%/năm. Công ty đã có tích lũy, đầu tư chiều sâu, mở rộng ngành nghề và đa dạng hóa mặt hàng, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu với nhiều nước trên thế giới, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Hiện nay, công ty đã có chỗ đứng vững chắc trên thương trường và có tiềm năng phát triển lớn mạnh hơn.
2. Chức năng nhiệm vụ của công ty Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
2.1. Chức năng
- Tổ chức các cơ sở sản xuất may mặc, dệt len, lắp ráp xe máy, gia công chế biến nông lâm sản và các hàng hóa khác để xuất khẩu và làm dịch vụ xây dựng.
- Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng thủ công nghiệp, công nghiệp, hàng nông lâm, hải sản, khoáng sản.
- Nhập khẩu vật tư nguyên liệu, thiết bị phụ tùng, phương tiện để phục vụ cho nhu cầu của thị trường.
- Nhận ủy thác xuất khẩu và nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế, tham gia liên doanh, liên kết sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
- Hợp tác, liên doanh liên kết mở cửa hàng làm đại lý giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.
2.2. Nhiệm vụ
Là một doanh nghiệp thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước do UBND thành phố Hà Nội quản lý, có tư cách pháp nhân, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tài sản riêng, nhiệm vụ của công ty là:
- Tổ chức và hoàn thiện bộ máy của công
- Bảo toàn và phát triển vốn của nhà nước giao
- Nộp ngân sách nhà nước và địa phương
- Thực hiện chế độ thu chi, hóa đơn, chứng từ theo chế độ hạch toán của nhà nước
- Chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện đúng đường lối chính sách bảo vệ tài nguyên môi trường. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
3. Cơ cấu tổ chức của công ty
Nhiệm sản xuất kinh doanh và làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định hiện hành.
Tổng giám đốc trực tiếp điều hành các hoạt động của Công ty từ việc tìm hiểu thị trường, tìm đối tác liên doanh, tiêu thụ sản phẩm và quản lý các hoạt động của Công ty.
Phó tổng giám đốc I (Phó tổng giám đốc sản xuất): là người giúp việc cho giám đốc, phụ trách về mảng sản xuất các sản phẩm của công ty, chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, kiểm tra hàng hoá, quy cách đóng gói.
Phó tổng giám đốc II (Phó tổng giám đốc kỹ thuật): là người giúp việc cho giám đốc, là người giúp việc cho giám đốc, mảng kỹ thuật của hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Phó tổng giám đốc III (Phó tổng giám đốc kinh tế): phụ trách mảng tìm hiểu nghiên cứu thị trường và tìm các đầu mối cung cấp nguyên phụ liệu đầu vào và tìm kiếm các đối tác tiêu thụ.
Phó tổng giám đốc IV (Phó tổng giám đốc hành chính): là người giúp việc cho giám đốc, phụ trách về mảng hành chính, sắp xếp nhân sự, lao động tiền lương, chế độ chính sách….
Các phòng ban: là các đơn vị chuyên môn có nghĩa vụ làm tham mưu cho giám đốc trong việc chỉ đạo, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh, tổ chức đời sống, giữ gìn trật tự an ninh. Các phòng ban có trách nhiệm theo dõi hướng dẫn kiểm tra, đôn đốc khách hàng, đảm bảo tiến độ sản xuất, quy trình công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và các mặt quản lý chuyên môn.
- Phòng Tổ chức hành chính
Tham mưu cho TGĐ về lĩnh vực tổ chức đào tạo, sắp xếp nhân sự, lao động tiền lương, chế độ chính sách.
- Phòng Kế toán tài chính Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Tham mưu giúp việc cho TGĐ trong công tác kế toán tài chính nhằm sử dụng đồng vốn hợp lý đúng mục đích, đúng chế độ, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được duy trì liên tục và đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Phòng Kế hoạch thương mại:
Tham mưu, giúp TGĐ về các lĩnh vực như: nghiên cứu, dự đoán sự phát triển của thị trường nội địa, đề ra hướng sản xuất sản phẩm của công ty, đồng thời tổ chức tham gia các hoạt động tiếp thị, khuyếch trương quảng cáo sản phẩm của công ty trên thị trường cả nước.
- Phòng Xuất nhập khẩu
Tìm kiếm khách hàng, thị trường trong và ngoài nước, tham mưu cho TGĐ trong công tác nhập khẩu phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm, máy móc thiết bị phụ tùng phục vụ cho công tác đầu tư phát triển và ổn định sản xuất của công ty đồng thời xuất khẩu những sản phẩm của công ty ra nước ngoài bao gồm cả xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị khác.
- Phòng Kỹ thuật đầu tư
Tham mưu giúp việc TGĐ về các lĩnh vực kỹ thuật sợi, dệt nhuộm, may, cơ khí, động lực, kỹ thuật an toàn, vệ sinh môi trường, kỹ thuật xây dựng trong phạm vi toàn công ty.
- Phòng kế hoạch – thị trường
Tham mưu giúp việc TGĐ trong các lĩnh vực công tác như: đề ra các giải pháp, xây dựng và điều hành việc thực hiện kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu; cung ứng và quản lý vật tư, sản phẩm của công ty; thực hiện công tác marketing tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước cùng các phế liệu của công ty.
- Phòng Đời sống
Phục vụ việc ăn uống cho cán bộ công nhân viên trong thời giờ làm việc tại công ty.
Quản lý cây xanh, vệ sinh mặt bằng toàn công ty.
- Phòng bảo vệ-quân sự
Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ người và phương tiện ra vào, đi lại trong toàn công ty, tổ chức tuần tra canh gác bảo vệ kho tàng, nhà xưởng, toàn công ty 24h/24h. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Ngoài ra còn có: Trung tâm y tế và trung tâm thí nghiệm – kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Khối các nhà máy sản xuất
Mỗi nhà máy thành viên là một đơn vị sản xuất cơ bản của công ty và sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh. Trên cơ sở các dây chuyền sản xuất sản phẩm, các nhà máy có chức năng sử dụng công nhân, tổ chức quản lý quá trình sản xuất, thực hiện các định mức kinh tế-kỹ thuật, đảm bảo hiệu suất sản xuất tối đa, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất làm việc của dây chuyền. Tất cả các hoạt động trong quá trình sản xuất của cả nhà máy đều đặt dưới sự chỉ đạo của Giám đốc (GĐ) nhà máy. Giúp việc cho giám đốc nhà máy là hai Phó GĐ, tổ nghiệp vụ, tổ kỹ thuật chuyên môn cùng với các tổ trưởng tổ sản xuất.
Giám đốc các nhà máy thành viên chịu trách nhiệm trước TGĐ về toàn bộ hoạt động của nhà máy mình quản lý. Phó GĐ có trách nhiệm thực hiện những công việc được phân công và được GĐ uỷ quyền, tham mưu cho GĐ những vấn đề quan trọng trong quá trình sản xuất, chịu trách nhiệm trước GĐ về kết quả công việc được giao.
4. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Công ty Haprosimex chủ yếu kinh doanh trên lĩnh vực xuất nhập khẩu và một số ngành nghề khác. Cụ thể là:
Đầu tư, quản lý vốn đầu tư và trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu trong các ngành, nghề, lĩnh vực chính gồm:
- Tổ chức các cơ sở hàng dệt, may mặc, dệt len, lắp ráp xe gắn máy, chế biến nông lâm sản để xuất khẩu.
