Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

4.1.Khái quát tình hình hoạt động ngân hàng của Việt Nam trong năm 2024

Năm 2023 là năm đánh dấu sự thành công của Việt Nam trên mọi phương diện chính trị, ngoại giao, kinh tế…Trong đó có sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Năm 2023 kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8,44%, cao nhất trong 10 năm qua. Hoạt động xuất nhập khẩu cũng tăng mạnh với giá trị xuất khẩu đạt 48,4 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2022; giá trị nhập khẩu đạt 60,8 tỷ USD tăng 33,1% so với năm 2022. Sức hút của Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng, thể hiện ở kỷ lục về lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn vốn ODA. Ngược lại, năm 2024 khép lại với rất nhiều sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới, đây cũng là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới.

Những thách thức mà các nền kinh tế phải đối mặt trong năm 2024 diễn biến vô cùng phức tạp và khó lường. Nếu như trong 6 tháng đầu năm, sự gia tăng mạnh của giá dầu, giá lương thực, sự giảm giá của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, cùng với những bất ổn chính trị đã gây ra tình trạng lạm phát mang tính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia gặp khó khăn trước áp lực lạm phát, thì trong 6 tháng cuối năm, giá dầu giảm mạnh từ mức kỷ lục 147USD/thùng vào giữa tháng 7 và xuống mức dưới 40USD/thùng vào tháng 12, giá lương thực cũng giảm mạnh cùng với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao gây áp lực giảm phát. Nền kinh tế thế giới  chuyển từ áp lực lạm phát cao sang xu hướng giảm phát cùng với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và tình trạng này vẫn tiếp tục diễn ra trong năm 2025…Trước tình hình kinh tế hết sức phức tạp diễn ra trong và ngoài nước, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong năm 2024, Ngân hàng cũng đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó. Hoạt động của hệ thống  Ngân hàng đã góp phần quan trọng kiềm chế lạm phát, hạn chế nhập siêu, duy trì tăng trưởng kinh tế. Thị trường tiền tệ giữ được bình ổn, lãi suất, tỷ giá biến động ở mức hợp lý.

Tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng tài sản. Mặc dù năm 2024 là năm khó khăn đối với các tổ chức tín dụng trong việc huy động vốn khi tỷ lệ lạm phát lên cao và đồng tiền bị mất giá. Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức tín dụng vẫn đảm bảo an toàn và có bước phát triển. Khả năng thanh khỏan của các tổ chức tín dụng được đảm bảo, tín dụng tăng trưởng ở mức phù hợp, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tăng trưởng kinh tế. Đến cuối năm 2024, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống Ngân hàng tăng 30% so với năm cuối năm 2023, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Các tổ chức tín dụng tiếp tục chú trọng phát triển nhiều công nghệ, dịch vụ, tiện ích ngân hàng hiện đại; mạng lưới hoạt động tiếp tục được củng cố và mở rộng quy mô hiệu quả, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận với dịch vụ ngân hàng. So với cuối năm 2023, vốn tín dụng đầu tư cho khu vực dân doanh tăng 37%, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 34%, khu vực nông nghiệp, nông thôn tăng 30%, cho vay hộ nghèo, đối tượng chính sách khác tăng 40%. Dư nợ xấu toàn hệ thống chiếm 3,5%. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô, tài chính thế giới và trong nước liên tục có những biến động phức tạp, khả năng phân tích, dự báo còn hạn chế, nên quá trình thực thi các giải pháp điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước có thời điểm còn thiếu nhịp nhàng, đồng bộ; thị trường tiền tệ, ngoại hối trong những tháng đầu năm còn có những biến động gây khó khăn nhất định cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp; hoạt động của các tổ chức tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; chất lượng dịch vụ ngân hàng còn có những bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội…

Tình hình lạm phát: Đầu năm ngân hàng phải đối mặt với tình hình lạm phát tăng cao. Do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn cho ngân ngân hàng. Do phải tăng lãi suất vay vì thế phải tăng lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay quá cao khiến càng ít doanh nghiệp vay vốn, làm cản trở việc kinh doanh của ngân hàng. Khi lãi suất cao, làm cho khả năng hoàn trả của các con nợ giảm sút, việc thu hồi nợ trở nên khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro của các ngân hàng.

Lãi suất trong năm 2024 có nhiều biến động, tính chung cả năm NHNN đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản. Lần đầu tiên kể từ 1/12/2021, lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ 8,25% lên 8,75% vào 1/2/2024.Đặc biệt ngày 29/5 lên tới mức 12% (do nhu cầu vốn của ngân hàng tăng mạnh)

  • Hình 4.1. biểu đồ biểu diễn các lãi suất chủ chốt từ đầu năm 2024

Lãi suất huy động và cho vay biến động chưa từng có. Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm của Ngân hàng Nhà nước gắn liền với sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động VND có kỳ biến động mạnh nhất từ trước tới nay. Cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục có lúc lên tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, có trường hợp tới 20%/năm. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Cạnh tranh ngân hàng ngày càng gay gắt hơn giữa ngân hàng trong nước lẫn các ngân hàng nước ngoài. Càng ngày càng có nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam. Lợi thế của họ là có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính và quản lý. Còn cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước là điểu hiển nhiên. Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như thế các ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luôn luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh nghiệp.

Để góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2025, NHNN xác định mục tiêu, định hướng nhiệm vụ ngân hàng cho năm 2025. Ngành Ngân hàng phải tham mưu đưa ra một chính sách thích hợp để chống suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư; dự báo, phân tích, đánh giá, nắm chắc tình hình để chủ động điều hành, tham mưu thực hiện được các mục tiêu đề ra. Huy động tổng hợp sức mạnh của toàn ngành để thực hiện có hiệu quả; đoàn kết, chung sức, chung lòng vì mục tiêu chung. Điều hành lãi suất, tỷ giá linh hoạt, hiệu quả, góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống: đảm bảo khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng, nhưng đồng thời đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế. Hoàn thiện hệ thống thể chế về tiền tệ và ngân hàng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng an toàn, hiệu quả, linh hoạt hơn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tăng cường năng lực quản lý nhà nước của NHNN và đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác cải cách hành chính, chống tham nhũng, tiêu cực. Làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận và giúp công chúng hiểu rõ hơn về hoạt động ngân hàng.

4.2. Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

4.2.1.Kết quả hoạt động kinh doanh của NH qua các năm 2022 – 2024

  • Bảng 4.1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của NH từ 2022 – 2024.

Dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng ta thấy. Kết thúc năm 2022 kết quả mà ngân hàng đạt được là rất tốt với tổng doanh thu đạt 5.039 tỷ. Năm 2023 là 5.763 tỷ tăng 724 tỷ so với 2022 tương ứng 14,37 %. Năm 2024 tổng doanh thu ngân hàng đạt được là 8.874 tỷ tăng 53,98% so với năm 2023.

Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng năm 2022 là 1.214 tỷ (tăng so với năm 2021) đến năm 2023 nguồn chi phí này đã tăng lên 2.571 tỷ tương ứng tăng 111,78%. Mức tăng này là lớn so với những năm trước. Mức chi phí này gia tăng là do năm 2023 quỹ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên 100% theo quy định của chính phủ. Đến năm 2024 thì mức chi phí này là 5.317 tỷ tăng 2.746 tỷ, tương ứng tăng 106,8% so với năm 2023.

Từ năm 2022 trở về trước lợi nhuận sau thuế của Vietcombank liên tục tăng tuy nhiên với tốc độ không đều. Năm 2022 lợi nhuân sau thuế của ngân hàng rất lớn: 2.869 tỷ. Năm 2023 lợi nhuận sau thuế là là 2.407 tỷ giảm 462 tỷ tương ứng giảm 16,1%. Có sự giảm lợi nhuận này là vì năm 2023 do có sự tác động từ sự suy giảm nền kinh tế thế giới làm cho nguồn vốn thanh toán của ngân hàng ở nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn và do ngân hàng tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng so với năm 2022 theo chỉ thị của chính phủ. Tuy vậy đến năm 2024 lợi nhuận sau thuế của ngân hàng là 2.680 tỷ tăng 237 tỷ tương ứng tăng 11,34% so với năm 2023. Điều này thể hiện sự nỗ lực của ngân hàng  trước hoàn cảnh khó khăn của nền kinh tế. Trong 2 năm 2023,2024 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động mạnh đã làm ảnh hưởng tới tình hình hoạt động của Ngân hàng Vietcombank nói riêng và các ngân hàng trong nước nói chung.

  • Bảng 4.2: Tình hình tăng trưởng vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của NH.

