Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn –chi nhánh Hồng Bàng

  • Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

Ngân hàng SCB có tên tiếng Việt là Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn. Tên giao dịch quốc tế là Saigon Commercial Bank. Với thương hiệu là SCB – Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn đã khẳng định việc hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam của mình ngày càng vững mạnh. Hội sở chính của Ngân hàng được đặt tại 927 Trần Hưng Đạo, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn được cấp giấy phép hoạt động: 00018/NH-GP và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số:4103001562. Là loại hình đơn vị công ty cổ phần tư nhân nhưng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn lại sở hữu vốn điều lệ lớn, nằm trong nhóm 5 Ngân hàng TMCP lớn của Việt Nam. Kể từ ngày 1/1/2024, vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (hợp nhất) là 10.584.000.000.000 đồng (Mười ngàn năm trăm tám mươi tư tỷ đồng).

Ngân hàng TMCP Sài Gòn tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo giấy phép số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc NHNN Việt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND thành phố Hồ Chí Minh cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB).

SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt Nam. Cụ thể: tính đến ngày 27/12/2022. Vốn điều lệ của SCB đạt 4.184.795.040.000 (Bốn ngàn một trăm tám mươi tư tỷ bảy trăm chín lăm triệu bốn mươi ngàn đồng) và ngày 30/09/2023 tổng tài sản của SCB đạt tới 77.985.000.000.000 (Bảy mươi bảy nghìn chín trăm tám lăm tỷ đồng), tăng gần 30% so với đầu năm 2023.

Ngày 26/12/2023 Thống đốc NHNN Việt Nam chính thức cấp giấy phép số 238/GP-NHNN về việc thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở hợp nhất và tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiabank). Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) theo quyết định số 2716/QĐ-NHNN ngày 26-12-2023 của thống đốc NHNN. Chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2024 với vốn điều lệ: 10.584.000.000.000 đồng, tổng tài sản của Ngân hàng: 154.000.000.000 đồng, nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của Ngân hàng hơn 11.000.000.000.000 đồng. Lợi nhuận sau thuế lũy kế trên 1.300.000.000.000 đồng. Hiện nay, hệ thống từ Hội sở chính đến các chi nhánh, phòng giao dịch, quầy giao dịch, điểm giao dịch của SCB là trên khoảng 230 đơn vị được phân bố trải dài từ Nam ra Bắc. Mạng lưới rộng khắp này giúp cho khách hàng giao dịch thuận lợi và tiết kiệm nhất có thể. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

SCB còn tạo dựng thế mạnh của mình bằng việc liên kết với các tổ chức tín dụng khác: ký hợp toàn diện với các Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV), Ngân hàng Ngoại thương (vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank)…SCB hiện đang đứng thứ 4 và tổng tài sản và đứng thứ 3 về dư nợ Tín dụng so với các Ngân hàng TMCP khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng

Trước hợp nhất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng là Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hải Phòng trực thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Chi nhánh Hải Phòng được thành lập từ ngày 19/11/2019 tại 97 Điện Biên Phủ, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng. Theo quyết định số 52/2023/QĐ/HĐQT ngày 30/12/2023 của HĐQT về việc đổi tên chi nhánh Hải Phòng thành chi nhánh Hồng Bàng và trụ sở được đặt tại số 5A, đường Hoàng Văn Thụ, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng để thuận tiện theo điều kiện phát triển của Ngân hàng.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng tuy mới chỉ đi vào hoạt động được hơn 6 năm nhưng SCB Hải Phòng đã xây dựng được lòng tin và sự yêu mến của đông đảo khách hàng tại địa phương nhờ sản phẩm đa dạng, phong phú với nhiều lợi ích vượt trội cùng phong cách phục vụ tận tình, chu đáo của đội ngũ cán bộ công nhân viên. Với những thành tựu trong 6 năm qua đạt được, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) – Chi nhánh Hồng Bàng ngày càng khẳng định được vị thế và uy tín của mình trên thị trường Ngân hàng.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.1.2.1. Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

2.1.2.2. Nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban

  • Bộ máy quản lý chi nhánh

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng hoạt động theo chức năng riêng đã được phân công với sự điều hành của ban lãnh đạo chi nhánh gồm:

  • Giám đốc chi nhánh: Ông Phạm Thống Nhất
  • Trưởng phòng kế toán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên
  • Trưởng phòng kinh doanh: Ông Trương Anh Đức
  • Trưởng bộ phận hành chính: Bà Vũ Thu Hà
  • Giám đốc phòng GD Lạch Tray: Ông Lưu Dũng Anh
  • Giám đốc phòng GD Trần Nguyên Hãn: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh
  • Phó giám đốc phòng GD Đông Bắc: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh

Chức năng, nhiệm vụ cơ bản

Nhìn vào sơ đồ cơ cấu tổ chức trên, ta thấy được cơ cấu tổ chức hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng bao gồm:

  • Giám đốc chi nhánh

Nhiệm vụ: Chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ bộ máy quản lý của Ngân hàng, trực tiếp phụ trách phòng kinh doanh, phòng kế toán, bộ phận hành chính và 3 phòng giao dịch.

Chức năng:

  • Lập chiến lược phát triển và các công cụ chiến lược triển khai trong chi nhánh ngân hàng.
  • Lập kế hoạch làm việc, phân công công việc, ủy quyền và quản lý thực hiện công việc.
  • Quản lý rủi ro và chất lượng nợ tại chi nhánh.
  • Quản lý chất lượng dịch vụ tại chi nhánh.
  • Xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp.

Phòng kinh doanh

  • Nhiệm vụ: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Phụ trách việc tìm kiếm, liên hệ với khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn, nghiên cứu chiến lược kinh doanh và đề xuất chính sách ưu đãi với khách hàng.

Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kĩ thuật, danh mục khách hàng, lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và hiệu quả, thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền, tiếp nhận và thực hiện chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước… thường xuyên phân loại nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục.

Bộ phận tín dụng

  • Chức năng:

Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ tín dụng của khách hàng chuyển đến đảm bảo phù hợp với quy định của ngân và của pháp luật hiện hành.

Thực hiện các thủ tục để hoàn thành khoản vay.

Gặp gỡ khách hàng, nghiên cứu hồ sơ, chất vấn chuyên viên khách hàng, lập báo cáo tái thẩm định, đệ trình lên cấp có thẩm quyền xem xét và phê duyệt các khoản vay món thuộc hạn mức tín dụng, các khoản hạn mức tín dụng ngắn hạn.

Thực hiện tái thẩm định tất cả các khoản cho vay thể nhân theo sản phẩm, các khoản vay ngắn hạn, chiết khấu, mở L/C, bảo lãnh thuộc hạn mức khách hàng đã được cấp có thẩm quyền duyệt hạn mức.

Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu của cấp phê duyệt đối với các khoản vay. Kịp thời phát hiện những vi phạm và các dấu hiệu ảnh hưởng đến mức độ an toàn của khoản vay, trình cấp có thẩm quyền xử lý.

Ghi nhớ và thấu hiểu các chính sách tín dụng, thực hiện thẩm định tuân thủ các chính sách và có thể diễn giải nội dung áp dụng chính sách tín dụng vào hồ sơ cụ thể. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Hiểu rõ về các sản phẩm phục vụ khách hàng doanh nghiệp và các rủi ro tiềm ẩn của sản phẩm để đảm bảo nội dung chất lượng của công tác thẩm định.

  • Bộ phận thanh toán quốc tế

Chức năng:

Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu mở L/C của phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, các phòng giao dịch và các chi nhánh.

Mở thư tín dụng, chuyển cho Kiểm soát viên kiểm soát và cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Kiểm tra chứng từ hàng nhập khẩu, làm thông báo cho khách hàng trình cấp có thẩm quyền duyệt sau đó chuyển cho phòng Doanh nghiệp, các phòng giao dịch, các chi nhánh. Liên hệ với phòng Dịch vụ Ngân hàng Doanh nghiệp, phòng giao dịch, chi nhánh khi bộ chứng từ đến hạn thanh toán.

Làm điện thông báo ra nước ngoài khi bộ chứng từ có sai sót, hủy L/C, hay các vấn đề liên quan đến L/C khi có phát sinh. Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, phát điện đi.

Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền quốc tế. Ghi sổ chứng từ chuyển tiền và thanh toán L/C. Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát sinh. Lưu các hồ sơ có liên quan.