- Xuất khẩu các mặt hàng: thủ công mỹ nghệ, công nghiệp, hàng nông lâm sản, hải sản, lương thực, thực phẩm, khoáng sản, vật tư nguyên liệu, máy móc, thiết bị phụ tùng, phương tiện cho các ngành sản xuất, phân bón.
- Nhập khẩu phương tiện vận tải, ô tô, xe máy, thiết bị vật liệu trang trí nội thất.
- Lập, quản lý và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng phát triển nhà, trung tâm thương mại, khách sạn, hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp, công trình công cộng, giao thông, văn hóa;
- Dịch vụ cho thuê văn phòng, nhà ở, kho, bến bãi đỗ xe, siêu thị, giao nhận vận chuyển hàng hóa, các dịch vụ đô thị khác…
- Khai thác sản xuất và kinh doanh nước sạch.
- Mua, bán, nhập khẩu máy điện thoại và thiết bị viễn thông
- Kinh doanh du lịch lữ hành quốc tế và nội địa; dịch vụ thể dục, thể thao, vui chơi giải trí và dịch vụ phục vụ khu vực vui chơi thể thao.
- Tổ chức đào tạo, dạy nghề; đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo qui định hiện hành của Pháp luật.
- Hợp tác, liên doanh, liên kết, mở cửa hàng, đại lý giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm của Công ty và sản phẩm liên doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước.
- Đầu tư và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu hoặc cổ đông, thành viên góp vốn tại các đơn vị thành viên, doanh nghiệp có vốn góp của công ty.
- Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
5. Lao động
Lao động của công ty được chia làm hai loại là: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
Lao động trực tiếp: Là những người lao động trực tiếp sản xuất ra các mặt hàng may mặc, mũ,… May là một công việc đòi hỏi sự chăm chỉ và tỷ mỷ, do đó mà lực lượng lao động của công ty có tỷ lệ lao động nữ chiếm 90% tổng số lao động. Lực lượng lao động này còn rất trẻ (trung bình là 23 tuổi). Ở độ tuổi này người lao động dễ tiếp thu trình độ công nghệ và có khả năng và nâng cao tay nghề. Tuy nhiên do lực lượng lao động nữ, chiếm một tỷ trọng lớn, lại đang trong độ tuổi sinh đẻ, thường phải nghỉ làm việc trong thời gian dài gây khó khăn cho công ty trong công tác sắp xếp và tổ chức lao động cho sản xuất. Để hoàn thành kế hoạch thời gian lao động công ty đã luôn duy trì một lực lượng lao động có thể thay thế cho những lao động phải nghỉ làm vì lý do: Thai sản, ốm, chăm sóc con ốm hoặc thực hiện KHHGĐ. Nguồn lao động thay thế này là những thợ phụ, tổ trưởng sản xuất, tổ phó sản xuất, các công nhân sửa chữa bán thành phẩm và cán bộ kiểm tra, khi cần thiết thì họ có thể thay thế vào vị trí của người nghỉ. Bằng cách này mà việc tổ chức lao động sản xuất không bị gián đoạn. Thực tế đã chứng minh kế hoạch sử dụng thời gian lao động của công ty đều hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Lao động gián tiếp: Là những người không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mà chịu trách nhiệm quản lý, xuất nhập khẩu hàng hóa,…Lực lượng lao động này cần có trình độ quản lý, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ để đảm nhận các nhiệm vụ như: tổ chức, lên kế hoạch sản xuất, thực hiện ghi chép sổ sách chứng từ, nghiệp vụ kế toán, đề ra các chiến lược phát triển kinh doanh, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
6. Khái quát hoạt động kinh doanh của công ty Haprosimex Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Với thị trường xuất khẩu ở khoảng 60 nước và vùng lãnh thổ, Công ty sản xuất – xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (Haprosimex) là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Hà Nội. Đặc biệt, tại những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, hàng hoá mang thương hiệu Haprosimex vẫn chiếm lĩnh bằng chất lượng, mẫu mã và uy tín của mình. Trong các năm qua, công ty Haprosimex liên tục kinh doanh có lãi và ngầy càng khắng định được uy tín của công ty mình trên trường quốc tế. Đặc biệt trong năm vừa qua công ty Haprosimex đã tạo được tiếng vang lớn với các mặt hàng thủ công mĩ nghệ được đánh giá là “hàng độc” với nguyên liệu mới , ý tưởng mới và sáng tạo, lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường nhưng được khách quốc tế vô cùng ưa chuộng đó là: thảm rơm chùi chân, thú phun nhung, dép lục bình – dây chuối, ly đựng trứng trang trí đẹp mắt hay các rương đựng quần áo, vật dụng gia đình có hình quả bí ngô. Ngoài ra, công ty Haprosimex là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam thành lập chi nhánh và mở showroom diện tích 1.200m2, giới thiệu và bán sản phẩm tại Nam Phi. Đây sẽ là “bàn đạp” để thâm nhập vào thị trường Nam và Trung Phi. Đồng thời, showroom này không chỉ là nơi giới thiệu và chào bán những sản phẩm của Haprosimex mà tương lai sẽ là nơi giới thiệu hàng hóa của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng với thị trường Nam Phi.
- Bảng 2.1. Lợi nhuận và doanh thu của công ty Haprosimex
- Biểu 2.1. Tình hình doanh thu của công ty 2023 – 2025
Ta thấy tình hình kinh doanh của công ty Haprosimex qua các năm liên tục tăng, đây là dấu hiệu rất đáng mừng. Năm 2024, doanh thu tăng 86.329.147.695 VND, tăng 8,9% so với năm 2023, năm 2025 doanh thu tăng 431.754.942.522 tăng 40,9% so với năm 2024. Như vậy ta thấy doanh thu liên tục đặc biệt trong năm 2025 doanh thu tăng ở mức kỉ lục nhờ công ty có lắp ráp thêm một số dây chuyền sản xuất mới và thiết kế được những mẫu hàng độc đáo. Đây là một tín hiệu rất đáng mừng. Hi vọng trong năm tới doanh thu sẽ tăng cao và ổn định. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Tuy doanh thu tăng là dấu hiệu đáng mừng nhưng doanh thu không phải mục tiêu cuối cùng công ty theo đuổi. Đích đến cuối cùng của bất kì doanh nghiệp nào muốn làm ăn có lãi là lợi nhuận. Để xem xét tình hình lợi nhuận của công ty ta xem biểu đồ sau:
- Biểu 2.2. Tình hình lợi nhuận của công ty 2023 – 2025
Qua biểu đồ trên ta thấy mặc dù doanh thu năm 2024 tăng nhưng lợi nhuận lại giảm. Nguyên nhân của tình trạng này là do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh, công ty kí kết các hợp đồng xuất khẩu lớn với ước tính chi phí giá nguyên liệu đầu vào theo giá cũ, nhưng khi giá tăng đột ngột công ty vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Đây cũng là sơ sót của công ty khi kí kết các hợp đồng xuất khẩu mà không tính đến sự biến động của thị trường. Trong thời gian tới, công ty cần chú ý xem xét và nghiên cứu kĩ các hợp đồng xuất khẩu để tránh rủi ro bằng các điều khoản trong điều kiện giá cả biến động. Năm 2025, nhờ rút kinh nghiệm từ năm 2024 mà lợi nhuận của công ty tăng cao. Lợi nhuận tăng 1.684.944.287 VND, tăng 61,3% so với năm ngoái. Kết quả này là do sự phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên công ty đã nghiên cứu tìm tòi các thị trường ngách ít doanh nghiệp chú ý đến, cạnh tranh không gay gắt mà mang lại lợi nhuận cao, như thị trường xuất khẩu giấy photocopy sang Nhật Bản.
