Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế toàn cầu hoá đi liền với việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể tồn tại, cạnh tranh trên thị trường thế giới, trên bình diện vĩ mô đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải đưa ra được chiến lược phát triển tổng thể hay cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể. Trên bình diện vi mô, việc xây dựng các chiến lược kinh doanh cũng là một điều hết sức cần thiết và quan trọng cho các doanh nghiệp. Việc đưa ra các chiến lược đúng đắn sẽ góp phần giúp doanh nghiệp phát triển và ngược lại, nếu chiến lược sai lầm sẽ làm cho doanh nghiệp lâm vào tình thế khó khăn, có thể sẽ dẫn đến phá sản.

Logistics hiện là một lĩnh vực khá phát triển ở các nước phát triển điển hình là ở các nước Tây Âu, Mỹ, Singapore, Đài Loan,… Tuy nhiên tại Việt Nam, hiện nay lĩnh vực logistics vẫn còn khá mới mẻ. Nhiều công ty hiện vẫn còn rất bỡ ngỡ với hoạt động này, thiếu kinh nghiệm trong phương pháp tổ chức cũng như trong nghiệp vụ. Việc cung ứng dịch vụ logistics trong các công ty Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, chưa bài bản, và chưa công ty nào có chiến lược phát triển dịch vụ logistics một cách rõ ràng, cụ thể.

Vietfracht hiện là một nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Việt Nam có uy tín nhưng Vietfracht cũng không tránh khỏi thực tế trên. Vì vậy, để Vietfracht thực sự là một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngiệp trên thị trường Việt Nam và có thể tham gia vào thị trường logistics toàn cầu, thì Vietfracht cần xây dựng cho mình một chiến lược phát triển dịch vụ logistics thật bài bản trong dài hạn. Điều này là đặc biệt quan trọng đối với Vietfracht nhất là trong xu thế hiện nay – xu thế hội nhập kinh tế thế giới.

Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra một số biện pháp để thực hiện chiến lược phù hợp và hiệu quả cho Vietfracht.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics và chiến lược kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht. Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.
  • Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích tình hình kinh doanh dịch vụ logistics tại Vietfracht những năm gần đây, sau đó xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra các biện pháp để thực hiện chiến lược đó cho Vietfracht chủ yếu trên thị trường Việt

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, diễn giải, thống kê, phỏng vấn chuyên gia,… để nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài.

5. Kết cấu của khoá luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khoá luận được chia thành 3 chương như sau:

  • Chương I: Tổng quan về dịch vụ logistics và nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba.
  • Chương II: Tình hình kinh doanh dịch vụ logistics của công ty Vietfracht.
  • Chương III: Chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ logistics của công ty CP vận tải và thuê tàu Vietfracht trong quá trình hội nhập.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ LOGISTICS BÊN THỨ BA

I. Tổng quan về logistics

1. Khái niệm logistics

Logistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing”, từ tiếng Anh sang tiếng Việt và thậm chí cả các ngôn ngữ khác. Bởi nó bao hàm nghĩa của từ quá rộng nên không một đơn ngữ nào có thể truyền tải hết ý nghĩa của nó.

Khi xét về mặt lịch sử, thuật ngữ “logistics” là một thuật ngữ đã có từ lâu, thuật ngữ này lần đầu tiên được dùng trong quân đội mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận”. Cho đến nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ về logistics hay hệ thống logistics.

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều nghiên cứu về logistics trong các giai đoạn phát triển đó, dưới các góc nhìn khác nhau, hiện nay có khá nhiều khái niệm về logistics:

Theo “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A.S Hornby. Fifth Edition, Oxford University Press, 2013”: Logistics là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó (Logistics – the organization of supplies and services for any complex operation). Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Theo Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics Management CLM in the USA), Logistics được định nghĩa là “quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả và tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và việc lưu trữ nguyên liệu thô, hàng trong kho đang sử dụng, hàng thành phẩm và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ cho tới nơi tiêu thụ nhằm mục đích thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng“.

Trong cuốn “An Intergrated Approach to Logistics Management” của Viện kĩ thuật công nghệ Florida – Mỹ, thì Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu trữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp, của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp.

Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng, thì Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (theo Logistics and Supply Chain Management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime University, 2017).

Theo quan điểm “5 right” thì : Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm.

Qua các khái niệm trên, chúng ta thấy dù có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng nội dung đều cho thấy rằng Logistics là quá trình tối ưu hoá về địa điểm và thời điểm, tối ưu hoá việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.

