Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình
2.1.1. Thực trạng tình hình chung
Trên cơ sở bài giảng, số liệu thu thập qua một số tài liệu cho thấy dân số thế giới nói chung, dân số Việt Nam, và dân số địa phương nói riêng hằng năm luôn luôn có sự gia tăng.
2.1.2. Thực hiện tình hình dân số và hoạt động công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình
Lương Ninh là xã đông dân, tính đến năm 2025 có 1069 hộ, 4077 khẩu. Phân bố dân cư không đồng đều. Kinh tế-xã hội có phần tương đối phát triển hơn những xã khác nhưng cũng là địa bàn tập trung dân cư đông đúc, trình độ dân trí có phát triển nhưng tính chất của các hoạt động cứng khá đa dạng phức tạp. Bởi lẽ đó nên các phong trào 1 trong những xã mạnh, nhưng mạnh nhất là công tác y tế phục vụ cho việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Công tác y tế ở xã nhiều năm đều được huyện, Sở y tế công nhận là đơn vị có nhiều thành thích xuất sắc. Do đó Lương Ninh những năm trước đây là xã luôn chọn làm xã điểm thực hiện các chưng trình y tế quốc gia. Vào những năm cuối thập kỷ 80 công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình là công tác mới mẽ trên địa bàn huyện, trình độ nhận thức của nhân dân lúc này hầu hết chưa nắm bắt được thông tin gì về công tác này, còn ý thức trách nhiệm của cán bộ đảng viên còn nhiều hạn chế, công tác tuyên truyền vận động còn rất ngỡ ngàng đối với người làm nhiệm vụ trong lĩnh vực này. Năm 1989 Lương ninh được chọn làm xã đầu tiên của huyện triển khai thực hiện chương trình công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình. Trong thời gian này Trung tâm y tế huyện đã xuống trực tiếp triển khai chỉ đạo thực hiện – cùng với sự phối hợp của Uỷ ban nhân dân xã, Trạm y tế xã trong thời gian đầu chủ yếu tập trung vào công tác vận động, cán bộ được phân công xuống tận từng thôn, tổ để sinh hoạt vận động nhân dân, điều tra phân loại đối tượng trong diện sinh đẻ để thực kế hoạch hóa gia đình và chọn 2 thôn: thôn 1 và thôn để làm điểm trong thời gian đầu. Giai đoạn được gọi là “ Vạn sự khởi đầu nan” này gặp rất nhiều khó khăn từ công tác vận động, nắm bắt đối tượng, thực hiện kế hoạch hóa gia đình vì lúc này là lần đầu tiên thực hiện nên người thực hiện kế hoạch chưa thực sự an tâm tin tưởng và cũng rất lo sợ nhưng với sự quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, vận dụng mọi khả năng thuyết phục nên 1 tuần thực hiện vận động ở 2 thôn đã có: 45 chị đến khám và đặt được 15 vòng, đây là cái mốc và cũng là dấu hiệu được nhiều người quan tâm trong bước đầu của chương trình Dân số-kế hoạch hóa gia đình của xã nói riêng và trong toàn huyện nói chung, nhờ đó cũng từ những kết quả đạt được tuy chưa cao và không xảy ra tai biến gì nên công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình sau này có điều kiện mở rộng trên toàn xã.