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA CÔNG TY HAPROSIMEX Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
1. Đặc điểm hàng dệt may xuất khẩu của công ty Haprosimex
1.1. Cơ cấu mặt hàng
Các sản phẩm của công ty bao gồm:
- Sản phẩm dành cho nam giới bao gồm: áo jacket, áo khoác, áo sơ mi,quần short và quần âu. Kiểu dáng lịch sự và trang nhã, phù hợp với những người làm việc văn phòng.
- Sản phẩm dành cho nữ giới bao gồm: váy ngắn, váy công sở, quần âu, áo sơ mi nữ. Các sản phẩm dành cho nữ giới đều có rất nhiều màu sắc phục vụ nhu cầu phong phú của người tiêu dùng, kiểu dáng lịch sự và trang nhã.
- Sản phẩm dành cho trẻ em bao gồm: áo thun, áo khoác, bộ đồ, váy…Các sản phẩm dành cho trẻ em đều được trang trí những hoạ tiết, hình thêu ngộ nghĩnh, đáng yêu. Điều đặc biệt hơn cả là công ty Haprosimex rất chú trọng đến vấn đề an toàn cho trẻ em khi chọn lựa các phụ kiện trang trí an toàn cho trẻ em như móc khoá hay khuy cài…
- Sản phẩm thể thao bao gồm: bộ đồ thể thao với kiểu dáng đa dạng và phong phú phù hợp với nhiều môn thể thao khác nhau mang lại sự tự tin và thoải mái cho người mặc khi tập luyện thể thao.
- Sản phẩm bảo hộ lao động bao gồm: các bộ đồ bảo hộ lao động được may bằng những vật liệu bền chắc nhưng thoải mái và thoáng mát. Công ty có nhiều kiểu dáng đa dạng cho khách hàng lựa chọn.
- Sản phẩm dệt kim bao gồm: áo may ô, quần đùi, quần áo lót các loại.
- Sản phẩm thêu, ren gồm: aó ren, thêu khăn tay, khăn trải bàn.
- Sản phẩm mũ bao gồm các loại mũ lưỡi trai, mũ phớt từ nhiều chất liệu vải như Cotton, Acrylic, Polyeste v.v… Ngoài ra, theo đơn đặt hàng của các nhà phân phối công ty còn sản xuất các các loại mũ với nhiều lọai chất liệu khác nhau như: vải nhung, vải nỉ, vải lưới, vải lông, vải …
Bảng 2.2. Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của công ty 2023 – 8 tháng 2026
Ta có thể theo dõi sự biến động của cơ cấu các mặt hàng qua biểu đồ sau:
- Biểu 2.3. Cơ cấu hàng dệt may Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Qua biểu đồ ta thấy, trong các mặt hàng dệt may xuất khẩu của công ty thì mặt hàng quần áo các loại chiếm tỷ trọng lớn nhất. Đây là mặt hàng mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn của công ty trong thời gian qua. Vì với mặt hàng này công ty tận dụng được nguồn lao động dồi dào, tay nghề khéo léo mà giá nhân công rẻ. Hơn nữa, công ty lại xuất khẩu theo lại hình xuất khẩu trực tiếp nên thu được lợi nhuận lớn từ hoạt động xuất khẩu. Sản phẩm mũ xuất khẩu có kim ngạch liên tục giảm qua các năm. Nguyên nhân là sản phẩm mũ mang lại giá trị kinh tế không cao, chi phí sản xuất lại tốn kém. Hơn nữa, trong giai đoạn 2023 -2026 công ty có chiến lược tập trung vào sản xuất các mặt hàng quần áo như: áo jacket, áo khoác, áo sơ mi – những sản phẩm mang lại lợi nhuận cao và uy tín cho doanh nghiệp trên thương trường. Sản phẩm dệt, đan, móc chiếm tỷ trọng hầu như không đáng kể trong kim kim ngạch xuất khẩu của công ty. Mặt hàng này cũng chưa được công ty quan tâm tiếp thị, xúc tiến quảng cáo nhiều trong thời gian qua. Hơn nữa, khách hàng nước ngoài chưa có thói quen tiêu dùng các mặt hàng này nên giá trị xuất khẩu của sản phẩm này rất thấp.
1.2. Chất lượng
Các sản phẩm của công ty đều có chất lượng khá tốt, đáp ứng được các yêu cầu của những thị trường khó tính như: Mỹ, Nhật Bản và EU. Trong mấy năm qua Công ty đã tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm thể hiện bằng việc cải tiến máy móc thiết bị, kiểm tra có chọn lọc các yếu tố đầu vào, tổ chức các khoá đào tạo nâng cao tay nghề của công nhân. Tuy nhiên sản phẩm của công ty hiện nay đang còn đơn điệu về mẫu mã và chủng loại. Do nguyên liệu dệt may chủ yếu của công ty là các loại sợi PE, các sản phẩm dệt kim, loại hàng lại do bên đặt hàng quy định thường ít có sự thay đổi và tính tinh vi của sản phẩm lại không cao nên khó có thể tạo ra đuợc sự hấp dẫn đối với khách hàng. Do đó, công ty khó tránh khỏi sức ép cạnh tranh từ phía các sản phẩm thay thế (sản phẩm may mặc được sản xuất bằng các nguyên liệu khác như vải dệt thoi, len…) nhất là khi xu hướng sử dụng các loại vải đuợc cấu thành bởi các hợp chất đặc biệt, mới lạ đang tăng lên. Hơn nữa, thị trường kinh doanh chủ yếu của công ty là ở nước ngoài, thường là các thị trường có nhu cầu tiêu dùng độc đáo, sự khác biệt hoá sản phẩm (về mẫu mã, giá cả, dịch vụ…) đóng vai trò quyết định trong khả năng thu hút khách hàng.
1.3. Giá cả Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Công ty sử dụng chiến lược phân biệt giá theo khối lượng hàng mua và phương thức thanh toán: khách hàng mua số lượng hàng hoá nhiều hay thanh toán nhanh, trả ngay bằng tiền mặt sẽ nhận được sự ưu đãi về giá so với khách hàng khác. Ngoài ra đối với những nhóm khách hàng khác nhau như: khách quen, các đơn vị kinh tế thuộc tổ chức từ thiện, trường học …công ty sẽ bán với mức giá ưu đãi hơn. Đối với hầu hết các sản phẩm công ty thực hiện chính sách giá phân biệt. Chẳng hạn, đối với sản phẩm áo jacket, việc bán hàng cho các khách hàng quen lâu năm công ty thường thực hiện giảm giá 5% so với các khách hàng khác, và với mỗi phương thức thanh toán khác nhau, mỗi lượng hàng mua khác nhau công ty lại có một sự ưu đãi khác nhau về giá. Ngoài ra, giá cả các sản phẩm của công ty đều rất cạnh tranh do sự lựa chọn nguồn nguyên liệu đầu vào của công ty và những nỗ lực giảm chi phí sản xuất. Đối với những nguyên liệu trong nước đã sản xuất được mà có chất lượng ổn định, giá cả hợp lý công ty sẽ mua. Đối với những nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được hay đã sản xuất mà không đảm bảo chất lượng công ty sẽ tìm nhà cung cấp có giá cả hợp lý nhất.
