Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống tài chính của các nước theo nền kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, sự tham gia của các trung gian tài chính có một ý nghĩa quan trọng trong việc làm tăng chất lượng và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán. Mặt khác, kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của các trung gian tài chính. Phát triển các hoạt động trên thị trường chứng khoán là một hướng chiến lược quan trọng của các trung gian tài chính.

Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán đang trong tiến trình xây dựng và phát triển. Thực tế hơn sáu năm hoạt động của thị trường chứng khoán cho thấy, sự tham gia hạn chế của các trung gian tài chính – các nhà đầu tư có tổ chức, đã làm giảm tính sôi động và hiệu quả hoạt động của thị trường. Mặt khác, hoạt động “độc canh” trên các thị trường truyền thống là một trong những nguyên nhân làm tăng rủi ro và giảm chất lượng, hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính.

Có thể nói, sự phát triển trong tương lai của thị trường chứng khoán cũng như của các trung gian tài chính phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán. Vì vậy, nhận thức đúng vai trò và thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam là rất cần thiết.

Bởi vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu

  • Làm rõ sự tham gia của các trung gian tài chính thông qua hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán.
  • Phân tích, đánh giá hoạt động của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, phân tích các nguyên nhân làm hạn chế hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán.
  • Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt

3. Đối tượng và phạm vi

Đối tượng nghiên cứu chính của khoá luận là: các trung gian tài chính và hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán của Việt Nam trong giai đoạn 7/2020 – 10/2026.

4. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp phỏng vấn, thu thập thông tin, tổng hợp, so sánh và phân tích tình huống, v.v… để nghiên cứu.

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

I. Tổng quan về thị trường chứng khoán

1. Sự hình thành thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại. Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước.

Hình thức sơ khai của thị trường chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm. Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước phương Tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hoá. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Đến cuối thế kỷ 15, “khu chợ riêng” đã trở thành thị trường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thương lượng. Những quy ước này dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành viên.

Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber tại thành phố Bruges (Vương quốc Bỉ). Trước lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình ba túi da và chữ Bourse. Ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường, là thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán. Còn chữ Bourse biểu tượng cho sở giao dịch. Vì thế sở giao dịch sau này còn gọi là Bourse.

Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ và được dời tới thành phố cảng Antwepen, từ đó, thị trường này phát triển nhanh chóng. Một thị trường như vậy cũng được thành lập ở London (Vương quốc Anh) vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Ý cũng được thành lập. Sau một thời gian hoạt động đã cho thấy, thị trường không có khả năng đáp ứng được yêu cầu của ba loại giao dịch khác nhau. Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị trường hối đoái. Thị trường chính thức trở thành thị trường chứng khoán. Như vậy, thị trường chứng khoán được hình thành cùng với thị trường hàng hoá và thị trường hối đoái.

Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Song, do các biến động lớn trong nền kinh tế thế giới, do tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật và với mong muốn của chính phủ các nước trong việc tăng cường vai trò của thị trường chứng khoán đối với đời sống kinh tế, thị trường chứng khoán đã được tạo mọi điều kiện phát triển.

2. Khái niệm và phân loại thị trường chứng khoán

2.1. Khái niệm

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành.

Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường giao dịch qua quầy (Over – the Counter Market), ở thị trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market). Các quan hệ mua bán trao đổi này làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán.

Là đặc trưng cơ bản của thị trường vốn, thị trường chứng khoán cung cấp chủ yếu vốn trung hạn và dài hạn cho nền kinh tế. Loại hàng hoá quan trọng của thị trường chứng khoán là cổ phiếu và trái phiếu, các công cụ huy động vốn trung và dài hạn. Ngoài ra có thể kể tới các hàng hoá khác như tín phiếu kho bạc, các công cụ dẫn suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Trên thị trường chứng khoán, người ta tạo ra các giao dịch sơ cấp để các nhà phát hành có thể bán chứng khoán mới nhằm huy động vốn cho các mục đích đầu tư hoặc các mục đích khác, và tạo ra các giao dịch thứ cấp để các chứng khoán đã được phát hành dễ dàng chuyển nhượng giữa người mua và người bán. Chính nhờ các giao dịch này mà thị trường chứng khoán đã có đóng góp quan trọng cho hệ thống tài chính quốc gia trong việc cung cấp một cơ chế chuyển các khoản tiết kiệm thành tài sản cụ thể và các danh mục đầu tư.

2.2. Phân loại

2.2.1. Phân loại theo hàng hoá

Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể phân thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ dẫn suất. Thị trường trái phiếu (Bond Markets) là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là các trái phiếu.

Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành các công cụ này là, nhà phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Người cho vay sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của người vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồng vay. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn hay dài hạn.

Khác với thị trường nợ, thị trường cổ phiếu (Stock Markets) là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty, khi tài sản này được đem bán. Cổ phiếu không có thời hạn xác định.

Thị trường các công cụ dẫn suất (Derivative Markets) là nơi các chứng khoán phái sinh được mua và bán. Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳ hạn (Future Contracts), hợp đồng quyền chọn (Options). Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính. Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư.

2.2.2. Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường phát hành các chứng khoán. Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành. Thông qua việc phát hành chứng khoán, chính phủ có thêm nguồn thu để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng của chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư.

Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market) là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.

Có thể nói, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ không có thị trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát triển cho thị trường sơ cấp. Mục đích cuối cùng của các nhà quản lý là phải tăng cường hoạt động huy động vốn trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tại thị trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu tư, còn sự vận động của vốn trên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không tác động trực tiếp tới việc tích tụ và tập trung vốn.

2.2.3. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường

Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách. Cách thứ nhất là tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchange), tại đây, người mua và người bán (hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính vì vậy, người ta còn gọi Sở giao dịch chứng khoán là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả.