  • Phòng kế toán

Nhiệm vụ:

Trong tổ chức, quản lí công tác kế toán, tài chính giúp cho Ngân hàng hoạt động theo đúng quy định của Ngân hàng và Nhà nước, giúp Giám đốc Ngân hàng điều hành và quản lí nguồn vốn và tài sản của Ngân hàng một cách chính xác, an toàn, hiệu quả và phát triển vốn theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Tham mưu xây dựng về công tác kế toán, tài chính. Tính toán và phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của Ngân hàng một cách đầy đủ, chính xác tuyệt đối, trung thực, kịp thời và có hệ thống, tổ chức thiết lập đầy đủ hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ các chứng từ kế toán, phân tích tình hình tài chính, hoạt động của Ngân hàng qua đó tham mưu cho Giám đốc tổ chức quản lí hoạt động tài chính, phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

  • Bộ phận kế toán nội bộ

Chức năng:

  •  Kế toán chi tiêu nội bộ (quản lý và hạch toán các khoản chi tiêu của Ngân hàng).
  •  Kế toán thuế. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.
  •  Kế toán tài sản (bao gồm cả quản lý và hạch toán TSCĐ, công cụ lao động, vật liệu, chi phí chờ phân bổ của Ngân hàng).
  •  Các khoản thanh toán nội bộ trong hệ thống (điền chuyển vốn, thu chi hộ).

Bộ phận kế toán giao dịch

Chức năng:

  •  Nhận và chi trả gốc cộng lãi tiền gửi.
  •  In sổ phụ.
  •  Trả lời thắc mắc về lãi suất huy động.

Bộ phận ngân quỹ

  • Chức năng:

Thực hiện thu, chi tiền mặt, ngân phiếu thanh toán và các loại ngoại tệ. Kiểm tra, kiểm soát các loại chứng từ trước khi thu, chi: chữ kí, chứng minh thư nhân dân, số tiền…

Đối chiếu bảng kê thu, chi tiền khớp đúng với chứng từ thực tế.

Kiểm tra phát hiện tiền giả, lập biên bản thu giữ theo đúng quy định hiện hành. Chọn lọc tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, loại bỏ tiền theo quy định.

Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục nộp/lĩnh tiền, giải đáp mọi thắc mắc cho khách hàng về các nghiệp vụ liên quan. Nhập số liệu vào máy, căn quỹ cuối ngày.

  • Phòng hành chính

Nhiệm vụ: Thực hiện công tác giao dịch, tiếp đón khách hàng đến liên hệ công tác. Đứng đầu là trưởng phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo các cán bộ của phòng mình trong công việc quản lí công tác tổ chức cán bộ của chi nhánh, công việc mua sắm và thanh lí các tài sản của cơ quan phục vụ theo yêu cầu công tác của Ngân hàng.

  • Chức năng:

Phân tích năng suất lao động, các chỉ tiêu đo lường kết quả công việc của các cán bộ nhân viên làm cơ sở tư vấn cho Lãnh đạo về các giải pháp tăng năng suất lao động.

Tiếp nhận hồ sơ nhân sự, nhập, lưu trữ, tổng hợp và cung cấp các thông tin nhân sự trên toàn hệ thống.

Tham mưu về bố trí vị trí công việc toàn hệ thống căn cứ vào kế hoạch kinh doanh, kế hoạch nhân sự và thay đổi nhân sự trong từng thời kì.

  • Các phòng giao dịch

Thực hiện công tác huy động tiền gửi của dân cư và Doanh nghiệp, thực hiện cho vay đối với cá nhân, Doanh nghệp vừa và nhỏ.

2.1.3. Các hoạt động nghiệp vụ đang có tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Cá nhân

  • Tiền gửi tiết kiệm
  • Tiền gửi thanh toán
  • Phát hành giấy tờ có giá

Doanh nghiệp

  • Tiền gửi có kì hạn
  • Tiền gửi thanh toán
  • Phát hành giấy tờ có giá

2.1.3.2 Hoạt động cho vay

Với cá nhân

  • Cho vay tiểu thương
  • Cho vay chứng minh năng lực tài chính đối với khách hàng các nhân
  • Cho vay cầm cố sổ/ thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá và số dư tài khoản tiền gửi
  • Cho vay ủy thác
  • Cho vay du lịch cho người cao tuổi

Với doanh nghiệp

  • Cho vay ủy thác
  • Vay ngắn hạn
  • Vay trung và dài hạn
  • Cho vay cầm cố chứng khoán niêm yết để kinh doanh chứng khoán
  • Cho vay VNĐ tài trợ xuất khẩu lãi suất USD

2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ khác

Với khách hàng cá nhân có:

  • Dịch vụ chuyển tiền Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.
  • Dịch vụ ngân quỹ (dịch vụ kiểm đếm, dịch vụ thu đổi khác mệnh giá, dịch vụ thu/chi hộ tận nơi, dịch vụ giữ hộ vàng)
  • Dịch vụ khác ( dịch vụ kí quỹ để thành lập doanh nghiệp và duy trì doanh nghiệp, dịch vụ xác nhận số dư chứng minh năng lực tài chính)

Với khách hàng doanh nghiệp có:

  • Bao thanh toán
  • Dịch vụ ngân quỹ
  • Thanh toán quốc tế
  • Dịch vụ kí quỹ để thành lập doanh nghiệp và duy trì doanh nghiệp
  • Dịch vụ thanh toán tự động hóa đơn trong nước

2.1.4. Những thuận lợi và khó khăn

2.1.4.1. Những thuận lợi

  • Vị trí địa lý:

Nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng, đông đúc dân cư, giao thông thuận tiện giúp chi nhánh huy động được các nguồn tiền nhàn rỗi từ trong dân cư cũng như nền kinh tế.

  • Cơ sở hạ tầng:

Sở hữu hạ tầng kì thuật ngân hàng hiện đại, SCB có lợi thế rõ nét trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao. Các dịch vụ: SCB Internet Banking, SMS Banking, Bill Payment….đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) cho khách hàng.

  • Thuận lợi khác:

SCB- chi nhánh Hồng Bàng luôn nhận được sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ và hỗ trợ về mọi mặt công tác từ phía chi nhánh như hỗ trợ về vốn, bổ sung chuyên môn, trang bị cơ sở vật chất – công nghệ Ngân hàng để mở rộng và nâng cao hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Tinh thần đoàn kết đồng tâm hợp lực của các cán bộ công nhân viên trong đơn vị, là thế mạnh nội tại đã tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh Hồng Bàng vượt qua nhiều thử thách gay go để đứng vững và tồn tại, phát triển trong nền kinh tế thị trường.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn có 1 số chi nhánh ưu đãi khác với các ngân hàng khác: hỗ trợ 1 phần phí bảo hiểm, giảm lãi suất nếu doanh thu chuyển về ngân hàng. Điều này làm tăng lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng khác.

2.1.4.2. Những khó khăn

Ngoài những thuận lợi nêu trên SCB chi nhánh Hồng Bàng trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng gặp không ít khó khăn, thử thách.

Hoạt động trên địa bàn có rất nhiều Ngân hàng thương mại cũng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng nên luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, do đó dễ dẫn tới những rủi ro.

Cơ sở vật chất của chi nhánh tuy đã được đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao trong kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Sản phẩm Ngân hàng còn đơn điệu chưa thật sự hấp dẫn để thu hút khách hàng, nguồn vốn huy động chưa được khai thác triệt để, không đủ đáp ứng cho nhu cầu của người vay.

Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong cơ chế thị trường. Vì vậy cũng gây nhiều khó khăn trong việc bố trí cán bộ và hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

Còn giữ tâm lý thụ động chờ khách hàng đến với mình mà không chủ động tìm kiếm mở rộng đối tượng khách hàng.

Kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn dẫn đến dòng tiền của khách hàng tổ chức luân chuyển qua ngân hàng bị tiết giảm làm cho kênh huy động vốn từ các tổ chức kinh tế gặp nhiều trở ngại.

Kinh tế toàn cầu suy thoái dẫn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn thua lỗ hoặc bị phá sản, giải thể… gây khó khăn cho chi nhánh trong việc mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp đó.

2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2023– 2025

Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã mở rộng quy mô hoạt động và ngày càng phát triển. Không những thế mà công tác huy động vốn, sử dụng vốn được chú trọng không kém, nhiều hình thức tiếp cận khách hàng được sử dụng. Từ đó đã nâng cao được hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.

  • Bảng 1: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2023 – 2024 – 2025

Qua báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng giai đoạn 2023 – 2025 ta thấy:

Thu nhập từ lãi và các khoản tương tự tăng dần qua các năm từ 88.248,4 triệu đồng sang 119.943,6 triệu đồng, tăng thêm 31.695,2 triệu đồng ứng với 35,92%. Năm 2025 tốc độ tăng trưởng lên tới 165.051 triệu đồng, tăng 45.107,4 triệu đồng ứng với 37,61%. Trong những năm này thu nhập chủ yếu kiếm được từ lãi suất cho vay. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có những chỉ thị yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để đảm bảo nguồn vốn cần thiết cho doanh nghiệp nhưng với tình hình thực tế như hiện nay, nguồn vốn huy động ngày càng khan hiếm, lạm phát tăng cao thì lãi suất cho vay không thể giảm trong thời gian ngắn. Việc tăng thu nhập cũng làm tăng chi phí lãi. Có thể nói đây là định hướng mục tiêu kinh doanh đúng đắn của Ngân hàng.