Ngân hàng Vietcombank luôn tích cực tăng vốn chủ sở hữu để nâng cao năng lực tài chính và khả năng hoạt động của mình. Vốn chủ sở hữu của Vietcombank từ các năm trở về trước cho tới năm 2023 liên tục tăng với tốc độ khá cao. Năm 2023 là 11.228 tỷ tăng 2.324 tỷ so với năm 2022. Tuy nhiên đến năm 2024 với tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thì tốc độ gia tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng đã giảm. Năm 2024 là 15.367 tỷ tăng 1.804 tỷ so với năm 2023. Tổng tài sản của ngân hàng cũng tăng ổn định qua các năm. Năm 2023 là 197.408 tỷ tăng 29.456 tỷ so với năm 2022, năm 2024 là 221.950 tỷ tăng 24.542 tỷ so với năm 2023. Nhìn chung tình hình tài chính của Ngân hàng tăng ổn định qua các năm. Sự tăng vốn điều lệ sẽ góp phần tăng vốn chủ sở hữu cho ngân hàng. Điều này sẽ giúp cho Vietcombank nâng cao hơn năng lực cạnh tranh của mình trong quá trình hội nhập. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

  • Hình 4.2: Biểu đồ Vốn chủ sở hữu của Vietcombank qua 3 năm 2022 – 2024.
  • Bảng 4.3: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn của Vietcombank từ năm 2022 – 2024
  • Hình 4.3: Biểu đồ Tình hình huy động vốn của ngân hàng từ năm 2022 – 2024

Những biến động của thị trường tài chính tiền tệ 2023 đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng – ngân hàng có tỷ lệ huy động vốn ngoại tệ cao nhất trong các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết thúc năm 2023 ngân hàng đã thu hút được 175,435 tỷ vốn huy động tăng 23.358 tỷ tương ứng tăng 15,39% so với năm 2022. Năm 2024 nguốn vốn huy động của ngân hàng là 193.407 tỷ tăng 17.972 tỷ tương ứng tăng 9,29% so với năm 2023. Nhìn chung, tình hình huy động vốn được ngân hàng thực hiện rất tốt do ngân hàng đã áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung cầu vốn trên thị trường, cải thiện thanh khoản, phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới (chứng chỉ tiền gởi, tiết kiệm dự thưởng,lãi suất bậc thang…

  • Bảng 4.4: Doanh số thanh toán quốc tế từ năm 2022 – 2024
  • Hình 4.4: Biểu đồ tình hình thanh toán quốc tế của Vietcombank từ 2022 – 2024

Trong những năm qua, kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước liên tục tăng trưởng với tốc độ cao đã tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng Vietcombank.

Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcom năm 2023 là 26.323 tỷ USD tăng 15,5% so với năm 2022, năm 2024 là 32.500tỷ  USD tăng 23,4% so với năm 2023. Thanh toán quốc tế là lĩnh vực kinh doanh đối ngoại truyền thống mà Vietcombank luôn duy trì và khẳng định vị trí hàng đầu trong toàn ngành. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng Vietcombank đạt được tăng trưởng ổn định tiếp tục khẳng định vị trí là ngân hàng thanh toán xuất nhập khẩu hàng đầu Việt Nam.

  • Bảng 4.5: Tình hình dư nợ tín dụng cho vay theo thời gian
  • Hình 4.5: Biểu đồ tình hình dư nợ tín dụng của ngân hàng từ 2022 – 2024

Dư nợ là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm nhất định số tiền ngân hàng còn cho vay mà chưa thu lại được và cần phải thu về khi đến hạn. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Bảng kết quả cho thấy hoạt động cho vay tín dụng của ngân hàng trong năm 2023 là khá tốt. Tổng dư nợ tín dụng của ngân của ngân hàng cuối năm 2022 là 67.743 tỷ, năm 2023 đạt được là 97.532 tỷ tương ứng tăng 44%. Năm 2024 là 111.624 tỷ tăng 14,44% so với năm 2023

Năm 2022 dư nợ cho vay ngắn hạn là 37.887, năm 2023 dư nợ cho vay ngắn hạn là 51.678 tỷ tăng 13.791 tỷ tương ứng tăng 36,4% so với năm 2022.Năm 2024 là 59.280 tỷ tăng 7.602 tỷ tương ứng tăng 14,715 so với năm 2023. Đối với vay trung và dài hạn năm 2022 là 29.856 tỷ, năm 2023 là 45.854 tăng 15.998 tỷ tương ứng tăng 53,58%. Năm 2024 là 52.344 tỷ tăng 6.490 tỷ tương ứng tăng 14.15%.

Doanh số cho vay theo thời hạn vay của ngân hàng đều tăng qua các năm. Nguyên nhân là do nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế tăng lên nhằm đáp ứng cho đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.

  • Bảng 4.6: Các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận và khả năng thanh toán

Qua bảng cho thấy: tỷ suất về doanh lợi tài sản của ngân hàng (ROA) năm 2022 là 1,72 tức là trong 100 đồng tài sản có thì tạo ra được 1,72 đồng lợi nhuận, năm 2023 là 1,09 tức là trong 100 đồng tài sản có thì tạo ra đựợc 1,1 đồng, năm 2024 là 1,21.Tỷ suất doanh lợi tài sản của ngân hàng năm 2023 giảm so với năm 2022 là do lợi nhuận trước  thuế sau khi đã trích lập dự phòng rủi ro của năm 2023 là giảm so với năm 2022. Tới năm 2024 tỷ suất này đã được tăng lên.

Về doanh lợi vốn tự có (ROE), năm 2022 là 25,48% tức là cứ 100 đồng vốn tự có của ngân hàng bỏ ra tạo ra được 25,48 đồng lợi nhuận; năm 2023 doanh lợi vốn tự có của ngân hàng là 17,76. Tương tự như tỷ suất doanh lợi về tài sản thì năm 2023 doanh lợi vốn tự có giảm so với năm 2023. Tức là cứ 100 đồng vốn tự có của ngân hàng bỏ ra tạo ra được 17,76 đồng lợi nhận. Năm 2024 tỷ suất này tăng lên là 18,86 tức là cứ 100 đồng vốn tự có của ngân hàng bỏ ra tao được 18,86 đồng lợi nhuận

  • Tình hình hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng.

Trong những năm qua, dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ của Vietcombank đã phát triển với tốc độ rất nhanh và hoạt động kinh doanh thẻ thực sự trở thành một dịch vụ ngân hàng hiện đại mang tính nền tảng, là mũi nhọn cho chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, mở ra một hướng mới cho việc huy động vốn, giúp giảm lãi suất đầu vào cho ngân hàng. Vietcombank đang khẳng định vị trí hàng đầu trong hoạt động kinh doanh thẻ, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới và tiện ích gia tăng cho khách hàng trên nền tảng công nghệ hiện đại. Tổng số lượng thẻ do Vietcombank phát hành trong năm 2024 đạt 3,36 triệu thẻ, tăng 34,79% so với cuối năm 2023 và giữ vững vị trí đứng đầu trong hệ thống các ngân hàng về số lượng chủ thẻ.

Trong thời gian qua, mặc dù nền kinh tế diễn biến hết sức phức tạp và khó lường. Trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, ngân hàng Vietcombank đã nỗ lực để vượt qua khó khăn để hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu kinh doanh, giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định và duy trì vị thế ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam.

4.2.2.Tình hình hoạt động của ngân hàng sau cổ phần hóa. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

  • Hình 4.6: Mô hình NHTMCP Ngoại thương Việt Nam và các công ty con, công ty trực thuộc (mô hình công ty mẹ- công ty con)

Năm 2024, sự kiện cổ phần hóa Vietcombank đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới đầu tư và truyền thông. Trong điều kiện nền kinh tế có những khó khăn nhất định, việc cổ phần hóa Vietcombank được coi là thuận lợi. Tuy nhiên, trong năm qua các tổ chức tín dụng đã thực sự bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt. Hàng loạt các NHTMCP đã phát triển đột phá về quy mô hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh với nhiều biện pháp như tăng vốn chủ sở hữu, phát triển sản phẩm mới, phát triển mạng lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới trang thiết bị, nâng cấp công nghệ. Các tập đoàn, các tổ chức kinh tế lớn cũng đang ráo riết hoàn thiện hồ sơ xin thành lập ngân hàng cổ phần.

Trước khi cổ phần hóa ngân hàng Vietcombank, thương hiệu Vietcombank đã được biết đến trong suốt 45 năm hoạt động. Đây là một lợi thế lớn đối với ngân hàng. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, Vietcombank luôn được biết đến như là một NHTM hàng đầu, là bạn hàng của các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng.