Trong những năm 1986-1990 công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình được xem là 1 trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế, trong thời gian này chưa hình thành ban dân số, mạng lưới cộng tác viên và cán bộ chuyên trách mà trạm y tế phân công phụ trách khu vực để thực hiện công tác vận động thực hiện chương trình còn hạn chế, tại xã chưa có cán bộ làm dịch vụ và cũng chưa có phòng kế hoạch hóa gia đình nên ở xã chỉ vận động người dân về Trung tâm y tế huyện để thực hiện các biện pháp tránh thai. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Từ năm 1991- nay theo tinh thần của trên tại xã đã thành lập Ban Dân số và đội ngũ cộng tác viên, trong những năm gần đây Lương Ninh đã thực hiện tốt chỉ tiêu nhiệm vụ công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình. Trong những năm gần đây tỷ lệ phát triển dân số, tỷ suất sinh thô có giảm xuống. Đội ban ngành dân số, cộng tác viên và các cán bộ chuyên trách dân số đồng thời được trang bị kiến thức, ngũ cán bộ làm công tác dân số đã được tập huấn, năng lực được nâng cao, hoạt động công tác tuyền truyền đi vào chiều sâu. Tạo được sự được phong trào chấp hành sinh đẻ có kế hoach trong nhân dân.
2.1.3. Đặc điểm tình hình, các chỉ báo Dân số-kế hoạch hóa gia đình
2.1.3.1. Đặc điểm tình hình
Thực hiện chủ trương và kế hoạch của Trung tâm Dân số-kế hoạch hóa gia đình huyện Tiên Phước, trên cơ sở chỉ tiêu về lĩnh vực Dân số-kế hoạch hóa gia đình mà Nghị quyết của Đảng uỷ-HĐND-UBND đề ra. Ban Dân số-kế hoạch hóa gia đình xã triển khai nhiệm vụ chương trình công tác cụ thể hoá phương thức hoạt động, thành những mục tiêu nội dung hoạt động để sớm đi vào thực hiện.
Qua một năm nỗ lực phấn đấu thực hiện với nhiều khó khăn nhất định về nguồn lực. Nhưng dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng sự phối hợp của các ngành đoàn thể. Đồng thời có sự quan tâm nhiệt tình của đội ngũ CTV. Công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả sau:
- Khó khăn
Tiên châu là vùng quê nghèo, trình độ dân trí còn thấp nhiều phong tục tập quán, những quan niệm cổ hủ vẫn còn đè nặng nên việc sinh đẻ không có kế hoạch còn nhiều làm cho đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, thu nhập binh quân đầu người còn thấp vì vậy việc mua sắm những phương tiện phục vụ sinh hoạt còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền vận động người dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình chưa đồng bộ, chưa thể hiện sự phối hợp chặt chẽ với mặt trận các ban đoàn thể. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Tiên châu là xã đông dân, phân bố không đồng đều, địa bàn phức tạp là một xã vừa chợ vừa quê nên tư tưởng còn nhiều chênh lệch, đối tượng trong diện sinh đẻ một số còn nặng tư tưởng “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”, kiếm con trai để nối dõi tông đường hay đông con cho vui cửa vui nhà.
- Thuận lợi:
Có sự lãnh, chỉ đạo của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân xã, Uỷ ban nhân dân xã thể hiện qua các nghị quyết của Đảng ủy, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân, được quán triệt trong cán bộ Đảng viên những cộng tác viên làm công tác dân số trên địa bàn xã. Xem đây là một trong những mục tiêu nhiệm vụ trọng tâm của địa phương, có sự phối hợp hỗ trợ của các ban đoàn thể.
Đội ngũ cán bộ làm công tác dân số trên toàn xã rất nhiệt tình, thực hiện công tác dân số theo phương châm “đi từng ngõ từng nhà, rà soát từng đối tượng”.
Sự chỉ đạo, hỗ trợ trực tiếp của trung tâm Dân số-kế hoạch hóa gia đình huyện Quảng Ninh, Uỷ ban nhân dân xã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác dân sô thể hiện trong việc kiểm tra giám sát hướng dẫn ban dân số xã Lương Ninh hoạt động.