1.4. Kênh phân phối sản phẩm của công ty Haprosimex
- Hình 2.1. Quá trình phân phối sản phẩm của công ty
Để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, công ty đã cố gắng phát triển mạng lưới phân phối hàng hoá. Hiện nay công ty vẫn đang sử dụng cả bốn kênh phân phối cho quá trình phân phối sản phẩm. Đối với kênh 1 là kênh phân phối trực tiếp, công ty đưa sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng không thông qua hệ thống trung gian. Cùng với kênh phân phối này, công ty có thể sử dụng nó như một công cụ để xây dựng hình ảnh của công ty trên thị trường nội địa, việc phát triển trên thị trường nội địa sẽ giúp công ty giảm thiểu những rủi ro, biến động khách quan từ bên ngoài. Còn đối với 3 kênh phân phối còn lại sẽ đem lại cho công ty lợi ích nhiều hơn họ tự làm lấy, khai thác đuợc kinh nghiệm trong việc bảo quản vận chuyển và cất trữ hàng hoá. Đồng thời thông qua các kênh phân phối này sẽ giúp công ty trong việc tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm năng. Việc sử dụng cả 4 kênh phân phối sẽ giúp công ty đạt được mức bao phủ thị trường nhanh chóng. Với sự linh hoạt trong việc sử dụng các kênh phân phối, nắm bắt và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu đối với công ty.
1.5. Hình thức xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Hình thức xuất khẩu của công ty là xuất khẩu trực tiếp. Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà công ty sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.
Ưu điểm của hình thức này là lợi nhuận thu được của công ty thường cao hơn các hình thức khác. Các sản phẩm xuất khẩu đều gắn với nhãn mác và thương hiệu riêng của công ty nên có thể nâng cao uy tín của công ty thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá, có thể tiếp cận trực tiếp thị trường, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Với hình thức xuất khẩu trực tiếp tuy công ty thu được lợi nhuận cao hơn so với hình thức gia công xuất khẩu mà nhiều công ty may ở Việt Nam hiện đang làm như Hanotex, May 10,…nhưng công ty cũng gặp những khó khăn như phải ứng trước một lượng vốn lớn để sản xuất hoặc thu mua và rủi ro kinh doanh là lớn. Công ty sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, việc xây dựng thương hiệu được người tiêu dùng nước ngoài tin dùng rất khó khăn và tốn kém. Hơn nữa, hoạt động theo phương thức xuất khẩu trực tiếp, sản phẩm sản xuất ra không được bao tiêu toàn bộ, nó phải đáp ứng phù hợp với nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng thì mới được thị trường chấp nhận.
1.6. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng dệt may của công ty Haprosimex Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Hiện tại các hoạt động xúc tiến xuất khẩu của công ty Haprosimex chủ yếu là quảng cáo cho sản phẩm và công ty tại các thị trường mục tiêu như EU, Nhật Bản, Mỹ. Ngoài các quảng cáo giới thiệu chung về công ty, công ty còn có các quảng cáo về sản phẩm dệt may của công ty và đặc biệt ưu tiên nhấn mạnh tới các sản phẩm mà qua nghiên cứu thị trường công ty được biết là phù hợp với thị trường đó. Việc quảng bá nhãn hiệu sản phẩm của công ty được thực hiện thông qua các cataloge, các hội chợ triển lãm, trưng bày giới thiệu sản phẩm và internet. Vì vậy hình ảnh, nhãn hiệu của công ty trở nên quen thuộc hơn với người tiêu dùng. Tuy nhiên hiện nay hoạt động xúc tiến xuất khẩu của công ty Haprosimex vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả do các kênh xúc tiến xuất khẩu còn yếu. Doanh nghiệp chủ yếu quảng bá giới thiệu qua internet, mà hình thức này không thực sự hiệu quả vì chưa chắc đã đến được với khách hàng tiềm năng. Hơn nữa việc tham gia các hội chợ triển lãm của công ty vẫn còn rất thưa thớt và đầu tư chưa cao nên khi doanh nghiệp tham dự các hội chơ, triển lãm thường không thu được kết quả như mong muốn.
2. Thực trạng xuất khẩu hàng hàng dệt may của công ty Haprosimex trong thời gian qua. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
2.1 Thực trạng thực hiện các nội dung chủ yếu trong hoạt động xuất khẩu
2.1.1. Hoạt động nghiên cứu thị trường và lựa chọn đối tác
Một chiến lược sản phẩm đúng đắn và năng động là một chiến lược dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc thị trường. Đặc biệt để tham gia vào thị trường may mặc thế giới – là một thị trường hết sức phong phú, đa dạng, thay đổi rất nhanh về mẫu mã, kiểu mốt, chủng loại, thời gian cũng có yêu cầu ngày càng cao và tinh tế về chất lượng – thì việc nghiên cứu thị trường để luôn thích nghi với sự biến động và thay đổi của nó là việc làm cần thiết đầu tiên của bất kì doanh nghiệp nào muốn xuất khẩu thành công. Qua nghiên cứu thị trường công sẽ ty nắm vững các đặc điểm của thị trường về các mặt: chính trị thương mại, luật pháp và các chính sách có liên quan. Khi nghiên cứu thị trường cần nắm được dung lượng thị trường, điều kiện cạnh tranh, thị hiếu, kiểu dáng hàng đồng thời nghiên cứu từng loại sản phẩm mà công ty sẽ sản xuất, nguyên vật liệu sản xuất, giá cả và chi phí định mức cho một sản phẩm để tránh bị đối tác ép giá khi ký kết hợp đồng.
Khi quyết định đưa một loại quần áo có sẵn hay quyết định triển khai một mốt quần áo mới vào thị trường xuất khẩu nào đó như Tây Âu, Bắc Âu hay Nhật Bản thì điều cốt lõi để đảm bảo mặt hàng phù hợp và thích ứng được với người mua nước sở tại là phải nghiên cứu thị trường. Thông qua việc nghiên cứu thăm dò các thị trường, tìm ra các thị trường triển vọng để xác định một cách cẩn thận biện pháp làm cho mặt hàng thích ứng với đòi hỏi của thị trường.
Nghiên cứu đối tác là nhằm tìm kiếm bạn hàng ổn định, đáng tin cậy và hợp pháp. Quá trình nghiên cứu cần làm rõ các mặt: thái độ kinh doanh, lịch sử phát triển, khả năng tài chính, lĩnh vực hoạt động và uy tín của họ trong hoạt động kinh doanh.
Nghiên cứu và lựa chọn đối tác giúp cho Công ty có phương thức kinh doanh thích hợp nhằm tránh các rủi ro sẽ đến với mình. Như với các khách hàng quen, có uy tín, công ty có phương thức thanh toán khác với những khách hàng chưa có độ tin cậy.