  • a) Kết quả đạt được của ngân hàng sau cổ phần hóa

Trong bối cảnh kinh tế đầy khó khăn trong thời gian qua, Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên ngân hàng đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, thực hiện tương đối tốt các chỉ tiêu kinh doanh chính. Sau 9 tháng đầu năm 2024 vốn chủ sở hữu đạt 12.100,8 tỷ đồng/kế hoạch 15.500 tỷ đồng; tổng tài sản đạt 209 nghìn tỷ đồng/211 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng dư nợ tín dụng 12,9% trong khi kế hoạch 29,2%. Tăng trưởng huy động vốn không thực hiện được và còn giảm 5%; lợi nhuận trước thuế-một chỉ tiêu quan trọng nhất đạt 3.424 tỷ đồng, vượt so với kế hoạch cả năm 3.383 tỷ đồng, hoàn thành 101,2% kế hoạch lợi nhuận năm 2024. Hoạt động kinh doanh của Vietcombank còn góp phần cùng ngành ngân hàng thực hiện tốt chủ trương, kiềm chế lạm phát. Vì vậy, Vietcombank đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong việc thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển sản xuất, xuất khẩu, đảm bảo an sinh xã hội (Quyết định số 1697/QĐ/TTg ngày 21/11/2024) của Thủ tướng Chính phủ.

  • b) Những mặt còn tồn tại

Có thể nói sau năm đầu thực hiện cổ phần hóa, Vietcombank vẫn tiếp tục vươn lên với những kết quả kinh doanh rất tốt. Tuy nhiên, khó khăn trước mắt và lâu dài là không nhỏ đó là: Vietcombank phải tiếp tục thay đổi cơ chế, mà trước hết là cơ chế trả lương cho người lao động. Tại Việt Nam đã tồn tại quá lâu cơ chế bất hợp lý trong xét duyệt đơn giá tiền lương trong các NHTM Nhà nước, trong đó Vietcombank luôn là NHTM có số nộp nghĩa vụ cho Nhà nước cao nhất nhưng lại được hưởng mức thu nhập thấp. Cổ phần hóa đã được một năm, cơ chế lương, thu nhập của người lao động trong Vietcombank không có gì mới. Do thiếu hẳn động lực kinh tế, chất xám của Vietcombank hiện đang tiếp tục mất dần, nếu muốn thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao thì Vietcombank cần phải thay đổi cơ chế này Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Đứng trước thời điểm hết sức nhạy cảm như hiện nay, cần có những thay đổi mạnh mẽ về cơ chế để doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa mạnh hơn, góp phần thiết thực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, tạo lợi nhuận cao hơn, tỷ lệ cổ tức trả cho các cổ đông ngày một lớn hơn… Tất cả vì sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam, vì sự lớn mạnh của Vietcombank và làm giảm đi sự hụt hẫng của các cổ đông đã tham gia đấu giá cổ phiếu của Vietcombank với mức giá “trên trời” để rồi đang tiếp tục phải bận tâm.

Vậy để xem năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong thời gian qua và sắp tới như thế nào, tôi tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Vietcombank.

4.3. Phân tích các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng

4.3.1. Môi trường vĩ mô

  • a) Môi trường kinh tế

Sự phát triển của nên kinh tế trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ ngày càng tăng sẽ tác động đến khả năng thu hút tiền gửi, khả năng cho vay đầu tư và phát triển các dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương mại. Ngân hàng là một ngành chứa đựng nhiều rủi ro. Mỗi một biến động bất lợi của môi trường kinh tế vĩ mô đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của một ngân hàng. Một nước có nền kinh tế phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, các chỉ số về lạm phát, lãi suất, tỷ giá phát triển ổn định, năng lực cạnh tranh cao sẽ là một điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng, giúp các ngân hàng thương mại trong nước có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của mình. Và ngược lại, sự bất ổn định về kinh tế có thể tạo ra sự dè dặt, co cụm của những nỗ lực đầu tư của các doanh nghiệp nói chung và của các ngân hàng thương mại nói riêng.

  • Lạm phát

Năm 2024 khép lại với nhiều sự kiện, diễn biến phức tạp và khó lường của nền kinh tế thế giới, cũng là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới.

Ngay từ đầu năm, căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội và của Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2024, NHNN đã xác định 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng năm 2024 với nội dung chủ yếu là: Hoàn thiện hệ thống thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đáp ứng có hiệu quả các nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ quy mô và chất lượng tín dụng; cơ cấu lại tổ chức, bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; đẩy nhanh chương trình tái cơ cấu, nâng cao năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước; đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin ngân hàng; tuân thủ lộ trình mở cửa hoạt động ngân hàng đã cam kết khi gia nhập WTO; thực hiện tốt công tác in, lưu thông tiền mặt phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế; củng cố, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, điều hành, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc NHNN; tập trung thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hành chính; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các mặt hoạt động ngân hàng. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2024, không những phải đối mặt với những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại: lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại cũng đạt mức kỷ lục (hơn 14% GDP), thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm. Trước tình hình đó, để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Chính phủ đã điều chỉnh từ mục tiêu tăng trưởng cao sang mục tiêu kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu và tăng trưởng duy trì ở mức hợp lý. Tuy nhiên, những tháng cuối năm, diễn biến kinh tế và lạm phát của Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung của kinh tế thế giới, nên các giải pháp vĩ mô cũng đã có sự thay đổi cho phù hợp. Tháng 11-2024, Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô, trong đó đặc biệt quan tâm đến nhóm giải pháp về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô.

Trước tình hình kinh tế thế giới diễn ra hết sức phức tạp cùng với những khó khăn trước mắt của nền kinh tế nước ta thì Vietcombank cũng không tránh khỏi xu thế khó khăn chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, với các giải pháp hiệu quả của của chính phủ cùng với sự tích cực và nỗ lực trong hoạt động kinh doanh Vietcombank vẫn duy trì được mức tăng trưởng ổn định và giữ vai trò là cánh chim đầu đàn của ngành ngân hàng.

  • b) Môi trường chính trị pháp luật

Hệ thống luật pháp trước hết tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các ngân hàng thương mại. Hệ thống luật pháp tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Luật quy định những điều kiện cần thiết về mặt pháp lý để một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh, những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp, giới hạn về quy mô huy động vốn, khả năng cấp tín dụng, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các quy định đảm bảo an toàn. Ngoài ra, những quy định của luật cũng tác động đến khả năng tham gia cạnh tranh của các chủ thể trên thị trường tài chính, gia tăng hay kìm hãm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên thị trường quốc tế. Khi có sự thay đổi về luật, các quy định trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của quốc gia sẽ kéo thao sự điều chỉnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các chủ thể, đề ra các quy định và các nguyên tắc trong cạnh tranh, chi phối đến việc mở rộng hay giới hạn quy mô cạnh tranh của thị trường, phát triển môi trường cạnh tranh tạo động lực thúc đẩy các ngân hàng thương mại tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Hệ thống luật pháp một mặt tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các ngân hàng thương mại nhưng mặt khác cũng thực hiện chức năng ngăn ngừa và có chế tài xử phạt thích đáng đối với hoạt động tiêu cực, cạnh tranh không lành mạnh.

  • c) Môi trường văn hóa, xã hội Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Năng lực cạnh tranh của một ngành có thể bị tác động bởi một số yếu tố văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực ngân hàng, các đặc điểm đó tác động rất nhiều đến yếu tố con người thông qua việc tác động đến nhu cầu và nguồn nhân lực.

Trước hết, những đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến cầu đối với các dịch vụ ngân hàng như lòng tin của dân chúng; thói quen tiêu dùng và tiết kiệm của người dân; trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về các dịch vụ của ngân hàng; mức thu nhập của người dân. Ngân hàng là người giữ túi tiền cho người dân và các doanh nghiệp, nếu hệ thống ngân hàng không được người dân tin tưởng thì chắc chắn ngân hàng không thể phát triển. Thói quen tiêu dùng của người dân cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là thói quen sử dụng tiền tệ. Nếu người dân sử dụng tiền mặt nhiều thì người dân mất đi cơ hội kinh doanh. Mức tiết kiệm của người dân càng cao càng có ảnh hưởng đến nguồn cung tín dụng cho các ngân hàng. Trình độ dân trí cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng. Trình độ dân trí ở một quốc gia càng cao thì khả năng phổ biến dịch vụ ngân hàng hiện đại càng thuận tiền, cơ hội đổi mới của các ngân hàng cũng cao hơn. Mức thu nhập cũng vậy, người dân có thu nhập càng cao càng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng nhiều hơn.