2.1.3.2. Tình hình dân số và sự tác động của phát triển dân số
Sau ngày giải phóng, Lương ninh là một xã mà trước đây vừa là khu đồn của địch, vừa là vùng căn cứ cách mạng nên khi thống nhất đất nước nhân dân về quê khai hoang để phục hồi kinh tế, lập nghiệp. Một số gia đình gần như “tiệt tôn”, một số cặp vợ chồng tăng cường sinh đẻ để tái tạo và duy trì tộc họ. Do đó những năm sau giải phóng dân số tăng nhanh đồng thời trong thời gian này gia đình nào sinh được nhiều con được xem là phúc đức của gia đình, tộc họ. Lúc này công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình hoàn toàn chưa có thông tin gì. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình những năm trở lại đây luôn được các chính quyền địa phương quan tâm, đặt lên hàng đầu, song song với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, thì giảm sinh và sinh con 3+ cũng được tăng cường chỉ đạo thực hiện tại xã nhà. Công tác dân số trong thời gian này đã tăng cường vận động thực hiện sinh đẻ có kế hoạch:
- Mỗi cặp vợ chồng nên dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt.
- Khoảng cách giữa hai lần sinh từ 2 đến 5 năm.
- Không sinh con sớm trước 25 tuổi và không sinh con muộn sau 35 tuổi.
Nếu thực hiện được như vậy thì mới ổn định kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đảm bảo hạnh phúc cho mỗi gia đình, tạo mọi điều kiện cho cha mẹ nuôi dạy con cái, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Phụ nữ mới thực sự được giải phóng tham gia công tác xã hội.
- Kết quả thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình năm 2024
Nhờ được sự quan tâm của cấp lãnh đạo, sự chỉ đạo trực tiếp của ngành cấp trên, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, ban nhân dân thôn và sự nhiệt tình tích cực của các chị em CTV nên công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình trong năm 2025 đạt được kết quả sau:
Về dân số:
- Tổng số hộ : 1069 hộ
- Tổng số nhân khẩu toàn xã đến cuối quý là: 4959 người
- Trong đó tổng số nữ là: 2437 người
- Số trẻ em sinh ra trong năm là: 51 trẻ
- Số trẻ em sinh 3+ trở lên: 13 trẻ
- Số người chết trong năm : 22 người
- Số người chuyển đi khỏi xã trong quý: 18 người
- Trong đó nữ: 18 người
- Tổng số người chuyển đến từ xã khác trong năm: 40 người
- Trong đó nữ: 33 người
Kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
- Vòng: 24
- Triệt sản: 01
- Thuốc cấy: 01
- Thuốc uống: 18 người
- Thuốc tiêm: 08 người
- Bao cao su: 132 người
- Những hoạt động trong năm
Trong năm đã tổ chức 2 đợt chiến dịch truyền thông vận động lồng ghép CSSKSS và kế hoạch hóa gia đình vào ngày 29,30/03/2025 và ngày 04 đến ngày 05/09/2025. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Đã tổ chức gặp mặt đội ngũ cộng tác viên dân số và có các ban ngành đoàn thể tham dự nhân ngày dân số thế giới 11/7 và dân số Việt Nam 26/12/2025
Trong năm đã có cuộc kiểm tra công tác dân số trên địa bàn xã Tiên Châu vào ngày 14/11/2025 do Uỷ ban nhân dân huyện tổ chức.
- Phối hợp với VHTT cắt dán được 12 câu khẩu hiệu
- Tổ chức được 10 lần phát thanh lưu động
Tổ chức họp giao ban CTV dân số vào ngày 28 hàng tháng tại HT Uỷ ban nhân dân xã lấy số liệu sinh, chết, đến, đi của từng thôn, biến động Biện pháp tránh thai, đánh giá hoạt động trong tháng và tổng hợp báo cáo hoạt động trong năm, từ đó để triển khai hoạt động năm 2025.
Tiếp tục vận động các cặp vợ chồng có từ 1-2 con trở lên và các cặp vợ chồng sinh con một bề chưa sử dụng BTTT hoặc đang dùng các BTTT phi lâm sàng sang dùng các BTTT lâm sàng, vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chấp nhận gia đình ít con để có điều kiện chăm lo cho các con và phát triển kinh tế Quyết toán PTTT theo từng quý
Nhận và cấp phát phương tiện tránh thai phi lâm sàng cho CTV; nhận thuốc tiêm, vòng tránh thai cung cấp cho trạm y tế phục vụ cho đối tượng.