Tuy nhiên, cũng như hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của cả nước nói chung và các doanh nghiệp may nói riêng, công ty Haprosimex chưa có điều kiện để đảm bảo tốt công tác này. Mặc dù công ty đã có phòng kinh doanh tiếp thị nhưng hoạt động nghiên cứu thị trường, hoạt động Marketing… chưa thật sự có hiệu quả. Có thể thấy được một số lý do cơ bản và quan trọng của tình trạng đó như sau: Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Công ty không có điều kiện để đưa những cán bộ phụ trách nhiệm vụ này ra nước ngoài, những thị trường cần nghiên cứu để tìm hiểu, điều tra, phân tích, đánh giá…về thị trường nhằm tìm kiếm những thị trường mới hay ít nhất cũng là để thoả mãn những thị trường hiện tại thông qua việc đáp ứng tốt hơn những yêu cầu, đòi hỏi mới phát hiện và chính hoạt động này góp phần mở rộng thị trường một cách gián tiếp.
- Trình độ nghiệp vụ chuyên môn của các cán bộ về thị trường và Marketing không cao.
- Hoạt động nghiên cứu thị trường của phòng kinh doanh tiếp thị chưa đạt hiệu quả.
Để khắc phục những tồn tại này, công ty đã đề ra quy trình xem xét hợp đồng xuất khẩu một cách chuẩn mực, có quy tắc và phù hợp riêng cho công ty mình nhằm trợ giúp phòng kinh doanh tiếp thị trong hoạt động lựa chọn đối tác đảm bảo hiệu qủa cao. Trong thực tế quy trình này đã thực sự đem lại hiệu quả cao bởi đó là sự kết hợp của các phòng ban, cán bộ trong công ty. Tuy nhiên quy trình này không thể khắc phục hoàn toàn những khuyết điểm đã nói ở trên. Công tác mở rộng thị trường của công ty còn rất hạn chế.
2.1.2. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu
Sau khi lựa chọn được thị trường và đối tác xuất khẩu, công ty cần lập kế hoạch kinh doanh xuất khẩu. Quy trình lập kế hoạch kinh doanh xuất khẩu bao gồm những nội dung sau:
- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân.
Công ty dựa vào những thông tin đã có từ bước nghiên cứu thị trường trước đó để đánh giá các yếu tố của thị trường như sau:
- Môi trường dân cư
- Môi trường kinh tế
- Môi trường văn hoá xã hội
- Môi trường luật pháp
- Môi trường cạnh tranh
Công ty xem xét, đánh giá về thị trường xuất khẩu và đối tác của công ty nhằm xác định thế mạnh thị trường mà công ty có thể khai thác cũng như những điểm yếu mà công ty cần phải hạn chế khi thâm vào các thị trường này. Bên cạnh đó cần đánh giá mức độ tin cậy của đối tác để thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài với công ty. Công ty có thể dựa trên uy tín trên của đối tác hay học hỏi từ các bạn hàng khác. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
- Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, thời cơ và phương thức kinh
Dựa trên những đánh giá chi tiết về thị trường xuất khẩu mà công ty đã lựa chọn, và dựa trên tình hình kinh doanh thực tế của công ty mình mà chọn ra các sản phẩm phù hợp với thị trường đã chọn. Ngoài ra mỗi thị trường có những khác biệt nên công ty cần nghiên cứu kỹ để nhận ra được các thời cơ và phương thức kinh doanh cho phù hợp với tập quán tiêu dùng và phân phối của từng thị trường.
- Đề ra các mục tiêu: tổng doanh thu cần đạt, doanh số bán tại các thị trường khác nhau.
Đây là nhiệm vụ rất quan trọng vì công ty cần đề ra các mục tiêu cần đạt được rồi mới có kế hoạch cụ thể để đạt được những mục tiêu đó. Mục tiêu đề ra cần chính xác, chặt chẽ và chi tiết không nên chung chung, xa rời với thực tế.
Công ty xem xét, đánh giá về thị trường xuất khẩu và đối tác của Công ty nhằm xác định thế mạnh thị trường mà công ty có thể khai thác cũng như những điểm yếu mà công ty cần phải hạn chế khi thâm vào các thị trường này. Bên cạnh đó cần đánh giá mức độ tin cậy của đối tác để thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài với công ty.
Kế hoạch kinh doanh xuất khẩu do phòng Kế hoạch vật tư – xuất nhập khẩu chịu trách nhiệm và giao xuống các phân xưởng sản xuất. Kế hoạch kinh doanh của công ty được xây dựng theo từng năm được cụ thể cho từng quý, theo các chỉ tiêu số lượng sản phẩm, kim ngạch xuất khẩu, doanh thu, lợi nhuận.
2.1.3. Hoạt động đàm phán, kí kết hợp đồng. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Công ty tổ chức thực hiện giao dịch đàm phán với phía đối tác về các điều khoản, điều kiện mua bán hàng hoá. Khi hai bên đã thoả thuận và đi đến ký kết hợp đồng thì chuyển tiếp sang soạn thảo và ký kết hợp đồng.
Hoạt động đàm phán và ký kết các hợp đồng do phòng kinh doanh tiếp thị đảm nhiệm. Việc soạn thảo hợp đồng được thực hiện trên cơ sở những thoả thuận đã được hai bên thống nhất. Trường hợp phía đối tác soạn thảo hợp đồng thì phía công ty cần xem xét, kiểm tra lại, đối chiếu những điều khoản trong hợp đồng và nội dung đã thoả thuận giữa hai bên. Hợp đồng và phụ lục hợp đồng sau khi soạn thảo phải được trưởng phòng kinh doanh tiếp thị kiểm tra lại, ký tên và trình Giám đốc công ty xem xét và ra quyết định cuối cùng.
Mặc dù công ty Haprosimex đã có riêng phòng kinh doanh tiếp thị đảm nhiệm hoạt động đàm phán và ký kết hợp đồng nhưng phòng hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Do đó, để hoạt động đàm phán ký kết hợp đồng đạt hiệu quả cao và tránh được những rủi ro đáng tiếc trong thực hiện hợp đồng, công ty đã mời thêm các chuyên gia tư vấn. Vì trình độ kinh doanh, kinh nghiệm buôn bán quốc tế của ta rất hạn chế còn đối tác của công ty Haprosimex đều thuộc những nước có nền kinh tế phát triển, họ có kinh nghiệm trên thương trường quốc tế do đó công ty cần tìm hiểu kỹ đối tác và thận trọng hơn trong việc đàm phán và ký kết các hợp đồng xuất khẩu.
2.1.4. Thực hiện hợp đồng ký kết
Vì công ty chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện giao hàng FOB nên trong nghiệp vụ xuất khẩu không có bước xin giấy phép xuất khẩu, thuê tàu và mua bảo hiểm. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
- Ký kết hợp đồng
Thông thường các khách hàng gửi đơn hàng đến công ty, công ty nhận đơn đặt hàng và giao dịch với khách hàng thông qua thư từ, điện tín, thoả thuận với nhau về số lượng, chất lượng, giá cả, các điều kiện về giao nhận, thanh toán, vi phạm hợp đồng… sau đó ký hợp đồng. Đối với khách hàng truyền thống thì việc giao dịch, đàm phán, thoả thuận đơn giản hơn, bởi vì họ đã có cơ sở từ các hợp đồng trước. Họ chỉ cần thoả thuận một yếu tố biến động như số lượng, giá cả…
- Kiểm tra L/C
Sở dĩ công ty phải thực hiện bước kiểm tra L/C bởi vì nó quyết định đến việc thanh toán tiền hàng và các tranh chấp có thể phát sinh dẫn tới người xuất khẩu không thu được tiền khi có hàng hoá đem ra nước ngoài. Vì thế đây là nghiệp vụ không thể thiếu trước khi triển khai thực hiện hợp đồng. Khi nhận thư tín dụng do ngân hàng thông báo, nhân viên phòng xuất nhập khẩu có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu L/C với hợp đồng xem nó có phù hợp với điều khoản trong hợp đồng hay không. Nếu không phù hợp phải có đề nghị gửi tới ngân hàng mở L/C yêu cầu sửa đổi cho phù hợp.
