Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty TNHH MTV Sản Xuất Thương Mại A C I dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi đã hội nhập sâu vào việc hợp tác kinh tế với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới thì Việt Nam được hưởng nhiều lợi ích như: giảm thuế, tự do lao động… Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội luôn là những thách thức. Các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Vậy làm sao để tổn tại và phát triển? Làm sao để cân bằng giữa khả năng doanh nghiệp và nhu cầu của khách hàng? Để giải quyết vấn đề trên các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm ra cho mình một chính sách, chiến dịch, chiến lược kinh doanh phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất có thể. Các doanh nghiệp hiện nay cạnh tranh với nhau ở rất nhiều khía cạnh, từ cạnh tranh sản phẩm đến cạnh tranh dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ sau mua… Trong các chiến lược kinh doanh, thì chiến lược sản phẩm được xem như một chiến lược quan trọng bởi sản phẩm (có thể là hữu hình hay vô hình) là yếu tố tiên quyết phải có nếu doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường. Hơn nữa, chiến lược sản phẩm còn là cơ sở để xây dựng các chiến lược và kế hoạch khác như chiến lược đầu tư phát triển, chiến lược giá, chiến lược phân phối và các hoạt động xúc tiến hỗn hợp. Việc thực hiện chiến lược sản phẩm tốt là nền tảng thúc đẩy cho các chiến lược còn lại phát huy tác dụng của nó.

Thực tế ở nước ta hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp còn xa lạ với mô hình quản trị chiến lược nên chưa xây dựng được các chiến lược hoàn chỉnh, hữu hiệu và chưa có những phương pháp đủ tin cậy để lựa chọn chiến lược sản phẩm thích hợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Với thực tế trên, em đã quyết định chọn đề tài “Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty TNHH MTV Sản Xuất Thương Mại A C I” thông qua bài luận văn này em xin phép chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quan về chiến lược sản phẩm mà công ty đang áp dụng.

2. Mục đích nghiên cứu:

  • Nhận thức được vai trò của sản phẩm đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
  • Hiểu rõ hơn về tình hình kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp.
  • Đề xuất chiến lược sản phẩm phù hợp nhất đối với doanh nghiệp.

3. Phạm vi nghiên cứu:

  • Nghiên cứu tại thị trường Hồ Chí Minh
  • Nghiên cứu chiến lược sản phẩm của công ty TNHH MTV sản xuất thương mại A C I trong khoảng thời gian từ năm 2022 – 2024

4. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: thu thập những thông tin có sẵn của công ty về lịch sử hình thành, tình hình kinh doanh, thông tin về các thị trường mà doanh nghiệp tham gia; thu thập thông tin từ sách, báo…
  • Phương pháp phân tích dữ liệu bằng vẽ biểu đồ trên

5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp bao gồm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược sản phẩm
  • Chương 2: Phân tích thực trạng về chiến lược sản phẩm của Công ty TNHH MTV Sản Xuất Thương Mại A C I
  • Chương 3: Lựa chọn chiến lược sản phẩm phù hợp đối với Cong ty TNHH MTV Sản Xuất Thương Mại A C I

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM

1.1 Khái quát về chiến lược kinh doanh

Ở Việt Nam, mỗi năm có từ hàng chục ngàn đến hàng trăm ngàn doanh nghiệp đăng ký mới. Năm 2024 vừa qua có đến hơn 110000 doanh nghiệp đăng ký mới trên cả nước. Cũng trong năm 2024, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động có thời hạn, không thời hạn và chờ giải thể vào khoảng 60600 doanh nghiệp, một con số khá là lớn. Như vậy có thể việc thành lập doanh nghiệp đã khó khăn, việc duy trì và phát triển doanh nghiệp cũng khó khăn không hề kém bởi những thách thức về mặt tài chính, thị trường, nhân sự, sản phẩm… sẽ có những doanh nghiệp thành công và cũng không ít các doanh nghiệp thất bại.

Việc cạnh tranh kinh doanh hiện nay cũng như những trận chiến thời xa xưa. Để thắng trận, cần có các chiến lược, chiến thuật phù hợp với tình hình quân ta, quân địch, địa hình… hoặc là đánh nhanh thắng nhanh, hoặc là đánh chắc thắng chắc. Trong từ điển tiếng việt, học giả Đào Duy Anh đã viết “Chiến lược là các kế hoạch đặt ra để dành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận.”