Ngoài ra, đặc điểm văn hóa xã hội ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong lĩnh vực ngân hàng có thể kể đến như quan điểm về doanh nhân và kinh doanh; quan điểm về sự giàu có; quan điểm về thăng tiến; về đạo đức nghề nghiệp; quan điểm về học tập, tự đào tạo; quan điểm về sự gắn bó nghề nghiệp hay quan điểm về rủi ro thất bại… Phải quan niệm rõ ràng, ngân hàng trước hết là một doanh nghiệp, do đó được toàn xã hội coi trọng và tạo điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, ngân hàng là một ngành dịch vụ chất xám và cần có những cá nhân xuất sắc, có tham vọng kinh doanh, làm giàu và thăng tiến sẽ tạo nên thành công của ngân hàng. Ở một đất nước, những giá trị trên được quan tâm và coi trọng thì sẽ tạo điều kiện cho những người có phẩm chất đó phát triển, đồng thời các ngân hàng có nhiều cơ hội tuyển chọn nguồn nhân lực tốt và phù hợp. Ngân hàng là một ngành có nhiều rủi ro, những người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng phải là những người có khả năng phát hiện và đánh giá được rủi ro, dám chấp nhận rủi ro, đồng thời là người có sự thận trọng cần thiết, tôn trọng các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp. Việc coi trọng đạo đức là cơ sở để ngân hàng giữ chữ tín đối với khách hàng, gây dựng niềm tin của công chúng. Một xã hội coi trọng đạo đức cũng là điều kiện thuận lợi đối với việc nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng. Sự gắn bó với nghề nghiệp cũng có ý nghĩa trong việc giúp người lao động có thời gian và cơ hội tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm, từ đó giúp ngân hàng duy trì được đội ngũ nhân lực ổn định và có trình độ cao. Ngân hàng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiến rất cao, vì thế khả năng tự học, tự đào tạo của các nhân viên có ý nghĩa lớn đối với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Một xã hội coi trọng việc học tập và rèn luyện cũng mang lại thuận lợi đối với ngành ngân hàng.

  • d) Môi trường công nghệ Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một trong những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng. Vai trò của công nghệ đối với các hoạt động ngân hàng được thể hiện:

Cho phép lưu trữ và đẩy nhanh tốc độ xử lý các dữ liệu tạo điều kiện cho công tác hạch toán kế toán, lưu trữ và báo cáo. Nhờ đó, ngân hàng giảm thời gian của quy trình xử lý nghiệp vụ, cập nhật số liệu báo cáo phục vụ hữu hiệu cho công tác điều hành, quản lý, kiểm soát đối với hoạt động ngân hàng.

Cho phép đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và liên kết với các doanh nghiệp khác trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ.

Cho phép thiết lập hệ thống giao dịch trực tuyến, xóa bỏ giới hạn trong hoạt động ngân hàng về địa giới hành chính, thời gian giao dịch và yêu cầu phải đến địa điểm ngân hàng để thực hiện giao dịch, góp phần quan trọng vào hoạt động thương mại điện tử.

Cho phép thiết lập hệ thống thông tin quản lý trực tiếp phục vụ hữu hiệu cho công tác quản lý điều hành theo mô hình tập trung, nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động ATM… mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý, hệ thống báo cáo rủi ro…trong nội bộ ngân hàng. Đặc biệt trong điều kiện ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ ngân hàng nói riêng phát triển nhanh chóng như hiện nay, khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ cũng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực công nghệ của một ngân hàng. Với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức sai lầm về năng lực công nghệ của các ngân hàng. Vì thế năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở (khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế. Đổi mới công nghệ ngân hàng là tin học hóa hoạt động ngân hàng, tin học hóa các nghiệp vụ ngân hàng, mở rộng dịch vụ ngân hàng hiện đại trên nền công nghệ mới gắn liền với việc thay đổi cơ chế pháp lý phù hợp.

Đến nay đã có hơn 80% các nghiệp vụ ngân hàng, 85% các giao dịch của Vietcombank với khách hàng được thực hiện bằng máy tính và thiết bị công nghệ thông tin hiện đại. Công nghệ thông tin đã tác động mạnh vào quá trình đổi mới cơ chế chính sách và đổi mới phương pháp quản lý, chỉ đạo điều hành, thanh tra giám sát hoạt động ngân hàng, giúp NHNN thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ, thực hiện tốt quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế. Riêng trong hoạt động bán lẻ, công nghệ là chìa khóa then chốt để đưa các dịch vụ bán lẻ đến với công chúng nhanh nhất. Tuy nhiên Vietcombank còn nhiều tồn tại yếu kém trong việc phát triển công nghệ thông tin là do các nguyên nhân: Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Đây là lĩnh vực đòi hỏi sự đầu tư rất lớn – Đầu tư vào công nghệ, ngân hàng phải chịu chi phí lớn (mạng lưới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chi phí đào tạo…) .

Chưa có một bộ phận chuyên trách nghiên cứu về chiến lược phát triển công nghệ thông tin vì thế công nghệ thiết kế chưa bao quát tổng thể, đi theo yêu cầu thay đổi của người sử dụng mang tính tự phát Tính rủi ro cao do các vấn đề an ninh, mạng virut.

  • e) Vai trò của nhà nước

Vai trò của Nhà nước là một yếu tố mang tính chất xúc tác rất quan trọng với sự phát triển của bất kỳ ngành nào ở một nước. Đối với lĩnh vực ngân hàng, Nhà nước lại càng đóng một vai trò quan trọng. Nhà nước tác động đến sự phát triển của các ngân hàng trước hết với vai trò của người quản lý và giám sát của toàn hệ thống thông qua vai trò của NHNN. Sự hoạt động lành mạnh và an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế ở một quốc gia. Do những mối liên kết rất chặt chẽ của toàn bộ hệ thống NHTT, sự đồ vỡ của một ngân hàng thường gây ra những hậu quả rất to lớn và cớ khả năng gây ra hiệu ứng lan truyền lên toàn hệ thống. Vì thế, hoạt động của các NHTM phải chịu sự quản lý và giám sát hết sức chặt chẽ của các cơ quan nhà nước nói chung và của ngân hàng Nhà nước nói riêng.

NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất trong lĩnh vực ngân hàng, có chức năng soạn thảo các dự thảo luật, ban hành các quy định hướng dẫn về mặt pháp lý trong kinh doanh ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt động của các NHTM, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các ngân hàng thương mại… Với vai trò quan trọng như vậy đòi hỏi NHNN phải có năng lực quản lý điều hành phù hợp. Nếu năng lực quản lý điều hành của NHNN không tốt sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và hội nhập của các ngân hàng thương mại. Ví dụ không đưa ra được các quy định pháp lý kịp thời hướng dẫn hoạt động kinh doanh của các NHTM, không có các biện pháp cảnh cáo, ngăn chặn cần thiết đối với các hành vi tiêu cực, gian lận, vi phạm những điều bị cấm hoặc không khuyến khích, hạn chế về năng lực điều hành chính sách tiền tệ.

4.3.2. Môi trường vi mô Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

  • a) Đối thủ cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các chủ thể nói chung và trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng là một quy luật khách quan. Trong phạm vi quốc gia, đối thủ cạnh tranh của các ngân hàng chính là các ngân hàng khác, ngoài ra còn có các định chế tài chính phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính… Trong điều kiện hội nhập, có nhiều ngân hàng quốc tế vào đầu tư và ngược lại các NHTM mở rộng phạm vi kinh doanh ra thị trường quốc tế, do đó các ngân hàng thương mại chịu sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài, chịu sự cạnh tranh của các đối thủ trong nước, nơi mà NHTM thành lập chi nhánh và tiến hành hoạt động kinh doanh.

Số lượng các đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng cao. Trong quá trình kinh doanh, nếu một ngân hàng thương mại có năng lực cạnh tranh thấp hơn các đối thủ cạnh tranh khác thì ngân hàng thương mại đó sẽ có khả năng bị giảm doanh thu, thị phần bị thu hẹp hoặc nặng hơn có thể bị phá sản. Do đó, để đứng vững và giành phần thắng trong cạnh tranh, đòi hỏi mỗi ngân hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, nghiên cứu điểm mạnh, điểm yếu, lợi thế cạnh tranh của đối thủ để có chiến lược kinh doanh hợp lý. Sự hiểu biết đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào trong đó có ngành ngân hàng.

Để đánh giá khả năng cạnh tranh của Vietcombank với các đối thủ khác tôi dựa trên phần trăm mức tăng trưởng của năm 2024 so với năm 2023 về các chỉ số của các ngân hàng TMCP khác để so sánh với Vietcombank. Đây là những ngân hàng có nguồn vốn lớn, mạng lưới hoạt động tương đối lớn và hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong thời gian qua, đã được khách hàng biết đến với uy tín, chất lượng…

Khả năng cạnh tranh của Vietcombank với các đối thủ khác

  • Bảng 4.7: Tổng tài sản của các NHTMCP năm 2024 so với năm 2023.

So với các ngân hàng TMCP khác hiện nay thì Vietcombank có mức tổng tài sản lớn hơn và cao hơn rất nhiều. Tuy ngân hàng có tổng tài sản là cao so với các NHTMCP khác, nhưng tỷ lệ gia tăng so với các ngân hàng thương mại khác lại không cao hơn. So với các ngân hàng khác thì Vietcombank có mức tăng trưởng tổng tài sản ở mức trung bình trung bình. Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, với sự tham gia của các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài có tiềm lực tài chính hùng mạnh, có kinh nghiệm quản trị điều hành thì hạn chế về tài sản và vốn chủ sở hữu sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam nói chung và NH TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng.