- Ký kết hợp đồng
Thông thường các khách hàng gửi đơn hàng đến công ty, công ty nhận đơn đặt hàng và giao dịch với khách hàng thông qua thư từ, điện tín, thoả thuận với nhau về số lượng, chất lượng, giá cả, các điều kiện về giao nhận, thanh toán, vi phạm hợp đồng… sau đó ký hợp đồng. Đối với khách hàng truyền thống thì việc giao dịch, đàm phán, thoả thuận đơn giản hơn, bởi vì họ đã có cơ sở từ các hợp đồng trước. Họ chỉ cần thoả thuận một yếu tố biến động như số lượng, giá cả…
- Kiểm tra L/C Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Sở dĩ nhà xuất khẩu phải thực hiện bước kiểm tra L/C bởi vì nó quyết định đến việc thanh toán tiền hàng và các tranh chấp có thể phát sinh dẫn tới người xuất khẩu không thu được tiền khi có hàng hoá đem ra nước ngoài. Vì thế đây là nghiệp vụ không thể thiếu trước khi triển khai thực hiện hợp đồng. Khi nhận thư tín dụng do ngân hàng thông báo, nhân viên phòng xuất nhập khẩu có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu L/C với hợp đồng xem nó có phù hợp với điều khoản trong hợp đồng hay không. Nếu không phù hợp phải có đề nghị gửi tới ngân hàng mở L/C yêu cầu sửa đổi cho phù hợp.
- Chuẩn bị hàng hoá
Đối với Công ty thương mại thì đây là việc gom hàng, phân loại, đóng gói bao bì cho phù hợp. Công ty Haprosimex là Công ty sản xuất hàng xuất khẩu nên việc chuẩn bị hàng hoá là tích cực sản xuất cho kịp thời hạn hợp đồng, phân loại, đóng gói bao bì theo yêu cầu của khách hàng. Việc sản xuất được thực hiện theo kế hoạch sản xuất kinh doanh của phòng kế hoạch vật tư.
- Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu
Về phía Công ty, từ khâu sản xuất cho đến hoàn tất sản phẩm thì tại mỗi bộ phận, phân xưởng đều có bộ phận kiểm tra chất lượng hàng hoá. Về phía khách hàng, họ thuê các Công ty kiểm định để kiểm tra chất lượng. Khi chất lượng đạt yêu cầu thì mới được chất hàng lên tàu và ngược lại công ty sẽ phải sửa đổi sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
- Làm thủ tục hải quan
Khai báo hải quan: nhân viên phòng kế hoạch vật tư xuất nhập khẩu có trách nhiệm kê khai chi tiết về hàng hoá lên tờ khai hải quan để thuận lợi cho việc nộp thuế xuất khẩu và nhập khẩu. Thông thường Công ty làm thủ tục hải quan ở Cục hải quan Hải Phòng.
- Xuất trình hàng hoá: Sau khi làm thủ tục khai báo hải quan nhân viên hải quan kiểm tra hàng hoá, niêm phong và kẹp chì.
- Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiểm tra cơ quan hải quan sẽ có quyết định về lô hàng.
Giao hàng lên tàu Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Công ty Haprosimex giao hàng theo phương thức hàng đủ một container. Vì thường xuất theo điều kiện FOB nên công ty không phải thuê tàu và mua bảo hiểm.
- Thanh toán
Sau khi giao hàng công ty gửi bộ chứng từ tới ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng thông báo yêu cầu thanh toán tiền hàng. Hầu hết công ty sử dụng phương thức thanh toán L/C nhưng một số trường hợp làm ăn với khách hàng truyền thống thì Công ty sử dụng phương thức chuyển tiền.
- Giải quyết khiếu nại
Trong thực tế trường hợp này rất ít xảy ra đối với Công ty Haprosimex.
2.2. Các thị trường xuất khẩu các mặt hàng dệt may của công ty Haprosimex
2.2.1. Tình hình xuất khẩu mặt hàng quần áo sang các thị trường của công ty
- Bảng 2.3. Tình hình xuất khẩu sang các thị trường 2023 – 8/2026
Kể từ năm 2017 Nhật Bản là khách hàng tiêu thụ sản phẩm với khối lượng và giá trị lớn nhất của công ty. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản giảm dần. Đến năm 2024 công ty đã xuất khẩu sang Nhật Bản kim ngạch tăng không đáng kể, chỉ 23.818 USD và đến năm 2025 công ty lại không hề có hợp đồng xuất khẩu sang thị trường này do công ty quá chú trọng đến 2 thị trường lớn là Mỹ và EU. Tuy nhiên Nhật Bản là thị trường tiềm năng lớn, không thể bỏ qua. Nhờ nỗ lực trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu sản phẩm sang Nhật, 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang Nhật tăng đáng kể, đạt 1.026.800 USD.
2.2.2. Đặc điểm các thị trường chính của công ty
Đây là những thị trường lớn mà công ty dự định trong thời gian tới sẽ tập trung phát triển.
Biểu 2.4. Bốn thị trường chính của Công ty
- Mỹ Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Mỹ là thị trường lớn thứ 2 của công ty, chỉ sau EU. Mỹ là thị trường hấp dẫn, lý tưởng của ngành dệt-may vì dân số Mỹ khá đông, hiện có 253 triệu người, đa số sống ở thành thị có mức thu nhập quốc dân cao. Do đó người Mỹ có sức mua lớn và nhu cầu đa dạng. Riêng hàng dệt may nhu cầu nhập khẩu hàng năm lên tới 30-36 tỷ USD như năm 2015 là 34 tỷ USD. Nguồn nhập chủ yếu là từ các nước Châu á. Tuy là thị trường rất hấp dẫn nhưng mãi đến ngày 01/01/2026 Mỹ mới bỏ hạn ngạch cho dệt may Việt Nam và chuyển sang chế độ giám sát hàng dệt may. Năm 2025, trong khi thị trường EU đã bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam nhưng thị trường Mỹ vẫn còn hạn ngạch, do đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của công ty sang Mỹ giảm 26% so với năm 2024. Kể từ khi Mỹ dỡ bỏ hạn ngạch, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ tăng đáng kể, qua 8 tháng đầu năm 2026 kim ngạch đã đạt 9.322.200 USD, bằng 92% kim ngạch xuất khẩu của năm 2025. Do Mỹ đã chuyển sang cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam nên công ty cần có những chuyển hướng thích hợp để phù hợp với tình hình mới nhằm tránh các nguy cơ bị kiện bán phá giá mà vẫn tận dụng được lợi thế công nhân giá rẻ và các yếu tố khác.