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20, chiến lược đã được áp dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” cũng ra đời từ đó. Giống như nhiều vấn đề khác, chiến lược kinh doanh cũng được định nghĩa tùy theo từng thời điểm, thời kỳ phát triển kinh tế hay góc độ nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, dù là ở thời điểm nào, góc độ nào đi chăng nữa thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp.

Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Khi mà những cơ hội cũng như rủi ro bất ngờ đến do những biến đổi của môi trường diễn ra quá nhanh thì chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa các cơ hội cũng như tối thiểu hóa các rủi ro. Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được tối đa các nguồn lực và gắn kết các nhân viên của mình hơn thông qua việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy đã có rất nhiều nhà kinh doanh nhờ có chiến lược kinh doanh đúng đắn mà đạt được thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thương trường.

1.2 Nội dung về sản phẩm Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

1.2.1 Khái niệm về sản phẩm

Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trường đều phải có riêng cho mình những sản phẩm dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp dịch vụ. Vậy thì sản phẩm là gì? Trên thế giới, giống như nhiều vấn đề khác, sản phẩm cũng đã được đề cập đến theo nhiều khía cạnh khác nhau. Một số định nghĩa về sản phẩm:

Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì “sản phẩm” là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác (với nhau) để biến đổi đầu vào (input) và đầu ra (output).

Theo Philip Kotler: “Sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng. Đó có thể là những vật thể hữu hình, dịch vụ, người, mặt bằng, tổ chức và ý tưởng.”

Tóm lại, sản phẩm chính là bất cứ thứ gì có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. Sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính hữu hình và vô hình bao gồm bao bì, màu sắc, chất lượng, giá cả và danh tiếng của doanh nghiệp.

1.2.2 Đặc tính và các cấp độ của sản phẩm

Khi trên thị trường hiện nay có quá nhiều các chủng loại sản phẩm thì đặc tính sản phẩm chính là một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp của mình phân biệt sản phẩm với các sản phẩm của doanh nghiệp khác. Ngoài ra, các đặc tính sản phẩm cũng giúp người tiêu dúng đưa ra sự loại chọn phù hợp với mình một cách dễ dàng hơn. Các đặc tính của sản phẩm là những tính năng giúp phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm khác trên thị trường.

Đối với doanh nghiệp, khi các doanh nghiệp tạo ra một sản phẩm họ tạo các đặc tính cụ thể của sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng như là về màu sắc, kích thước, cân nặng… Nó có thể là những đặc điểm để cải tiến sản phẩm hiện có hoặc những sản phẩm khác để đáp ứng nhu cầu hiện tại chưa thực hiện được. Đặc tính của một sản phẩm cũng giúp xác định giá cả của một sản phẩm, sản phẩm có các tính năng cao cấp sẽ có giá cả cao hơn. Tùy thuộc vào đặc tính sản phẩm như thế nào sẽ dẫn đến việc các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ xây dựng chiến lược về giá, phân phối, xúc tiến theo như vậy.

Đối với người tiêu dùng, khi học muốn mua một sản phẩm nào đó, họ sẽ muốn tham khảo thêm danh sách thuộc tính của các sản phẩm khác. Ví dụ như khi người tiêu dùng muốn mua một chiếc điện thoại, họ sẽ muốn biết thêm các đặc tính để so sánh, như độ phân giải của camera, dung lượng pin, kích cỡ màn hình cảm ứng…

Mỗi sản phẩm đều có các đặc tính riêng, tuy nhiên chúng lại có chung một cấu trúc. Theo Philip Kotler, một nhà kinh tế học và một nhà tiếp thị thì một sản phẩm không chỉ là một điều hữu hình. Một sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và ngoài một giá trị hữu hình, sản phẩm này cũng có một giá trị vô hình. Vì lý do này Philip Kotler tuyên bố rằng có năm mức sản phẩm có thể được xác định và phát triển. Để định hình giá trị vô hình này, Philip Kotler sử dụng năm mức sản phẩm được xác định từ sự nhận thức của người tiêu dùng. Năm cấp độ sản phẩm này cho thấy giá trị mà người tiêu dùng gắn cho một sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chỉ được thỏa mãn khi giá trị cảm nhận là ngang bằng hoặc cao hơn giá trị kỳ vọng.