Chi phí lãi năm 2023 là 66.217,7 triệu đồng sang năm 2024 tăng lên 99.142,5 triệu đồng (tăng thêm 32.924,8 triệu đồng tương ứng với 49,72%) và năm 2025 là 139.273,4 triệu đồng (tăng thêm 40.130,9 triệu đồng tương ứng với 40,48%). Xét về chênh lệch thì giai đoạn 2023 – 2024 tăng nhiều hơn. Đó là do tốc độ tăng của tiền gửi khách hàng trong năm 2024 là lớn nhất (45.107,4 triệu đồng), điều đó lí giải một cách hợp lý cho chi phí lãi tăng.

Nhưng xét thấy thu nhập lãi thuần năm 2024 là 20.081,1 triệu đồng thấp nhất trong 3 năm (2023 là 22.030,7 triệu đồng và 2025 là 25.777,6 triệu đồng). Năm 2023 so với năm 2024, thu nhập lãi giảm 1.229,6 triệu đồng tương ứng với 5,58%. Mức chênh lệch giữa thu nhập và chi phí này giúp ta nhận thấy rằng trong năm 2024 ngân hàng nắm trong tay lợi thế về huy động nhưng đã không xử lý tốt trong quản lý, sử dụng và gây ra lãng phí làm tăng chi phí lãi. Tuy nhiên, do năm 2024 cũng là năm kinh tế gặp nhiều biến động nên việc không cân đối được giữa thu nhập và chi phí là điều không thể tránh khỏi.

Vận dụng tốt thế mạnh và cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã làm cho mức thu nhập từ hoạt động dịch vụ của mình tăng dần qua các năm. Năm 2023 là 1.168,4 triệu đồng; năm 2024 tăng thêm 3.279,8 triệu đồng ứng với 280,71% và 2025 là 4.991,5 triệu đồng. Khác với việc quản lý từ lãi, ngân hàng đã xử lý tốt chi phí từ hoạt động dịch vụ với số tiền là 376,8 – 370,6 – 434,7 triệu đồng, tỷ lệ thuận với thu nhập ở giai đoạn 2023 – 2024 – 2025.

Lãi từ hoạt động dịch vụ năm 2023 là 719,6 triệu đồng, năm 2024 là 4.077,6 triệu đồng (giai đoạn 2023 – 2024 tăng 3286 triệu đồng ứng với 415,11%), một mức tăng báo hiệu tốt cho việc điều hành quản lý và phát triển tốt các hoạt động dịch vụ của ngân hàng. Sang năm 2025 lãi từ hoạt động dịch vụ là 4.556,8 triệu đồng, mức lãi vẫn tăng nhưng chỉ là 11, 75% tương ứng với 479,2 triệu đồng trong giai đoạn 2024 – 2025. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Lãi thuần từ hoạt động khác của ngân hàng thì lại giảm đi ở giai đoạn này từ 139,9 triệu đồng trong năm 2023 xuống 59,677 triệu đồng trong năm 2024 ( giảm 80,223 triệu đồng tương ứng với 57,34%) và năm 2025 còn 36,3 triệu đồng (giảm 23,377 triệu đồng tương ứng với 39,17% so với năm 2024). Do chú trọng tới các sản phẩm hay ngành nghề chính của mình nhằm cải thiện và nâng cấp chúng nên các hoạt động khác ngoài chuyên môn ngân hàng đã thu hẹp lại. Điều đó làm cho lãi thuần giảm xuống đáng kể.

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nên chi phí hoạt động tăng dần qua các năm. Chi phí hoạt động năm 2023 là 8.510 triệu đồng sang năn 2024 tăng lên 10.378,2 triệu đồng (tăng 1.868,2 triệu đồng tương ứng với 21,95%). Năm 2025, chi phí hoạt động là 14.458,4 triệu đồng (tăng 4.080,2 triệu đồng tương ứng với 39,32%). Tuy nhiên chi nhánh luôn cố gắng trong việc kiểm soát những rủi ro, quản lý tốt chi phí và thu nhập cho thấy kết quả của việc hoạt động hiệu quả đã đem lại kết quả kinh doanh khả quan.

2.2.2. Hoạt động huy động vốn

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng luôn xác định vốn giữ vai trò quyết định, khách hàng luôn được đặt lên hàng đầu của hoạt động kinh doanh, Ngân hàng là bạn hàng thực hiện đi vay để cho vay, nhằm huy động tạo lập nguồn vốn lớn.

  • Bảng 2: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn năm 2023 – 2025

Nếu phân loại tiền theo thời gian ta sẽ có được 3 loại là: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng.

Nhìn qua bảng số liệu ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Vì tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn các nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. Do nhận định nguồn tiền gửi không kỳ hạn là nguồn tiền có tính chất kém ổn định nhưng chi phí hoạt động rất thấp, hưởng chênh lệch cao nên ngân hàng cần có nhiều biện pháp để đẩy mạnh nguồn tiền này.

Năm 2023 tiền gửi không kỳ hạn là 69.324 triệu đồng, chiếm 7,56% trong tổng vốn huy động. Năm 2024 còn 38.499 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 4,03% vốn huy động, tỷ lệ giảm 44,46%, đây là năm mà tiền gửi không kì hạn giảm mạnh nhất trong 4 năm 2022-2025. Sang năm 2025 tiền gửi không kì hạn là 99.110 triệu đồng, tăng trở lại một cách mạnh chiếm tỷ trọng những 10,04% nguồn vốn huy động. So với năm 2024 năm 2025 tăng 60.611 triệu đồng ứng với 157,43%, tăng 150% so với năm trước. Năm 2025 tiền gửi không kì hạn tuy chiếm 10,04% nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng của các chi nhánh Ngân hàng trên địa bàn. Lãi suất của tiền gửi không kì hạn thường rất thấp cho nên nguồn vốn này tăng nhiều sẽ giúp cho Ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Nên Ngân hàng cần quan tâm tới đẩy mạnh nguồn tiền này hơn nữa.

Loại tiền thứ 2 chính là tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng. Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, được xếp vào loại tiền gửi ngắn hạn của Ngân hàng, lãi suất sẽ cao hơn tiền gửi không kì hạn. Nhìn vào bảng số kiệu ta thấy tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn đưới 12 tháng tăng đều qua các năm 2023 –2025, tuy năm 2025 có giảm so với năm 2024 nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao. Năm 2023 là 598.244 triệu đồng chiếm 65,24%. Sang năm 2024 loại tiền này là 710.333 triệu đồng tăng 122.089 triệu đồng ứng với 18,74%. Năm 2024 tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng chiếm 75,53% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động. Năm 2025 tiền gửi ngắn hạn là 689.429 triệu đồng chiếm 69,84%. So với năm 2024 tiền gửi ngắn hạn giảm 20.904 triệu đồng ứng với 2,94%.Đây là năm duy nhất trong 3 năm 2023-2025 loại tiền gửi này giảm tỉ trọng trong vốn huy động, giảm 8,76%.Tuy vậy với tỉ trọng là 69,84% thì con số này vẫn đứng chủ đạo trong 3 loại tiền gửi. Việc giảm tỷ trọng này là do loại tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh vào năm 2025 như ta đã phân tích ở trên. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Loại tiền gửi thứ 3 chính là tiền gửi trung và dài hạn . Đây là nhóm tiền gửi mà có tính ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng, theo nguyên tắc kì hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Nhìn chung ta thấy tiền gửi trung và dài hạn trong chi nhánh luôn đứng vững từ 20-29% trong tổng vốn huy động. Nhưng trong 3 năm 2023-2025 thì tỉ trọng của loại tiền này giảm đều qua các năm. Điều này có thể có thể hiểu được vì trong những năm kinh tế khó khăn, khủng hoảng tài chính kéo dài trên thế giới và không ngoại trừ thị trường Việt Nam, việc giữ ổn định những khoản tiền huy động với kì hạn dài là rất khó. Năm 2023 tiền gửi trung và dài hạn là 249.422 triệu đồng chiếm 27,2%. Năm 2024 loại tiền này chiếm 20,44% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động ứng với tương ứng với 154.900 triệu đồng. So với năm 2023 tiền gửi trung và dài hạn giảm 94.522 triệu đồng ứng với 37,89%. Nhưng tới năm 2025 khi tiền gửi trung và dài hạn tăng nhưng không tăng được bằng năm 2023. Tiền gửi kì hạn trung và dài hạn là 198.616 triệu đồng vào năm 2025 ứng với tỉ trọng 20,12%. So với năm 2024 năm 2025 đã tăng 43.716 triệu đồng ứng với 28,22%.