- EU
Thị trường EU luôn được coi là thị trường xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của công ty Haprosimex. Thị trường EU với dân số 456 triệu là nơi tiêu thụ lớn và đa dạng các loại quần áo. Mức tiêu thụ thị trường này là khá cao: 17 kg / người / năm. EU hàng năm phải nhập khẩu khoảng 63 tỷ USD từ nhiều nước trên thế giới. Đây là thị trường lớn, có sức mua cao nhưng lại là một thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao. Công ty đã đầu tư rất nhiều cho việc quảng bá và giới thiệu sản phẩm của công ty tại thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này liên tục tăng qua các năm. Cụ thể là năm 2024 kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng 400.316 USD, tăng 4,3% so với năm 2023. Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 10.172.700 USD, tăng 1046166 USD và qua 8 tháng đầu năm 2026 kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 8.663.250 USD, bằng 85,2% kim ngạch năm 2025. Nguyên nhân của kết quả này là do từ ngày 01/01/2024 EU đã chính thức bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam, công ty đã tận dụng cơ hội này và đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU.
Nhìn chung, công ty Haprosimex còn thiếu kinh nghiệm thương trường, thiếu hiểu biết về luật lệ, văn hoá kinh doanh của thị trường EU; việc tiếp thị nắm thông tin về kinh tế thị trường EU còn nhiều hạn chế. Trong tương lai, để nâng cao hiệu quả xuất khẩu sang thị trường này công ty cần chủ động hơn nữa trong việc tìm hiểu các thông tin về thị trường, thói quên tiêu dùng, và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
- Hàn Quốc
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc tương đối ổn định trong các năm gần đây. Năm 2023 kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc là 2.533.900, chiếm tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may là 11,3%. Năm 2024 kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm 913800 USD chỉ đạt 1.620.100 tức là giảm 36% so với năm 2023. Đặc biệt đến năm 2025 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của công ty sang thị trường Hàn Quốc tăng vọt, tăng 3.454.300 USD so với năm trước, tức là tăng 213%. Riêng trong 8 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Hàn Quốc đã đạt 3.190.750 USD, tăng 98% so với năm 2024.
Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992, quan hệ kinh tế thương mại và hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc trên nhiều lĩnh vực đã có bước phát triển đáng kể. Hàn Quốc trở thành bạn hàng mậu dịch lớn thứ tư của Việt Nam. Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng mạnh trong giai đoạn 2021-2025, đạt tốc độ trung bình gần 16%/năm. Năm 2021, Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 468,7 triệu USD và nhập khẩu từ nước bạn 2.279,6 triệu USD, đến năm 2025 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước là 4,713 tỉ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 843 triệu USD.
Đối với thị trường Hàn Quốc, công ty Haprosimex đã sử dụng đại lý bán hàng là các công ty Hàn Quốc thuộc thành viên của Hiệp hội các nhà nhập khẩu. Để xuất hàng sang thị trường này, đây là phương thức phổ biến nhất vì 90% (khoảng trên 100 tỷ USD) kim ngạch nhập khẩu của Hàn Quốc là thông qua Hiệp hội này. Khi xuất khẩu vào Hàn Quốc, Công ty Haprosimex sử dụng các đại lý ở đây, chứ không mua đứt bán đoạn. Tham tán thương mại Việt Nam tại Hàn Quốc cho biết, các doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu hàng may mặc vào Hàn Quốc phải đặt quan hệ trước với các nhà nhập khẩu cung cấp giá và mẫu hàng để tham gia đấu thầu. Nhưng trên thực tế đến nay, mới chỉ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam tham gia đấu thầu còn các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm khác có tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa nắm được quy định trên và chưa tham gia hoạt động này. Vì vậy, hoạt động này cũng cần được công ty Haprosimex chú trọng phát triển trong thời gian tới.
- Nước Cộng Hòa Séc Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Séc là thị trường truyền thống của công ty trong thời gian qua. Tuy nhiên, các năm từ 2023 trở lại đây kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Séc không đáng kể. Tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu rất hạn chế. Năm 2023, kim ngạch chỉ chiếm 4,3% trong tổng kim ngạch. Năm 2024, kim ngạch giảm xuống chỉ còn 2,5 % và đến năm 2025 kim ngạch xuất sang thị trường Séc chỉ chiếm 3,76% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty.
Nước CH Séc chỉ có số dân 10 triệu người nhưng mỗi năm thu hút tới 60 triệu khách du lịch nước ngoài. Đây chính là nơi trung chuyển hàng hoá rất nhanh chóng và thuận tiện tới các nước EU và nhiều nước châu Âu khác nhờ có mạng lưới phân phối hàng hoá rất phong phú. Hiện nay, Séc đang dành cho Việt Nam những ưu đãi về hàng xuất khẩu trong đó có việc không áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may. Đến nay, Hiệp hội DN Việt Nam tại Séc có gần 2 nghìn hội viên tạo thành đầu mối quan trọng hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động xuất nhập khẩu của các DN Việt Nam với bạn hàng Séc. Tháng 11/2022 đã ra đời Trung tâm Thương mại Việt Nam tại Séc với chức năng quảng bá cho các mặt hàng của Việt Nam tìm cơ hội xuất khẩu vào thi trường Séc và các nước EU. Tháng 5/2023, Séc chính thức gia nhập EU càng mở rộng cơ hội cho hàng hoá Việt Nam đi vào khu vực thị trường này. Qua 2 năm hoạt động, Trung tâm này đã phát huy tốt vai trò đầu mối tập kết, giới thiệu và cung cấp hàng hoá có chất lượng cao của Việt Nam, xúc tiến thương mại cho các sản phẩm có thương hiệu, uy tín; tạo cơ sở hỗ trợ các DN của hai nước kiếm đối tác, ký kết hợp đồng trao đổi hàng hoá.
Để nâng sức cạnh tranh hàng dệt may tại thị trường này, công ty Haprosimex cần đầu tư hơn nữa vào sản xuất, nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng mẫu mã đối với hàng may mặc và hạ giá thành sản phẩm. Nhìn chung, hàng may mặc của công ty vào Séc qua những doanh nghiệp đầu mối phân phối đến mạng lưới bán lẻ tới tay người tiêu dùng đều được khách hàng đánh giá cao. Tuy nhiên, công ty chưa làm tốt công tác tiếp thị hàng hoá, vẫn còn quan điểm xem nhẹ thị trường Đông Âu vốn là một thị trường lớn và tương đối dễ tính, thông tin về khu vực thị trường này còn ít. Một yếu tố nữa là công ty chưa mạnh dạn trong việc bán hàng trả chậm vào hệ thống siêu thị ở Séc, trong khi đây lại là thói quen ở thị trường châu Âu. Trên thực tế, kể từ khi bán hàng cho đến khi nhận được tiền hàng, nhà sản xuất phải đợi 4-5 tháng, trong thời gian đó phía đối tác có yêu cầu thêm hàng thì nhà sản xuất phải đáp ứng ngay.
3. Đánh giá những kết quả đạt được và những mặt còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
3.1. Những kết quả đạt được
Công ty Haprosimex đã có 20 năm làm công tác xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam ra thị trường thế giới. Sự thông thạo thị trường, uy tín quốc tế lâu năm, quan hệ bạn hàng mật thiết và có kinh nghiệm trong giao dịch, cộng với chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng là những lợi thế hết sức căn bản cho công ty trong việc đẩy mạnh và phát triển công tác xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
Công ty đề ra chủ trương và biện pháp cụ thể để đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng cơ chế và quy chế khen thưởng khuyến khích xuất khẩu. Do có sự chỉ đạo sát sao của công ty nên hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu luôn luôn hoàn thành kế hoạch đề ra. Công ty có chính sách ưu tiên trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ, có chương trình rõ ràng, dành những chi phí hợp lý và cần thiết cho đào tạo.