Logistics không chỉ bị hạn chế trong vận hành sản xuất, logistics liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ, bệnh viện, trường học, cửa hàng bán lẻ, ngân hàng, và các cơ quan cung cấp dịch vụ tài chính khác. Việc quản trị logistics sẽ thiết lập một khung làm việc cho các hoạt động logistics trong suốt quá trình lập kế hoạch, thực hiện và quản lý. Đầu ra của hệ thống logistics chính là lợi thế cạnh tranh, các lợi ích về thời gian, địa điểm, các chuyển động hiệu quả về hướng khách hàng, và đầu ra của logistics cung cấp dịch vụ logistics hỗn hợp, trở thành một tài sản độc quyền của công ty.

2. Phân loại hệ thống logistics Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Theo hình thức tổ chức hoạt động logistics

  • Logistics bên thứ nhất (1PL – Frist Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân.
  • Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ của logistics (vận tải, kho bãi, thanh toán,.. ) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa có tích hợp hoạt động logistics.
  • Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, do đó 3PL tích hợp các dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin, trong dây chuyền cung ứng.
  • Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics): là người tích hợp (Integrator), chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải, 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
  • Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics): 5PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử.

Theo toàn bộ quá trình logistics

  • Logistics đầu vào (Inbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,..) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
  • Logistics đầu ra (Outbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
  • Logistics ngược (Reverse Logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.

Theo đối tượng hàng hóa

  • Logistics hàng tiêu dùng nhanh (FMCG Logistics) là quá trình logistics cho ngành tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như quần áo, giầy dép, thực phẩm.
  • Logistics ngành ôtô (Automotive Logistics): là quá trình logistics phục vụ ngành ô tô.
  • Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics): là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm,…
  • Logistics hàng điện tử (Electronic Logistics).
  • Logistics ngành dầu khí (Petroleum Logistics).

3. Vai trò của logistics

  • Đối với nền kinh tế Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Ở góc độ tổng thể, logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa. Mỗi hoạt động trong chuỗi đều có một vị trí và chiếm một khoản chi phí nhất định. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng họat động logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương. Vì vậy nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội.

Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ một khi dây chuyền logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng.

Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp cho thỏa mãn nhu cầu của mỗi người.

Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế. Thị trường các doanh nghiệp hướng tới không còn nằm trong phạm vi biên giới các quốc gia mà đã lan rộng ra khắp toàn cầu. Vì thế, logistics càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ.

Hoạt động logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên trường quốc tế. Theo nghiên cứu của Limao và Venables (2019) cho thấy sự khác biệt trong kết cấu cơ sở hạ tầng chiếm 40% trong sự chênh lệch chi phí đối với các nước tiếp giáp biển và 60% đối với các nước không tiếp giáp biển. Hơn nữa, trình độ phát triển và chi phí logistics của một quốc gia còn được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Quốc gia nào có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống cảng biển tốt,.. sẽ thu hút được đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới. Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là một minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics.

  • Đối với các doanh nghiệp Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Đối với các doanh nghiệp, logistics có vai trò rất to lớn. Logistics giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,.. logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Để tìm được vị trí tốt hơn, kinh doanh hiệu quả hơn, các tập đoàn đa quốc gia, các công ty đã và đang nỗ lực tìm kiếm trên toàn cầu nhằm tìm được nguồn nguyên liệu, nhân công, vốn, môi trường kinh doanh, tốt nhất và thế là logistics toàn cầu hình thành và phát triển.

Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được chủ động trong việc chọn nguồn cung cấp nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất.

Logistics còn góp phần giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứng từ. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm nhiệm việc kí hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để đưa hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng.

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics. Đứng ở góc độ này, logistics được xem là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hóa và tập trung.

Ngoài ra logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp. Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm/dịch vụ chỉ có thể làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời gian và địa điểm quy định.

4. Các yếu tố cơ bản của logistics

Hệ thống cung ứng, phân phối vật chất hay còn gọi là “logistics” là nghệ thuật quản lý sự vận động của nguyên vật liệu và thành phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Nói cách khác, logistics là nghệ thuật quản lý dòng lưu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá kể từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa đến tay người tiêu dùng. Từ quan niệm về logistics như trên cho thấy, logistics bao gồm rất nhiều yếu tố, các yếu tố này tạo thành chuỗi cung ứng (supply chain). Sau đây là những yếu tố cơ bản của logistics.

  • Yếu tố vận tải

Trong các yếu tố cấu thành chuỗi logistics thì vận tải giao nhận là khâu quan trọng nhất. Chi phí vận tải giao nhận thường chiếm hơn 1/3 tổng chi phí logistics. Muốn giảm chi phí của logistics phải giảm chi phí khâu giao nhận vận tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ khác nhau trên thị trường. Muốn vậy phải đảm bảo thời gian giao hàng, phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời, đúng lúc. Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm (inventory costs) để giảm chi phí logistics nói chung.

Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thoả mãn nhu cầu về vận tải giao nhận. Nhu cầu này trên thực tế phổ biến do người vận tải giao nhận đáp ứng. Người cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận hoạt động hoàn toàn độc lập đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu vào doanh nghiệp hay thành phẩm ra khỏi doanh nghiệp. Chính vì vậy họ cũng độc lập trong việc thu lợi nhuận từ việc cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp. Người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chuyên cung cấp các dịch vụ cho các doanh nghiệp được gọi là nhà trung gian chuyên nghiệp.

Một kênh logistics có thể được tạo bởi một số nhà trung gian chuyên nghiệp như người giao nhận (Freight Forwarder), người kinh doanh vận tải công cộng không có tàu (Non Vessel Operating Common Carrier – NVOCC), các công ty quản lý xuất khẩu (Export Management Companies – EMCs), các công ty thương mại xuất khẩu (Export Trading Companies – ETCs) hay người đóng gói hàng xuất khẩu hoặc môi giới hải quan… Sự thành bại của mỗi nhà trung gian chuyên nghiệp được quyết định bởi sự thành bại của toàn bộ kênh logistics. Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

  • Yếu tố marketing

Giống như yếu tố vận tải, yếu tố marketing cũng là một yếu tố cơ bản của logistics. Theo như phần khái niệm đã trình bày, có thể thấy điều quan trọng trong khái niệm về logistics là tất cả các hoạt động cuối cùng đều tập trung vào khách hàng. Vì vậy trong logistics, điểm được nhấn mạnh nằm ở dịch vụ hiệu quả dành cho khách hàng. Phương thức kinh doanh hướng tới thị trường đã tạo nên những thử thách mới đối với các nhà quản lý, đòi hỏi các nhà quản lý phải biết đâu là thị trường của doanh nghiệp, tạo ra tư duy về dịch vụ khách hàng hiệu quả, giúp việc đưa đúng sản phẩm tới đúng nơi cần thiết vào thời điểm thích hợp với mức giá phải chăng, thiết lập nhu cầu phải có kênh phân phối để tối đa hoá lượng hàng bán ra với mức giá hợp lý cũng như sự hỗ trợ đối với sản phẩm sau khi chuyển giao quyền sở hữu. Từ đây có thể thấy vai trò của marketing trong chuỗi dây chuyền logistics. Lúc đầu logistics chỉ được coi là yếu tố “địa điểm – place” – đảm bảo hàng đến đúng địa điểm kịp thời trong điều kiện tốt nhưng thực tế hiện nay logistics còn có liên hệ mật thiết với 3P còn lại của marketing-mix.

  • Yếu tố phân phối

Phân phối là một khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hoá của một doanh nghiệp (người sản xuất, người kinh doanh hay bất kỳ một người có hàng hoá nào khác). Nó bao gồm sự di chuyển của hàng hoá giữa các phương tiện khác nhau qua biên giới của một hay nhiều nước, qua nhiều địa điểm khác nhau. Trong đó sự phối hợp các hoạt động và các chức năng khác nhau được nhấn mạnh nhằm mục đích loại bỏ các gián đoạn trong hành trình liên tục của hàng hoá từ giai đoạn sản xuất đến khi hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics sẽ phối hợp toàn bộ quá trình cung ứng, sản xuất, phân phối thành một dòng chảy nhịp nhàng.

Trước đây các kênh phân phối thường đề cao vai trò của vị trí nhà xưởng, nơi sản xuất hay kho hàng… Một doanh nghiệp nên chọn vị trí nơi gần nguồn nguyên liệu hoặc nơi có đường giao thông thuận lợi, xuyên suốt. Ngược lại, khả năng sẵn sàng vận chuyển nguyên liệu tới doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể lựa chọn thay thế và xây dựng nhà xưởng, kho hàng gần nên vấn đề thời gian trong hệ thống logistics đã bị bỏ qua, xao nhãng. Để có thể tối ưu hoá dòng lưu chuyển hàng hoá, không nên tập trung ở vị trí hay địa điểm, mà kênh phân phối phải biết liên kết chặt chẽ giữa địa điểm với thời gian. Cách tiếp cận này đã đưa ra một cách nhìn tổng quát hơn về logistics trong sự kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận, các yếu tố trong toàn bộ quá trình trung chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá qua các kênh.

  • Yếu tố quản trị Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Trong hệ thống logistics, quản trị có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động logistics nếu không có yếu tố kiểm tra, giám sát sẽ không đạt được mục đích đặt ra. Vấn đề quản trị trong logistics được thể hiện qua hoạt động của nhà quản trị logistics, họ là những người vừa có chuyên môn sâu, vừa có sự hiểu biết rộng. Xét về khía cạnh chuyên môn, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về các loại hình vận tải, cước phí vận tải, tình hình kho bãi, vấn đề lưu kho lưu bãi, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, quá trình tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các kênh phân phối và thị trường,… Xét về khía cạnh hiểu biết rộng, nhà quản trị phải nắm rõ quan hệ giữa tất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết, phối hợp hài hoà hoạt động của logistics với các hoạt động khác nhau trong doanh nghiệp cũng như với các doanh nghiệp khác và khách hàng. Điều quan trọng nhất là nhà quản trị logistics phải biết tới toàn bộ hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp, phải bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, thị trường tiềm năng…

Có thể nói mỗi quyết định của nhà quản trị logistics có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp, từ vấn đề chi phí đến lợi nhuận, từ nhà cung cấp đến khách hàng. Quản trị logistics là tâm điểm của mọi hoạt động logistics, mục tiêu của quản trị logistics là thiết lập nên các nguồn lực logistics trọn gói một cách hài hoà và thống nhất.

