Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, công đoạn của quá trình kinh doanh. Người ta đã từng ví nếu như cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra, các doanh nghiệp dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật để nhằm đạt được lợi ích. Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hạn chế cạnh tranh sẽ có tác động đi ngược lại lợi ích của toàn xã hội, làm suy giảm tốc độ phát triển kinh tế vì không khuyến khích được các loại hình doanh nghiệp tham gia vào sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, việc cạnh tranh với các công ty, tập đoàn đa quốc gia ngày càng trở nên gay gắt và khốc liệt. Theo các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế, dịch vụ phân phối hàng hóa là một trong những ngành kinh tế chịu sức ép trực tiếp và đầu tiên khi thị trường được mở bởi những cam kết, định chế quốc tế mà Việt Nam đang và sẽ tham gia. Hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài đang gia tăng tốc độ và quy mô đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ phân phối Việt Nam một cách mạnh mẽ. Hiện tượng này cho thấy lĩnh vực dịch vụ phân phối không còn là mảnh đất độc quyền của các doanh nghiệp Việt Nam mà đã buộc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Bên cạnh sức ép cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, họ còn đứng trước nguy cơ ngày càng xuất hiện nhiều hành vi phản cạnh tranh, dẫn đến mối lo ngại sẽ dần bị loại bỏ ngay trên chính sân nhà. Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp phân phối trong nước và nước ngoài được tự do cạnh tranh trong một môi trường lành mạnh, công bằng? Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều công ty nước ngoài, nhất là các công ty đa quốc gia với tiềm lực tài chính lớn có thể dễ dàng thâu tóm thị trường nội địa trong khi các chính sách quản lý trong lĩnh vực phân phối của chúng ta còn chưa hoàn thiện. Đây chính là mối quan tâm và lo ngại của các nhà lập chính sách Việt Nam để không ngừng nghiên cứu và đưa ra những giải pháp phù hợp.
Chính vì vậy, quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là một đòi hỏi của thực tế khách quan. Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của vấn đề này, em chọn đề tài: “Quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa ở Việt Nam” làm đề tài Khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về dịch vụ phân phối và quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối.
- Phân tích và đánh giá thực trạng cạnh tranh và quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối hàng hóa ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt
- Nội dung quy định trong các văn bản pháp luật điều chỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối ở nước ta.
3.2. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Về nội dung: Nghiên cứu nội dung hoạt động quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam và một số nước.
- Về không gian: Việt Nam và một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Thái lan, Đài Loan và Hàn Quốc.
- Về thời gian: Từ năm 2023 –
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, thống kê, luận giải. Đặc biệt phương pháp so sánh luật học được sử dụng để nêu bật những nét đặc trưng riêng biệt trong hệ thống pháp luật của từng nước.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu được dùng để đánh giá kinh nghiệm của nước ngoài, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Nội dung bố cục của Khóa luận
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, Khóa luận kết cấu bao gồm 03 chương như sau:
- Chương I: Tổng quan về dịch vụ phân phối và quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối.
- Chương II: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
- Chương III: Một số giải pháp về tăng cường quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối ở Việt Nam.
Do kiến thức tích lũy chưa đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, Khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp có ý nghĩa thực tiễn hơn.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUẢN LÝ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI
I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ PHÂN PHỐI
1. Khái niệm
1.1 Phân phối là gì?
Trong hoạt động kinh doanh, để tiêu thụ được sản phẩm, ngoài việc tạo ra được những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu và đặc điểm tiêu dùng ở từng thị trường nhất định, các doanh nghiệp cần chú ý đến chính sách phân phối và vận động hàng hóa của mình. Đó là một chính sách bộ phận không thể thiếu trong chiến lược Marketing, nó đảm bảo mối quan hệ mật thiết giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa cung và cầu trên thị trường.
Trong kinh tế học hiện nay chưa có một định nghĩa và nghiên cứu chính thức về lĩnh vực phân phối. Theo Từ điển Encyclopedia [62], phân phối là việc một nhà bán buôn mua hàng hoá với số lượng lớn từ nhà sản xuất với giá sát với chi phí và bán lại chúng với giá cao hơn cho những người mua khác, có thể là nhà phân phối cấp dưới hoặc người bán lẻ, nhưng không phải cho người tiêu dùng cuối cùng. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Phân phối là quá trình tiếp thị và cung cấp hàng hoá, đặc biệt là cho những người bán lẻ.
Trong Marketing phân phối đuợc hiểu là các quá trình kinh tế, tổ chức, kỹ thuật nhằm điều hành và vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng đạt hiệu quả kinh tế cao [15]. Với giác độ này, phân phối bao gồm các hoạt động diễn ra trong khâu lưu thông, là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Nội dung của phân phối là thực hiện hàng loạt các dịch vụ sau quá trình sản xuất và trước quá trình tiêu dùng.
Đứng trên quan điểm của nhà kinh tế thì hoạt động phân phối sản phẩm là tổng hợp các hoạt động chuẩn bị, tổ chức tiêu thụ và các hoạt động sau tiêu thụ. Cũng có khái niệm cho rằng: hoạt động phân phối sản phẩm là hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Một khái niệm khác mang tính rộng hơn: hoạt động phân phối sản phẩm là hoạt động lưu thông hàng hóa trong xã hội
Quan điểm của các nhà quản trị cho rằng: “Hoạt động phân phối sản phẩm là việc trả lời các câu hỏi: Cung cấp sản phẩm mình có cho ai? Cung cấp sản phẩm đó bằng cách nào? Và làm thế nào để cho khách hàng của mình hài lòng nhất?”
Theo Danh mục phân ngành dịch vụ của tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 (W120) của Vòng đàm phán Uruguay và Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp quốc thì lĩnh vực dịch vụ phân phối bao gồm 4 nhóm chính: dịch vụ đại lý uỷ quyền; dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (Franchising) [10].
- Dịch vụ bán buôn: là việc bán hàng cho người bán lẻ, cho những doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức, cơ quan hoặc cho những người bán buôn khác.
- Dịch vụ bán lẻ: là việc bán hàng phục vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình.