  • Bảng 3: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ qua các năm 2023 – 2025

Năm 2023 số nội tệ huy động được là 802.091 triệu đồng, chiếm 87,47% trong tổng vốn huy động. Đến năm 2024 thì nội tệ chỉ còn 771.245 triệu đồng, giảm 30.846 triệu đồng tương ứng với 3,85% so với 2023. Tỷ trọng nội tệ năm 2024 là 771.245 triệu đồng còn 85,43% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 2,13% so với năm 2023. Năm 2024 là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng của biến động xã hội nên tổng nguồn vốn huy động năm 2024 là 903.732 triệu đồng, giảm 13.258 triệu đồng so với năm 2023. Nhưng tới năm 2025 nội tệ tăng 57.077 triệu đồng so với 2024 (nội tệ năm 2025 là 828.322 triệu đồng) ứng với 7,4%. Đó là tín hiệu đáng mừng cho chi nhánh khi mà số nội tệ huy động đã tăng. Vì nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên nếu việc huy động nội tệ giảm sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền mà ngân hàng huy động. Tuy năm 2025 tăng số tiền huy động bằng nội tệ nhưng so với tổng nguồn vốn huy động là 987.155 triệu đồng lại giảm 1,43% so với năm 2024 ứng với 83,91%.

Năm 2023 số ngoại tệ là 114.899 triệu đồng, chiếm 12,53% trong tổng vốn huy động. Đến năm 2024 ngoại tệ là 132.487 triệu đồng tăng 17.588 triệu đồng ứng với 15,31%. Tỷ trọng ngoại tệ của năm 2024 tăng 2,31% ứng với 14,66% so với năm 2023. Năm 2025, ngoại tệ chiếm 16,09% ứng với 158.833 triệu đồng trên tổng nguồn vốn huy động 987.155 triệu đồng ;so với năm 2024 ngoại tệ tăng 26.346 triệu đồng tăng 19,89% giúp cho tỷ trọng tăng tương ứng với 1,43%.

Việc tăng nội tệ giúp ta thấy được công tác huy động vốn của ngân hàng với đối tượng khách hàng trong nước. Đây gần như là nhóm khách hàng quan trọng của ngân hàng. Qua đó ta thấy được ngân hàng đã tạo được lòng tin đối với nhóm khách hàng trong nước. Còn xét về ngoại tệ chính là đối tượng khách hàng quốc tế hay các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu. Việc ngoại tệ tăng giảm không đều chính là do nền kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng của biến động nền kinh tế thế giới.

2.2.3. Hoạt động cho vay Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Trong năm 2025, kinh tế đất nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Khách hàng của chi nhánh chiếm phần lớn là doanh nghiệp kinh doanh sắt thép, vận tải biển, đầu tư dự án…nên chịu nhiều biến động lớn và suy giảm về doanh thu, hàng hóa ứ đọng, tiêu thụ khó khăn….phát sinh nhiều nợ xấu.

Do tình hình kinh tế không thuận lợi trong giai đoạn 2023 – 2025, chi nhánh thực hiện phát triển tín dụng theo định hướng Nghị quyết 11 của Chính phủ, tập trung thu hồi nợ xấu và đặc biệt thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát khoản vay. Đồng thời chi nhánh quán triệt thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 01/ CT-NHNN ngày 13/02/2024 của NHNN về việc: tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả và công văn số 674/ NHNN-CSTT ngày 13/02/2024 của NHNN về việc kiểm soát tín dụng năm 2024 và những năm sau đó.

Để kiểm soát tăng trưởng và cơ cấu danh mục tín dụng, chi nhánh luôn bám sát chỉ tiêu được giao và những chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, SCB nhằm đảm bảo chủ động thực hiện, đặc biệt kiểm soát dư nợ cho vay ngoại tệ, dư nợ cho vay trung dài hạn, dư nợ cho vay phi sản xuất đồng thời chi nhánh hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ

  • Biểu đồ 1: Tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng qua các năm

Trước bối cảnh nền kinh tế Việt Nam còn đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng mở rộng đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Qua biểu đồ trên ta thấy hoạt động cho vay của Ngân hàng trong các năm qua có sự biến động liên tục. Từ năm 2023 đến năm 2025 dư nợ cho vay của Ngân hàng từ 639.856 triệu đồng tăng lên 936.317 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,33%. Sở dĩ dư nợ cho vay tăng như vậy là do Chính phủ đưa ra các gói kích cầu nhằm khuyến khích nền kinh tế. Tận dụng cơ hội đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã có những quyết định đúng đắn trong chiến lược kinh doanh của mình như giảm lãi suất cho vay, cung cấp các sản phẩm tín dụng đa dạng nhiều ưu đãi… để thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Từ năm 2024 đến năm 2025, dư nợ cho vay của Ngân hàng bị giảm xuống từ 936.317 triệu đồng trong năm 2024 xuống còn 875.176 triệu đồng trong năm 2025. Mặc dù đến năm 2025, dư nợ cho vay của Ngân hàng có giảm xuống tuy nhiên lượng giảm này không đáng kể khi lạm phát tăng cao, diễn biến phức tạp về mặt bằng lãi suất cùng với sự tăng trưởng nóng của một số kênh đầu tư nhưng rủi ro cao như vàng, ngoại tệ, chứng khoán… Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Để hiểu rõ hơn hoạt động cho vay tại Ngân hàng, ta xem xét bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại Ngân hàng:

  • Bảng 4: Bảng kết cấu dư nợ cho vay theo loại tiền tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Xem xét bảng kết cấu trên ta thấy, tỷ trọng dư nợ cho vay tại Ngân hàng chủ yếu là các khoản cho vay nội tệ: năm 2023 dư nợ cho vay nội tệ tại Ngân hàng chiếm 91,37%, năm 2024 là 87,84% và năm 2025 là 85,08%. Ngân hàng tập trung chủ yếu cho vay nội tệ là do khi cho vay ngoại tệ, Ngân hàng không những phải đối phó với những rủi ro thông thường mà còn phải đối phó với rủi ro tỷ giá, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng tài chính và nợ công.

Hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng chủ yếu xuất phát từ 2 hoạt động cho vay chính, đó là: cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.

  • Bảng 5: Bảng cơ cấu cho vay theo hình thức cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Qua bảng cơ cấu dư nợ cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng, ta thấy hoạt động cho vay chủ yếu là cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước; các khoản cho vay này chiếm một tỷ trong rất lớn trong cơ cấu dư nợ cho vay của Ngân hàng. Chi nhánh mới được thành lập nên việc Ngân hàng quan tâm trước tiên đó là cho khách hàng trong nước biết đến thương hiệu của Ngân hàng do đó trong những năm vừa qua chi nhánh rất chú trọng đến việc cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Hơn nữa, với diễn biến phức tạp của nền kinh tế hiện nay cùng với sự xuất hiện của các Ngân hàng nước ngoài làm cho sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng trở nên gay gắt thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nên tập trung vào các hoạt động truyền thống như cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước. Để giảm thiểu rủi ro, Ngân hàng nên mở rộng ra các hoạt động khác để đa dạng hóa danh mục cho vay của Ngân hàng, thu hút nhiều khách hàng hơn, không chỉ khách hàng trong nước mà cả khách hàng nước ngoài. Trong cơ cấu dư nợ cho vay của Ngân hàng còn có hoạt động cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư; hoạt động này chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng do hoạt động này là hoạt động mới tại Ngân hàng.

2.3. Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

  • CÁC CHỈ TIÊU ĐỊNH LƯỢNG

2.3.1. Tình hình hoạt động tín dụng

2.3.1.1. Dư nợ tín dụng

Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động quan trọng và mang lại nguồn thu chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá và cho thuê tài chính. Đối với các ngân hàng thương mại thì cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất và với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy, hoạt động tín dụng chủ yếu của Ngân hàng là hoạt động cho vay.

  • Bảng 6: Tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng

Qua bảng số liệu ta thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng năm 2023 có số dư nhỏ nhất là 639.856 triệu đồng, tuy nhiên vẫn tăng so với năm trước đó là 58.646 triệu đồng ứng với 10,09%. Năm 2024 là có số dư lớn nhất với 936.317 triệu đồng, so với năm 2023 đã tăng lên 46,33%. Nguyên nhân là do trong năm 2024 các doanh nghiệp tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế; hơn nữa cùng với sự thay đổi cơ chế thị trường thì các Ngân hàng thương mại cũng đổi mới cơ chế tín dụng, áp dụng chính sách lãi suất thỏa thuận…tạo điểu kiện cho các doanh nghiệp đến vay vốn sản xuất kinh doanh. Tuy đến năm 2025, hoạt động tín dụng của Ngân hàng có giảm nhưng số giảm không quá lớn, so với năm 2024 thì bị giảm 6,74%. Đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu, cơ chế chính sách tuy có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các Ngân hàng khác trên địa bàn…Sau đây, ta xem xét cụ thể hơn về tỷ trọng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng:

  • Bảng 7: Tỷ trọng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –chi nhánh Hồng Bàng

Nhận thấy hoạt động tín dụng tại Ngân hàng chủ yếu tập trung vào cho vay mà trong đó cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước là chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2023, dư nợ của hoạt động cho vay này chiếm 100% nguyên nhân là do trong năm này Ngân hàng chỉ tập trung vào một hoạt động cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước mà chưa quan tâm đến các loại hình cho vay khác. Đến năm 2024 dư nợ của hoạt động cho vay này chiếm 98,00% và đến năm 2025 thì chiếm 98,02% do trong 2 năm 2024 và 2025 ngoài hoạt động cho vay này Ngân hàng còn mở rộng thêm cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư.