- Tăng cường vận động duy trì thôn không sinh 3.
- Nhận thức của người dân về CSSKSS-KHHGĐ
Để có một gia đình hạnh phúc và hòa thuận thì gia đình đó phải là một gia đình khá mạnh, vợ chồng phải có những kiến thức căn bản về CSSKSS cũng như việc vợ, chồng phải cùng nhau bàn bạc và thống nhất lựa chọn số con mong muốn phù hợp với kinh tế gia đình và khả năng sinh con, thời gian sinh và chăm sóc con cái thật tốt.
Kế hoạch hóa gia đình chính là yếu tố quan trọng giúp cho người phụ nữ có giữ gìn và bảo vệ sức khỏe cho mình và cho gia đình đồng thời giúp họ phát triển tài năng tham gia hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nâng cao địa vị người phụ nữ.
Bên cạnh đó, nữ giới tham gia việc dạy con cái tốt hơn, nam giới có điều kiện chăm sóc bản thân và các thành viên gia đình.
Qua nghiên cứu thì đa số người dân đều nhận thức được DSKHHGĐ và CSSKSS do vậy mà đã góp phần giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, trẻ có điều kiện được chăm sóc tốt hơn, quyền trẻ em được thực hiện tốt hơn, cuộc sống các gia đình trên xã được đảm bảo hơn, nâng cao chất lượng dân số xã, đặc biệt là điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát tình hình dân số cũng như sự gia tăng dân số trên địa phương. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Khi được hỏi về lợi ích kế hoạch hóa gia đình thì đa số người dân đều nhận thấy được những lợi ích từ việc kế hoạch hóa gia đình mang lại. Tuy nhiên vẫn còn bộ phận nhỏ người dân còn thiếu nhận thức cũng như việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc phụ nữ khi mang thai và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em nên công tác DSKHGĐ chưa cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn.
Điển hình như chị Nguyễn Thị Mai năm nay 37 tuổi nhưng chị có tới 5 người con và khoảng cách các lần sinh khá gần nhau trong khi đó cách các lần sinh là từ 3-5 năm và mỗi cặp vợ chồng chỉ nên dừng lại từ 1 – 2 con. Tôi có thể nêu tên và các năm sinh của các cháu như sau:
- Trần Thị Nga sinh năm 2012
- Trần Thị Ngọc sinh năm 2014
- TrầnThị Quỳnh sinh năm 2016
- Trần Thị Tú sinh năm 2017
- Trần Thảo sinh năm 2022
Như vậy ý thức chủ động của người dân về kế hoạch hóa gia đình là chưa, mà còn mang tính bị động, một chiều. Theo công tác điều tra thì một phần lớn người chồng đều đồng ý cho vợ mình sử dụng Biện pháp tránh thai để kế hoạch hóa gia đình, tuy nhiên còn một bộ phận người chồng lại không đồng ý cho vợ mình sử dụng Biện pháp tránh thai để kế hoạch hóa gia đình cho đến khi 4, 5 người con hoặc khi có con trai mới đồng ý. Tuy vậy, nhờ sự cố gắng của đội ngũ làm công tác dân số mà công tác DSKHHGĐ và CSSKSS địa phương đã có nhiều kết quả khả quan:
- Giảm trẻ em sinh dưới 2,5kg xuống dưới còn 0,5%, số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện kế hoạch hóa gia đình là 80%.
- 80%-90% phụ nữ được tư vấn CSSKSS kế hoạch hóa gia đình.
- 70-90% VTN được tư vấn về CSSKSS
Giảm tỷ lệ nạo hút thai xuống mức thấp nhất.