- Đại lý uỷ quyền: là việc đại diện cho thương nhân khác để tiến hành giao dịch và bán những mặt hàng thuộc quyền sở hữu của thương nhân này cho những người bán buôn, bán lẻ hoặc cá nhân.
- Nhượng quyền: là bán một số quyền và ưu đãi cụ thể cho người khác (mô hình bán lẻ, thương hiệu…)
Như vậy, với những quan điểm khác nhau về hoạt động phân phối sản phẩm thì việc hiểu bản chất về nó cũng có ít nhiều sự khác nhau. Nhưng tất cả các khái niệm đó đều có một điểm chung và chúng ta có thể hiểu phân phối sản phẩm là: toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm / dịch vụ từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng có nhu cầu, bảo đảm về chất lượng, thời gian, số lượng, chủng loại, kiểu dáng, màu sắc, mà người tiêu dùng mong muốn.
- Tuỳ thuộc vào điều kiện khác nhau mà các doanh nghiệp xem xét bản chất của hoạt động theo góc độ nào.
Trong khuôn khổ của Khóa luận, bản chất của hoạt động phân phối sẽ được phân tích dựa trên quan điểm kết hợp giữa quan điểm của Marketing, quan điểm của các nhà quản trị và theo Danh mục phân ngành dịch vụ của tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 (W 120) của Vòng đàm phán Uruguay và Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp quốc.
1.2. Hệ thống phân phối Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
1.2.1. Khái niệm
Có hai phương thức phân phối phổ biến là phương thức phân phối trực tiếp và phương thức phân phối gián tiếp. Phương thức phân phối trực tiếp là phương thức hàng hóa được phân phối trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng không cần qua trung gian. Các công ty có thể thực hiện phương thức này bằng cách bán hàng tận nhà, bán qua thư đặt hàng, qua các cửa hàng của nhà sản xuất và qua Internet. Ưu điểm của phương thức này là công ty có thể chủ động trong việc quyết định hàng hóa phân phối, giám sát các hoạt động phân phối một cách chặt chẽ và phản ứng kịp thời với những biến động trên thị trường, hơn nữa công ty không phải chia lợi nhuận. Tuy nhiên doanh nghiệp lại phải đầu tư một khối lượng lớn, do vậy phương thức này rất khó áp dụng cho các công ty vừa, nhỏ, thiếu kinh nghiệm.
Để khắc phục các nhược điểm trên, doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức phân phối gián tiếp. Phương thức này sử dụng một hệ thống trung gian gọi là hệ thống phân phối hay là kênh phân phối. Đó là một hệ thống các tổ chức độc lập liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ sẵn sàng cho người tiêu dùng. Tầng lớp trung gian này bao gồm những người bán buôn, bán lẻ, đại lý, môi giới, những đại diện của người bán và người mua kể cả các công ty vận tải, các đại lý quảng cáo có nhiệm vụ hỗ trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Hệ thống phân phối là nguồn lực bên trong rất quan trọng của doanh nghiệp mà thường phải hàng năm mới xây dựng được, rất khó thay đổi. Nó đặc trưng cho mối quan hệ ràng buộc giữa người sản xuất và nhà phân phối. Và đó cũng là liên kết chặt chẽ giữa hệ thống chính sách của doanh nghiệp với sự biến động thực tế trên thị trường. Chính vì vậy, xây dựng hệ thống phân phối không chỉ nhằm mục tiêu trước mắt mà còn phải nghĩ đến những dự kiến tương lai.
1.2.2. Cấu trúc hệ thống phân phối
- Các nhân tố cấu thành của hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối có quan hệ và cấu trúc rất phức tạp như các hệ thống mạng lưới do chúng bao gồm các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau. Các thành viên hay các nhân tố cấu thành một hệ thống phân phối bao gồm:
Người sản xuất: bao gồm rất nhiều loại thuộc nhiều ngành kinh doanh từ nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng đến các nghành dịch vụ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Khóa luận chỉ đề cập đến các nhà sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp sản xuất). Đó là những công ty sản xuất có quy mô lớn nhỏ khác nhau nhưng đều chung mục đích là đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại lợi nhuận. Để thoả mãn nhu cầu thị trường, sản phẩm của họ phải luôn luôn sẵn sàng để cung cấp cho các thị trường đó. Nhưng phần lớn các công ty lớn nhỏ đều không có được các điều kiện thuận lợi để phân phối sản phẩm của họ trực tiếp tới người tiêu dùng cuối cùng. Mặt khác, họ thiếu cả kinh nghiệm cần thiết lẫn quy mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối sản phẩm. Do vậy, họ cần đến các tổ chức trung gian phân phối. Người sản xuất chính là nhân tố đầu tiên của các kênh phân phối.
Người bán buôn: là những người bán hàng hoá và dịch vụ cho người mua để họ bán lại hoặc sử dụng vào mục đích kinh doanh. Họ thường có khả năng lớn về vốn, cung cấp tín dụng tài chính và có thể chi phối các quan hệ thị trường lớn. Người bán buôn thường giao dịch với nhà sản xuất nhiều hơn là người tiêu dùng. Điều này sẽ trợ giúp tài chính cho các nhà sản xuất, giúp họ tập trung vốn cho việc đầu tư sản xuất. Do có khả năng chi phối thị trường nên người bán buôn thường có xu hướng độc quyền mua với người sản xuất. Nhưng do người bán buôn cũng ít tiếp xúc với người tiêu dùng cuối cùng nên ít năng động và thông tin phản hồi từ thị trường cũng là thông tin thứ cấp. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Người bán lẻ: là những người phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân, không vì mục đích thương mại. Họ thường không có quy mô lớn nhưng lại có những phương tiện bán hàng đa dạng, hệ thống cửa hàng phong phú như siêu thị, cửa hàng tổng hợp, trung tâm thương mại. Do vậy họ thường xuyên tiếp xúc với những khách hàng cuối cùng, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu, thói quen mua sắm của họ. Bên cạnh đó, khả năng an toàn trong kinh doanh của họ thường cao hơn những nhà bán buôn nhờ phải cung cấp hàng hoá đa dạng, dự báo được những biến động của thị trường. Tuy nhiên, người bán lẻ chịu sự chi phối của người bán buôn hoặc đại lý, do vậy họ có xu hướng muốn thiết lập trực tiếp với nhà sản xuất.