Trong hoạt động cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước thì Ngân hàng chủ yếu tập trung vào 2 loại hình cho vay là cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn mà trong đó chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Cho vay dài hạn chiếm tỷ trọng thấp vì loại hình này chứa đựng nhiều rủi ro nhất là trong bối cảnh kinh tế 2023 – 2025. Trong giai đoạn 2023 – 2025 thì cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Có sự thay đổi trong cơ cấu thời hạn cho vay là do xuất phát từ nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp trong từng thời kì, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam như hiện nay thì năm 2025 là năm thứ 6 kinh tế Việt Nam rơi vào trì trệ, tăng trưởng dưới mức tiềm năng, hàng loạt Doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động nên các phương án đầu tư lâu dài, mở rộng sản xuất kinh doanh bị đình trệ, chính vì vậy cho vay dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay của Ngân hàng. Bên cạnh đó thì các Doanh nghiệp tập trung vào các dự án vay vốn ngắn và trung hạn để đẩy nhanh vòng quay vốn.

Dư nợ hoạt động tín dụng Ngân hàng có sự biến động liên tục qua các năm nguyên nhân là do trong giai đoạn 2023 – 2025 môi trường kinh tế bất ổn định. Bắt đầu từ năm 2023, các hoạt động điều hành tín dụng được Ngân hàng Nhà nước thực hiện theo mục tiêu nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, kiểm soát cho vay ngoại tệ và chống đô la hóa. Tại thời điểm tháng 8/2023, lãi suất cho vay lên đến 20-25%/ năm làm cho khách hàng giảm việc vay vốn. Tuy nhiên tại thời điểm này Ngân hàng Nhà nước đã đề ra lộ trình giảm dần các mức lãi suất điều hành và lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, phù hợp với xu hướng giảm của lạm phát. Lãi suất cho vay VND đã giảm mạnh từ mức 17 –19% / năm vào cuối năm 2023 xuống 12 – 15%/ năm vào cuối năm 2024. Hiện nay lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên đang dao động quanh mức 7 –9%/năm. Chính vì vậy, dư nợ cho vay năm 2024 và 2025 có sự cải thiện đáng kể. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.3.1.2. Doanh số cho vay

  • Bảng 8: Cơ cấu và doanh số cấp tín dụng theo ngành kinh tế

Sự phát triển của danh mục tín dụng theo ngành phản ánh tình hình phát triển kinh tế chung của địa bàn. Doanh số cấp tín dụng của chi nhánh đối với các ngành Công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ chiếm trên 80% tổng dư nợ. Xu thế này phù hợp với chiến lược hoạt động của chi nhánh trong giai đoạn sắp tới: tập trung vào các ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng.

Từ năm 2023 đến năm 2025, doanh số cấp tín dụng cho ngành công nghiệp tuy giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng doanh số cấp tín dụng của chi nhánh. Tuy có nhiều sự biến động của ngành đóng tàu Việt Nam năm 2023 cũng đã ảnh hưởng nhiều đến các công ty đóng tàu ở Hải Phòng làm giảm tỷ trọng dư nợ tại ngành công nghiệp nhưng do có một số ngành công nghiệp nhẹ của thành phố như sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, điện… vẫn từng bước phát triển vững chắc làm cho dư nợ tại ngành công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Nhưng thực tế tại Ngân hàng cho thấy, trong giai đoạn 2023 –2025, SCB chỉ tập trung cho vay ngắn hạn (lên tới trên 70% tổng vốn cho vay) nhưng doanh số cấp tín dụng cho ngàng công nghiệp vẫn là lớn nhất (45,46% năm 2023, năm 2024 tăng lên 52,84%, và năm 2025 là 46,64%) mà những ngành công nghiệp ở Hải Phòng chủ yếu là công nghiệp nặng; điều này chứng tỏ Ngân hàng đang tiềm ẩn những rủi ro cao khi lấy ngắn cho vay dài. Chính vì vậy, cán bộ tín dụng cần phải thận trọng hơn trong khâu thẩm định dự án, sát sao hơn trong những danh mục đầu tư của khách hàng để hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra.

Việc cho vay đối với ngành thương mại, dịch vụ cũng chiếm tỷ trọng cao và chi nhánh nhận thấy đây là thị trường tiềm năng, do đó cũng mở rộng cho vay đối với các đối tượng này. Từ năm 2023 đến 2025, doanh số cấp tín dụng của chi nhánh chi lĩnh vực thương mại, dịch vụ có xu hướng tăng: từ 34,11% (năm 2024) tăng lên 40,13% (năm 2025). Đây cũng là một trong những ngành thế mạnh của Hải Phòng nên việc tăng tỷ trọng cho vay đối với những ngành này là hướng đi rất đúng đắn.

Hoạt động cho vay trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp có xu hướng giảm đi trong giai đoạn này tuy nhiên giảm không đáng kể.

2.3.2. Hiệu suất sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

  • Bảng 9: Hiệu suất sử dụng vốn H1

Đây là chỉ tiêu phản ánh sự tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay trực tiếp khách hàng, nhận thấy chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn trên của Ngân hàng năm 2023 và năm 2025 đều nhỏ hơn 1, điều này cho thấy trong những năm vừa qua Ngân hàng huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn, tuy nhiên trong năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn chỉ đạt 69,78%, nguồn vốn huy động được nhiều mà nhu cầu sử dụng lại ít nên có hiện tượng ứ đọng vốn. Riêng năm 2024, hiệu suất sử dụng vốn lớn hơn 1 chứng tỏ Ngân hàng sử dụng tương đối tốt nguồn vốn huy động, tuy vốn huy động được không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay nhưng với số lượng không đáng kể, Ngân hàng không để vốn ứ đọng, tạo lợi nhuận cho Ngân hàng. Nói chung hiệu suất sử dụng vốn mà Ngân hàng có được là tương đối tốt.

  • Bảng 10: Hiệu suất sử dụng vốn H2

Năm 2023 chỉ tiêu này là 93,39% có nghĩa là cứ trong 100 đồng thuộc tài sản Có thì có 93,39 đồng được sử dụng để cho vay trực tiếp khách hàng, đến năm 2024 thì tăng lên 97,78 đồng và đến năm 2025 giảm xuống còn 94,72 đồng. Tuy hệ số này có giảm nhưng đây vẫn là một mức khá lớn, Ngân hàng đang sử dụng vốn cho vay quá nhiều nên có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản.

2.3.3. Tình hình thu nợ

Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thông qua việc đánh giá khả năng thu hồi các khoản nợ đến hạn, đồng thời đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch tín dụng của Ngân hàng, kế hoạch cho vay và đôn đốc thu hồi nợ. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.

  • Bảng 11: Tỷ lệ thu nợ đến hạn

Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình thu nợ đến hạn của Ngân hàng chưa thực sự tốt, chỉ đạt 73,58% năm 2023, năm 2024 tăng lên 79,34% và năm 2025 là 80,70%. Đây là một kết quả chưa tốt, tuy nhiên trong tình hình kinh tế khó khăn như giai đoạn 2023 – 2025 thì hoạt động của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, chưa thể trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn được. Để khắc phục tình trạng này, các cán bộ tín dụng cần nắm bắt rõ hoạt động của khách hàng để có phương hướng xử lý nợ hợp lý. Mặt khác các khoản vay giải ngân cần được cán bộ tín dụng chú trọng đến khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiêp, đến hạn trả nợ cần thông báo, nhắc nhở khách hàng trả nợ đúng hạn.

  • Biểu đồ 2: Tỷ lệ thu lãi Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Tỷ lệ thu lãi của Ngân hàng giai đoạn này chưa thực sự ổn định. Năm 2023 thu lãi tốt nhất đạt 95,82%, hai năm tiếp theo tỷ lệ thu lãi giảm dần, lần lượt là 93,47% trong năm 2024 và 93,19% trong năm 2025. Tỷ lệ thu lãi trên 95% thể hiện công tác thu lãi được Ngân hàng thực hiện khá tốt và chỉ có năm 2023 là Ngân hàng làm được điều này. Trong 2 năm 2024 và năm 2025 tỷ lệ thu lãi có xu hướng giảm cùng với tình hình suy thoái của kinh tế, cán bộ tín dụng cần sát sao hơn trong việc thông báo và nhắc nhở khách hàng đến kì nộp lãi để nâng tỷ lệ thu lãi cao lên.