  • Bảng: 4.8: Vốn chủ sở hữu các ngân hàng năm 2024 so với 2023

Trong số các NHTMCP hiện nay, vốn chủ sở hữu của Vietcombank là cao hơn rất nhiều so với các NHTMCP khác. Do Vietcombank trước đây là NHTMNN nên lượng vốn Nhà nước trong tổng vốn chủ sở hữu hiện nay chiếm phần lớn, quy mô vốn chủ sở hữu không ngừng gia tăng để đáp ứng các yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn, nâng cao khả năng tham gia vào thị trường và đạt được các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu khi hội nhập. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

  • Bảng 4.9: Tổng dư nợ tín dụng các ngân hàng năm 2024 so với năm 2023.

Hoạt động tín dụng và đầu tư là hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Hoạt động tín dụng và đầu tư của ngân hàng thương mại tốt sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, phát triển khả năng huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Một số chỉ tiêu thường dùng đánh giá hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: So với các ngân hàng TMCP khác thì tỷ lệ gia tăng tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng Vietcombank là khá cao, chỉ sau một số ngân hàng techcombank, ACB, Đông Á.

  • Bảng 4.10: Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng năm  2023 – 2024

Tỷ lệ nợ xấu là thước đo danh mục cho vay của các ngân hàng, tỷ lệ này tăng chứng tỏ danh mục cho vay càng rủi ro. Năm 2024 mặc dù các ngân hàng đã áp dụng các biện pháp thắt chặt tín dụng, giảm tỷ lệ dư nơ, chọn lọc các khách hàng tốt để giảm thiểu rủi ro nhưng tỷ lệ nợ xấu lại có xu hướng tăng cao. Tỷ lệ nợ xấu của Eximbank đã tăng từ mức 0,9% năm 2023 lên 4,7% so với năm 2024. Tương tự, Techcombank cũng tăng từ 1,5% lên 2,6% năm 2024. Ngân hàng Vietcombank cũng tăng từ 2,6% năm 2023 lên 4,5% năm 2024. Tuy nhiên với tỷ lệ này ngân hàng đã đạt đúng chỉ tiêu đề ra của ngân hàng là mức tỷ lệ 5,8%. Nguyên nhân làm cho tỷ lệ nợ xấu gia tăng là do khủng hoảng kinh tế lan rộng. Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm sút, việc thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro của các ngân hàng.

  • Bảng 4.11: Các hệ số tài chính của các ngân hàng năm 2023 – 2024

Khả năng sinh lời là một trong những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các  ngân hàng TMCP với nhau, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một ngân hàng thương mại hoạt kinh doanh tốt, khả năng sinh lời cao sẽ có điều kiện trích lập các quỹ dự trữ, đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch, đầu tư công nghệ, khách hàng cảm thấy yên tâm tin tưởng và gửi tiền, do đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Hệ số này càng cao chứng tỏ ngân hàng đó kinh doanh càng có lời. Hệ số ROA của ngân hàng cũng khá cao và tương đương với các ngân hàng khác. Hệ số ROA, ROE của ngân hàng Vietcombank gia tăng qua các năm và khá cao so với các ngân hàng khác. Cho thấy hiệu quả quản lý tài sản và khả năng tận dụng các nguồn vốn của ngân hàng là có hiệu quả. Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty, mở rộng mạng lưới ngân hàng cũng đã không ngừng tiếp thu các công nghệ mới, phát triển sản phẩm, mở rộng hoạt động đối ngoại.

  • b) Sản phẩm thay thế Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Sản phẩm dịch vụ có thể thay thế sản phẩm dịch vụ của ngân hàng hiện nay đã gia tăng nhiều. Các sản phẩm đó là các sản phẩm được cung cấp bởi công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng, các quỹ tín dụng…Tuy nhiên, áp lực từ các sản phẩm thay thế là không quá lớn đối với các sản phẩm của ngân hàng ví các sản phẩm này có những hạn chế như:

Các sản phẩm của công ty tài chính (là công ty cổ phần hoặc quốc doanh thực hiện kinh doanh tiền tệ) chủ yếu là cho vay ngắn hạn và trung hạn phục vụ các hoạt động mua bán hàng hóa – dịch vụ của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cầm cố hàng hóa, vật tư, ngoại tệ, giấy tờ có giá, tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp này bị hạn chế bởi không được phép huy động tiền gởi của dân cư, không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt…do đó khách hàng không thể gởi tiền để hưởng lãi hoặc sử dụng các tiện ích thanh toán như của ngân hàng.

Các sản phẩm của hợp tác xã tín dụng (là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được tổ chức trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các xã viên): cho vay đối với mọi đối tượng, ngành nghề với lãi suất thỏa thuận; nhận gửi vàng bạc, đá quý, thanh toán nội bộ, mua bán, chuyển nhượng chứng khoán… được thực hiện huy động vốn trong nhân dân, tổ chức kinh tế – xã hội. Hợp tác xã cũng có những hạn chế trong hoạt động như không được huy động tiền gửi tiết kiệm, tiền huy động được không được dùng để hùn vốn, liên kết, liên doanh, mua cổ phần. Từ đó cho thấy khách hàng cũng không thể gửi tiết kiệm để hưởng lãi khi có nhu cầu.

Đối với các sản phẩm của quỹ tín dụng đó là được huy động vốn và cho vay đối với các đơn vị, tổ chức kinh tế nhưng chủ yếu là huy động vốn và cho vay đối với hộ gia đình, người sản xuất, buôn bán nhỏ…Do nguồn vốn hạn chế nên lượng vốn có thể cung ứng cho khách hàng là nhỏ, vì thế các sản phẩm này không phù hợp với những khách hàng có nhu cầu vốn lớn.

Nhìn chung, các sản phẩm của các tổ chức tín dụng trên chưa thật sự đa dạng và mỗi loại hình tổ chức tín dụng đều có những giới hạn về mặt hoạt động kinh doanh, có những sản phẩm có ở tổ chức này nhưng không có ở tổ chức khác vì thế các tổ chức tín dụng này vẫn hông thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng; mặt khác lượng vốn mà tổ chức này cho vay thường có quy mô nhỏ vì nguồn vốn huy động bị hạn chế nên khó có thể phục vụ cho các khách hàng là doanh nghiệp hay công ty lớn. Ngoài ra, còn có một số sản phẩm khác như: vay nóng của người quen, vay nặng lãi…nguồn vốn được cung cấp cũng không lớn nhưng thủ tục vay lại rất đơn giản, đôi khi không cần thế chấp.

Từ những phân tích trên cho thấy các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là lựa chọn tốt nhất cho các nhà đầu tư (đặc biệt đối với các nhà đầu tư lớn) vì hiện nay các sản phẩm ngân hàng rất đa dạng (từ huy động vốn, cho vay, các dich vụ thanh toán trong nước và nước ngoài…), thủ tục đã đơn giản hóa, lãi xuất chấp nhận được… do đó sẽ đáp ứng và có thể thỏa mãn tốt dược nhu cầu đa dạng của khách hàng.

  • c) Đối tác

Các đối tác của ngân hàng có thể là những ngân hàng khác; cơ quan truyền thông như đài truyền hình, báo chí, các nhà đầu tư… các đối tác cũng là những khách hàng của ngân hàng nên việc làm hài lòng các đối tác cũng rất quan trọng vì nó giúp cho hoạt động của ngân hàng thuận lợi hơn. Điều này rất dễ nhận biết khi ngân hàng có quan hệ tốt với các ngân hàng khác thì ngân hàng sẽ có nhiều ưu đãi hơn như; được vay vốn với lãi suất thấp, được ngân hàng khác đứng ra bảo lãnh khi làm việc với các đối tác nước ngoài, hoặc nếu có quan hệ tốt với cơ quan truyền thông thì sẽ được ưu tiên về giá, về thời điểm phát sóng khi ngân hàng có sự kiện… Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Chính vì vậy ngân hàng Vietcombank không ngừng tìm kiếm và mời được các nhà đầu tư lớn tham gia và trở thành cổ đông của ngân hàng. Cùng với đó ngân hàng sẽ mở rộng được nguồn vốn, có cơ hội học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm về quản trị, công nghệ… của các đôi tác này.

  • d) Khách hàng

Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Khách hàng là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối dịch vụ ngân hàng. Vì thế ngân hàng càng có nhiều khách hàng thì hoạt động của ngân hàng càng phát triển. Vì vậy ngân hàng cần có chính sách phù hợp nhằm thu hút khách hàng.

  • Bảng 4.12. bảng xếp hạng ngân hàng được hài lòng nhất
  • Bảng 4.13. bảng xếp hạng ngân hàng được giao dịch nhiều nhất

Trong bảng xếp hạng 10 ngân hàng được hài lòng và được giao dịch nhiều nhất thì ngân hàng Vietcombank cũng nằm trong danh sách đứng đầu. Điều này chứng tỏ sự hài lòng của khách hàng về thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng tại các quầy dịch vụ, ngân quỹ của ngân hàng là niềm nở, tích cực, tổ chức khoa học, hợp lý, thủ tục rõ ràng, đơn giản.