Người đại lý: là người đại diện cho bên mua, bên bán, đại lý bán buôn hay đại lý bán lẻ. Họ thường không có quyền sở hữu hàng hoá, không phải chịu rủi ro trong kinh doanh. Lợi nhuận của đại lý được tính bằng phần trăm hoa hồng mà bên bán hay bên mua phải trả theo quy định trong hợp đồng đại lý. Đại lý không có quyền quyết định giá cả hàng hóa nên khả năng cạnh tranh và tính cạnh tranh trong kinh doanh kém.
Người môi giới: là người thực hiện việc tìm kiếm nhu cầu thị trường, lựa chọn các nguồn cung ứng hợp lý để thõa mãn các nhu cầu đó. Họ chính là người xúc tiến việc mua bán hàng hóa trên thị trường, giúp cho cung và cầu gặp nhau. Do vậy họ sẽ được hưởng tiền hoa hồng cả từ phía người mua và người bán.
Người tiêu dùng cuối cùng: là người trực tiếp sử dụng các sản phẩm bán ra từ nhà sản xuất, là thị trường mục tiêu được đáp ứng bởi các hệ thống thương mại của kênh. Họ chính là người ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của các thành viên trong kênh và là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Từ những ưu, nhược của các thành viên trong hệ thống kênh phân phối, nhà sản xuất (doanh nghiệp) phải luôn nghiên cứu và phát triển các thành viên của kênh sao cho phù hợp với quy mô sản xuất – kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường một cách hiệu quả nhất, đảm bảo cho vịêc thực hiện mục tiêu cuối cùng mà mọi doanh nghiệp đều muốn vươn tới là tối đa hoá lợi nhuận.
- Cấu trúc của hệ thống phân phối Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Dựa vào phương thức phân phối kênh phân phối có thể được chia thành các loại kênh phân phối sau:
Kênh 0: là kênh phân phối trực tiếp, trong đó chỉ có nhà sản xuất và nhà tiêu dùng cuối cùng vì vậy có những ưu điểm và nhược điểm như đã trình bày ở trên.
Kênh 1: là kênh gián tiếp, kênh ngắn bao gồm hoạt động bán hàng thông qua một loại trung gian. Kênh này giúp doanh nghiệp không những phát huy được những ưu điểm của kênh phân phối trực tiếp mà còn giải phóng được một phần chức năng lưu thông để tăng cường chuyên môn hoá, sản xuất giảm bớt số lượng vốn và nhân lực đầu tư cho hoạt động phân phối. Tuy nhiên dạng kênh này vẫn có những hạn chế nhất định như không phát huy hết được các ưu thế của phân công lao động xã hội ở trình độ cao, các nhà sản xuất hoặc người bán lẻ phải kiêm chức năng bán buôn. Do vậy, việc phân bổ dự trữ trong kênh 1 vẫn không hợp lý và cân đối dẫn đến việc lưu thông hàng hoá còn gặp nhiều khó khăn. Thông thường kênh này được sử dụng đối với các mặt hàng mang tính chất chuyên doanh, phục vụ một số nhu cầu thường xuyên ổn định của người tiêu dùng.
Kênh 2: là loại kênh phổ biến nhất trong hoạt động phân phối và thường áp dụng cho các nhà sản xuất có quy mô lớn. Kênh này có ưu điểm là mang tính chuyên môn hoá cao giúp cho nhà sản xuất tách rời khỏi hoạt động phân phối và tập trung nguồn lực vào sản xuất. Do vậy hàng hóa được lưu thông nhanh chóng, linh hoạt, thoả mãn được nhu cầu của thị trường. Tuy nhiên nhà sản xuất lại không có mối liên hệ trực tiếp đối với người tiêu dùng cuối cùng, do vậy thông tin thu được thường là thông tin thứ cấp nên không kịp thời và kém chính xác.
Kênh 3 (dạng kênh đầy đủ): là kênh được nhiều nhà sản xuất và người bán lẻ nhỏ sử dụng. Ở đây một đại lý được sử dụng để giúp tập hợp hàng hóa và phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn. Kênh này đáp ứng tốt nhất yêu cầu phân công xã hội về lao động giữa người sản xuất và lưu thông và cả nội bộ lưu thông. Nó cho phép xã hội tối đa hóa hoạt động thương nghiệp trên mọi vị trí bán lẻ và mọi địa điểm dân cư. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của kênh này là mâu thuẫn nội bộ trong kênh có thể xảy ra do các thành viên khác không đạt được lợi ích của mình.
Mặt khác, doanh nghiệp có thể không kiểm soát được các thành viên và không nhận được thông tin phản hồi hữu ích từ phía người tiêu dùng.
- Sơ đồ 1: Các kênh phân phối cho hàng hóa dịch vụ tiêu dùng phổ biến
2. Vai trò của hệ thống phân phối trong nền kinh tế hiện đại Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
2.1 Đối với doanh nghiệp
Nhìn vào quá trình kinh doanh bình thường của một doanh nghiệp, bắt đầu bằng ý tưởng sản phẩm, đến định vị thị trường, nghiên cứu sự thích hợp của sản phẩm, sản xuất, bán hàng, thu tiền và tiếp tục cải tiến sản phẩm. Nếu diễn ra một cách bình thường thì các khâu trong quá trình sản xuất và kinh doanh sẽ có tầm quan trọng như nhau. Trong điều kiện thị trường Việt Nam hiện nay, khâu bán hàng và tiếp thị hiện đang có ảnh hưởng lớn nhất đến sự sống còn của doanh nghiệp. Hệ thống phân phối có tầm quan trọng trong quá trình kinh doanh và khi doanh nghiệp càng nhỏ thì hệ thống phân phối càng quan trọng. Đối với đại đa số doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì hệ thống phân phối là yết hầu của công ty và thông thường chính người chủ doanh nghiệp phải quan tâm và thực hiện các công tác phát triển cũng như giữ vững được thị phần của mình trong một hệ thống phân phối đang có. Tại Việt Nam hiện nay, chi phí cho hệ thống phân phối còn rất nhỏ so với các phương tiện cạnh tranh khác và điều đó đã góp phần tạo nên sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thông qua phân phối hàng hoá, các thành viên tham gia vào hoạt động phân phối hàng hoá sẽ cung cấp các thông tin về hàng hoá dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Ngược lại thông qua họ, doanh nghiệp cũng sẽ nhận được các thông tin phản hồi từ thị trường. Doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp xúc với các thành viên trung gian, với người tiêu dùng cuối cùng, do vậy sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng, nâng cao nhãn hiệu, hình ảnh của mình.