2.3.4. Tỷ lệ nợ quá hạn

Trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại, nợ quá hạn phát sinh là điều không thể tránh khỏi và với Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy. Trong hoạt động tín dụng của mình, Ngân hàng cũng phát sinh các khoản nợ mà khách hàng chưa trả được khi đến hạn. Ta xem xét cụ thể tình hình dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng qua bảng sau:

  • Bảng 12: Tình hình dư nợ và tỷ lệ nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.

Tình hình dư nợ quá hạn của Ngân hàng đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Nếu như năm 2023, tổng dư nợ quá hạn của Ngân hàng chỉ có 38.176 triệu đồng, chiếm 5,97% tổng dư nợ cho vay thì đến năm 2024 đã tăng lên 67.578 triệu đồng tăng 29.176 triệu đồng so với tổng dư nợ quá hạn năm 2023 tương ứng với 7,22% tổng dư nợ cho vay; sang đến năm 2025 thì số dư nợ quá hạn này lại tiếp tục tăng lên 73.134 triệu đồng, tăng 5.547 triệu đồng so với năm 2024, ứng với 8,36% tổng dư nợ cho vay. Ta có thể thấy trong giai đoạn này tốc độ tăng của nợ quá hạn nhanh hơn so với tốc độ tăng của tổng dư nợ. Nguyên nhân là do trong giai đoạn 2023 – 2025 các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế làm những quan hệ làm ăn, hợp đồng kinh tế bị thay đổi hoặc huỷ bỏ hàng loạt. Chính nguyên nhân này dẫn đến tình trạng các khoản vay của họ không trả đúng thời hạn dẫn đến nợ quá hạn ngày một tăng, chất lượng tín dụng của Ngân hàng suy giảm.

  • Sau đây ta đi xem xét cụ thể về cơ cấu nợ quá hạn: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn có sự thay đổi liên tục qua các năm, tỷ lệ này cao nhất vào năm 2024 với 6,10%. So với năm trước đó là năm 2023, số dư nợ quá hạn ngắn hạn năm 2024 và năm 2025 tăng lên rất nhiều chứng tỏ Ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn cho vay ngắn hạn gây nên rủi ro trong hoạt động tín dụng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên do số vốn huy động ngắn hạn cũng tăng nên tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn tăng không đáng kể. Nguyên nhân là do Ngân hàng lấy ngắn cho vay dài, SCB cho vay trong ngành công nghiệp quá cao làm cho vòng quay tín dụng chậm dẫn đến chất lượng tín dụng suy giảm. Chính vì vậy, cán bộ tín dụng cần phải thận trọng hơn trong khâu thẩm định dự án để có những quyết định cho vay đúng đắn.

Tỷ lệ nợ trung hạn quá hạn: năm 2023 vẫn là năm Ngân hàng có tỷ lệ thấp nhất với 7,91%, sang đến năm 2024 thì tỷ lệ này tăng lên là 16,67%, so với năm 2023 thì tỷ lệ này tăng lên hơn gấp 2 lần – một mức tăng quá nhanh chỉ trong vòng 1 năm. Đến năm 2025, tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng, đạt mức 15,81%. Ngân hàng cần phải kiểm soát chặt chẽ hơn nữa khách hàng vay vốn cũng như khả năng trả nợ của khách hàng để việc thu hồi vốn nhanh chóng hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.

Tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn: trong năm 2023 tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn của Ngân hàng là 9,28%, đến năm 2024 tỷ lệ này tăng lên 10,82%, năm 2025 tỷ lệ này là 12,02%. Ta thấy tỷ lệ này tăng đều qua các năm mà không có xu hướng giảm, điều này cho thấy việc thu hồi vốn cho vay dài hạn của Ngân hàng cũng ngày càng khó khăn hơn, khi dư nợ cho vay càng lớn thì việc kiểm soát khả năng trả nợ của khách hàng ngày càng khó khăn . Năm 2025, Ngân hàng có số dư nợ cho vay dài hạn ít hơn so với năm 2024 ( dư nợ cho vay dài hạn năm 2024 là 74.774 triệu đồng, năm 2025 là 60.505 triệu đồng) nhưng tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn lại rất lớn cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đang ngày càng gặp nhiều rủi ro.

Tỷ lệ dư nợ quá hạn tại Ngân hàng ngày càng tăng chứng tỏ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng ngày càng gặp rủi ro, các khoản dư nợ gốc và lãi Ngân hàng chưa thu hồi được ngày càng tăng lên, chất lượng tín dụng giảm xuống làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng cũng bị giảm sút. Thực tế này đòi hỏi Ngân hàng cần chú trọng chấp hành nghiêm túc quy chế cho vay và các văn bản chỉ đạo của Hội sở về công tác tín dụng, chi nhánh phải thức hiện thật thận trọng trong việc phân tích đánh giá khách hàng để có quyết định tín dụng phù hợp, bảo đảm dư nợ tín dụng lành mạnh, phát triển an toàn.

2.3.5. Tỷ lệ nợ xấu Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Nếu như nợ quá hạn phản ánh sự yếu kém về mặt tài chính và là dấu hiệu rủi ro tín dụng của Ngân hành thì nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của Ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Do đó việc xem xét tình hình dư nợ xấu là rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Như đã nghiên cứu, nợ xấu là các khoản nợ thuộc từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước. Sau đây là bảng dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.

  • Bảng 13: Tình hình dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng.

Dư nợ xấu của Ngân hàng có sự biến động qua các năm 2023, 2024 và 2025. Nếu như trong năm 2023 số dư nợ xấu của Ngân hàng chỉ có 10.442 triệu đồng thì đến năm 2024 đã là 20.299 triệu đồng tăng gấp đôi so với năm 2023, đến năm 2025 lại giảm một chút so với năm 2024 xuống còn 19.924 triệu đồng. Điều này tương ứng với tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng. Nếu như năm 2023 chỉ có 1,64% (trong 100 đồng có 1,64 đồng dư nợ xấu) thì đến năm 2024 đã tăng lên 2,17% (trong 100 đồng dư nợ có 2,17 đồng nợ xấu) và năm 2025 là 2,29%, tăng lên 0,12% so với năm 2024. Điều này chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng ngày càng khó khăn, vốn của Ngân hàng lúc này không còn là rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng ngày càng tăng là do sự biến động của tình hình kinh tế trong nước trong những năm vừa qua đã tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho việc thu hồi vốn của Ngân hàng trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự biến động kinh tế trong và ngoài nước như khủng hoảng kinh tế, tình hình kinh tế chính trị phức tạp, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị áp lực từ nhiều phía…dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng bi suy giảm. Hoạt động cho vay chính của Ngân hàng là cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước nên khoản nợ xấu phát sinh chủ yếu ở khoản cho vay này (chiếm 84,53% đến 100% tổng dư nợ xấu).

Cũng giống như dư nợ quá hạn, khi xem xét có cấu dư nợ xấu thì ta thấy các khoản dư nợ xấu ngắn hạn luôn lớn hơn dư nợ xấu trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu so sánh về tỷ lệ thì tỷ lệ dư nợ xấu ngắn hạn luôn thấp nhất bởi hoạt động tín dụng trung dài hạn tuy giúp Ngân hàng thu được lợi nhuận cao hơn so với tín dụng ngắn hạn nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn.

Những khoản nợ xấu nói trên nguyên nhân tập trung chủ yếu là ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, quản lý yếu kém dẫn đến thua lỗ, không thể trả nợ tiền vay cho ngân hàng đúng hạn được. Tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Do đó Ngân hàng cần đưa ra các chính sách thích hợp để giảm thiểu các khoản nợ xấu này đồng thời Ngân hàng phải giám sát chặt chẽ khoản vay để các doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, hạn chế tình trạng làm ăn thua lỗ. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.3.6. Tỷ lệ sinh lời tín dụng.

  • Bảng 14: Kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh giai đoạn 2023 – 2025

Theo số liệu trên ta thấy tỷ suất sinh lời của hoạt động tín dụng trong 3 năm qua có xu hướng giảm. Mỗi một đồng tín dụng bỏ ra thu được về 0,0523 đồng lợi nhuận vào năm 2023, đến năm 2024 thu được 0,0376 đồng, sang năm 2025 chỉ thu được 0,0299 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên đây là tỷ lệ tương đối cao bởi lợi nhuận của chi nhánh vẫn dựa trên hoạt động tín dụng là chính, thu nhập từ hoạt động dịch vụ khác vẫn còn hạn chế. Và con số này cũng phần nào thể hiện sự cố gắng đáng kể của chi nhánh trong hoạt động tín dụng trước hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.