100% thôn xóm được bổ sung chính sách Dân số-kế hoạch hóa gia đình vào hương ước của làng xã.(Theo báo cáo kết quả hoạt động công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình xã Tiên Châu năm 2024)
Đa số người dân đều biết một cách đầy đủ về lợi ích của kế hoạch hóa gia đình nhưng bện cạnh đó còn có một số người dân còn nhận thức một cách trừu tượng, chung chung về lợi ích và kế hoạch hóa gia đình mang lại. Điều này là một phần công tác tuyên truyền, phổ biến của cộng tác viên dân số chưa tốt lắm nhưng nguyên nhân chính là do tính chủ quan của bộ phận người dân do trình độ học vấn thấp, người dân không muốn biết lắm, không chủ động tìm hiểu hay lối suy nghĩ tiểu nông là biết cũng chẳng để làm gì. Vì vậy, mà khi nghiên cứu chúng ta hỏi về lợi ích của việc kế hoạch hóa gia đình thì bộ phận này thường trả lời chung chung hoặc không đúng như cuộc sống gia đình tốt hơn, ít con hơn, ít miệng ăn hơn, ít phải mua sắm. Còn khi được hỏi các cách để thực hiện kế hoạch hóa gia đình thì câu trả lời chủ yếu là từ phía phụ nữ còn các ông chồng thì chỉ một số ít biết mà thôi.
Nhìn chung lại thì người dân đều hiểu biết về lợi ích của kế hoạch hóa gia đình, song một số người dân còn có tư tưởng sinh nhiều con, có nếp có tẻ, có con trai để nối dõi tông đường.
2.2 Thực trạng công tác cung cấp thông tin kế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe sinh sản cho người dân. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Theo kết quả của cuộc nghiên cứu thì kể cả những cặp vợ chồng và các thanh niên trong độ tuổi sinh con đều cho rằng những kiến thức kế hoạch hóa gia đình và CSSK là rất cần thiết đối với họ.
Những người trong độ tuổi sinh đẻ kể cả nam và nữ đa số đều hiểu biết nhiều về các Biện pháp tránh thai, những kiến thức và cách sử dụng, cơ chế tác động, hiệu quả tránh thai, cũng như tác dụng phụ và khoảng cách giữa các lần sinh con đó là những kiến thức rất quan trọng đối với họ.
Qua nghiên cứu của Ban Dân số-kế hoạch hóa gia đình xã Lương Ninh đã giúp người dân nâng cao tầm quan trọng trong việc nhận thức những thông tin về kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS hiểu biết của người dân được củng cố. Những nơi thông tin cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cũng được phổ biến rộng rãi.
- Có thể nói rằng:
Kỹ năng sống mà quan trọng là những nội dung, kiến thức khác nhau. Đối với nữ thường có nhu cầu hiểu biết và sâu hơn nam về cơ chế nguyên nhân hậu quả của sinh đẻ không có kế hoạch, nữ thường muốn hiểu nhiều hơn về vệ sinh thân thể, cách phát hiện sớm các bệnh của phụ nữ và cách chăm sóc con cái. Tuy nhiên nam cũng có nhận thức tốt kế hoạch hóa gia đình và CSSKSS cho riêng mình và gia đình mình.
2.2.1. Nhu cầu của người dân về việc tìm hiểu các thông tin về kế hoạch hóa gia đình
Vấn đề tôi muốn nhắc nhở tới ở đây chính là tư vấn tại trạm y tế xã có một phòng ban riêng tư vấn về hạnh phúc gia đình. Đây chính là địa chỉ tin cậy của các cặp vợ chồng nhất là vợ chồng trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống vợ chồng. Nếu như người dân chưa tìm được câu trả lời từ các nguồn thông tin như báo chí, truyền hình, thì một là đến trung tâm tư vấn hạnh phúc gia đình tại trung tâm y tế xã, còn không sẽ có các cộng tác viên giải đáp những thông tin cần thiết, mặt khác cộng tác viên dân số cần đến từng hộ gia đình để tuyên truyền chính sách Dân số-kế hoạch hóa gia đình và CKSS cũng như không sinh con thứ 3.