Việc phân phối hàng hóa đồng thời với việc di chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ thu được tài chính để bù đắp chi phí và tiếp tục tái đầu tư. Mỗi doanh nghiệp đều phải tự tìm kiếm cho mình những thị trường có lợi nhất phù hợp với khả năng, tiềm lực của mình cũng như dự đoán được những biến đổi trong tương lai. Nắm vững được hoạt động phân phối cũng như dự báo được sự biến động của hàng hoá phân phối biến động trên thị trường là điều kiện đảm bảo thành công của doanh nghiệp. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Có thể nói, thị trường phân phối trong lĩnh vực bán buôn bán lẻ đóng một vai trò hết sức quan trọng, có tính chất quyết định một cách đáng kể đối với sự vận động, phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh bất kỳ nền kinh tế nào. Hoạt động phân phối là cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, chính vì vậy những diễn biến, thái độ và hiệu quả hoạt động của thị trường phân phối đều gây ra những tác động đáng kể nhất định đến các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đặc biệt là các nhà sản xuất và cung ứng hàng hoá, họ phụ thuộc khá nhiều vào các nhà phân phối bán buôn, bán lẻ để đưa hàng hoá của mình ra thị trường một cách tốt nhất, nhanh nhất và qua đó có thể hoạch định được chiến lược, sản xuất kinh doanh của mình.
2.2. Đối với người tiêu dùng
Phân phối hàng hóa bao gồm toàn bộ các hoạt động để đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng hoặc sử dụng. Vì vậy lĩnh vực dịch vụ phân phối còn được ví như chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, khắc phục được các vấn đề về thời gian, không gian và khoảng cách giữa hàng hoá, dịch vụ với người tiêu dùng. Khi xã hội càng phát triển, thu nhập dân cư tăng lên, nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng, phong phú. Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất phải sản xuất với khối lượng lớn để đạt hiệu quả sản xuất nhờ quy mô. Sản xuất khối lượng lớn một số chủng loại sản phẩm mâu thuẫn với nhu cầu số lượng nhỏ, chủng loại đa dạng của người tiêu dùng. Hệ thống phân phối giúp giải quyết tốt sự khác biệt giữa sản xuất quy mô lớn và tiêu dùng đa dạng, khối lượng nhỏ bằng cách mua hàng hóa của nhiều nhà sản xuất khác nhau, bán lại cho nhiều người tiêu dùng tại một địa điểm. Nhờ có hệ thống phân phối, hàng hóa có mặt trên thị trường kịp thời. Về mặt thời gian, vì sản xuất không xảy ra cùng thời gian với nhu cầu sản phẩm tiêu dùng sản phẩm nên phải dự trữ hàng hóa, hơn nữa nhiều hàng hóa mang tính thời vụ còn tiêu dùng xảy ra quanh năm hoặc ngược lại, hệ thống phân phối giúp tạo nên sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua hoạt động lưu trữ. Về mặt không gian, hệ thống phân phối phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc giữa các vùng, các miền tạo thành thể thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhờ có hệ thống phân phối, hàng hóa có thể tràn ngập trên thị trường bất kỳ một vùng, miền nào.
Quá trình lưu thông, luân chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng được thực hiện mang tính chuyên môn hóa cao, tiết kiệm thời gian, chi phí. Chi phí trong khâu phân phối sẽ được chuyển vào khâu tiêu dùng nên cạnh tranh trong dịch vụ phân phối sẽ góp phần làm giảm chi phí phân phối và giảm giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.
Hơn nữa, bản thân hoạt động phân phối cũng tạo thêm lợi ích cho người tiêu dùng thông qua việc tạo ra sự đa dạng về hàng hoá. Với sự tồn tại của hệ thống phân phối, người tiêu dùng sẽ tiếp cận được nhiều chủng loại hàng hóa của nhiều nhà sản xuất có quy mô, khu vực địa lý khác nhau, không chỉ từ các doanh nghiệp trong nước mà còn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn được hưởng các lợi ích như cung ứng về địa điểm mua bán, thuận tiện về các dịch vụ bảo hành và cung cấp thông tin. Phân phối giữ vai trò quan trọng trong việc cân đối cung cầu trên thị trường. Thông qua hoạt động phân phối, các mặt hàng được phân phối đồng bộ và đa dạng hơn, thoả mãn nhu cầu không ngừng thay đổi của người tiêu dùng.
Tóm lại, hệ thống phân phối có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, là một bộ phận không thể thiếu được trong chiến lược Marketing của doanh nghiệp. Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế không ngừng phát triển, đây chính là chìa khóa đem lại thành công cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống phân phối cũng đem lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng. Hệ thống phân phối hàng hóa còn được ví như chiếc phong vũ biểu phản ánh tình hình sản xuất, kinh doanh, mức sống của dân cư trong xã hội. Do vậy, sự phát triển cũng như tính hiệu quả của hệ thống phân phối luôn là mục tiêu cần phải ưu tiên và hướng tới của các doanh nghiệp.
II. QUẢN LÝ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
1. Vai trò của quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
1.1 Khái quát về cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
1.1.1. Khái niệm
Cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học.
Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Blacklaw dictionary diễn tả là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba [16].
Với tư cách là hiện tượng xã hội, cạnh tranh được cuốn từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một khách hàng về phía mình [2].
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh là sự ganh đua giữa các chủ thể (nhà sản xuất, người tiêu dùng) trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua ở giá thấp”.
1.1.2 Đặc điểm
Mặc dù được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song các lý thuyết về kinh tế đều nhất trí rằng, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là động lực cho sự phát triển của thị trường. Từ đó, cạnh tranh được mô tả với những đặc trưng sau:
Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh. Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định. Đó là phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Bên cạnh đó, cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trường như tự do lập hội, tự chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các chủ thể kinh doanh. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định là người tiêu dùng.
Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp. Thị trường chỉ có cạnh tranh khi các doanh nghiệp tham gia có chung lợi ích tiềm năng về nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị trường đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán).
Các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân phối gồm có: chất lượng dịch vụ, giá cả hàng hóa, chế độ khuyến mãi, vị trí địa lý. Trong đó chất lượng dịch vụ, giá cả hàng hóa phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống kho vận và hậu cần của doanh nghiệp.
Hệ thống kho vận và hậu cần như là hệ thống kho trữ hàng, kho lạnh, xe chuyên dụng, thiết bị quản lý kho, bán hàng và các hệ thống cơ sở hạ tầng khác đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí, tăng tốc độ quay vòng vốn, giảm thời gian lưu kho, và ổn định chất lượng của hàng hóa. Việc xây dựng và vận hành hệ thống hậu cần như vậy đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn và trình độ về công nghệ quản lý và bí quyết công nghệ (know-how) thích hợp.
Vị trí địa lý các cửa hàng của một doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận nguồn khách hàng, điều này đặc biệt quan trọng đối với các cửa hàng tiện nghi và đối với một xã hội mà quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng và có đời sống sinh hoạt đang được công nghiệp hóa.
1.1.3. Ý nghĩa của cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Theo đó cạnh tranh có những ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói chung và lĩnh vực dịch vụ phân phối nói riêng. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Thứ nhất, cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Một nguyên lý của thị trường là ở đâu có nhu cầu mà từ đó có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặt các nhà kinh doanh. Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của nhà sản xuất, phân phối. Người tiêu dùng không phải sống trong tình trạng xếp hàng chờ mua mà nhà phân phối luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu của họ một cách tốt nhất. Với sự ganh đua của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm cách hạ giá thành sản phẩm nhằm lôi kéo khách hàng về với mình.
Thứ hai, cạnh tranh có vai trò điều phối. Cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh. Trong cuộc cạnh tranh, dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọi nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao cho những người có khả năng sử dụng tốt hơn. Sự dịch chuyển đó đã làm cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu.
Thứ ba, cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất nhằm giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm. Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong kinh doanh để tăng chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế – xã hội.
1.2. Tổng quan về quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
1.2.1. Khái niệm
Quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối bao gồm tất cả các biện pháp của nhà nước nhằm duy trì cạnh tranh, một mặt tạo tiền đề cho cạnh tranh, mở cửa thị trường phân phối loại bỏ các rào cản (barrier) cản trở xâm nhập thị trường, mặt khác, nó phải có các biện pháp chống lại các chiến lược hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp [4].
Các biện pháp quản lý cạnh tranh được xây dựng dựa trên những cơ sở sau: chủ trương phát triển kinh tế của quốc gia; tình hình thực tế của đời sống kinh tế và tương quan cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế chính trên thị trường; xu thế kinh tế quốc tế hiện đại; tập quán kinh doanh truyền thống của quốc gia. Vì đó, các biện pháp quản lý cạnh tranh của các nước luôn khác nhau. Thậm chí trong một quốc gia, các biện pháp quản lý cạnh tranh có nội dung và nhiệm vụ thay đổi theo từng thời kỳ.
Có thể thấy được những vấn đề nói trên bằng việc nghiên cứu biện pháp quản lý cạnh tranh của một số quốc gia điển hình. Với chủ trương thừa nhận tự do cạnh tranh, ngăn ngừa sự hình thành độc quyền và lạm dụng sức mạnh độc quyền nên để quản lý cạnh tranh, Mỹ không những chỉ áp dụng luật cạnh tranh mà còn có các chính sách kinh tế khác như chính sách thuế, chính sách bảo hộ và hỗ trợ tài chính để thúc đẩy cạnh tranh và bảo vệ nó trên thị trường. Tại Nhật Bản, yếu tố truyền thống trong tập quán kinh doanh đã có ảnh hưởng lớn đến quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Văn hóa người Nhật ủng hộ các doanh nghiệp thoả thuận với nhau, thống nhất hành động và chấp nhận hạn chế cạnh tranh. Mặt khác, sau chiến tranh, thị trường Nhật Bản chưa thừa nhận và phổ biến quan niệm cạnh tranh là sự ganh đua tự phát. Họ cho rằng, cạnh tranh là một hình thức quản lý của nhà nước mà không phải là một nguyên tắc tổ chức của nền kinh tế. Vì thế, các biện pháp quản lý cạnh tranh phải tập trung vào việc chính phủ quản lý được những rủi ro và hạn chế cạnh tranh quá mức. Chính phủ phải kiểm soát sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp để xây dựng cạnh tranh bằng cách xác định và cân đối quan hệ cung cầu. Trong khi đó, Việt Nam lại chủ trương xây dựng thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Do vậy, chúng ta đã xác định việc cần thiết phải có sự tồn tại độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực mà ta coi là thiết yếu và duy trì một thị trường cạnh tranh có mức độ.
Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra, các doanh nghiệp dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật để nhằm đạt được lợi ích. Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hạn chế cạnh tranh sẽ có tác động đi ngược lại lợi ích của toàn xã hội, làm suy giảm tốc độ phát triển kinh tế vì không khuyến khích được các loại hình doanh nghiệp tham gia vào sản xuất, kinh doanh.
1.2.2. Sự cần thiết của quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
Bản chất của quản lý cạnh tranh chính là sự can thiệp của nhà nước vào môi trường cạnh tranh tự do nhằm ngăn chặn và hạn chế những hành vi không lành mạnh. Mặc dù ngay từ ngày đầu khai sinh ra mô hình cạnh tranh tự do, nhà kinh tế học lỗi lạc Adam Smith đã đặt nhà nước vào đời sống cạnh tranh với chức năng chống ngoại xâm, đảm bảo trật tự xã hội và công bằng trong lợi ích. Nhưng sau đó, sự lên ngôi của bàn tay vô hình đã xoá mờ dần những cảnh báo của ông đối với những biến dạng của thị trường. Vì thế, vai trò của nhà nước trở nên mờ nhạt đối với cạnh tranh. Cho đến nay, khi nhận thức về tính hai mặt của cạnh tranh không còn nằm trong các lý thuyết kinh tế kinh điển hay hiện đại mà đã được kiểm chứng bởi thực tế thị trường thì vai trò quản lý cạnh tranh của nhà nước lại càng trở nên bức thiết.