Sở giao dịch chứng khoán được quản lý một cách chặt chẽ bởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự điều tiết của Luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán. Những thị trường tiêu biểu được biết đến là Sở giao dịch chứng khoán Luân đôn (London Stock Exchange), Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (American Stock Exchange), Sở giao dịch chứng khoán Pari (Paris Stock Exchange). Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Khác với thị trường tập trung, thị trường giao dịch qua quầy (Over – The – Counter Market) là thị trường của các nhà buôn, những người tạo thị trường (Market Makers). Các nhà buôn có một danh mục chứng khoán và họ sẵn sàng mua và bán với các nhà buôn khác cũng như các nhà đầu tư khi những người này chấp nhận giá cả của họ. Ở thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra qua điện thoại hay mạng máy tính. Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều so với thị trường sở giao dịch.

Các thị trường giao dịch qua quầy khác bao gồm các thị trường mua bán các chứng chỉ tiền gửi có thể bán được, thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường mua bán hối phiếu được ngân hàng chấp thuận, thị trường ngoại hối. Thị trường này cũng được thiết lập cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn niêm yết trên Sở giao dịch, là những chứng khoán do các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các doanh nghiệp mới phát hành. Các thị trường này được sự quản lý chặt chẽ của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và thực hiện giao dịch thông qua hệ thống yết giá tự động, ví dụ hệ thống NASDAQ của Mỹ.

Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba, thị trường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên thị trường tập trung và thị trường OTC. Ngoài ra, người ta còn phân loại thị trường chứng khoán thành thị trường mở và thị trường đàm phán, thị trường giao ngay (Spot Markets) và thị trường kỳ hạn (Future Markets).

3. Vai trò của thị trường chứng khoán

Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.

Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến khích tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và dân chủ. Việc giải toả tập trung quyền lực kinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh nghiệp. Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát cao của thị trường chứng khoán đã làm giảm tác động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu, nhà quản lý và những người làm công.

Thứ tư, hiệu quả của quốc tế hoá thị trường chứng khoán. Việc mở cửa thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư từ nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước.

Thứ năm, thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ.

Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh trong tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh cho phép chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ. Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.

Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường chứng khoán cũng có những tác động tiêu cực nhất định. Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo. Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau. Việc quyết định giá cả, mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý thông tin. Như vậy, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn lực.

Một số tiêu cực khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại cho quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư.

Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự được phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trường.

4. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

4.1. Chính phủ

Chính phủ tham gia vào thị trường chứng khoán với hai tư cách. Thứ nhất, chính phủ với tư cách là người tổ chức và quản lý thị trường mà đại diện ở đây là Uỷ ban chứng khoán nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Uỷ ban chứng khoán nhà nước tổ chức, hướng dẫn và quản lý các thị trường chứng khoán, đồng thời soạn thảo các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán để trình các cấp có thẩm quyền xem xét quyết định, cũng như tổ chức và hướng dẫn thực hiện các văn bản đó.

Ngoài Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước khác như ngân hàng nhà nước, bộ tài chính, các bộ chủ quản cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý đối với các thành viên tham gia thị trường.

Thứ hai, chính phủ tham gia thị trường như là một nhà phát hành và kinh doanh chứng khoán. Để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng, chính phủ có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc là loại hàng hoá chủ đạo của thị trường chứng khoán.

Ngân hàng nhà nước có thể tham gia thị trường khi sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để thực thi chính sách tiền tệ. Chính phủ cũng có thể tham gia thị trường cổ phiếu khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc muốn tham gia quản lý, nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp.

4.2. Các doanh nghiệp Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hoá quan trọng cho thị trường chứng khoán. Cổ phiếu và Trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn Trái phiếu Chính Phủ và là một công cụ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Pháp luật từng nước quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán. Về cơ bản, các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để thu hút vốn trên thị trường. Công ty có thể tự mình phát hành chứng khoán hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành.

Phát triển hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa dạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ cho các trung gian tài chính như nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ ngân hàng tín thác, nghiệp vụ tư vấn phát hành.

Để thực hiện nghiệp vụ đầu tư và nghiệp vụ ngân quỹ, các doanh nghiệp có thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường.

Trong thời gian qua, thị trường cũng ghi nhận một hoạt động khác của doanh nghiệp, đó là hoạt động mua bán chứng khoán nhằm thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp.

4.3. Các nhà đầu tư cá thể

Các nhà đầu tư cá thể là các cá nhân và các hộ gia đình. Họ mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời và qua đó, một lượng tiết kiệm khổng lồ được huy động cho phát triển kinh tế. Các nhà đầu tư có thể tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các nhà đầu tư có tổ chức, các trung gian tài chính. Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá thể tạo ra tính sôi động của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các trung gian tài chính phát triển các dịch vụ hỗ trợ thị trường.

4.4. Các trung gian tài chính

Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của thị trường chứng khoán, với tư cách là nhà phát hành chứng khoán, nhà kinh doanh chứng khoán và là thành viên hỗ trợ cho hoạt động của thị trường qua các nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, tư vấn và môi giới đầu tư, cho vay chứng khoán và cho vay để mua chứng khoán, thanh toán và quản lý chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Sự tham gia của các trung gian tài chính thực sự thúc đẩy phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.

II: Khái quát về trung gian tài chính và hoạt động của trung gian tài chính Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

1. Khái niệm

Trung gian tài chính (Financial Intermediaries) trước hết là tổ chức tài chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính của nó là các tài sản tài chính. Điều này khác với các doanh nghiệp thông thường với các tài sản chính là các tài sản thực như nhà cửa, trang thiết bị, nguyên vật liệu.

Các tổ chức tài chính cho các khách hàng vay hoặc mua các chứng khoán trên thị trường đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, từ việc cung cấp các phương tiện thanh toán, bảo quản tài sản, tư vấn, môi giới đến các dịch vụ bảo hiểm v.v… cho các nhà đầu tư. Trung gian tài chính nắm giữ các giấy nhận nợ được phát hành bởi những người đi vay (Chứng khoán sơ cấp) và đồng thời bán các giấy nhận nợ của chính nó (Chứng khoán thứ cấp) cho những người tiết kiệm.