Hình 1.1: Năm cấp độ sản phẩm theo Philip Kotler

Năm cấp độ sản phẩm bao gồm: sản phẩm cốt lõi, sản phẩm chung, sản phẩm kỳ vọng, sản phẩm bổ sung và sản phẩm tiềm năng. Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

  • Sản phẩm cốt lõi: đây là lợi ích cơ bản mà sản phẩm mang lại, chính là lợi ích mà người tiêu dùng mua. Chẳng hạn như người tiêu dùng mua một chiếc áo ấm là để mang lại cho họ sự ấm ấp khi trời lạnh.
  • Sản phẩm chung: cấp độ này thể hiện tất cả các đặc tính mà sản phẩm cần có để hoạt động. Ví dụ như đối với một chiếc áo ấm, để đảm bảo mang lại sự ấm áp thì chất liệu vải, dây khóa kéo hay kích thước phải đảm bảo.
  • Sản phẩm kỳ vọng: tập hợp những thuộc tính mà người mua mong đợi, chấp nhận khi họ mua sản phẩm. Ví dụ như chiếc áo ấm phải mang lại sự ấm ấp cho người mua, cũng như là phải phù hợp thời trang.
  • Sản phẩm bổ sung: đây là cấp độ sản phẩm mà các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị cho mình sản phẩm bao gồm các dịch vụ phụ thêm, làm cho sản phẩm của mình khác biệt hoặc nổi trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ như khi mua chiếc áo ấm đó thì người tiêu dùng sẽ được hưởng chế độ bảo hành như thế nào, dịch vụ tư vấn khách hàng có tốt không, bao bì của sản phẩm có sang trọng hay không… tất cả những yếu tố này rất quan trọng ở cấp độ sản phẩm bổ sung.
  • Sản phẩm tiềm năng: cấp độ này bao gồm tất cả sự mở rộng và chuyển đổi mà một sản phẩm có thể trải qua trong tương lai. Ví dụ như một chiếc áo ấm có chức năng giữ ấm cơ thì thì trong tương lai nó có thể thêm tính năng chống thấm, chống mưa nhẹ.

1.2.3 Phân loại sản phẩm

Để việc kinh doanh cũng như thực hiện các chiến lược marketing được thuận lợi và mang lại hiệu quả cao thì sản phẩm sẽ được phân loại. Hiện nay có nhiều cách phân loại sản phẩm, tuy nhiên, ở đây chỉ xin giới thiệu hai cách phân loại chủ yếu, đó là: phân loại theo độ bề của sản phẩm và phân loại theo mục đích sử dụng sản phẩm.

Phân loại theo độ bền của sản phẩm bao gồm ba loại là: hàng bền, hàng không bền và các dịch vụ.

  • Hàng bền: là những hàng hóa cụ thể thường được sử dụng rất nhiều lần. Hàng bền thường là những mặt hàng như máy móc, xe máy… đòi hòi bán trực tiếp và người bán phải đảm bảo với người mua nhiều hơn.
  • Hàng không bền: là những hàng hóa cụ thể thường chỉ sử dụng được qua một vài lần. Các sản phẩm hàng không bền thường là dầu gội, bia… với đặc điểm tiêu hao nhanh và phải mua sắm thường xuyên nên người bán cần phải đảm rằng người mua có thể tìm thấy các loại hàng hóa trên tại nhiều điểm bán.
  • Dịch vụ: là những gì được bán dưới dạng hoạt động, thỏa mãn lợi ích. Dịch vụ có thể là sửa chữa máy móc, cắt tóc… các dịch vụ thường có đặc điểm là sản xuất và tiêu dùng cùng một lúc.

Hình thức phân loại thứ hai được đề cập đến đó là phân loại theo mục đích sử dụng sản phẩm. Hình thức phân loại này bao gồm hai loại hàng hóa chính đó là hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa tư liệu sản xuất.