- Có thể lúc đầu nhắc đến một số người còn e ngại hay ngập ngừng.
- Nhưng khi được tư vấn thì mọi người mới nhận ra và trở nên thân thiện, cởi mở hơn.
- Lúc này họ mới bày tỏ những khó khăn của mình như lo lắng khi
- sử dụng Biện pháp tránh thai, hay là gặp khó khăn khi sử dụng Biện pháp tránh thai, như thuốc uống, bao cao su, hoặc là vợ chồng chưa thống nhất việc sử dụng Biện pháp tránh thai.
- Qua những buổi gặp gỡ như vậy thì người dân tự tin hơn và hiểu ra nhiều vấn đề hơn về kế hoạch hóa gia đình.
- Bên cạnh đó người dân cũng được cung cấp Biện pháp tránh thai và cung cấp thông tin những phương pháp về dịch vụ phá thai an toàn.
2.2.2. Nhu cầu thông tin kế hoạch hóa gia đình của người dân Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Vấn đề tôi muốn nhắc nhở tới ở đây chính là tư vấn tại Trạm y tế xã có một phòng ban riêng tư vấn về hạnh phúc gia đình. Đây chính là địa chỉ tin cậy của các cặp vợ chồng nhất là vợ chồng trẻ còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống vợ chồng. Nếu như người dân chưa tìm được câu trả lời từ các nguồn thông tin như báo chí, truyền hình, thì một là đến trung tâm tư vấn hạnh phúc gia đình tại trung tâm y tế xã, còn không sẽ có các cộng tác viên giải đáp những thông tin cần thiết, mặt khác cộng tác viên dân số cần đến từng hộ gia đình để tuyên truyền chính sách Dân số-kế hoạch hóa gia đình và CKSS cũng như không sinh con thứ 3.
Có thể lúc đầu nhắc đến một số người còn e ngại hay ngập ngừng. Nhưng khi được tư vấn thì mọi người mới nhận ra và trở nên thân thiện, cởi mở hơn.
Lúc này họ mới bày tỏ những khó khăn của mình như lo lắng khi sử dụng Biện pháp tránh thai, hay là gặp khó khăn khi sử dụng Biện pháp tránh thai, như thuốc uống, bao cao su, hoặc là vợ chồng chưa thống nhất việc sử dụng Biện pháp tránh thai.
Qua những buổi gặp gỡ như vậy thì người dân tự tin hơn và hiểu ra nhiều vấn đề hơn về kế hoạch hóa gia đình.
Bên cạnh đó người dân cũng được cung cấp Biện pháp tránh thai và cung cấp thông tin những phương pháp về dịch vụ phá thai an toàn.
2.2.3. Thực trạng về những người cung cấp thông tin dịch vụ và công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình cho người dân
Có thể nhận thấy rõ ràng chất lượng của người cung cấp thông tin dịch vụ và công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, trình độ, kiến thức và kỹ năng của họ trong lĩnh vực này.
Hằng năm cán bộ dân số xã được đi tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Từ đó, về trao đổi, truyền đạt lại cho cộng tác viên từng thôn nhờ vậy mà đội ngũ làm công tác dân số xã đã phần nào được nâng cao cả về trình độ và kỹ năng làm việc. Tuy nhiên lực lượng cộng tác viên còn thiếu kỹ năng truyền thông, dẫn dắt. Đặc biệt ít có các cán bộ là nam giới (2 nam/22 cộng tác viên dân số tại xã) làm công tác này nếu có chắc chắn hiệu quả công tác Dân số-kế hoạch hóa gia đình ở xã sẽ cao hơn nữa. Khóa luận: Thực trạng công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp công tác dân số kế hoạch hoá gia đình