4.4. Phân tích các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

4.4.1. Nguồn vốn hoạt động

Đây là yếu tố quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các ngân hàng. Đó là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là cơ sở tiến hành thực hiện tốt các nội dung hoạt động của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để phát triển, mở rộng quy mô tạo thế cạnh tranh với các ngân hàng khác trong khu vực và thế giới. Trong nguồn vốn hoạt động của ngân hàng thì vốn huy động có vai trò quan trọng, vì nó giúp cho ngân hàng có đủ vốn tài trợ cho các hoạt động kinh doanh như cung cấp tín dụng, các dịch vụ ngân hàng khác. Với nguồn vốn lớn thì ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng tín dụng cho nền kinh tế như: ngân hàng sẽ có thêm nhiều đối tượng cho vay, khách hàng có thể vay với số lượng lớn. Trong các ngân hàng TMCP thì ngân hàng Vietcombank có nguồn vốn hoạt động là lớn nhất, đây là một trong những điều kiện thuận lợi của ngân hàng trong việc mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao uy tín, sự tin tưởng của khách hàng.

  • Vai trò của vốn chủ sở hữu.

Vốn chủ sở hữu tuy chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ (khoảng 8%) trong tổng nguồn vốn huy động kinh doanh của một ngân hàng nhưng đóng vai trò rất quan trọng. Vốn là điều kiện tiên quyết để thành lập ngân hàng, đây là nguồn vốn khởi đầu tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cung cấp năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng như mở rộng quy mô, mua sắm trang thiết bị, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, là cơ sở để huy động các nguồn vốn khác, tạo lập uy tín của ngân hàng thương mại với khách hàng và nhà đầu tư, tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng.

Vốn chủ sở hữu dùng để chống đỡ, bù đắp rủi ro: vốn chủ sở hữu có chức năng bảo vệ ngân hàng thương mại, giúp ngân hàng thương mại chống lại rủi ro phá sản, bù đắp những thua lỗ về mặt tài chính và nghiệp vụ. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì ngân hàng thương mại càng có điều kiện để đa dạng hóa các nghiệp vụ ngân hàng tăng lợi nhuận đồng thời tăng sức chịu đựng của ngân hàng khi tình hình kinh tế và hoạt động kinh doanh ngân hàng trải qua giai đoạn khó khăn.

Vốn chủ sở hữu lớn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, tăng giới hạn tín dụng đối với khách hàng: Khách hàng cảm thấy yên tâm khi gửi tiền vào ngân hàng nào có khả năng tài chính mạnh mà vốn chủ sở hữu là một yếu tố nói lên điều đó. Bên cạnh đó vốn chủ sở hữu cũng ảnh hưởng tới giới hạn tín dụng đối với khách hàng. Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với mỗi khách hàng không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn chủ sở hữu. Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn chủ sở hữu. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn chủ sở hữu. Nếu quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ, ngân hàng không thể đáp ứng những khoản vay lớn của khách hàng, làm mất cơ hội tăng lợi nhuận và làm giảm sức cạnh tranh của ngân hàng.

4.4.2. Quản trị Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Công tác quản trị đóng một vai trò đóng vai trò quan trọng trong  sự vận hành của ngân hàng. Nếu một ngân hàng có công tác quản trị tốt thì mọi hoạt động diễn ra nhanh chóng thuận lợi và ngược lại nếu không tốt sẽ làm cho hoạt động ngân hàng bị đình trị. Đồng thời ngân hàng cần phải xác định chính xác loại hình tổ chức tổ chức hoạt động vì nó không chỉ liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp mà còn liên quan đến cách thức quản lý của ngân hàng. Bên cạnh đó nó cũng thể hiện quyền lợi và trách nhiệm mà ngân hàng phải thực hiện.

Cách thức quản trị ở ngân hàng Vietcombank được thực hiện theo kinh nghiệm, các nhà quản trị hầu hết chưa được đào tạo nghề quản trị cho nên tính chuyên nghiệp trong quản trị điều hành còn nhiều bất cập, quản trị chưa thật sự bài bản khoa học,  trình độ quản lý kinh doanh thấp và và quản lý rủi ro còn yếu

4.4.3. Quản trị nguồn nhân lực.

  • a) Khả năng nguồn nhân lực.

Vào thời điểm 31/12/2024 tổng số cán bộ công nhân viên ngân hàng có 8864 người. Quản trị nguồn nhân lực của ngân hàng Vietcombank trong thời gian qua đã và đang không ngừng được tăng cường  cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng các yêu cầu về nhân sự của ngân hàng trong quá trình cổ phần hóa và tiến tới trở thành một tập đoàn tài chính đa năng. Hàng năm ngân hàng đã tuyển dụng các cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chuyên ngành, có trình độ ngoại ngữ tốt để chuẩn bị cho hội nhập, đồng thời chú trọng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ, cử cán bộ tham gia học tập, tham gia khảo sát trong và nước ngoài. Do đó, ngân hàng đã tham gia xây dựng được một đội ngũ cán bộ có tuổi đời bình quân trẻ, năng động, được đào tạo bài bản về lĩnh vực tài chính ngân hàng, có kiến thức về kinh tế thi trường tương đối toàn diện, có trình độ ngoại ngữ, có khả năng thích nghi, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại và mang tính hội nhập cao.

  • b) Cơ chế tiền lương tại ngân hàng.

Trong những năm gần đây, thị trường lao động nói chung và thị trường nhân lực lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng có những biến đông rất sâu sắc. Hàng loạt các NHTM cổ phần, công ty chứng khoán,… đã ra đời, mở rộng mạng lưới… đã tạo ra một lượng cầu lớn về nhân sự, nhất là nhân sự có trình độ cao, có năng lực quản lý. Cơ chế lương hấp dẫn cùng với chế độ ưu đãi đi cùng đã tạo ra một sức hút cho những người lam việc ở nơi có mức lương thấp tới làm việc, nhất là các ngân hàng nhà nước trong đó có ngân hàng Vietcombank. Tuy nhiên từ khi ngân hàng chuyển sang ngân hàng cổ phần thì tình trạng này đã được cải thiện.

4.4.4. Các yếu tố khác Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Ngoài ra các nhân tố như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán…Cũng giữ vai trò quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Dưới đây là bảng đánh giá vị trí xếp hạng về một số sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng thương mại dựa trên các tiêu chí như: sự an toàn, tính chính xác, mức độ bảo mật, hiệu quả, phương thức làm việc, tác phong làm việc của nhân viên.

  • Bảng 4.14. Bảng xếp hạng 5 loại dịch vụ tại các NHTM Việt Nam

Theo bảng xếp hạng dịch vụ ngân hàng được điều tra tháng 7/2024 thì đứng đầu trong bảng xếp hạng là ngân hàng Vietcombank, tiếp theo là ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng Sacombank đứng thứ 6, Eximbank đứng thứ 8 và Techcombank đứng thứ 9. Bảng xếp hạng đã chứng tỏ người tiêu dùng có hiểu biết khá rõ tình hình ngân hàng Vietcombank, điều này chứng tỏ ngân hàng đã thực hiện khá tốt việc hỗ trợ cho người tiêu dùng và người tiêu dùng cũng rất hài lòng đối với ngân hàng trong việc làm tăng lên phương tiện thanh toán, phương tiện sản xuất đồng thời là nơi gửi tiền an toàn mà có lãi.

  • Cơ chế lãi suất tiền gửi, tiền vay, phí ngân hàng.

Ngân hàng phân loại khách hàng lớn (VIP) theo các tiêu thức về số dư tiền gửi, tiền vay và khối lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng và dành cho khách hàng VIP các lãi suất tiền gửi, tiền vay ưu đãi hơn so với các ngân hàng và khách hàng khác.

Để có cơ sở xác định hợp lý lãi suất tiền gửi ưu đãi, ngân hàng đã điều tra mức lãi suất tiền gửi ở các ngân hàng khác rồi định ra mức lãi suất hấp dẫn cho các khách hàng của mình. Ngân hàng áp dụng nhiều mức lãi suất ưu đãi cho khách hàng đối với số dư tiền gửi khác nhau. Như vậy, cơ chế xác định lãi suất tiền gửi ưu đãi tại ngân hàng là hết sức linh hoạt.

Ngoài ra, ngân hàng còn áp dụng hình thức cạnh tranh thông dụng là việc áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi. Căn cứ vào lãi suất Libor (3 hoặc 6 tháng) trên thị trường quốc tế và lãi suất huy động vốn, ngân hàng xác định lãi suất cho vay ưu đãi cho khách hàng trên nguyên tắc vừa đảm bảo sức cạnh tranh, vừa có lãi. Phương châm của ngân hàng là thu ít của một khách hàng, nhưng nhiều khách hàng cũng sẽ mang lại hiệu quả lớn cho ngân hàng.