Hình 1.2: Sơ đồ phân loại sản phẩm theo mục đích sử dụng Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

Hàng tiêu dùng là những hàng hóa được căn cứ vào thói quen mua sắm của người tiêu dùng, có thể chia hàng tiêu dùng thành các loại: hàng dễ mua, hàng mua có lựa chọn, hàng đặc biệt và hàng mua theo nhu cầu thụ động.

Hàng dễ mua: là những thứ hàng mà người tiêu dùng thường hay mua, không cần đắn đo suy nghĩ và họ thường mất không nhiều thời gian để so sánh chúng. Hàng dễ mua thường là những hàng hóa như lương thực, thuốc lá…

Hàng mua có lựa chọn là những hàng hóa mà trong quá trình lựa chọn và mua sắm người tiêu dùng thường so sánh mức độ phù hợp, cân nhắc các chỉ tiêu công dụng, chất lượng, giá cả và kiểu dáng…Ví dụ như đồ trang trí nội thất, quần áo, xe máy…

Hàng đặc biệt là hàng hóa có tính độc đáo hay nhãn hiệu đặc biệt mà mgười mua sẵn sàng bỏ công sức tìm kiếm nó. Ví dụ như các sản phẩn phiên bản giới hạn, dàn âm thanh nổi, thiết bị nghề ảnh,…

Hàng mua theo nhu cầu thụ động là những thứ hàng mà người tiêu dùng không biết tới, hay biết nhưng không nghĩ tới việc mua. Ví dụ: bảo hiểm nhân thọ, đất lập mộ…

Đối với hàng tư liệu sản xuất, có thể phân loại chúng theo sự tham gia vào quá trình sản xuất và giá trị tương đối của chúng. Bao gồm: vật tư và các bộ phận rời, trang thiết bị, vật tư phụ và dịch vụ.

Vật tư và các bộ phận rời là các hàng hóa tham gia toàn bộ vào sản phẩm của nhà sản xuất. Chúng gồm hai loại: nguyên liệu, vật liệu và phụ tùng

Trang thiết bị là những loại hàng có thời gian sử dụng dài, phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm hay quản lý thành phẩm như: máy phát điện, máy đục lỗ, máy tính, thang máy…

Vật tư phụ và dịch vụ là những hàng hóa không đi vào sản phẩm hoàn thành. Các vật tư phụ như các chất bôi trơn, giấy in và mực in,… Các dịch vụ như bảo trì và sửa chữa, tư vấn về luật pháp và tư vấn về quản lý thường được thực hiện theo hợp đồng.

1.2.4 Chu kỳ sống của sản phẩm

Là một khái niệm quan trọng trong tiếp thị, nó mô tả các giai đoạn của một sản phẩm đi qua từ khi nó mới chỉ là một ý tưởng cho đến khi sản phẩm đó bị loại bỏ khỏi thị trường. Mỗi chu kỳ sống của sản phẩm đề có đặc điểm riêng, vì vậy các công ty cần phải nắm rõ để đưa ra được các chính sách phù hợp cho mỗi giai đoạn.

Hình 1.3: Chu kỳ sống của sản phẩm 

  • Chu kỳ sống của sản phẩm bao gồm 4 giai đoạn:

Giai đoạn triển khai sản phẩm mới: Đây là giai đoạn mở đầu của chu kỳ sản xuất. Đặc điểm của giai đoạn này là doanh thu ít và tăng chậm, lợi nhuận nhận được thấp hoặc thậm chí là lỗ vốn. Nguyên nhân của tình trạng trên là do: khách hàng còn chưa tin vào sản phẩm mới, còn chưa từ bỏ thói quen tiêu dùng cũ trước đây; hệ thống phân phối của công ty còn chưa hoàn chỉnh. Ngoài ra, còn có thể có nguyên nhân do năng lực sản xuất của công ty còn hạn chế, dây chuyền sản xuất mới còn có trục trặc về kỹ thuật.

Giai đoạn tăng trưởng: Đây là giai đoạn tiêu thụ thuận lợi. Khách hàng bắt đầu tin tưởng vào sản phẩm. Vì vậy, sản phẩm bắt đầu bán chạy. Doanh thu và lợi nhuận tăng nhanh.

Giai đoạn chín muồi: Tăng trưởng bắt đầu chậm lại, lợi nhuận cũng bắt đầu giảm. Nguyên nhân là do cạnh tranh gay gắt, sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Một số đối thủ yếu rút lui khỏi thị trường.