  • Nói một cách khác, trung gian tài chính là cầu nối giữa những người cần vốn và những người có vốn

Có nhiều hình thức trung gian. Trung gian về quy mô diễn ra khi các tổ chức tài chính chấp nhận những khoản tiết kiệm nhỏ từ phía các cá nhân và tổ chức, trên cơ sở đó, tích tụ, tập trung thành những lượng vốn lớn để cho vay các tổ chức kinh tế và Chính Phủ.

Trung gian về rủi ro phá sản là việc các tổ chức tài chính sẵn sàng cho các tổ chức và cá nhân vay với mức mạo hiểm cao hơn trong khi cung cấp các công cụ ít rủi ro hơn cho các nhà đầu tư.

Trung gian về thời hạn thanh toán được thực hiện khi các trung gian tài chính cung cấp những công cụ có tính thanh khoản cao cho những người tiết kiệm và sẵn sàng chấp nhận các công cụ có tính lỏng thấp từ phía các nhà đầu tư. Bằng cách này, trung gian tài chính đã chuyển được thời hạn của vốn từ ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn.

Các trung gian tài chính có thể đảm nhiệm trung gian về thông tin, bằng cách thu thập và xử lý thông tin thay cho những người tiết kiệm. Trên cơ sở chuyên môn hoá và tiết kiệm nhờ quy mô, các trung gian tài chính có thể làm giảm chi phí thông tin một cách đáng kể. Thực hiện nguyên tắc sàng lọc và giám sát, các trung gian tài chính đã thay mặt những người tiết kiệm để giám sát những người đi vay. Dịch vụ tư vấn và các thông tin gián tiếp do các trung gian cung cấp (chẳng hạn ngân hàng bảo lãnh hay mở rộng cho vay với một doanh nghiệp nào đó), có thể làm tăng hiệu quả cho quyết định của những người đầu tư.

2. Phân loại Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

2.1. Các tổ chức nhận tiền gửi

Các tổ chức nhận tiền gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng. Các trung gian tài chính này nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ chức, để cho vay. Do bộ phận tiền gửi thường chiếm tỷ trọng cao trong nguồn vốn nên để đảm bảo khả năng thanh toán, các tổ chức này thường đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao như Tín phiếu, Trái phiếu Chính Phủ.

Với chức năng tạo tiền, hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi có tác động lớn tới lượng tiền cung ứng. Đây là loại hình trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong thị trường tài chính, song với lý do để đảm bảo an toàn cho thị trường, các tổ chức này cũng được sự quan tâm quản lý chặt chẽ của các nhà quản lý thị trường cũng như của các cơ quan quản lý Nhà Nước.

Các Ngân hàng thương mại (Commercial Banks) là các trung gian tài chính lớn nhất.Các tổ chức này nhận vốn bằng cách nhận tiền gửi có thể phát séc, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, sau đó cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và đầu tư vào chứng khoán của Chính Phủ.

Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (S & L) hiện nay không khác nhiều với các ngân hàng thương mại. Các tổ chức này huy động vốn bằng cách huy động tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi có thể phát séc và do tính thanh khoản của nguồn vốn thấp hơn các ngân hàng thương mại nên các tổ chức này thường tập trung nhiều hơn vào cho vay thế chấp và đầu tư chứng khoán.

Các ngân hàng tiết kiệm tương trợ (Mutual Savings Banks) rất giống với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay. Nó thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi và chủ yếu cho vay thế chấp. Các tổ chức này hoạt động có tính chất tương trợ, tức là chủ yếu huy động và cho vay giữa các thành viên.

Các liên hiệp tín dụng (Credit Unions) là các tổ chức cho vay nhỏ có tính chất hợp tác xã được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt. Các hiệp hội này chủ yếu cho vay tiêu dùng trước hết là đối với các thành viên. Các tổ chức này cũng có thể được phép phát hành các tài khoản séc và cho vay thế chấp.

2.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng là các trung gian tài chính mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là thu nhận vốn một cách định kỳ trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm nhằm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm dựa trên quy luật số lớn. Các tổ chức này có thể lượng hoá được các khoản chi trả cho việc hạn chế, phòng ngừa, khắc phục những tổn thất do các rủi ro gây ra, và do đó, có thể xác định lượng tiền đầu tư vào các tài sản kém lỏng hơn trên thị trường chứng khoán như Trái phiếu Chính Phủ, trái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu. Các tổ chức này bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm cháy và tai nạn, các quỹ trợ cấp tư nhân, các quỹ hưu trí bang và địa phương.

2.3. Các trung gian đầu tư

Các trung gian đầu tư bao gồm các công ty tài chính, các quỹ tương trợ và các quỹ tương trợ thị trường tiền tệ, các công ty chứng khoán. Các công ty tài chính nhận vốn bằng cách bán các cổ phiếu và trái phiếu. Các tổ chức này có thể cho vay tiêu dùng thông qua cho vay mua trả góp các tài sản như nhà cửa, ô tô, xe máy. Các công ty tài chính thành viên của tập đoàn, ngoài việc cho vay hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, còn tham gia huy động và điều hoà vốn giữa các đơn vị thành viên.

Các quỹ tương trợ hay các quỹ đầu tư huy động vốn bằng cách bán các chứng chỉ quỹ đầu tư sau đó đầu tư vào các danh mục chứng khoán có mức độ rủi ro phù hợp. Việc này tạo cơ sở cho việc đa dạng hoá đầu tư, tăng tính chuyên nghiệp và giảm chi phí đầu tư.

Quỹ tương trợ thị trường tiền tệ là một biến tướng của quỹ đầu tư. Các quỹ này chủ yếu đầu tư vào các công cụ an toàn và có tính thanh khoản cao trên thị trường tiền tệ. Các cổ đông có thể phát séc ứng với giá trị cổ phần của họ. Thực chất các cổ phần của quỹ có tính chất giống với tài khoản tiền gửi có lãi.

Các công ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính, bao gồm cả dịch vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư (bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán thuộc khu vực công và khu vực tư nhân, trợ giúp trong lĩnh vực hợp nhất và sáp nhập các công ty), thực hiện giao dịch mua bán (với tư cách là đối tác trong giao dịch) các cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ của thị trường tiền tệ.