Ngoài bốn yếu tố chính là vận tải, marketing, phân phối và quản trị vừa nêu trên, logistics còn bao gồm các yếu tố khác như yếu tố kho bãi và nhà xưởng, yếu tố phụ tùng thay thế và sửa chữa, tài liệu kỹ thuật, thiết bị kiểm tra và hỗ trợ, nhân lực và đào tạo nhân lực. Tất cả các yếu tố này đều là các hoạt động hay các nguồn lực đầu vào cho hệ thống logistics. Các yếu tố này khi được liên kết trong một thể thống nhất và hài hoà thì sẽ hỗ trợ cho các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra thành công. Còn nếu tách biệt độc lập các yếu tố thì sẽ dễ dàng khiến cho chuỗi logistics không đạt được sự tối ưu hoá như mong muốn. Như vậy nhà quản trị logistics phải nhận thức và thấy rõ những mối quan hệ ràng buộc này và hoạt động sao cho những tác động thực tế cũng như tiềm năng của mỗi yếu tố logistics trong chuỗi logistics không bị phủ nhận lẫn nhau.

II. Tổng quan về dịch vụ logistics Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

1. Khái niệm dịch vụ logistics

Khác với thuật ngữ “logistics”, thuật ngữ “dịch vụ logistics” không được định nghĩa, xem xét nhiều đến trong các văn bản tài liệu nước ngoài. Theo định nghĩa trong cuốn “The Management of Business Logistics” thì “dịch vụ logistics là một mô hình được xác định theo chuẩn quy định từ trước do các nhà vận tải cung cấp, mời gọi sử dụng và tính tiền cước giao nhận hàng hóa”. Có thể hiểu một cách tổng quát về dịch vụ logistics là việc thực hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan tới nơi hình thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng.

Ở luật Thương mại Việt Nam 2023 khái niệm về logisitcs không được đề cập đến, mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics.

Theo Điều 233 – Luật Thương mại Việt Nam 2023: Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.

Định nghĩa trên của Luật Thương mại 2023 có nội dung khá rộng và chưa nêu được đặc trưng cơ bản của dịch vụ logistics, hay nói cách khác nội hàm của khái niệm chưa được làm rõ. Việc đưa ra nhiều thành phần “nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,…” có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và gây ra việc khó áp dụng trong thực tế nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa. Trên thực tế, trước khi Luật Thương mại 2023 đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics thì các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như doanh nghiệp nước ngoài đã cung cấp toàn bộ các công việc mà Luật Thương mại 2023 nêu tại Điều 233. Do đó, khái niệm dịch vụ logistics xuất hiện và được sử dụng như hiện nay nhằm chỉ cho các doanh nghiệp nào có khả năng kết hợp lại là một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn nói trên. Xuất phát từ thực tế này, khái niệm dịch vụ logistics cần có những đặc trưng cơ bản về tính liên hoàn và công việc cơ bản. Dịch vụ logistics phải gắn với việc vận chuyển hàng hoá. Tuy nhiên nếu chỉ có vận chuyển hàng hoá mà đã được gọi là dịch vụ logistics thì chưa đủ. Phải làm rõ hơn nữa các công việc cơ bản của dịch vụ logistics.

Nếu xét trong giao nhận vận tải, dịch vụ logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ mà luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá, như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá đi các địa điểm khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng ở trạng thái nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (Inventory level). Chính vì vậy khi nói tới logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống các dịch vụ (Logistics system chain). Với hệ thống chuỗi dịch vụ này người cung cấp dịch vụ logistics (Logistics service provider) sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu vận chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phối hàng hoá cũng như chi phí tương tự ở đầu ra bằng cách kết hợp tốt các khâu riêng lẻ qua hệ thống logistics nêu trên.

2. Phân loại dịch vụ logistics Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Theo Điều 4 của “Nghị định của chính phủ số 140/2025/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2025 quy định chi tiết luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics” thì dịch vụ logistics có những loại sau:

Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:

  • Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp
  • Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.
  • Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa.
  • Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics, hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.

Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:

  • Dịch vụ vận tải hàng hải.
  • Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa.
  • Dịch vụ vận tải hàng không.
  • Dịch vụ vận tải đường sắt.
  • Dịch vụ vận tải đường bộ.
  • Dịch vụ vận tải đường ống.

Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:

  • Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.
  • Dịch vụ bưu chính.
  • Dịch vụ thương mại bán buôn.
  • Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng.
  • Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

3. Vai trò của dịch vụ logistics

Trong xã hội mục đích của sản xuất là để phục vụ tiêu dùng. Nhưng ở thời đại hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm cho quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc hơn. Khoảng cách về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng ngày càng xa dần và mở rộng dịch vụ logistics có tác dụng rất lớn với sản xuất, phân phối vật chất của xã hội. Vì vậy, vai trò của dịch vụ logistics đối với nền kinh tế cũng như với doanh nghiệp là rất lớn.

  • Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics cũng như Viện nghiên cứu logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng 10 – 13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng 15 – 20%. Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/1 năm và ở Brazil là 20%/1 năm. Điều này cho thấy chi phí cho logistics là rất lớn. Vì vậy, với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Điều này góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

  • Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10 -15% giá FOB, hay 8 – 9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông.

  • Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5 – 6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3 – 4 lần sản xuất và gấp từ 1 – 2 lần các dịch vụ ngoại thương khác.

  • Dịch vụ logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp.

  • Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (E-Logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.

4. Dịch vụ logistics là sự phát triển tất yếu của dịch vụ vận tải giao nhận

Dịch vụ logistics chính là sản phẩm của sự phát triển vận tải giao nhận ở trình độ cao. Cho đến nay, quá trình vận tải giao nhận có thể chia thành 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Người kinh doanh vận tải giao nhận đứng ra thay mặt chủ hàng đảm nhận việc giao nhận vận chuyển hàng hoá, làm các thủ tục và tư vấn cho chủ hàng để giải quyết những vấn đề phát sinh trong giao nhận và vận chuyển hàng. Ở đây người vận tải giao nhận là người đại lý của chủ hàng.

Giai đoạn 2: Người kinh doanh vận tải giao nhận đảm nhận việc giao nhận hàng hoá, làm tất cả các thủ tục có liên quan như là người đại lý của chủ hàng, nhưng người vận tải giao nhận còn đứng ra tiến hành việc gom hàng (Cargo Consolidation) với tư cách là người kinh doanh độc lập. Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Giai đoạn 3: Người kinh doanh vận tải giao nhận đảm nhận việc vận chuyển hàng hoá từ điểm đầu đến điểm cuối. Họ đảm đương tất cả các dịch vụ của một số người vận tải và cung cấp dịch vụ. Người kinh doanh vận tải giao nhận cũng đảm nhận việc thông quan cho hàng hoá và thương thảo với cảng với tư cách là một người ký hợp đồng độc lập với cảng để thực hiện một số công việc cần thiết. Lúc này người kinh doanh vận tải giao nhận không còn hành động như là một người đại lý thay mặt chủ hàng nữa mà là người đứng ra cung cấp các dịch vụ cho chủ hàng. Họ đã trở thành một người chủ trong dây chuyền vận tải với tư cách là một bên chính, phát hành chứng từ vận tải đa phương thức và chịu trách nhiệm đối với hàng hoá trong suốt quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chở cho tới khi giao hàng xong cho người nhận hàng, kể cả việc chậm giao ở nơi đến.

Giai đoạn 4: Hiện này người kinh doanh vận tải giao nhận đang tiến hành công việc của mình vượt ra ngoài khuôn khổ của vận tải đa phương thức, đó là cung cấp dịch vụ logistics và quản lý dây chuyền cung ứng.

Qua các giai đoạn phát triển của nghề kinh doanh vận tải giao nhận, những khái niệm mới, thuật ngữ mới đã ra đời để phản ánh đầy đủ và chính xác nội dung công việc của người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận. Người kinh doanh vận tải giao nhận ngày nay không còn làm những công việc đơn thuần của giao nhận vận chuyển mà còn đảm nhận nhiều công việc khác nữa theo yêu cầu của khách hàng đồng thời kết hợp các công việc liên quan tạo thành chuỗi dịch vụ cung cấp và trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider) vì thế cho nên trên thực tế hiện nay nhiều công ty vận tải và giao nhận đã đổi tên thành công ty kinh doanh logistics. Ví dụ Hiệp hội giao nhận Singapore từ năm 2018 đã đổi thành Singapore Logistics Association.

Tóm lại, dịch vụ logistics bao gồm mọi dịch vụ kinh doanh liên quan tới vận tải giao nhận (đường biển, đường hàng không, đường bộ, nội thuỷ), lưu kho lưu bãi. sắp xếp hàng hoá sẵn sàng cho việc vận chuyển đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, thương hiệu và phân phối đi các nơi theo yêu cầu của khách hàng.