- Ý nghĩa của quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối được xác lập dựa trên các quan điểm cơ bản sau: [13]
Thứ nhất, quan điểm về giới hạn của sự tự do. Tư tưởng của tự do không đồng nghĩa với tự do vô chính phủ đã được xây dựng và hoàn thiện cùng với những đấu tranh của loài người. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự tồn tại của tự do để các nguồn lực thị trường mới có thể vận hành tốt và đem lại hiệu quả cho sự phát triển. Sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật sẽ gạt bỏ các biểu hiện nhân danh tự do để huỷ hoại sự tự do đó. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Thứ hai, lý thuyết về khả năng điều tiết thị trường của bàn tay vô hình dường như chỉ đem lại hiệu quả tối ưu cho thị trường khi các mối quan hệ mà nó điều khiển hoàn toàn lành mạnh. Lịch sử đã nhận thấy được sự bất lực của bàn tay vô hình trước những thủ đoạn bất tận và bất chính của con người thực hiện để giành lợi ích kinh tế trong cạnh tranh.
Thứ ba, thừa nhận vai trò điều tiết của nhà nước không có nghĩa là phủ nhận giá trị của bàn tay vô hình mà Adam Smith đã đưa ra cách đây vài thế kỷ. Vai trò của quản lý cạnh tranh có giới hạn là sự hỗ trợ từ phía nhà nước cho bàn tay vô hình của thị trường. Nói cách khác, cần có một cái bắt tay giữa quyền lực thị trường và nhà nước trong việc điều tiết các quan hệ cạnh tranh trên thị trường. Có nghĩa là, sự quản lý của nhà nước luôn phải tôn trọng các quy luật chung vốn có của nền kinh tế, tránh gây nguy cơ đe doạ đến sự tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Cho đến nay, tất cả các quốc gia đều đã thừa nhận vai trò của quản lý cạnh tranh. Trong các lý thuyết kinh tế hiện đại cũng khẳng định sự tất yếu và không thể thiếu vai trò của nhà nước trong đời sống kinh doanh. Điều quan trọng là phải cân nhắc mức độ can thiệp của nhà nước đối với thị trường cạnh tranh để vừa tạo được một môi trường tự do cạnh tranh vừa hạn chế, ngăn chặn được những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Nhất là khi cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước, số lượng các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế ngày càng tăng. Sự năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đang tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tác động tích cực đối với sự phát triển thị trường, thị trường nước ta đang bị đe dọa trước sức tấn công của những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cùng với thời gian và cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thủ đoạn cạnh tranh ngày càng tinh vi, gây ra hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định của kinh tế nước nhà cũng như sức sống của một số ngành công nghiệp nội địa. Trong hoàn cảnh đó, vai trò của quản lý cạnh tranh lại càng có ý nghĩa quan trọng và nhà nước phải cân nhắc, xây dựng những biện pháp, chính sách phù hợp.
1.2.3. Nội dung của quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối
Với vai trò xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh sôi động để khuyến khích cạnh tranh trong lĩnh vực phân phối phát triển và bảo vệ sự lành mạnh của thị trường, quản lý cạnh tranh bao gồm các nhóm biện pháp sau: [13]
Nhóm biện pháp tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối xử trong cạnh tranh giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Bao gồm: xóa bỏ các phân biệt đối xử về mặt pháp lý giữa các doanh nghiệp phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế; xóa bỏ cơ chế hai giá giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoàn thiện môi trường pháp lý liên quan đến cạnh tranh (Luật Cạnh tranh, Luật đầu tư nước ngoài, Luật Thương mại, Pháp lệnh ngoại hối, Luật thuế xuất nhập khẩu); đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhóm biện pháp bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Bao gồm: xóa bỏ các trợ cấp của Nhà nước với doanh nghiệp; tổ chức nhiều giải thưởng tôn vinh doanh nghiệp; cải cách hành chính trong việc đăng ký bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp; tạo nhiều cơ chế để doanh nghiệp khiếu nại về thủ tục hành chính; tạo nhiều diễn đàn để doanh nghiệp lên tiếng cải thiện môi trường kinh doanh; xây dựng các thiết chế mới để bảo vệ cạnh tranh trên các thị trường đặc thù.
Nhóm biện pháp ngăn chặn hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Bao gồm: thể chế hóa các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh; ban hành đầy đủ các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm luật; xây dựng các thiết chế mới để xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh (Hội đồng cạnh tranh, Cục quản lý cạnh tranh).
Nhóm biện pháp bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Bao gồm: xây dựng các công cụ bảo hộ mới được quốc tế chấp nhận (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ); xây dựng các công cụ quản lý mới được quốc tế công nhận; xây dựng các tiêu chí miễn trừ trong Luật Cạnh
2. Cơ sở pháp lý của quản lý cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, ở nước ta, hiện nay đã và đang diễn ra nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Trong nỗ lực tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là tạo điều kiện hoạt động cho các doanh nghiệp phân phối, Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực này như Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại, Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và một số quy chế khác.
2.1. Luật Cạnh tranh
2.1.1. Tổng quan về Luật Cạnh tranh
Ngày 03/12/2023, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số 27/2023/QH11, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2024. Đây là một văn bản luật có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho cộng đồng kinh doanh hoạt động tự do nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật.
Với 6 chương, 123 Điều, Luật Cạnh tranh được ban hành nhằm:
- Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
- Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng.
Để đạt được mục tiêu này, Luật Cạnh tranh phân các hành vi chịu sự điều chỉnh thành hai nhóm hành vi là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đối với nhóm hạn chế cạnh tranh, Luật điều chỉnh 3 dạng hành vi gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Đối với nhóm cạnh tranh không lành mạnh, Luật điều chỉnh 10 hành vi, gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác; quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật do Chính phủ quy định.