Nhiều khách hàng tìm chọn ngân hàng giao dịch có mức phí rẻ, nên ngân hàng  thường tìm cách hạ phí dịch vụ thấp hơn những ngân hàng khác để làm công cụ cạnh tranh. Các loại phí khách hàng thường quan tâm tới là phí chuyển tiền.

Nhìn chung, so với các ngân hàng thì Ngân hàng có mức phí, lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi thấp từ đó ảnh hưởng tới việc huy động vốn. Khách hàng thường bỏ đi khi so sánh lãi suất tiền gửi của ngân hàng với các NHTM cổ phần khác.

4.4.5. Chiến lược marketing Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Hoạt động marketing mang lại rất nhiều lợi ích cho hoạt động của ngân hàng. Thông qua marketing, khách hàng có thể nhận biết và tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.

Để có thể đưa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng một cách tốt nhất, ngân hàng phải xây dựng tốt chiên lược Marketing bao gồm:

  • Quảng bá thương hiệu;
  • Tiếp thị và xúc tiến thương mại;
  • Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến;
  • Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh;
  • Phát triển sản phẩm dịch vụ gắn với phát triển thị trường…

Với lợi thế là một ngân hàng TMNN trở thành ngân hàng cổ phần, ngân hàng Vietcombank được biết đến với thời gian hoạt động lâu đời nhất ở Việt Nam, có mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp cả nước.

4.5. Các công cụ phân tích.

  • a) Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài
  • b) Ma trận đánh giá cá yếu tố bên trong
  • c) Ma trận SWOT.
  • d) Ma trận Space

Hình ảnh ma trận Space của ngân hàng Vietcombank.

Hình 4.7. Hình ảnh ma trận Sapce của ngân hàng Vietcombank

Dựa vào vị trí của vectơ trong ma trận Space ở trên cho thấy ngân hàng đang ở vị trí góc tấn công. Ở vị trí này ngân hàng có sức mạnh tài chính và là ngân hàng nổi bật trong ngành, có lợi thế cạnh tranh. Một số phương hướng chiến lược đề nghị cho ngân hàng khi ở vị trí này: áp dụng chiến lược tăng trưởng nhanh, tăng trưởng ổn định và khi đã có những lợi thế về tài chính, có lợi thế cạnh tranh thì áp dụng mục tiêu tăng trưởng hướng ngoại.

Dựa vào tình hình thực tế tại Vietcombank thì ngân hàng nên thực hiện các chiến lược tăng trưởng nhanh, ổn định và nên thâm nhập vào những thị trường bên ngoài có nhiều tiềm năng.

4.6. Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến nhiều thách thức to lớn đối với Vietcombank dưới sức ép cạnh tranh với ngân hàng thương mại quốc tế. So với các NHTM nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng mạnh, trình độ công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, nguồn nhân lực kinh nghiệm và chất lượng cao, năng lực hoạt động vững mạnh, Vietcombank cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng so với các ngân hàng quốc tế và trước tiên để đạt được mục tiêu trong tương lai gần đứng trong top 100 ngân hàng thương mại khu vực châu Á.

4.6.1 Những ưu điểm của ngân hàng Vietcombank

Vietcombank được thừa nhận là ngân hàng Việt Nam hàng đầu và được quản lý tốt nhất tại Việt Nam. Với hơn 40 năm xây dựng và phát triển, mặc dù với xuất phát ban đầu là ngân hàng phục vụ doanh nghiệp thương mại, ngân hàng đã vươn lên và trở thành một ngân hàng hoạt động hiệu quả tốt nhất tại Việt Nam.

Trong thời gian qua một trong những bước đột phá của Vietcombank là việc xây dựng thành công đề án tái cơ cấu mà trọng tâm là nâng cao năng lực tài chính, quản trị rủi ro, tiếp tục đổi mới công nghệ, đưa nhiều tiện ích ngân hàng mới vào phục vụ khách hàng, sẵn sàng cho quá trình hội nhập. Vietcombank đã đi đầu khối các NHTM trong việc xử lý nợ xấu, nâng cao hệ số an toàn vốn. Trên nền tảng công nghệ hiện đại, NHNT từng bước cung ứng cho thị trường những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao như: VCB online và connect 24, VCB money, I- Banking, Home Banking, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment, VCB Global Trade… Vietcombank cũng là ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiện hợp tác kinh doanh với các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, Master Card, CUP, …

Về huy động vốn từ nền kinh tế. Vietcombank luôn giữ thị phần huy động vốn lớn trong nhiều năm qua. Với ưu thế về mạng lưới chi nhánh rộng khắp, sự tin cậy lâu năm của khách hàng, Vietcombank cũng đã đẩy mạnh việc tạo cơ hội tiếp cận và thu hút khách hàng, xúc tiến hoạt động marketing, đa dạng hóa sản phẩm huy động nâng cao khả năng huy động vốn. Trong những thời điểm mà thị trường tiền tệ có những diễn biến phức tạp, Vietcombank không chỉ đảm bảo tốt thanh khoản mà còn hỗ trợ cho một số ngân hàng bạn, góp phần đảm bảo an toàn thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Thanh toán quốc tế là một trong những hoạt động truyền thống của Vietcombank. Sự ra đời của Vietcombank đã gắn liền với nhiệm vụ thanh toán quốc tế. Với thế mạnh hàng đầu trong thanh toán quốc tế và mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp toàn cầu, mặc dù phải đương đầu với sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các NHTM khác, Vietcombank tiếp tục duy trì vị trí số 1 vững chắc trong thanh toán XNK chiếm 28% tổng kim ngạch thanh toán XNK của cả nước.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận với sự tiến bộ và phát triển của ngân hàng thế giới, tăng cường sự hợp tác phát triển giữa Vietcombank và các ngân hàng lớn trên thế giới, do đó Vietcombank có thể tiếp thu kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ quản lý điều hành của ngân hàng trên thế giới và những tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới. Vietcombank có điều kiện tranh thủ khai thác ngân hàng nước ngoài về vốn, công nghệ và trình độ quản lý.

Có thể thấy rằng uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của Vietcombank không chỉ được khách hàng trong nước đánh giá cao mà còn được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Liên tục nhiều năm liền, Vietcombank được các tạp chí, tổ chức danh tiếng như The Banker, Finacial Time, EuroMoney,… bình chọn là ngân hàng tốt nhất Việt Nam.

4.6.2. Những điểm còn hạn chế của ngân hàng Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Hai năm qua, thị trường tài chính tiền tệ ngân hàng trong nước và trên thế giới gặp nhiều khó khăn và có những diễn biến hết sức bất lợi. Những khó khăn này sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới, các rào cản mang tính bảo hộ kinh tế trong nước nói chung và ngành tài chính ngân hàng nói riêng về cơ bản phải bị dỡ bỏ hoàn toàn. Không nằm ngoài khó khăn đó, Vietcombank còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

Trong hoạt động kinh doanh của Vietcombank hiện nay, hoạt động tạo ra doanh thu và thu nhập chính vẫn là hoạt động tín dụng (chiếm 70% tổng doanh thu và thu nhập của ngân hàng). Trong khi đó, doanh thu và thu nhập từ các hoạt động dịch vụ chiếm không quá 30%. Cơ cấu này không thể thay đổi trong ngắn hạn, do đó, nó chính là cản trở đối với Vietcombank trong thời gian tới. Định hướng đối với một ngân hàng hiện đại là phải tăng dần tỷ trọng doanh thu và thu nhập từ dịch vụ và giảm dần tỷ lệ tương ứng đối với các hoạt động tín dụng, đây là vấn đề không thể giải quyết trong thời gian ngắn.

Thị phần của Vietcombank đang bị giảm. Trên thực tế đã có nhiều khách hàng không tiếp tục hợp tác với Vietcombank mà đã chuyển sang các NHTM CP. Vì các NHTM CP thời gian qua đã đưa ra chiến lược cạnh tranh rất hiệu quả, họ chấp nhận chịu thiệt trong thời gian này để thu hút khách hàng và thực tế họ đã làm được. Hơn thế nữa, sắp tới đây, khi các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam thì việc cạnh tranh để giành khách hàng sẽ còn khốc liệt hơn.

Cơ cấu thu nhập của chúng ta chưa hợp lý, tỷ trọng thu ngoài lãi nói chung và thu từ dịch vụ nói riêng còn thấp, tỷ trọng cho vay khu vực ngoài quốc doanh chưa cao. Điều này chứng tỏ chủ trương xây dựng ngân hàng theo mô hình đa năng, chủ trương chú trọng phát triển bán lẻ của ngân hàng chưa hiện thực, mặt khác tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng khá cao.