III. Tổng quan về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba – 3PL Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

1. Khái niệm nhà cung cấp dịch vụ logistics

Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụ logistics nhưng doanh nghiệp thực sự kinh doanh dịch vụ logistics thì không nhiều. Nói một cách đơn giản thì nhà cung cấp dịch vụ logistics trọn gói door-to-door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là những người tích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận, thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu,… thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển door-to-door. Để có thể thực hiện những nghĩa vụ như vậy, trước hết họ phải là nhà kinh doanh vận tải đa phương thức. Trong quá trình phát triển, với việc đảm nhận thêm một số hoạt động khác như lắp ráp, bảo quản, phân phối họ sẽ dần chuyển hóa thành nhà cung cấp dịch vụ logistics thực sự.

Xét trên khía cạnh văn bản pháp luật, theo Điều 234 – Luật Thương mại Việt Nam 2023 có nêu “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics phải là thương nhân và kinh doanh có điều kiện. Xét trên phạm vi nước Việt Nam, có thể coi đây là một chuẩn mực để xem xét thế nào là một nhà cung cấp dịch vụ logistics. Trong văn bản nghị định số 140/2025/NĐ-CP quy định chi tiết luật Thương mại Việt Nam 2023 về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Người kinh doanh dịch vụ logistics được chia thành hai nhóm: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói chung và thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics. Cụ thể: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó” và “Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân thuộc các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có cam kết trong các điều ước quốc tế về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ logistics”.

Nhà cung cấp dịch vụ logistics ra đời nhằm mục đích giảm xuống thấp nhất chi phí logistics (transport cost, data processing cost…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.

Người cung cấp dịch vụ logistics phải giải quyết các vấn đề trong việc quản lý công tác dịch vụ khách hàng, quản lý việc cung ứng nguyên vật liệu, quản lý việc dự trữ hàng tồn kho, quản lý thông tin truyền dữ liệu, quản lý vận tải và phân phối hàng, quản lý kho bãi bằng những phương pháp và kinh nghiệm cần thiết. Khi lựa chọn phương thức vận tải thì nhà cung cấp dịch vụ logistics cần phải sử dụng kết hợp một số tiêu chí quan trọng:

  • Chi phí vận tải.
  • Tốc độ vận chuyển.
  • Tính linh hoạt.
  • Khối lượng/trọng lượng giới hạn.
  • Khả năng tiếp cận.
  • Tính linh hoạt.

2. Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

  • Khái niệm về nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL

Để hiểu được thế nào là nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba, trước hết ta cần phải biết thế nào là dịch vụ logistics bên thứ ba.

Theo dự án Protrans, EU định nghĩa thì “Dịch vụ logistics bên thứ ba là những hoạt động được thực hiện bởi một công ty bên ngoài thay mặt một chủ hàng và ít nhất cũng đảm bảo thực hiện được việc quản lý nhiều hoạt động logistics. Các hoạt động này được cung cấp theo hướng tích hợp chứ không phải là một loại riêng rẽ. Sự hợp tác giữa chủ hàng và công ty bên ngoài là một mối quan hệ liên tục có chủ định”.

Như vậy, có thể hiểu “Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba – 3PL là người có thể cung cấp một dịch vụ tích hợp trọn gói cho khách hàng (one stop shop logistics service)”.

Còn theo như website Supply Chain Vision, “nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 (3PL) là một công ty cung cấp các dịch vụ logistics mang tính chiến thuật đa chiều cho khách hàng”. Những công ty này sẽ hỗ trợ thúc đẩy dòng chảy thiết bị, thông tin, và nguyên liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất và sản phẩm cuối cùng từ nhà sản xuất đến nhà phân phối và nhà bán lẻ. Các dịch vụ mang tính chiến thuật này thường được cơ bản bao gồm vận tải, dịch vụ kho bãi, gom hàng nhanh, quản lý tồn kho, đóng gói hay giao nhận vận tải.

  • Sơ đồ 1.1: Vai trò trung gian của nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba

Dựa vào sơ đồ trên, ta có thể hiểu nhà cung cấp dịch vụ logistics 3PL hoạt động theo hình thức trung gian trong chuỗi cung ứng, chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển hàng hóa từ điểm đầu cho đến điểm cuối. Hay nói cách khác, họ là nhà cung cấp bên ngoài, thực hiện tất cả hoặc chỉ một phần chức năng logistics cho một công ty khách hàng. Thay vì phải tập trung vào các hoạt động vận tải, các nhà cung cấp dịch vụ logistics 3PL cung cấp thêm các hoạt động logistics tích hợp, hỗ trợ hoạt động trong và ngoài doanh nghiệp. Các nhà cung cấp dịch vụ 3PL không sở hữu hàng hóa, mà chỉ giữ hàng hóa để tiến hành theo hợp đồng.