Công ty đã phát triển mạng lưới phân phối rộng khắp nhằm xây dựng hình ảnh cuả công ty tại thị trường trong nước và tăng mức xuất khẩu của công ty ở thị trường nước ngoài.
Công ty đã áp dụng các chiến lược giá cả một cách linh hoạt nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công ty.
Cùng với việc được cấp chứng chỉ ISO 9002, công ty cố gắng phấn đấu để có thể đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn của mỗi thị trường nơi công ty xuất khẩu hàng hoá. Đây cũng là công cụ cạnh tranh hữu hiệu của công ty. Với chính sách này giúp thị trường xuất khẩu của công ty ngày càng mở rộng, đặc biệt là các thị trường lớn, ổn định và hứa hẹn một tương lai sáng lạn của công ty như EU, Mỹ, Nhật.
Công ty đã tiến hành nghiên cứu sáng tạo nhiều sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Cùng với các hoạt động quảng cáo khuyếch trương sản phẩm đã góp phần nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của công ty.
Trong những năm qua, Công ty Haprosimex luôn là một trong những doanh nghiệp hoàn thành vượt mức chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, công ty luôn luôn quan tâm tới các cán bộ công nhân viên của mình bởi chính họ là người làm nên thành công của doanh nghiệp, thể hiện qua mức lương đảm bảo mức sống cho mỗi người. Mức thu nhập của cán bộ công nhân viên của công ty không ngừng được cải thiện. Đây chính là một động lực thúc đẩy các thành viên trong công ty phấn khởi, tin tưởng vào sự thành công của công ty hiện tại và tương lai.
3.2. Những mặt còn tồn tại. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Trong những năm qua, công ty Haprosimex đã có nhiều cố gắng trong cạnh tranh ở ngành dệt may và đã thành công đáng kể không chỉ ở trong nước mà còn ở thị trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được công ty còn tồn tại một số mặt hạn chế sau:
Thứ nhất: Công tác tổ chức tạo nguồn hàng chưa tốt dẫn đến việc thiếu nguyên liệu, phải mua với giá cao làm tăng chi phí đầu vào. Do thiếu nguyên liệu, các nhà máy sản xuất không hết công xuất gây lãng phí trong sản xuất cũng làm tăng chi phí.
Chất lượng lao động của công ty không cao đồng thời ý thức của người lao động chưa cao dẫn đến làm việc kém hiệu quả, năng xuất lao động thấp, tỉ lệ sản phẩm sai hỏng cao gây lãng phí nguyên nhiên liệu làm tăng chi phí. Trình độ quản lý và tay nghề của đa phần các cán bộ công nhân viên còn thấp và không đồng đều dẫn đến năng suất lao động thấp. Nên mặc dù chi phí cho một lao động sản xuất hàng dệt may của công ty thấp nhưng hiệu quả lao động lại không cao do đó chi phí sản xuất cao và dẫn đến giá hàng dệt may của công ty đưa ra trên thị trường xuất khẩu so với giá của Trung Quốc vẫn còn một khoảng cách lớn.
Thứ hai: Công tác nghiên cứu, quản lý thị trường chưa được quan tâm đầy đủ, chưa có những cải tiến đáng kể về công nghệ sản xuất, đầu tư cho hoạt động khuếch trương sản phẩm.
Hiện nay, công ty chưa xây dựng được các đại lý tại thị trường nước ngoài. Công tác tiêu thụ hàng thông qua những đại lý nhập khẩu tại các thị trường nhập khẩu. Do đó, công ty cũng không có được các tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để tiếp nhận những thông tin về sản phẩm của mình.
Công tác xúc tiến bán hàng như quảng cáo, khuyến mại tại thị trường nước ngoài lại càng không có do điều kiện về địa lý cũng như khả năng tài chính. Do vậy, công ty chưa tạo được một hình ảnh về sản phẩm của mình trong suy nghĩ của người tiêu dùng nước ngoài. Công tác marketing, xúc tiến thương mại để giới thiệu sản phẩm và nâng cao hình ảnh của công ty trên thị trường xuất khẩu chưa đủ sức mạnh. Các biện pháp mà công ty đang áp dụng chủ yếu là gián tiếp qua các phương tiện sách báo, tạp chí, Catalo, Internet, các biện pháp tiếp xúc trực tiếp với khách hàng thông qua các hội chợ triển lãm hay các cuộc gặp gỡ trực tiếp còn rất ít. Công ty cũng chưa tự tạo dựng cho mình một thương hiệu quốc tế và giới thiệu nó ra thị trường xuất khẩu nên khó khăn cho công tác tiếp thị sản phẩm. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
Thứ ba: Giá thành sản phẩm còn cao, khả năng cạnh tranh về giá cả công ty so với các đối thủ trong và ngoài nước còn yếu. Công ty không chủ động được trong khâu nguyên liệu làm cho giá của sản phẩm tăng lên mà chất lượng lại không cao. Phần lớn các nguyên liệu của công ty phải nhập từ các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hồng Kông. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc nhiều vào chất lượng nguyên liệu đầu vào. Vì vậy, mà các sản phẩm sản xuất ra và xuất khẩu chất lượng không ổn định chưa kể giá thành sản phẩm sẽ bị đẩy lên cao.
Thứ tư: Hạn chế về sản phẩm và chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm của công ty vẫn còn có một khoảng cách đáng kể để có thể cạnh tranh được với sản phẩm của Trung Quốc hay các quốc gia khác. Mặc dù sản phẩm của công ty đã đạt được tiêu chuẩn ISO 9002, nhưng các đối thủ đã áp dụng hoặc bắt đầu áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 về đảm bảo môi trường. Điều này có thể làm giảm sức cạnh tranh về sản phẩm may mặc của công ty trong thời gian tới nếu công ty không đuổi theo họ.
Công ty chưa đầu tư đúng mức tới khâu quan trọng đó là khâu thiết kế, kiểu dáng vẫn còn đơn điệu, mầu sắc kích cỡ chưa đa dạng phong phú chưa phù hợp với mọi lứa tuổi. Khả năng sáng tạo mẫu mốt của công ty còn yếu kém. Một sản phẩm sau khi đưa ra thị trường lại được duy trì trên thị trường trong một thời gian khá lâu. Chỉ khi nào thấy người tiêu dùng đã chán sản phẩm đó doanh nghiệp mới thôi không sản xuất nữa. Công ty chưa nắm bắt rõ được chu kỳ sống của sản phẩm.
Do vậy hoạt động xuất khẩu chủ yếu của công ty là do phía bạn hàng đặt hàng ( mẫu đối mẫu ) mà chưa có mặt hàng chào hàng chủ động.
Cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng, công ty chưa có nhiều loại sản phẩm cao cấp phục vụ cho các đối tượng có thu nhập cao ở những nước phát triển, đây là đoạn thị trường mà công ty còn bỏ trống.
Chất lượng sản phẩm mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn thấp và chưa tạo được sức cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại mặc dù công nghệ sản xuất đã có nhiều đổi mới. Các biện pháp mà công ty áp dụng để nâng cao sức cạnh tranh chủ yếu vẫn là giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong khi xu thế ngày nay, tương quan về giá cả và chất lượng giữa các đối thủ có xu thế ngang bằng nhau, thay vào đó người ta cạnh tranh với nhau bằng các công cụ khác như các dịch vụ bán hàng, hay sự khác biệt hoá sản phẩm của mình. Khóa luận: Thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