Những phân tích về các loại hình trung gian tài chính trên đây chỉ có ý nghĩa tương đối. Bởi lẽ, các trung gian tài chính đã và đang phát triển theo xu hướng đa năng, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng. Sự phát triển đa dạng trung của các gian tài chính tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư, song cũng gây không ít khó khăn cho các nhà quản lý thị trường.

3. Vai trò Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Tại sao các trung gian tài chính có vai trò cực kỳ quan trọng trên thị trường chứng khoán.Thực tế ở Mỹ cho thấy cổ phiếu không phải là phương tiện huy động vốn hiệu quả nhất đối với các doanh nghiệp.

Thứ nhất, các trung gian tài chính có vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn của các doanh nghiệp. Khoảng 2/3 lượng vốn huy động của các doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1970 đến 1985 là đi vay từ các ngân hàng thương mại. Thậm chí, các trung gian tài chính nắm giữ tới 95% lượng trái phiếu doanh nghiệp và tới 50% lượng cổ phiếu mới phát hành. Điều này nói lên rằng, chỉ có các doanh nghiệp hàng đầu mới có thể huy động trực tiếp và các ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp.

Thứ hai, bên cạnh việc thị trường chứng khoán được xem là kênh dẫn vốn trực tiếp cho các tổ chức phát hành, các tổ chức tài chính trung gian cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển và tăng tính hiệu quả của thị trường.

Thứ ba, trung gian tài chính có thể giảm chi phí giao dịch từ việc tiết kiệm do quy mô. Với lợi thế chuyên môn hoá, các trung gian tài chính có thể giảm chi phí cho việc thu thập và xử lý thông tin, từ đó, chi phí thông tin trên một đơn vị giao dịch sẽ nhỏ hơn so với chi phí loại này của cá nhân một nhà đầu tư. Các trung gian tài chính cũng tiết kiệm các chi phí giao dịch khác như chi phí luật sư, chi phí về kỹ thuật.

Thứ tư, các trung gian cũng có thể tiết kiệm được các khoản chi phí do tận dụng khai thác triệt để cơ sở vật chất, nhân lực trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các nhà đầu tư. Trên cơ sở số lớn, các trung gian có thể dễ dàng đa dạng hoá đầu tư, điều mà một nhà đầu tư cá thể khó có thể thực hiện được.

Đặc biệt, các thị trường mới nổi có hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện, môi trường đầu tư có rủi ro cao, vốn và kiến thức của các nhà đầu tư rất hạn chế nên việc tăng cường sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường có một ý nghĩa rất quan trọng, quyết định tính hiệu quả và sự phát triển của thị trường. Lợi thế của các trung gian tài chính được thể hiện trong các hoạt động trên thị trường chứng khoán.

4. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán

4.1 Hoạt động phát hành chứng khoán Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Trung gian tài chính trước hết là một doanh nghiệp và thị trường chứng khoán được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đối với loại hình doanh nghiệp đặc biệt này. Luật pháp từng nước có quy định khác nhau, song về cơ bản, các trung gian tài chính có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư để huy động vốn trên thị trường.

Việc phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau như Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân hàng và Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Các chứng khoán do các trung gian tài chính phát hành thường có độ hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư do uy tín của các trung gian tài chính và thường có tính thanh khoản cao hơn so với trái phiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp khác phát hành.

Các trung gian tài chính cũng là những tổ chức tiên phong trong việc sáng tạo ra các công cụ huy động mới có tính hấp dẫn cao. Các trung gian tài chính cũng được xem là đối tượng huy động vốn quan trọng trên thị trường chứng khoán quốc tế.

4.2. Hoạt động kinh doanh chứng khoán

Tuỳ theo tính chất của từng loại hình trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính cũng khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính thành hai nhóm: Hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán.

Trong hoạt động ngân quỹ, các trung gian tài chính thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Các chứng khoán thường được lựa chọn cho mục đích này là tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể được chuyển nhượng.

Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trường tín dụng và thị trường chứng khoán. Khi thị trường tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được dịch chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính. Ngược lại, khi nhu cầu tín dụng tăng lên, các trung gian tài chính sẽ bán các chứng khoán để tăng lượng vốn cho hoạt động tín dụng.

Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính tập trung vào các chứng khoán có tính thanh khoản thấp hơn và với thời hạn đầu tư dài hơn. Chiến lược đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính được xây dựng với các danh mục đầu tư đa dạng: Danh mục đầu tư trái phiếu; danh mục đầu tư cổ phiếu; danh mục đầu tư hỗn hợp.

Các loại trung gian tài chính khác nhau thường lựa chọn các danh mục đầu tư khác nhau, với các mức độ rủi ro khác nhau: Các ngân hàng thương mại, các tổ chức bảo hiểm và các tổ chức tín dụng khác thường đầu tư nhiều hơn vào trái phiếu Chính Phủ; Các quỹ đầu tư chứng khoán đầu tư vào các chứng khoán được giao dịch trên thị trường tập trung; Các quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vào chứng khoán do các doanh nghiệp mới phát hành, thường được giao dịch trên thị trường giao dịch qua quầy.

Hoạt động đầu tư chứng khoán của các trung gian tài chính không chỉ vì mục đích tìm kiếm thu nhập qua tăng giá chứng khoán mà còn vì mục đích thôn tính và sáp nhập. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính ngày càng phát triển. Nó làm tăng tính chất chuyên nghiệp của hoạt động đầu tư chứng khoán và làm tăng tính sôi động của thị trường.

Tuy nhiên, nhiều nhà chính sách lo ngại, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các trung gian tài chính, đặc biệt là của các ngân hàng thương mại, sẽ làm tăng rủi ro không chỉ đối với hoạt động của chính các trung gian tài chính mà còn làm tăng rủi ro đối với thị trường và ảnh hưởng xấu tới an ninh kinh tế, và các nhà đầu tư cá nhân. Điều này lý giải tại sao nhiều nước hạn chế hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng thương mại và xây dựng các quy chế chặt chẽ về hoạt động đầu tư của các trung gian tài chính.