Các nhà kinh doanh dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL xuất hiện là một quá trình tiến hóa từ các hãng tham gia hoạt động vận tải (Freight Carriers), các công ty vận tải biển, các hãng hàng không, các công ty vận tải đường bộ, các công ty vận tải đường sắt, các chủ kho bãi (Warehouse Firms), người giao nhận (Freight Forwader), đồng thời cả những công ty tư vấn, cung cấp giải pháp công nghệ nữa.

  • Phân loại các nhà 3PL Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Mặc dù hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ 3PL hiện nay đều đang phát triển trở thành một nhà cung cấp toàn diện dịch vụ logistics nhưng chúng ta vẫn có thể phân loại những nhà cung cấp dịch vụ này theo cách sau: bao gồm công ty 3PL hoạt động chính về vận tải, về kho vận và phân phối, về giao nhận, về quản lý và vận chuyển, về tài chính, và về thông tin.

  • Các công ty 3PL hoạt động chính về kho vận – phân phối

Trước đây các nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên về hoạt động kho vận – phân phối đều là những người kinh doanh hợp đồng kho bãi hoặc kho vận nói chung. Bên cạnh đó họ cũng mở rộng thêm những dịch vụ logistics khác. Ví dụ DSC Logistics, USCO và Exel. Dựa trên hoạt động truyền thống của mình, các công ty này có những hoạt động logistics liên quan đến việc quản lý hàng tồn kho, kho vận, phân phối… Nếu so với nhà cung cấp vận tải thì việc chuyển đổi từ một người làm kho vận sang dịch vụ logistics tích hợp (intergrated logistics) ít phức tạp hơn. Bên cạnh đó cũng có một số công ty 3PL hình thành từ sát nhập của những tổ chức logistics lớn hơn.

  • Các công ty 3PL hoạt động chính về vận tải

Các công ty này phần lớn là chi nhánh hoặc bộ phận của các công ty vận tải lớn. Một số dịch vụ do công ty cung cấp trên cơ sở sử dụng tài sản của công ty ngoài và một số dịch vụ thì sử dụng cơ sở vận tải của công ty mẹ. Các công ty này ngoài hoạt động vận tải còn mở rộng cung cấp thêm những dịch vụ logistics khác toàn diện hơn. Một số công ty thuộc loại hình này như Ryder, Menlo Logistics, FedEx Logistics, UPS Logistics,…

  • Các công ty 3PL hoạt động chính về giao nhận

Nhóm này bao gồm những công ty như Kuehne&Nagel, Fritz, C.H Robinson và Hub Group, mở rộng vai trò trung gian là người giao nhận sang lĩnh vực rộng hơn là nhà cung cấp dịch vụ 3PL. Những công ty này hoạt động độc lập, không có tài sản và thường liên kết với một loạt các nhà cung cấp dịch vụ logistics khác. Họ có đủ khả năng để gộp những gói dịch vụ logistics lại, đáp ứng yêu cầu khách hàng.

  • Các công ty 3PL hoạt động chính về tài chính

Những công ty này cung cấp các dịch vụ như kiểm toán và thanh toán cước, kiểm sát và hạch toán chi phí, và những công cụ quản lý logistics để giám sát, kiểm tra, theo dõi, nhận đặt và quản lý hàng tồn kho.

  • Các công ty 3PL hoạt động chính về thông tin Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Hiện nay sự phát triển của thương mại điện tử, B2B, Internet đã tác động rất lớn đến ngành dịch vụ logistics và vận tải. Bởi vì những nguồn lực này đã thể hiện rõ là một sự thay đổi đầy hiệu quả cho những nguồn lực đang sử dụng mua bán dịch vụ logistics và vận tải nên chúng được coi là một loại hình nhà cung cấp dịch vụ 3PL mới và tiên tiến.

Với cách phân loại như trên có thể thấy nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba là một bộ phận hoạt động không tách rời, nằm trong công ty, phụ thuộc về mặt tài sản, cung cấp các dịch vụ vận tải kho vận, giao nhận, công nghệ thông tin hoặc những dịch vụ liên quan đến việc quản lý chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics khác. Các 3PL có thể được coi là một hình thức phát triển kinh doanh của công ty mẹ. Các hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ 3PL thường đem lại doanh thu và lợi nhuận cao hơn so với việc kinh doanh truyền thống dịch vụ-hàng hoá bởi trong lĩnh vực dịch vụ-hàng hoá, giá cả thường là yếu tố tạo sự khác biệt chính so với các nhà cạnh tranh khác. Có thể nói loại hình nhà cung cấp dịch vụ 3PL ra đời và phát triển dựa trên nhu cầu tăng lợi nhuân kinh doanh và tất cả những hoạt động của 3PL đều phải sử dụng những dịch vụ của công ty mẹ. Điều này đặt ra yêu cầu phải phát triển đa dạng hoá dịch vụ logistics sao cho thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng bởi lẽ không phải tất cả khách hàng đều cần đến chương trình logistics gắn với những dịch vụ mà công ty mẹ cung cấp cho toàn bộ hoặc một phần hoạt động của khách hàng đó. Điều này hoàn toàn khác với nhà cung cấp dịch vụ logistics nói chung. Những công ty cung cấp dịch vụ logistics nói chung thường là một thực thể riêng biệt, hoạt động độc lập, được thành lập như là một liên doanh hay trên cơ sở những hợp đồng dài hạn giữa khách hàng chính và một hoặc một số đối tác chính.