Về đối tượng điều chỉnh, Luật Cạnh tranh áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp), kể cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước; và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam. Ngoài ra, tại Điều 6, Luật Cạnh tranh cũng quy định các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh:
Để nhanh chóng đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống, tính đến tháng 01/2026 các cơ quan chức năng đã ban hành 06 văn bản hướng dẫn thi hành về một số nội dung mang tính chất kỹ thuật chưa được quy định chi tiết trong Luật. Các văn bản này bao gồm: Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh
- Nghị định số 06/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh
- Nghị định số 116/2024/NĐ-CP ngày 15/09/2024 về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều khoản của Luật Cạnh tranh.
- Nghị định số 120/2024/NĐ-CP ngày 30/9/2024 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
- Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ngày 24/08/2024 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.
- Thông tư số 19/2024/TT-BTM ngày 08/11/2024 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2024/ND-CP.
Cho đến nay, có thể nói hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh đã tương đối hoàn thiện. Trên cơ sở các quy định này, một mặt, Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh, mặt khác, Cục tích cực triển khai các chương trình phổ biến pháp luật, tham vấn và giải đáp các vướng mắc liên quan đến Luật Cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp định hình chiến lược kinh doanh phù hợp với các quy định của pháp luật.
2.1.2. Một số điều khoản của Luật Cạnh tranh điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ phân phối
Luật Cạnh tranh đã đưa ra những điều khoản quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh đối với các doanh nghiệp. Một trong những nội dung quan trọng nhất của Luật Cạnh tranh là đưa ra các chế định nhằm điều chỉnh các hành vi thoả thuận, áp đặt, bán giá thấp ăn cướp, phân biệt đối xử …và một trong những đối tượng pháp luật quan trọng mà Luật Cạnh tranh hướng tới chính là các quan hệ pháp luật trong các lĩnh vực kinh doanh.
- Chương II, Mục 1, Điều 8 nêu ra các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:
- Thoả thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
- Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ;
- Thỏa thuận áp dặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến dối tượng của hợp đồng;
- Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
- Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Điều 11 và 12, Mục 2 quy định: Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;
- Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;
- Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
Cấm doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện các hành vi sau đây:
- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
- Áp dặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;
- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới.
- Điều 14 cấm doanh nghiệp có các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sau :
- Các hành vi quy định tại Điều 13 của Luật này;
- Áp đặt các điểu kiện bất lợi cho khách hàng;
- Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.
Trong Điều 15, nhà nước kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp sau đây:
- Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước;
- Quyết định số lượng, khối lượng, phạm vi thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước;
- Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích bằng các biện pháp đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do nhà nước quy định.
Chương III, Điều 39 quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm:
- Chỉ dẫn gây nhâm lẫn;
- Xâm phạm bí mật kinh doanh;
- Ép buộc trong kinh doanh;
- Gièm pha doanh nghiệp khác;
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
- Bán hàng đa cấp bất chính.
Điều 48 quy định cụ thể hơn về việc cấm doanh nghiệp thực hiện hành vi bán hàng đa cấp bất chính từ việc tuyển người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp: Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
- Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
- Cung cấp gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham
Bên cạnh đó thì Nghị định số 120/2024/NĐ – CP ngày 30/9/2024 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh cũng đã quy định cụ thể mức độ xử lý đối với các hành vi vi phạm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, những hành vi thường dễ thấy xuất hiện trong lĩnh vực dịch vụ phân phối.
2.2. Một số cơ sở pháp lý khác điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ phân phối
2.2.1. Luật Thương mại
Luật Thương mại 2024 sửa đổi Luật Thương mại 2016 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025. Luật gồm 9 chương, 324 điều áp dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Riêng đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thì căn cứ vào nguyên tắc của Luật này, Chính phủ sẽ có quy định cụ thể sau.
Dịch vụ phân phối bao gồm cả các hành vi thương mại như phương thức đại lý và nhượng quyền thuơng mại và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại. Những hành vi này sẽ chịu sự quản lý của Nhà nước về hoạt động thương mại.
- Điều 166 của Luật Thương mại 2024 về Đại lý thương mại quy định:
Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.
Điều 169 quy định các hình thức đại lý, bao gồm:
- Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.
- Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.
- Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý.
- Các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận.
- Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có quyền sau đây (theo
Điều 172 quy định quyền của bên giao đại lý):
- Ấn định giá mua, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ đại lý cho khách hàng.
- Ấn định giá giao đại lý. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
- Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật
- Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồng đại lý.
- Kiểm tra giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý.
Điều đáng lưu ý ở đây là dưới góc độ thương mại thì một số quy định cấm trong Luật Cạnh tranh lại là hợp pháp trong Luật Thương mại, như hành vi ấn định giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ.
- Điều 284 về Nhượng quyền Thương mại quy định:
Nhượng quyền Thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
- Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Bộ Thương mại vừa ban hành Thông tư 09/2026/TT-BTM hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp FDI được thực hiện quyền nhập khẩu, tuy nhiên, không được lập cơ sở để phân phối hàng nhập khẩu. Theo hướng dẫn, doanh nghiệp FDI đã được cấp phép thực hiện quyền nhập khẩu sẽ được nhập khẩu các mặt hàng không thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu. Đối với những mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu theo lộ trình sẽ được nhập khẩu theo đúng như cam kết của Việt Nam. Theo quy định, doanh nghiệp FDI được trực tiếp làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi nhập khẩu, doanh nghiệp chỉ được bán mỗi nhóm hàng nhập khẩu cho một thương nhân có đăng ký kinh doanh mua bán hoặc có quyền phân phối nhóm hàng đó. Doanh nghiệp FDI được tự lựa chọn đối tác phân phối và phải đăng ký với cơ quan quản lý [23].
Đối với những doanh nghiệp FDI đã được cấp phép thực hiện quyền phân phối, các doanh nghiệp này được thực hiện bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền thương mại, đại lý mua bán hàng hoá sản xuất tại Việt Nam và hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam theo quy định. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp này sẽ không được thực hiện bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ đã được cấp phép và phải xin phép nếu muốn thành lập thêm cơ sở bán lẻ mới. Cơ quan quản lý nhà nước sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể căn cứ vào số lượng các cơ sở bán lẻ, sự ổn định của thị trường, mật độ dân cư trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt cơ sở bán lẻ, sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch của từng địa phương trước khi quyết định có thể cấp phép hay không.