4.3. Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

Hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc các trung gian tài chính giúp cho tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, phân phối chứng khoán hộ tổ chức phát hành, nhận mua chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán chưa phân phối hết của tổ chức phát hành.

Cơ sở để các trung gian tài chính có thể thực hiện hoạt động đại lý, bảo lãnh phát hành bắt nguồn từ vị thế của các trung gian tài chính trên thị trường. Như chúng ta đã biết, các doanh nghiệp khi có nhu cầu vốn, họ có thể tìm cách phát hành chứng khoán. Doanh nghiệp có thể tự đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán. Song trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết.

Các trung gian tài chính với lợi thế chuyên môn hoá cao có thể dễ dàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện các công việc đó với chi phí thấp hơn, đồng thời, tư vấn cho doanh nghiệp về các yếu tố pháp lý và kỹ thuật.

Trong hình thức đại lý, bảo lãnh phát hành, tổ chức đại lý, bảo lãnh được hưởng phí đại lý, bảo lãnh. Phí này thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên khối lượng chứng khoán được phân phối. Tỷ lệ này phụ thuộc vào quy định của pháp luật, vào tính chất của đợt phát hành, loại hình bảo lãnh và phụ thuộc quan hệ giữa tổ chức phát hành với tổ chức phân phối chứng khoán.

4.4. Môi giới chứng khoán Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Nghề môi giới xuất hiện cùng với sự xuất hiện của thị trường chứng khoán và thường được xem là đặc quyền của các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các trung gian tài chính, nhiều tổ chức khác cũng tham gia vào thị trường môi giới như các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính.

Để có thể thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, các trung gian tài chính phải có đủ các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của Luật chứng khoán. Các yêu cầu này bao gồm: Yêu cầu về vốn pháp định; yêu cầu về giấy phép hành nghề đối với giám đốc và các môi giới; các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật và phải được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động môi giới.

Có ba loại môi giới là: môi giới lập giá (Market Makers), môi giới thông thường (Brokers) và môi giới “hai đô la” (“Two dollar” Brokers). Chức năng của môi giới lập giá là duy trì một thị trường liên tục đối với loại chứng khoán được phụ trách. Nhà môi giới lập giá không được cạnh tranh với các nhà đầu tư. Điều này có nghĩa là, khi có người mua và người bán, nhà môi giới phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước.

Nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán của môi giới lập giá được thực hiện khi chỉ có người mua mà không có người bán hoặc ngược lại. Khi đó, để tạo thị trường liên tục, nhà môi giới phải đóng vai trò là người bán hoặc người mua chứng khoán. Trong trường hợp khác, thị trường có cả người mua và người bán, song xuất hiện khoảng chênh lệch giá giữa bên bán và bên mua mà không thể dàn xếp, nhà môi giới phải mua chứng khoán của người bán và bán lại cho người mua.

Khác với môi giới lập giá, môi giới thông thường chỉ được thực hiện đơn chức năng. Họ có thể là môi giới phần mua hoặc môi giới phần bán chứng khoán. Môi giới “hai đô la” là loại môi giới tập sự, họ chỉ được thực hiện các công việc theo uỷ quyền của hai loại môi giới trên. Sở dĩ họ có tên gọi như vậy bởi vì trước kia, họ được hưởng 2 Đô la Mỹ cho mỗi tập hợp lệnh mà họ thực hiện.

4.5. Tư vấn đầu tư chứng khoán Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán.

Trên thực tê, trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư cá thể rất khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin. Các trung gian tài chính, với lợi thế chuyên môn hoá cao, với các kênh thông tin tin cậy, có thể dễ dàng hơn trong vấn đề này và có thể chia sẻ thông tin với các nhà đầu tư. Bằng cách thức này, các nhà đầu tư cá thể có thể tiết kiệm chi phí và tăng chất lượng giao dịch.

Có hai hình thức tư vấn là tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp. Hình thức tư vấn trực tiếp được thực hiện khi các trung gian tài chính phân tích, xử lý các tình huống đầu tư của chính khách hàng, từ đó có những khuyến nghị trực tiếp trên cơ sở một khoản lệ phí tư vấn thoả thuận. Với cách thức thứ hai, các trung gian tài chính có thể chia sẻ các thông tin của mình thông qua việc phát hành các báo cáo phân tích trên các tạp chí, sách báo chuyên đề. Việc phát hành các tài liệu này làm tăng uy tín và tạo thu nhập cho các trung gian tài chính.

4.6. Quản lý danh mục đầu tư

Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý tài sản của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán theo uỷ thác và vì quyền lợi của khách hàng. Hoạt động này có thể được thực hiện bởi các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại. Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung gian tài chính phải đảm bảo tách biệt giữa tài sản của khách hàng với tài sản của mình. Việc mua, bán, nắm giữ các chứng khoán chỉ được thực hiện khi có sự uỷ thác hoặc theo lệnh của khách hàng.

Tuỳ theo mức độ tín nhiệm của trung gian tài chính mà khách hàng có thể uỷ quyền một phần hoặc uỷ quyền toàn bộ đối với việc quản lý tài sản. Định kỳ, hoặc theo yêu cầu của khách hàng, các trung gian tài chính phải gửi các bản sao kê về tình hình tài sản trong danh mục cho các khách hàng, đồng thời, không được tiết lộ các thông tin về tài sản của khách hàng ngoại trừ các trường hợp đặc biệt.

Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, các trung gian tài chính sẽ nhận được lệ phí quản lý tài sản từ phía khách hàng. Hoạt động này cũng góp phần tăng uy tín và phát triển các hoạt động khác như hoạt động lưu ký, thanh toán, tư vấn. Tuy nhiên, các trung gian tài chính phải tôn trọng và ưu tiên quyền lợi của khách hàng trước quyền lợi của bản thân, và chỉ có vậy, các trung gian tài chính mới tạo lòng tin của công chúng đầu tư.