3. Vai trò của nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL

Trước hết, nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL giúp cho khách hàng giảm chi phí trực tiếp thông qua việc định giá ưu đãi nhất cho khách hàng cùng với việc giảm chi phí gián tiếp thông qua việc tăng cường các dịch vụ giá trị gia tăng và thông qua việc sử dụng dịch vụ của bên thứ ba trong một loạt các công việc văn phòng và quá trình tiến hành thực hiện việc mua bán. Thông qua chuỗi hoạt động do nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 cung cấp, thời gian và số lần quá cảnh của hàng hoá giảm đi và dễ dự đoán hơn, đồng thời, thời gian quay vòng cũng được giảm xuống.

Bên cạnh đó, các công ty 3PL còn có vai trò trong việc quản lý những hoạt động logistics như kho vận, vận tải và phân phối, quản lý tồn kho, quá trình đặt hàng (order processing), và các dịch vụ gia tăng như đóng gói, dán nhãn, lập hóa đơn, dịch vụ tài chính và logistics ngược (reverse logistics), để cho các hoạt động này diễn ra một cách trơn tru. Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

Nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 – 3PL có khả năng phản ứng nhanh, linh động và sáng tạo trong tất cả những nhu cầu về logistics. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các doanh nghiệp, cung cấp kiến thức chi tiết về những thị trường logistics phong phú trong đó bao gồm cả thông tin về vận tải, logistics và các thông tin khác có liên quan. Họ có thể tư vấn những vấn đề mang tính chiến lược cho việc quản lý chuỗi cung ứng, liên quan đến những quyết định về địa điểm (lựa chọn vị trí cho cơ sở sản xuất, kho hàng và nguồn nguyên liệu), về sản phẩm (cách thức phân phối nguyên vật liệu của nhà cung cấp tới nhà máy, từ nhà máy phân phối thành phẩm tới trung tâm và cuối cùng là đến tay người tiêu dùng), về hàng hóa tồn kho (cách thức quản lý hàng tồn kho), và về vận tải (lựa chọn loại hình vận tải nào: hàng không, đường biển hay đường sắt). Những thông tin then chốt liên quan đến lưu kho hàng và phân phối, các chứng từ hải quan quốc tế, mức phí giao nhận đa phương thức và các điều khoản thương mại quốc tế khác có liên quan đều được người cung cấp 3PL thu thập và xử lý.

Bên cạnh việc cung cấp các thông tin chuyên môn có giá trị, chìa khoá để các tổ chức 3PL có thể quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu phức tạp với những quy tắc và nhiều vấn đề khác chính là nhờ vào hệ thống cơ sở hạ tầng ưu thế và việc đàm phán cước phí dựa trên phạm vi cơ sở khá rộng, tạo nên ưu thế về chi phí. Thêm vào đó, đối với các công ty có nhu cầu về sản phẩm mang tính thời vụ thì việc sử dụng các dịch vụ logistics của 3PL có thể chuyển từ chi phí cố định sang chi phí biến đổi. Về mấu chốt, điều này có thể mang lại lợi nhuận đáng kể. Theo nghiên cứu của Ernst & Young và trường đại học của Tennessee, những tổ chức sử dụng dịch vụ logistics của các công ty 3PL đã giảm được chi phí trung bình khoảng 7.8%, giảm tài sản đầu tư vào cơ sở vật chất 21% và giảm chu trình thời gian đặt hàng từ 6.3 xuống 3.5 ngày.

Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, người cung cấp 3PL đã tối ưu hoá được hệ thống lưu kho hàng hoá, phân phối và vận tải, vận chuyển hàng hoá bằng nhiều phương thức vận tải và thực hiện các vụ giao dịch thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử – Electronic Data Interchange (EDI). Việc trao đổi tài liệu doanh thương bằng phương pháp điện tử ngày càng được sử dụng rộng rãi, mở ra những cơ hội cho những người cung cấp 3PL cung cấp các loại dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin như dịch vụ theo dõi và kiểm tra đơn hàng/chuyến hàng (tạo điều kiện giúp khách hàng biết được chi tiết tình hình thực tế của đơn hàng nào đó) và nhận đặt hàng (order taking). Khóa luận: Phát triển kinh doanh dịch vụ logistics công ty vận tải.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của công ty Vietfracht

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x