Ta thấy mức đóng góp của hoạt động tín dụng vào tổng lợi nhuận của Ngân hàng chiếm một tỷ trọng lớn. Điều này không chỉ thấy ở SCB mà đây là điểm nổi bật trong tổng lợi nhuận ở hầu hết các Ngân hàng thương mại hiện nay. Tuy nhiên mức đóng góp của tín dụng vào tổng lợi nhuận Ngân hàng có biến động nhưng chênh lệch không lớn. Năm 2023, mức đóng góp từ hoạt động tín dụng là 66,29%, năm 2024 xuống còn 63,23% và sang năm 2025 giảm 3,44% so với năm 2024 xuống còn 59,79%. Mức đóng góp này giảm nhẹ là do chi nhánh đang dần nâng cao được hiệu quả của các hoạt động dịch vụ khác. Phát triển các dịch vụ Ngân hàng để tăng thu từ các dịch vụ đó là một trong những giải pháp nhằm tăng thu nhập của chi nhánh trong thời gian tới.

2.3.7. Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng thể hiện tốc độ luân chuyển các khoản vay mà Ngân hàng cấp cho nền kinh tế, nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng thu được bao nhiêu nợ để có thể lại cho vay mới. Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng qua cơ cấu cho vay. Thực tế, vòng quay vốn tín dụng chỉ phản ánh một khía cạnh của chính sách tín dụng là thiên về cho vay ngắn hạn hay dài hạn. Nếu vòng quay càng nhanh, chứng tỏ Ngân hàng thiên về cho vay ngắn hạn, nếu vòng quay chậm chứng tỏ Ngân hàng thiên về cho vay trung dài hạn.

  • Bảng 15: Vòng quay vốn tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Qua bảng số liệu trên ta thấy từ năm 2023 đến năm 2025 số vòng quay của vốn tín dụng đang chậm dần đi. Năm 2023, vòng quay vốn tín dụng là 0,85 vòng/ năm, năm 2024 là 0,75 vòng /năm, đến năm 2025 chỉ còn 0,71 vòng/ năm. Nguyên nhân là do dư nợ tín dụng trung và dài hạn của chi nhánh đang tăng dần trong giai đoạn 2023 – 2025 nhưng dư nợ ngắn hạn vẫn là chủ đạo nên vòng quay giảm không đáng kể. Trong bối cảnh kinh tế giai đoạn 2023 – 2025, Ngân hàng phần lớn tập trung cho những dự án ngắn hạn để giảm thiểu tối đa mức rủi ro, nhưng ta có thế thấy cơ cấu cho vay của chi nhánh đang dịch chuyển từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn để tiếp thêm vốn cho những dự án lớn, có thời gian đầu tư lâu dài cho phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên Ngân hàng và cán bộ tín dụng cần chú ý đến khoản vay trung dài hạn để đảm bảo chất lượng tín dụng cho Ngân hàng do đây là các khoản vay có thời gian dài, dễ chịu tác động của các thay đổi trong nền kinh tế.

2.3.8. Trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro

Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kì. Dựa trên những quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng có Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

  • Bảng 16: Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng của Ngân hàng. Dựa theo bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, chi nhánh có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

  • Bảng 17: Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng giai đoạn 2023 – 2025 ngày càng tăng. Năm 2023, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng là 1,06%, năm 2024 là 1,24% và đến năm 2025 là 1,38% (tăng 0,32% so với năm 2023). Điều này cho thấy càng ngày Ngân hàng càng gặp nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng suy giảm. Tuy nhiên, SCB Hồng Bàng luôn chấp hành theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo phân loại nợ, trích lập dự phòng theo đúng số dư tín dụng đã cấp, không vì lợi nhuận cao trước mắt nên có thể phần nào hạn chế được rủi ro.

Trong hoạt động kinh doanh luôn tồn tại những rủi ro thường trực do vậy các Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ của doanh nghiệp từ đó sẽ gây bất lợi cho Ngân hàng. Chính vì vậy Ngân hàng phải luôn theo dõi sát sao các khoản nợ và đưa ra được các giải pháp đúng đắn và kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

  • B. CÁC CHỈ TIÊU ĐỊNH TÍNH Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất và đảm bảo sự hài lòng của khách hàng thì chi nhánh Ngân hàng cũng đã nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an toàn trong kinh doanh.

  • Thủ tục cho vay đơn giản, phù hợp với quy chế cho vay:

Theo quyết định 284/2002-QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và theo Điều 16 trong quyết định số 08/ QĐ – HĐQT của chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn ban hành về các thủ tục vay vốn của khách hàng. Tại SCB – chi nhánh Hồng Bàng thì chi nhánh vẫn từng bước giảm bớt thủ tục đối với các nghiệp vụ nhưng vẫn đảm bảo độ an toàn tối đa. Khách hàng được hướng dẫn chu đáo, tận tình trong quá trình làm thủ tục vay vốn. Quy trình thẩm định một món vay chặt chẽ hơn, với mỗi món vay được cán bộ tín dụng nghiên cứu, thẩm định khách hàng vay vốn sau đó lãnh đạo phòng tín dụng kiểm tra hồ sơ khách hàng và thẩm định lại. Với những khoản vay lớn có tài sản thế chấp thì lãnh đạo (Giám đốc, phó giám đốc) cũng tham gia thẩm định và xem xét việc phê duyệt hoặc không phê duyệt món vay. Ngoài việc phê duyệt món vay còn dựa trên các chỉ tiêu như: tính khả thi của dự án, tình hình tài chính của khách hàng, tính chất và năng lực pháp lý của khách hàng, uy tín của khách hàng…Mọi món vay đều có hợp đồng tín dụng kí kết theo sự thỏa thuận của Ngân hàng và khách hàng.

Thời gian xét duyệt

  • Các dự án trong quyền phán quyết

Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng sẽ thông báo chấp thuận hoặc không chấp thuận cho vay.

  • Các dự án vượt quyền phán quyết (SCB chi nhánh Hồng Bàng phải trình lên cấp trên phê duyệt).

Trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng sẽ thẩm định và làm đầy đủ thủ tục trình lên Hội Sở chính.

Tại Hội sở chính trong thời gian không quá 05 ngày làm việc đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ ngày nhận đủ hồ sơ trình, Hội sở chính sẽ thông báo chấp thuận hoặc không chấp thuận gửi SCB chi nhánh Hồng Bàng để thông báo cho khách hàng biết. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

  • Cơ sở vật chất, khoa học công nghệ Ngân hàng

Chi nhánh đã trang bị hệ thống camera trong toàn Ngân hàng. Camera được đặt khắp mọi nơi cần thiết để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng; mặt khác, Ban giám đốc cũng có thể theo dõi thái độ làm việc, phục vụ khách hàng của cán bộ trong Ngân hàng để điều chỉnh kịp thời. Quy trình giao dịch được cải tiến đảm bảo nhanh gọn, chính xác, tạo tâm lý thoải mái và tin tưởng ở khách hàng. Ngoài ra chi nhánh đã được trang bị lại và nâng cao chất lượng máy tính ở tất cả các phòng, đặc biệt là phòng kinh doanh và phòng kế toán. Nhờ có hệ thống này mà những công việc giấy tờ và quản lý trở nên gọn nhẹ, tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng có nhiều thời gian tiếp cận khách hàng.

  • Bảng 18: Diễn biến lượng khách hàng đến giao dịch tín dụng (2023 – 2025)

Số khách hàng đến giao dịch tại chi nhánh có sự thay đổi qua các năm, thể hiện tình hình kinh tế tạo địa bàn có sự biến động. Năm 2024, số khách hàng đến giao dịch tín dụng giảm 622 lượt do suy thoái kinh tế nên nhu cầu của người dân giảm nhẹ. Nhưng năm 2025, số khách hàng đến giao dịch tín dụng lại tăng thêm 733 lượt, đây cũng chính là thành công của chi nhánh trong công tác mở rộng tín dụng. Việc thực hiện tiếp xúc, thẩm định và chi vay khách hàng đều diễn ra trực tiếp giúp cho chi nhánh sớm lựa chọn được khách hàng truyền thống và lâu dài nhưng chi phí cho một món vay thường cao, thời gian thẩm định dài. Chi nhánh cũng đã có các biện pháp thu hút khách hàng đến giao dịch tại Ngân hàng nhiều hơn nữa như đưa ra các chính sách khuyến mại cho khách hàng khi đến gửi tiền, chuyển khoản hay làm thẻ ATM….

  • Trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Ngân hàng

Có thể nói những đổi mới trong công tác tín dụng không chỉ bởi những quy định mới trong quy chế mà còn được quyết định bởi trình độ, đạo đức, nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng. Với phương châm đầu tư để đổi mới toàn bộ đội ngũ cán bộ tín dụng, chi nhánh đã tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng cũ đi học thêm. Thay đổi đội ngũ quản lý trực tiếp mới, tuyển mới những cán bộ tín dụng trẻ, có trình độ, có lòng nhiệt tình và hăng say công việc.