4.7. Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Quỹ đầu tư chứng khoán được hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư mà tài sản chủ yếu của quỹ là các chứng khoán được đầu tư theo các mục tiêu đã được xác định trong điều lệ quỹ. Các quỹ này có thể được tổ chức theo mô hình công ty hoặc mô hình tín thác. Đây là loại hình đầu tư phát triển nhất, phổ biến đối với công chúng đầu tư. Do lợi ích từ chuyên môn hoá, lợi thế từ quy mô và từ đa dạng hoá hoạt động đầu tư, các quỹ đầu tư có thể tăng tính an toàn và hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán.

Ngày nay, các loại hình quỹ đầu tư phát triển rất đa dạng như quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Funds); Quỹ đầu tư phát hành chứng chỉ theo mệnh giá cố định (Face-amount Certificate Companies); Quỹ tín thác đầu tư (Investment Trusts); Công ty đầu tư có quản lý (Management Investment Companies); Quỹ đầu tư cổ phiếu (Stock Funds); Quỹ đầu tư trái phiếu (Bond Funds); Quỹ đầu tư hỗn hợp (Hybrid Funds); Quỹ thị trường tiền tệ.

Các công ty quản lý quỹ là pháp nhân và phải được cấp phép và chịu sự quản lý của Uỷ ban chứng khoán. Các trung gian tài chính muốn thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thường phải thành lập công ty thành viên. Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán có thể mang lại một phần thu nhập đáng kể cho các công ty quản lý quỹ dưới dạng phí và các khoản thưởng theo kết quả hoạt động của quỹ. Đồng thời, nó còn giúp các trung gian tài chính duy trì và phát triển mối quan hệ với các khách hàng của mình. Điều này đã thúc đẩy các trung gian tài chính trong việc giành giật quyền được tham gia phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.

4.8. Thanh toán và lưu ký chứng khoán

Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán. Hoạt động này thường được các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chứng khoán thực hiện.

Bảo quản các chứng chỉ chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, tránh mất mát, hư hỏng chứng khoán, đảm bảo cho các chứng khoán được mua bán là chứng khoán thực, giảm chi phí cho việc kiểm định, vận chuyển chứng khoán. Đồng thời, việc quản lý chứng khoán tại các trung tâm cũng giúp cho quá trình phi vật chất hoá các chứng khoán được thuận lợi. Trung gian tài chính thực hiện lưu giữ, bảo quản chứng khoán cũng tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật của mình để tăng thu nhập.

Theo quy định của pháp luật, các nhà đầu tư muốn kinh doanh chứng khoán phải mở tài khoản thanh toán và tài khoản lưu ký chứng khoán và phải duy trì một mức tối thiểu trên tài khoản tại ngân hàng hoặc tại công ty chứng khoán. Khi nghiệp vụ mua bán phát sinh, các tổ chức này sẽ đảm nhận thanh toán hộ các nhà đầu tư qua hệ thống thanh toán bù trừ.

Thực hiện nghiệp vụ thanh toán, các trung gian tài chính có thể làm tăng nguồn vốn và thu nhập của mình đồng thời có cơ hội để thực hiện các dịch vụ theo uỷ quyền của khách hàng. Cũng giống như nghiệp vụ lưu ký, nghiệp vụ thanh toán chứng khoán cũng giúp cho việc đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư và tăng tính an toàn, tăng khả năng giám sát của thị trường.

4.9. Các hoạt động khác Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Các trung gian tài chính cũng có thể tham gia hỗ trợ thị trường trong vai trò của ngân hàng giám sát, hoặc đại diện của những người sở hữu trái phiếu trong vai trò của ngân hàng tín thác, hay cho vay tiền hoặc cho vay chứng khoán, v.v… Các hoạt động này có thể tạo thu nhập cho các trung gian tài chính, đồng thời phát triển quan hệ của họ đối với khách hàng

III. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán

Qua khảo sát kinh nghiệm từ thực tiễn các thị trường chứng khoán phát triển trên thế giới, như thị trường của các nước Mỹ, Anh, Nhật, cũng như một số thị trường mới nổi, ta có thể nhận thấy một số xu hướng cơ bản trong hoạt động của các trung gian tài chính:

Thứ nhất, quá trình phát triển của các trung gian tài chính theo hướng “Ngân hàng đa năng”. Trong khi các ngân hàng đang có xu thế mở rộng lĩnh vực kinh doanh hướng về kinh doanh bất động sản, môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tham gia các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới thì các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty tài chính, các công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm đều cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng.

Thực tế cho thấy chính sự phân chia thị trường đã cản trở hoạt động đầu tư của công chúng. Chẳng hạn, muốn kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư phải thiết lập quan hệ với các công ty chứng khoán, song khi cần vay tiền để mua chứng khoán, họ lại phải tới gặp các nhà ngân hàng. Tương tự như vậy, các doanh nghiệp khi cần dịch vụ tín dụng hay thanh toán, họ tìm tới các ngân hàng thương mại, song cần bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, họ lại phải tới các công ty chứng khoán hoặc ngân hàng đầu tư.

Việc phải tìm hiểu, xác định quan hệ với quá nhiều trung gian tài chính cho một mục đích đầu tư đã khiến họ mong muốn có một “siêu thị tài chính” (Financial Department Stores), ở đó họ có thể tìm được đầy đủ các dịch vụ và có thể giảm bớt chi phí cũng như thời gian cho hoạt động đầu tư.

Vì thế, các “siêu thị tài chính” đã xuất hiện trong kỷ nguyên hiện đại cả ở Mỹ, Canada, Anh, Đức, Pháp. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng đa năng được trình bày trên sơ đồ 1.1. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Thứ hai, quá trình quốc tế hoá thị trường tài chính. Chính quá trình này đã buộc các trung gian tài chính phải cạnh tranh quyết liệt với các tổ chức tài chính nước ngoài. Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà quản lý thị trường chứng khoán Anh đã nhận thấy, một lượng lớn chứng khoán của họ đang rơi vào tay các nhà đầu tư nước ngoài và, nếu như nước Anh tiếp tục hạn chế các ngân hàng của mình tham gia vào thị trường chứng khoán, họ sẽ đánh mất vị trí là trung tâm tài chính lớn nhất. Điều này đã buộc Chính Phủ Anh phải nới lỏng các điều kiện hoạt động của các trung gian tài chính qua cải cách có tên gọi “Big Bang”.