Giai đoạn suy thoái: Doanh thu, lợi nhuận đều giảm mạnh trong giai đoạn này. Nguyên nhân là do thị hiếu thay đổi, công nghệ thay đổi tạo ra các sản phẩm cạnh tranh thay thế. Một số đối thủ rút lui khỏi thị trường. Số còn lại thu hẹp chủng loại sản phẩm, từ bỏ các thị trường nhỏ, cắt giảm chi phí xúc tiến, hạ giá bán (bán nhanh thu hồi vốn) và chuẩn bị tung ra sản phẩm mới thay thế.

1.3 Nội dung về chiến lược sản phẩm Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

1.3.1 Khái niệm về chiến lược sản phẩm

Chiến lược sản phẩm được định nghĩa như là một bản đồ đường đi của một sản phẩm. Bản đồ đường đi này phác thảo tầm nhìn từ đầu cho đến cuối của một sản phẩm, các công ty sử dụng chiến lược sản phẩm trong việc lập kế hoạch chiến lược và tiếp thị nhằm xác định hướng hoạt động chính xác nhất của công ty. Một chiến lược sản phẩm bao gồm nhiều quá trình liên tục để có thể đạt được tầm nhìn mà công ty đưa ra. Công ty phải rõ ràng trong việc xác định thị trường mục tiêu của sản phẩm để lập các kế hoạch cần thiết nhằm đạt đến mục đích.

Hoặc cũng có thể hiểu chiến lược sản phẩm là một sự gắn kết của các lựa chọn và những biện pháp phải sử dụng để xác định một tập hợp sản phẩm bao gồm các dòng sản phẩm và các món hàng sao cho phù hợp với từng loại thị trường và từng giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm đó.

1.3.2 Vai trò của chiến lược sản phẩm

Chiến lược sản phẩm có một vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng. Nó là nền tảng là xương sống của chiến lược chung marketting. Chiến lược sản phẩm là một vũ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường.

Chiến lược sản phẩm giúp doanh nghiệp xác định phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm phù hợp thị hiếu, hạn chế rủi ro, thất bại, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các chiến lược còn lại trong marketting hỗn hợp.

Những yếu tố quyết định vị trí của một hãng trên thị trường là:

  • Sản phẩm của công ty có cạnh tranh được với các công ty khác không?
  • Cạnh tranh như thế nào?
  • Làm thế nào để khách hàng mua hàng của mình?

Tất cả những điều trên chỉ thực hiện được khi công ty có một chiến lược sản phẩm đúng đắn, tạo ra sản phẩm mới với chất lượng tốt. Nhân tố quyết định sự thành công của công ty chính là bản thân sản phẩm của họ. Việc xác định đúng đắn chiến lược sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của công ty.

1.3.3 Các chiến lược sản phẩm Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

Có rất nhiều chiến lược sản phẩm, tùy thuộc vào cách xác định khác nhau mà sẽ có các chiến lược sản phẩm khác nhau. Một số chiến lược sản phẩm thường được sử dụng như: chiến lược tập hợp sản phẩm, chiến lược dòng sản phẩm và chiến lược cho từng sản phẩm cụ thể.

Chiến lược tập hợp sản phẩm bao gồm những chiến lược như mở rộng, kéo dài, tăng chiều sâu, tăng giảm tính đồng nhất của sản phẩm.

  • Chiến lược mở rộng tập hợp sản phẩm là chiến lược được thực hiện bằng cách tăng thêm các dòng sản phẩm mới thích hợp.
  • Chiến lược kéo dài dòng sản phẩm trong một tập hợp là chiến lược được thực hiện bằng cách tăng thêm số mặt hàng cho mỗi dòng sản phẩm nhằm góp phần giúp cho công ty có được các dòng sản phẩm hoàn chỉnh.
  • Chiến lược tăng chiều sâu của tập hợp sản phẩm là chiến lược tăng mẫu số biến thể của sản phẩm ví dụ như thay đổi kích cỡ, mùi vị,.. của sản phẩm.
  • Chiến lược tăng giảm tính đồng nhất của tập hợp sản phẩm là chiến lược được thực hiện tùy thuộc vào công ty muốn tham gia vào một hay nhiều lĩnh vực khác nhau.