Đặc biệt, maketing Ngân hàng cũng được thực hiện một cách rõ nét hơn. Tinh thần, thái độ phục vụ khách hàng được quán triệt và thay đổi rõ rệt ở từng cán bộ tín dụng: phục vụ chu đáo, hướng dẫn tận tình với phong cách rất trang nhã và lịch sự đã tạo cho khách hàng một tâm lý thoải mái và thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch với chi nhánh hơn.

Tuy nhiên các cán bộ tín dụng cần được học các khóa tập huấn kiến thức thực tế mới để nâng cao nghiệp vụ, tiếp cận những công nghệ mới và các tình hình kinh tế, chính trị đặc biệt để có thể đưa ra những quyết định tín dụng chính xác. Ngoài ra, các cán bộ tín dụng có năng lực, trình độ nhưng cũng nhiều trường hợp năng lực đó không được sử dụng triệt để, nhiều khoản vay chỉ được xét duyệt qua loa trên cơ sở tài liệu do khách hàng cung cấp. Đây cũng là vấn đề mà các lãnh đạo Ngân hàng cần quan tâm xem xét để cải thiện nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.4.1. Những kết quả đạt được

Mặc dù môi trường cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng TMCP còn gặp nhiều khó khăn, song được sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự giúp đỡ của các cơ quan hữu quan và sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong Ngân hàng, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng trong những năm qua đã đạt được những thành tựu sau:

Một là: Công tác phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường. Phong cách phục vụ, giao dịch văn minh, lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần.

Hai là: Doanh số cho vay của Ngân hàng luôn giữ ở mức ổn định, quy mô dư nợ chênh lệch không đáng kể. Cơ cấu cho vay không chỉ bó hẹp trong khu vực doanh nghiệp quốc doanh mà còn mở sang cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp và cá nhân.

Ba là: Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi được chú trọng đúng mức; phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được Ngân hàng chú trọng kiểm tra và điều chỉnh ở mức an toàn.

Bốn là: Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn.

Năm là: Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập… của khách hàng trong phạm vi cho phép.

Sáu là: Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ tài năng, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác và phòng tín dụng tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.

2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

2.4.2.1. Những hạn chế về chất lượng tín dụng

Như đã nói ở trên, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng có chất lượng tín dụng khá tốt. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn một số hạn chế. Vì vậy, chi nhánh cần phải có những biện pháp nhằm duy trì các chỉ tiêu đồng thời xử lý những chỉ tiêu hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của mình trong giai đoạn tới. Những hạn chế đó là:

Thứ nhất: Với đối tượng cho vay: SCB chi nhánh Hồng Bàng vẫn chưa có chiến lược đa dạng khách hàng. Ngân hàng chỉ mới chú trọng đến các doanh nghiệp nhà nước và một số khách hàng truyền thống mà bỏ qua một số khách hàng làm ăn có hiệu quả. Tuy Ngân hàng đã cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng số món vay còn ít và quy mô nhỏ. Đây là một điều đáng tiếc vì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng có tiềm lực và nhu cầu về vốn là rất lớn. Hơn nữa, Nhà nước rất khuyến khích cho vay công bằng đối với các thành phần kinh tế nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cùng phát triển. Vì vậy, nếu Ngân hàng mở rộng hơn nữa cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ vừa có tác dụng tốt đối với nền kinh tế và vừa giúp Ngân hàng tăng thêm thị phần, tăng thu nhập, cũng như thực hiện đúng chủ trương mang Nhà nước đề ra.

Thứ hai: Thông qua việc đánh giá tình hình các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại Ngân hàng trong những năm gần đây, nhận thấy các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại Ngân hàng có xu hướng ngày càng tăng làm cho chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng giảm xuống ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng cần đưa ra những chính sách thích hợp để giảm thiểu những khoản nợ này.

Thứ ba: Nhìn chung, hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng tuy có tăng trưởng trong những năm vừa qua nhưng đang có xu hướng chậm lại. Đặc biệt từ năm 2023 đến năm 2024 còn giảm 1,45 %, sang năm 2025 mới tăng trở lại 9,23%. Do đó , Ngân hàng cần chú trọng hơn đến hoạt động này.

Thứ tư: Công tác Marketing Ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng dư nợ.

Thứ năm: Trình độ của cán bộ chuyên môn có có nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ có trình độ, nhanh nhẹn, nhiệt tình, hàng hái học hỏi nhưng còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng còn thiếu cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi hiệu quả của dự án. Khâu kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Ngân hàng vẫn chưa được thực hiện đúng mức, cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu về số lượng, kinh nghiệm thực tế và trình độ chuyên môn.

2.4.2.2. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Những hạn chế trên đây về chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra.

  • Nguyên nhân từ phía Ngân hàng

Xét về chính sách tín dụng: Sau các vụ án kinh tế lớn thì hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng SCB nói riêng có xu hướng thận trọng trong việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tâm lý của các cán bộ tín dụng cho rằng, cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là mạo hiểm, có tỷ lệ rủi ro cao, điều này làm giảm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác, do đặc điểm riêng của kinh tế ngoài quốc doanh nên doanh số cho vay không lớn, lợi nhuận mang lại ít hơn so với cho vay các tổng công ty trong khi vốn tự có của doanh nghiệp lại thấp. Vì vậy, khách hàng thuộc các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là đối tượng chủ yếu của SCB –chi nhánh Hồng Bàng.

Xét về quy trình tín dụng: Cán bộ Ngân hàng tuy đều được phổ biến một cách cụ thể về quy trình tín dụng nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Công tác thu thập thông tin thường dựa vào số liệu do khách hàng cung cấp và cũng có tham khảo thêm một số thông tin thu thập từ bên ngoài. Nhưng nhiều khi công tác này chưa tốt dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro giữa chi nhánh và SCB Việt Nam cũng như với Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong Ngân hàng.

Công tác đánh giá tài sản thế chấp: Việc đánh giá tài sản thế chấp cả về giá trị và tính pháp lý của tài sản đôi khi chưa được chính xác dẫn đến việc làm giảm chất lượng tín dụng. SCB chi nhánh Hồng Bàng định giá tài sản thế chấp theo quy định chung, có tham khảo thêm giá thị trường đó tại thời điểm định giá. Các tài sản thế chấp mà doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo tiền vay của Ngân hàng chủ yếu là đất đai, nhà ở, máy móc thiết bị. Mức giá của các loại này thường không ổn định nên việc định giá đúng là rất khó khăn. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Công tác kiểm tra, giám sát khi cho vay đôi khi còn mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những sai phạm hoặc có phát hiện nhưng chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu. Đó cũng là nguyên nhân gây phát sinh nợ quá hạn.

Xét về hoạt động Marketing Ngân hàng: Ngân hàng chủ yếu chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuếch trương, còn việc vận dụng Marketing nhằm nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, nâng cấp chất lượng dịch vụ còn chưa tốt. Ngân hàng cũng chưa có những biện pháp thích hợp nhằm lôi kéo khách hàng.

Xét về trình độ cán bộ: Còn có một số cán bộ chưa nắm bắt nhu cầu và sự thay đổi của thị trường, chưa đủ khả năng kinh nghiệm để đánh giá tính hiệu quả và mức độ rủi ro của khoản vay kể từ khi xét duyệt cho vay.

Ngân hàng chưa có chế độ đãi ngộ, thưởng phạt hợp lý đối với các cán bộ ở vị trí khác nhau và cường độ làm việc khác nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng có một số cán bộ tín dụng ngại cho vay, sợ trách nhiệm và chưa tâm huyết với công việc.

  • Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

Do trình độ quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế nên thường thua thiệt trong kinh doanh, làm thất thoát vốn và những chi phí không cần thiết dẫn đến không đủ sức đứng vững trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường.

Khách hàng cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, về tài chính không đầy đủ, nếu có thì không kịp thời và sai lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn trong công tác kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng.

Vốn tự có của các Doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thấp, trong khi tín dụng trung – dài hạn thì tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp tham gia đầu tư phải đảm bảo 30-50% tổng vốn đầu tư của dự án, Ngân hàng chỉ cho vay phần vốn còn thiếu tức là 50-70% vốn đầu tư của dự án. Do không đáp ứng đủ các điều kiện về vốn tự có, về tài sản thế chấp, về tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để Ngân hàng có thể cho vay.

  • Nguyên nhân khác

Sự không ổn định của môi trường kinh tế trong nước và trên thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt là thị trường xuất khẩu (nhất là một số mặt hàng nông sản giảm mạnh), sự cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Sacombank.

Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý cũng như môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng chưa được hoàn thiện nên không đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế. Mặt khác, sự thay đổi cơ chế, chính sách của Nhà nước đã khiến cho hoạt động tín dụng còn gặp nhiều khó khăn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại NH Sacombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x