  • Sơ đồ 1.1: Những hoạt động cơ bản của ngân hàng đa năng

Tương tự như vậy, để đối phó với sự cạnh tranh của các trung gian tài chính nước ngoài, đặc biệt là các tổ chức tài chính Nhật bản, Đức, Anh, Thuỵ sỹ, Chính quyền Mỹ đã phải tăng cường thực hiện quá trình hợp nhất các ngân hàng. Số lượng các ngân hàng độc lập đã giảm và quy mô trung bình của một ngân hàng đã tăng đáng kể.

Trong thập kỷ 80, số các ngân hàng có quy mô dưới 1 tỷ Đô la Mỹ đã giảm 1/3, số nhân viên giảm ít nhất 100.000 người. Những vụ hợp nhất tiêu biểu như hợp nhất giữa Chemical Bank và Chase Manhatan ở New York, hay hợp nhất giữa Bank of America và Nations Bank. Việc sáp nhập không chỉ làm tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng Mỹ mà còn giúp nó có cơ hội củng cố, mở rộng hoạt động về mặt địa lý.

Thứ ba, quá trình phi quản lý hoá thị trường tài chính. Điều này được ghi nhận ở những thị trường tài chính lớn như Mỹ, Anh, Australia, Canada, Nhật Bản. Xu hướng nới lỏng các điều kiện xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của thị trường và việc nhận thức đúng về vai trò của các trung gian tài chính.

Ở Anh, trước “Big Bang”, Sở giao dịch chứng khoán không cho phép các trung gian tài chính kinh doanh chứng khoán khi nó không phải là thành viên của sở. Điều này đã bị chỉ trích nghiêm trọng, bị coi là hành vi tạo sự cạnh tranh không bình đẳng, vi phạm Luật chống độc quyền và cuối cùng, Luật Sở giao dịch đã phải cho phép các trung gian tài chính kinh doanh chứng khoán khi nó không phải là thành viên của Sở năm 1986. Điều này cho phép tăng tính cạnh tranh giữa các hãng môi giới và tạo nên làn sóng sáp nhập, liên kết giữa các đơn vị thành viên.

Các trung gian tài chính, vì quyền lợi của mình, mong muốn sớm đạt được tự do hoá tài chính. Song đứng trên quan điểm bảo vệ thị trường, các nhà quản lý muốn đặt hoạt động của các trung gian tài chính trong một khuôn khổ quy định. Mâu thuẫn này sẽ được giải quyết dần dần theo quá trình phát triển của thị trường.

Thứ tư, sự hỗ trợ phát triển thị trường của chính phủ. Ở những thị trường mới nổi, công chúng thiếu lòng tin đối với các trung gian tài chính và thị trường tài chính dễ bị tổn thương do các biến động của nền kinh tế. Vì vậy, các chính phủ đã thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ phát triển thị trường, nâng cao năng lực hoạt động của các trung gian tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại.

Các giải pháp cơ bản được thực hiện như tăng hỗ trợ từ thuế, từ đầu tư của Chính Phủ; tái cấu trúc, sắp xếp, sáp nhập các ngân hàng; thúc đẩy phát triển các trung gian tài chính khác, tạo sức ép về cạnh tranh trên thị trường tài chính. Hơn nữa, nhằm thu hút công chúng đầu tư tham gia thị trường, các nước đều quan tâm phát triển các mô hình đầu tư đa dạng với các công cụ đầu tư có rủi ro thấp. Đó chính là mô hình quỹ đầu tư hay quỹ tương hỗ.

IV. Các điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

1. Các điều kiện khách quan

1.1. Ổn định và tăng trưởng kinh tế

Ổn định và tăng trưởng kinh tế là tiền đề, là điều kiện quan trọng để phát triển các trung gian tài chính nói chung và hoạt động của các tổ chức này trên thị trường chứng khoán nói riêng. Thị trường chứng khoán là sản phẩm của kinh tế thị trường. Thị trường này chỉ có thể phát triển khi nền kinh tế của một nước đạt đến một trình độ phát triển nhất định.

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế sẽ tạo nhiều việc làm mới, giảm tình trạng thất nghiệp, từ đó tăng thu nhập của dân cư. Do thu nhập tăng lên, nhu cầu tiêu dùng và các khoản tiết kiệm ở khu vực tư nhân cũng tăng trưởng tương ứng. Điều này sẽ làm tăng nhu cầu đầu tư từ phía công chúng và kích thích doanh nghiệp phát triển sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế làm giảm rủi ro và tăng hiệu quả của hoạt động đầu tư. Điều này sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác, nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trong nước cũng tăng theo. Đây chính là tiền đề cho việc phát triển các dịch vụ của các trung gian tài chính.

Để tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế, Chính Phủ cần phải thực hiện đồng bộ Chính sách tài chính-tiền tệ, Chính sách thu hút và khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, hoàn thiện Chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, Chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Đồng thời, Chính Phủ cần thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà Nước.

1.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán

Như đã phân tích ở phần trước, thị trường chứng khoán là môi trường hoạt động của các trung gian tài chính. Sự phát triển của thị trường ảnh hưởng nhiều tới việc tạo cơ hội cho các trung gian tài chính tham gia thị trường.

  • Để phát triển thị trường chứng khoán, cần chú trọng tới những vấn đề sau:

Thứ nhất, hệ thống kế toán và kiểm toán là hệ thống phụ trợ quan trọng nhất trong nền kinh tế tư bản. Hệ thống này cung cấp các thông tin cần thiết và tin cậy cho việc xác định giá trị kinh tế cơ bản của công ty hay các thông tin về điều kiện tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tăng trưởng của công ty trong tương lai. Đây là các thông tin cơ bản giúp cho việc định giá chứng khoán. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Thứ hai, hệ thống công bố thông tin phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với sự tham gia của các thành viên của thị trường, trong đó có các trung gian tài chính. Mục đích cơ bản của hệ thống này là để cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin đầy đủ và chính xác liên quan đến chứng khoán và để ngăn chặn các gian lận trong giao dịch. Điều này được biểu hiện trong các quy định về đăng ký và báo cáo định kỳ.