Theo Bộ Công Thương, văn bản hướng dẫn này là một bước quan trọng trong việc thực hiện các cam kết WTO. Nghị định số 23/2026/NĐ- CP đã được Chính phủ ban hành từ tháng 2/2026 nhưng văn bản hướng dẫn đến nay mới được ban hành. Trong thời gian chờ đợi vừa qua, cộng đồng các doanh nghiệp FDI đã rất nhiều lần có ý kiến về việc cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn này để được thực hiện các quyền lợi theo cam kết WTO.
2.2.2. Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Người tiêu dùng là những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa là dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng, vì vậy, ngoài việc chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp lý nêu trên còn chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngày 27/04/2018, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ người tiêu dùng. Trong đó, Pháp lệnh quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ nói chung và các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phân phối nói riêng.
Cụ thể, Điều 7 cấm các tổ chức, cá nhân kinh doanh có các hành vi sau đây:
- Sản xuất kinh doanh hàng cấm, hàng giả.
- Sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, trái với thuần phong mỹ tục.
- Thông tin, quảng cáo sai sự thật.
- Các vi phạm khác nhằm lừa dối người tiêu dùng.
Trách nhiệm của các tổ chức này được quy định rõ trong Điều 14, Điều 15, Điều16 và Điều 17 bao gồm:
- Phải đăng ký, công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, dich vụ theo quy định của pháp luật và thực hiện đúng cam kết của người tiêu dùng; phải thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thực hiện việc cân, đong, đo, đếm chính xác.
- Phải thông tin, quảng cáo chính xác, trung thực về hàng hóa, dịch vụ; niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng.
- Phải kịp thời giải quyết mọi khiếu nại của người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hóa, dịch vụ đối với khách hàng.
- Phải thu thập, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của người tiêu dùng; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp phân phối không thực hiện đúng các trách nhiệm về niêm yết giá, trách nhiệm bảo hành, bán hàng không rõ xuất xứ, lừa dối về xuất xứ hàng hóa và thường không quan tâm đến lĩnh vực hậu mãi gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Do vậy, các quy định nói trên nhằm đảm bảo cho người tiêu dùng có được những lợi ích mà pháp luật cho phép.
2.2.3. Một số quy định khác có liên quan Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
Bên cạnh các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ phân phối nói chung, Nhà nước còn ban hành các quy định cụ thể hơn áp dụng cho các ngành hoạt động kinh doanh phân phối như Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại; Quy chế kinh doanh xăng dầu, Luật thị trường cung cấp điện cạnh tranh… Các quy chế này là cơ sở pháp lý hướng dẫn các doanh nghiệp phân phối hoạt động tuân thủ theo quy định của pháp luật, góp phần tạo ra một môi trường lành mạnh. Trong phạm vi đề tài, Khóa luận tập trung vào các quy định đối với hoạt động phân phối dưới hình thức bán buôn, bán lẻ thông qua các siêu thị, trung tâm thương mại… Cụ thể, đó chính là Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại.
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, các loại hình phân phối hàng hóa hiện đại theo mô hình của các nước tiên tiến (như siêu thị, trung tâm thương mại…) đã và đang xuất hiện ngày một nhiều tại các địa phương, đặc biệt là ở các thành phố lớn của nước ta. Các loại hình này đã và đang đáp ứng được phần nào nhu cầu mua sắm ngày càng cao của người người tiêu dùng, góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hóa ngành thương mại và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch, thiếu sự hướng dẫn, quản lý và chưa có các tiêu chuẩn thống nhất… nên các loại hình này phát triển còn mang tính chất tự phát, cách đặt và gọi tên còn lộn xộn, đã xuất hiện không ít khiếm khuyết trong hoạt động kinh doanh ảnh hưởng tới quyền lợi khách hàng… Vì vậy, để siêu thị, trung tâm thương mại phát triển một cách lành mạnh, theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương cũng như cả nước, tránh tình trạng lạm dụng trong việc đặt cũng như gọi tên và khắc phục dần các khiếm khuyết trong hoạt động kinh doanh. Đặc biệt là nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ trong quy hoạch xây dựng và quản lý giữa các cấp quản lý và các địa phương, định hướng tốt hơn đối với những cơ sở sẽ ra đời, lấy lại niềm tin của khách hàng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 24/09/2023, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã ký Quyết định số 1371/2023/QĐ-BTM ban hành Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại. Quy chế này bao gồm 4 Chương, 11 Điều quy định về tiêu chuẩn, về hàng hoá, dịch vụ và trách nhiệm quản lý hoạt động của loại hình siêu thị, trung tâm thương mại.
Các nhà phân phối lớn thường có vị trí thống lĩnh thị trường, quyền lực thị trường và có vị thế cao hơn các đối tác kinh doanh, nhà sản xuất, nhà cung cấp của họ trong các bàn đàm phán, vòng thương lượng giao dịch. Trong thực tiễn kinh doanh đã cho thấy, những nhà phân phối, bán buôn, bán lẻ lớn thường có xu hướng lạm dụng vị trí thống lĩnh của mình để gây hạn chế cạnh tranh hoặc có những cuộc chiến cạnh tranh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt hơn. Điều đáng lưu ý ở đây là những nhà phân phối lớn sẵn sàng lao vào một cuộc chiến cạnh tranh về giá cả, chất lượng, dịch vụ và những ưu đãi khác để loại bỏ đối thủ cạnh tranh, mở rộng thị phần, tích tụ tư bản, có vị trí thống lĩnh thị trường, và đến lúc đó, chính những nhà phân phối lại luôn muốn hạn chế cạnh tranh, duy trì vị thế của mình. Chính vì vậy, sự ra đời của các văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Cạnh tranh 2023 là rất cần thiết nhằm tạo lập và thúc đẩy các cơ hội bình đẳng, không phân biệt đối xử, bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh; ngăn chặn các hành vi gây hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Khóa luận: Quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối hàng hóa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quản lý cạnh tranh trong dịch vụ phân phối