Trong kinh doanh, sẽ có rất ít công ty chỉ kinh doanh 1 dòng sản phẩm duy nhất. Các công ty thường có nhiều dòng sản phẩm, thứ nhất là để đáp ứng nhu cầu thị trường, thứ hai là nhằm phân phối các mức rủi ro thấp hơn. Một số chiến lược dòng sản phẩm thường thấy như: chiến lược thiết lập các dòng sản phẩm, chiến lược phát triển dòng sản phẩm, chiến lược bổ sung dòng sản phẩm, chiến lược hạn chế dòng sản phẩm, chiến lược biến cải dòng sản phẩm, chiến lược hiện đại hóa dòng sản phẩm. Đối với chiến lược sổ sung dòng sản phẩm có 2 loại là bổ sung dòng sản phẩm theo chiều ngang và bổ sung dòng sản phẩm theo chiều dọc.

Để có một tổng thể tốt, từng yếu tố trong tổng thể cũng phải tốt tương tự, chính vì vậy mà các công ty cũng cần có các chiến lược cho từng sản phẩm cụ thể thích hợp.

Chiến lược đổi mới sản phẩm: chiến lược này được thực hiện khi có hoặc không sự sự thay đổi của môi trường. Nếu có sự thay đổi của môi trường thì đó là chiến lược đổi mới sản phẩm phản ứng, chiến lược này chỉ thực hiện được khi các công ty có khả năng lớn về tiếp thị và có sự mềm dẻo cao trong cơ cấu tổ chức và sản xuất. Trường hợp còn lại khi không có sự thay đổi của môi trường mà doanh nghiệp vẫn thực hiện chiến lược đổi mới sản phẩm có nghĩa là công ty muốn tìm kiếm một mức phát triển cao hơn, để thực hiện được chiến lược dạng này thì công ty buộc phải có nguồn vốn lớn, có bằng phát minh, sáng chế và làm chủ được hệ thống phân phối của mình; dạng chiến lược này là chiến lược đổi mới sản phẩm chủ động.

Chiến lược bắt chước sản phẩm: khi một công ty sợ rủi ro, không dám đổi mới thì họ có thể sẽ sử dụng chiến lược bắt chước sản phẩm. Yêu cầu khi thực hiện chiến lược này đó là cần phải thực hiện một cách nhanh chóng, bởi nếu bắt chước quá chậm chỉ làm tăng sự ứ đọng hàng hóa của công ty.

Chiến lược thích ứng sản phẩm: các công ty thực hiện chiến lược thích ứng sáng phẩm bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm hay hạ giá thành của sản phẩm để phù hợp với nhu cầu thị trường hơn.

Chiến lược tái định vị sản phẩm: chiến lược này được thực hiện nhằm tạo cho sản phẩm có một vị trí đặc biệt trong tâm trí người tiêu dùng ở hiện tại và tương lai, làm cho nó phân biệt rõ ràng với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và đáp ứng sự mong đợi của khách hàng. Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

1.3.4 Quy trình xây dựng chiến lược sản phẩm

Để xây dựng được một chiến lược sản phẩm phù hợp và hiệu quả cho công ty, cần phải có một sự hiểu biết cặn kẽ về nhu cầu khách hàng, về thị trường và về các cơ hội trong kinh doanh. Có nhiều cách để xây dựng một chiến lược sản phẩm, tuy nhiên, các yếu tố cơ bản trong quy trình xây dựng chiến lược vẫn phải được đảm bảo. Một trong số các quy trình đó có thể được theo thứ tự như sau:

Hình 1.4: Quy trình xây dựng chiến lược sản phẩm

Tìm hiểu nhu cầu khách hàng: đây là bước đầu tiên cũng là bước rất quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược sản phẩm bởi ngày nay các doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm mà khách hàng cần chứ không phải những sản phẩm mà doanh nghiệp có. Việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng cũng có nhiều cách để thực hiện và đây là một công việc được đánh giá khá là khó khăn vì nhiều khách hàng không biết họ muốn gì, hay cũng có những khách hàng biết mình muốn gì nhưng lại không nói cho doanh nghiệp biết. Một số cách để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng như: lập hồ sơ sở thích của khách hàng, điều tra nhân khẩu, tìm hiểu tâm lý, giải mã phong cách sống, định dạng nhóm khách hàng.