Hệ thống công bố công khai góp phần làm tăng độ tin cậy của thị trường chứng khoán và giải quyết vấn đề về thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Nó tạo điều kiện công bằng về thông tin giữa các nhà phát hành với các nhà đầu tư trên thị trường.

Thứ ba, trong giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán, hệ thống lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán cũng rất quan trọng, vì thế, nó cần phải được xem xét đầy đủ khi thành lập thị trường, nếu các nhà quản lý không muốn thị trường bị tê liệt.

Phát triển hệ thống thanh toán và lưu ký chứng khoán sẽ tạo điều kiện tăng hiệu quả và tăng mức độ an toàn của thị trường, đồng thời, giúp cho việc phát triển các nghiệp vụ lưu ký, thanh toán, cho vay của các trung gian tài chính.

Thứ tư, việc phát triển hệ thống quản lý, giám sát thị trường ảnh hưởng không nhỏ tới sự tham gia của các trung gian tài chính. Cải cách Thị trường chứng khoán Luân đôn năm 1987 đã phát huy vai trò của các tổ chức tự chế định (SRO) trong việc quản lý và giám sát thị trường.

Việc lựa chọn mô hình quản lý thị trường chứng khoán cần phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố và phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường. Các mô hình quản lý và giám sát được lựa chọn trên cơ sở không để cho thị trường trở thành sòng bạc với các trò gian lận làm thiệt hại cho các nhà đầu tư, song cũng không nên hạn chế thị trường bằng sự can thiệp quá mức của Chính Phủ. Sự can thiệp quá mức sẽ hạn chế sự tham gia của các trung gian tài chính và điều này làm hạn chế hiệu quả của thị trường.

1.3. Các điều kiện pháp lý

Các điều kiện pháp lý có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút các trung gian tài chính tham gia thị trường chứng khoán. Thị trường này hoạt động trên cơ sở quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và các nhà đầu tư chỉ an tâm tham gia thị trường khi quyền lợi của họ được tôn trọng và bảo vệ. Một hệ thống pháp luật đầy đủ và động bộ sẽ tạo điều kiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường.

1.4. Sự hoàn thiện của các cơ quan quản lý Nhà Nước Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

Hoạt động của các trung gian tài chính nói chung và hoạt động trên thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh hưởng không chỉ đối với quyền lợi của các nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, các hoạt động này thường được điều hành và quản lý chặt chẽ bởi các Cơ quan quản lý Nhà Nước.

Thông thường, hoạt động quản lý các trung gian tài chính bao gồm: Việc thành lập các trung gian tài chính phải tuân theo những quy định hết sức chặt chẽ, phải được cấp phép và chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý Nhà Nước. Những tổ chức này thường bị buộc phải chịu chế độ báo cáo, chế độ tiết lộ thông tin công khai, chế độ giám sát đặc biệt. Luật pháp từng nước thường quy định rõ những hạn chế trong hoạt động, những loại tài sản và giới hạn mà trung gian tài chính được phép nắm giữ.

Tuỳ theo mức độ phát triển của các trung gian tài chính và sự phát triển của các cơ quan quản lý Nhà Nước, mức độ can thiệp của Chính Phủ vào hoạt động của các trung gian tài chính là khác nhau.

1.5. Các điều kiện về phía công chúng đầu tư

Cũng giống như các thị trường khác, thị trường chứng khoán cũng vận động theo quy luật cung cầu. Hệ thống thị trường chứng khoán phải được thiết lập để người mua và người bán có thể gặp nhau và thực hiện các giao dịch.

Cần phải cho các công chúng đầu tư thấy bản chất của việc đầu tư vào chứng khoán. Họ phải nhận thức được rằng, chứng khoán có giá trị, song nó cũng chứa đựng rủi ro, nghĩa là, các nhà đầu tư có thể tăng tài sản của họ nhờ kinh doanh chứng khoán, song họ cũng có thể bị thua lỗ, thậm chí mất toàn bộ tài sản và bị phá sản. Các nhà quản lý cần trang bị những kiến thức cơ bản cho các nhà đầu tư và tạo các điều kiện hỗ trợ về tài chính khi họ tham gia thị trường.

Việc nâng cao kiến thức cho công chúng đầu tư được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo và tư vấn đầu tư. Cần giới thiệu cho công chúng thấy được lợi thế, tiềm năng của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, từ đó giúp họ tiếp cận các dịch vụ của các tổ chức này trong hoạt động đầu tư.

2. Các điều kiện chủ quan

Đây chính là các điều kiện thuộc về bản thân các trung gian tài chính, như số lượng và sự xuất hiện đa dạng các loại hình trung gian tài chính; khả năng cạnh tranh, năng lực hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính; tiềm lực về tài chính, về nhân lực, vật lực; khả năng phát triển các nghiệp vụ mới.

Chính sự xuất hiện đa dạng các loại hình các tổ chức trung gian tài chính với số lượng ngày càng lớn đã làm gia tăng sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Áp lực cạnh tranh đóng vai trò động lực, thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ cho tương lai, buộc các trung gian tài chính phải phát triển các hoạt động trên thị trường chứng khoán.

Để giảm rủi ro, giảm chi phí và tăng lợi nhuận, các trung gian tài chính phải thực hiện đa dạng hoá đầu tư và đa dạng hoá các dịch vụ. Tìm kiếm và triển khai thực hiện các dịch vụ mới trên thị trường chứng khoán là giải pháp để giải quyết được vấn đề đó. Điều này phụ thuộc vào tiềm lực về tài chính, vào chất lượng đội ngũ cán bộ, vào cơ sở vật chất của chính các trung gian tài chính. Những yếu tố này khẳng định uy tín, khả năng cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường. Khóa luận: Thúc đẩy tham gia của trung gian tài chính trên TTCK.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng của các trung gian tài chính trên TTCK

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x