Phân tích môi trường bên trong và bên ngoài: Nếu phân chia theo các yếu tố của môi trường thì ta có: Môi trường Chính trị và Luật pháp, Môi trường kinh tế, Môi trường văn hóa xã hội, Môi trường Kỹ thuật – Công nghệ, Môi trường Dân số và Lao động, Môi trường điều kiện tự nhiên. Nếu phân chia theo phạm vi của doanh nghiệp thì đơn giản ta có: Môi trường bên trong và Môi trường bên ngoài. Môi trường bên trong của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố như: Chính trị – Pháp luật, Môi trường kinh tế, Môi trường văn hóa xã hội, Môi trường tự nhiên, Môi trường công nghệ. Việc phân tích và dự báo môi trường bên ngoài giúp doanh nghiệp tìm ra cơ hội, nguy cơ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường bên trong của doanh nghiệp có thể được phân tích với nhiều phương pháp như: phân tích theo chức năng (phương pháp phân tích này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phân tích môi trường bên trong theo chức năng của các phòng ban như phòng Marketing, phòng kế toán – tài chính, phòng nghiên cứu và phát triển…), phân tích theo chuỗi giá trị… Phân tích và dự báo môi trường bên trong nhằm tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.

Phân tích cơ hội kinh doanh: sau khi phân tích môi trường bên trong và bên ngoài, doanh nghiệp cần phải phân tích cơ hội kinh doanh thông qua việc đánh giá các môi trường để tìm ra đâu là chiến lược phù hợp nhất đối với doanh nghiệp. Việc phân tích cơ hội kinh doanh có thể được hỗ trợ bởi các công cụ như: ma trận các yếu tố nội bộ (IFE – Internal Factor Evaluation), ma trận các yếu tố ngoại vi (EFE – Enternal Factor Evaluation), phân tích SWOT (Ma trận SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh còn gọi là ma trận điểm mạnh: Strenghts – điểm yếu: Weaknesses – cơ hội: Opportunities – nguy cơ: Threats) ma trận kế hoạch định lượng chiến lược (QSPM – Quantitative Strategic Planning Matrix).

Xác định hành động và triển khai các giải pháp chiến lược: đây là bước phân bổ nguồn nhân lực, xác định các nhiệm vụ cụ thể sao cho phù hợp để triển khai các giải pháp được chọn một cách hiệu quả nhất.

Kiểm tra và điều chỉnh: Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá đảm bảo các hoạt động đi đúng với kế hoạch đề ra đồng thời phải điều chı̉nh kịp thời các sự cố xảy ra tránh ảnh hưởng đến kế hoạch và gây tổn thất cho doanh nghiệp.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

Chương 1 đã khái quát được về những nội dung liên quan đến đề tài như: chiến lược kinh doanh; các khái niệm về sản phẩm; vòng đời của sản phẩm; chiến lược sản phẩm; xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược sản phẩm…

Một công ty có tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như nhân sự của công ty, định hướng chiến lược, sản phẩm, chất lượng sản phẩm, dịch vụ phụ trợ… Tuy nhiên, một yếu tố được cho là cốt lõi của việc tồn tại và phát triển của công ty đó là sản phẩm mà công ty kinh doanh. Sản phẩm đó có phù hợp với nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng hay không thì công ty cần phải có một chiến lược sản phẩm phù hợp và cần thực hiện nó một cách có hiệu quả. Bất kỳ một công ty nào cũng theo đuổi chiến lược sản phẩm cho riêng mình, Công ty TNHH MTV Sản Xuất Thương Mại A C I cũng vậy. Tuy nhiên, không phải cứ theo đuổi một chiến lược cho riêng mình là thành công. Thất bại có, thành công cũng có. Vậy A C I thành công hay thất bại? Chương 2 tiếp theo sẽ phân tích thực trạng chiến lược sản phẩm của A C I, từ đó có một cái nhìn tổng quát về tình hình kinh doanh của công ty. Khóa luận: Phân tích chiến lược sản phẩm của Công ty ACI.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng về chiến lược sản phẩm của Công ty ACI

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x