Tuy nhiên tồn tại lớn nhất của Vietcombank hiện nay của Vietcombank là: sức ỳ. Có lẽ đó chính là hệ quả của cơ chế nhà nước đã đi theo trong suốt những năm qua và vẫn còn đang tiếp tục đến bay giờ. Mặc dù đã chuyển đổi hình thức hoạt động là một ngân hàng thương mại cổ phần nhưng vẫn chưa tạo được sự chuyển đổi mạnh mẽ về hoạt động, quản trị điều hành,… Ngân hàng vẫn chưa chủ động và linh hoạt như các ngân hàng cổ phần khác.

4.7.Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng Vietcombank Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

4.7.1. Mở rộng và nâng cao nguồn vốn hoạt động

Vốn chủ sở hữu là yếu tố cơ bản quyết định sức mạnh tài chính của ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cũng như khả năng cạnh tranh. Tăng vốn chủ sở hữu của Vietcombank là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quá trình phát triển của ngân hàng. Mặc dù vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản có nhưng đóng vai trò then chốt quyết định quy mô, khả năng cạnh tranh và mức độ chống đỡ bù đắp rủi ro. Đến năm 2026, lượng vốn chủ sở hữu cần có của Vietcombank để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế cũng như phục vụ cho mở rộng phát triển Tập đoàn đầu tư tài chính ngân hàng đa năng sẽ khoảng 17.500 tỷ VND- đồng nghĩa với việc tổng lượng vốn phải tăng thêm trong giai đoạn 2025- 2026 khoảng 7.000 tỷ VND. Sau đây là một số giải pháp trong việc tăng vốn chủ sở hữu:

Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu: Biện pháp này có thể làm tăng sự tự chủ về tài chính của ngân hàng trong tương lai nhưng chi phí phát hành cao hơn các phương thức khác

Tăng vốn bằng phát hành trái phiếu dài hạn: là biện pháp hiệu quả để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàng đáp ứng yêu cầu trước mắt, nhưng về bản chất đây chỉ là tăng vốn tự có trên danh nghĩa, còn về lâu dài sẽ là một gánh nặng nợ nần, đồng thời chi phí vốn cao sẽ làm suy giảm mức lợi nhuận của ngân hàng.

Tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành trái phiếu chuyển đổi: là một biện pháp được nhiều ngân hàng quan tâm. Lợi thế của biện pháp này là tạo ra nguồn vốn có thể sử dụng lâu dài và không làm thay đổi quyền sở hữu của các cổ đông, phần trả lãi tính vào chi phí trước thuế, do vậy làm giảm thuế phải nộp. Tuy nhiên, lãi suất của trái phiếu lại không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh cuối cùng của ngân hàng. Vì vậy, đòi hỏi ngân hàng phải có kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ phát hành trái phiếu chuyển đổi để tỷ lệ sinh lời của tài sản bằng phát hành trái phiếu lớn hơn chi phí trả cho trái phiếu thì lợi nhuận sau thuế sẽ tăng lên.

4.7.2. Nâng cao và phát triển công nghệ Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Áp dụng công nghệ hiện đại là yếu tố không thể thiếu khi phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng. Do vậy, trong thời gian tới, yêu cầu hệ thống tin học phải được nâng cao về tính năng và cả độ ổn định, giảm thời gian giao dịch, tăng tốc độ xử lý giao dịch và phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý theo mô hình mới.

Đảm bảo tính bảo mật và an toàn trong kinh doanh, đồng bộ thống nhất của toàn hệ thống. Đây là việc làm rất cần thiết để phòng tránh những rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động của ngân hàng, tăng độ an toàn, ngăn ngừa tội phạm tin học, tăng niềm tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ của NH.

4.7.3. Phát triển và nâng cao chất lượng cán bộ ngân hàng.

Trong dài hạn, nguồn nhân lực là nguồn lực được đánh giá là quan trọng nhất của ngân hàng Vietcombank. Một đội ngũ lao động được tuyển dụng, đào tạo và trả lương hợp lý là cơ sở để các ngân hàng khai thác tối ưu những nguồn lực về vốn và công nghệ, tạo ra những lợi thế cạnh tranh cao cấp. Nhiệm vụ nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực là một nhiệm vụ mang tính chiến lược và cấp bách không chỉ để giải quyết nhu cầu cạnh tranh hiện tại mà còn nhằm đáp ứng chiến lược phát triển lâu dài. Vietcombank cần phải xây dựng được một chiến lược về quản trị nguồn nhân lực và thiết lập cơ chế thực thi chiến lược đó một cách có hiệu quả.

Bên cạnh chế độ lương, thưởng hàng năm, các chính sách đãi ngộ khác như chế độ bảo hiểm cho nhân viên, các chế độ về chăm sóc sức khỏe… cũng là những thành phần rất quan trọng trong chính sách nhân sự của ngân hàng góp phần động viên nhân viên, đặc biệt tạo ra sự gắn bó lâu dài của các nhân viên với ngân hàng.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh và hội nhập sâu rộng, nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện quan trọng, có ý nghĩa sống còn, giúp Vietcombank tồn tại vững mạnh và phát triển, khẳng định vị thế dẫn đầu của mình trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, từng bước vươn ra thị trường khu vực và thế giới.

Thông qua việc phân tích họat động kinh doanh của ngân hàng ta thấy được những một số những thành tựu, đã đạt được của ngân hàng trong thời gian qua. Thấy được năng lực tài chính cũng như kinh doanh của ngân hàng. Những thành quả mà ngân hàng Vietcombank đạt được là kết quả của cả một hệ thống, của sự nỗ lực vươn lên của cán bộ nhân viên toàn bộ hệ thống. Những tinh thần này càng cần thiết hơn trong thời gian tới khi mà chúng ta đã hội nhập với thế giới.

Qua đó tập trung phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Vietcombank so với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh những kết quả mà ngân hàng đã đạt được thì ngân hàng cũng còn nhiều điểm hạn chế. Tuy Vietcombank hiện đang là ngân hàng dẫn đầu trong các ngân hàng thương mại Việt Nam nhưng vẫn còn những mặt hạn chế, và để có thể giữ vững vị trí như vậy, đặc biệt để theo kịp các ngân hàng thương mại quốc tế. Là một trong những NHTM Việt Nam, Ngân hàng Vietcombank cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh như thế nào để phát triển bền vững trong xu thế hội nhập. Để hội nhập quốc tế thì Vietcombank cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để phát huy các nguồn lực hiện có, tận dụng thế mạnh và thời cơ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.2. Kiến nghị.

5.2.1. Đối với ngân hàng

Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác marketing để thu hút khách hàng gửi tiền. Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, rộng rãi về các dịch vụ ngân hàng, các hình thức và chính sách huy động vốn,thu hút tiền gửi… để khách hàng biết về các dịch vụ ấy. Tổ chức bộ phận chăm sóc khách hàng, phân khúc thị trường và khách hàng để xác định thị trường và khách hàng mục tiêu, từ đó có chiến lược kinh doanh hợp lý. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Nâng cao hiệu quả huy động vốn: cần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Tăng vốn chủ sở hữu của Vietcombank là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quá trình phát triển của ngân hàng. Mặc dù vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản có nhưng đóng vai trò then chốt quyết định quy mô, khả năng cạnh tranh và mức độ chống đỡ bù đắp rủi ro. Tăng vốn chủ sở hữu bằng việc phát hành trái phiếu, phát hành cổ phiếu, thu hút nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước tham gia góp vốn mua cổ phần.

Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và triển khai các dịch vụ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ. Triển khai rộng rãi các hoạt động dịch vụ thanh toán điện tử, đầu tư và ứng dụng rộng rãi các công cụ thanh toán mới theo tiêu chuẩn quốc tế.

Đẩy mạnh ứng dụng các nghiệp vụ phái sinh, tăng cường các biện pháp khơi tăng nguồn ngoại tệ, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Phát triển và mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý.

Nâng cao năng lực quản lý, điều hành. NHNT hoạt động với mạng lưới rộng khắp, ở nhiều mức độ khác nhau nên quản lý rất phức tạp. NHNT cần xây dựng cơ chế kinh doanh mới để nâng cao năng lực quản trị điều hành. Thực hiện phân công phân, phân nhiệm rõ ràng giữa các phòng ban cũng như ở từng vị trí điều hành, đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự điều hành minh bạch, thông suốt.

Xây dựng chế độ lương thưởng hợp lý theo hường khuyến khích người lao động có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngân hàng. Tạo môi trường làm việc thuận tiện, có cơ hội thăng tiến đối với người giỏi… nhằm tạo động lực khuyến khích nhân viên làm việc có hiệu quả hơn.

Có kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần được hình thành trên cơ sở quy trình quản lý và chuẩn hóa cán bộ. Trong đó việc chuẩn hóa cán bộ căn cứ vào yêu cầu tối thiểu phải đáp ứng về năng lực phẩm chất, học vấn và kinh nghiệm, yêu cầu về kỹ năng của từng loại chức danh công việc trong ngân hàng. Việc đào tạo nguồn nhân lực của ngân hàng phải kết hợp nhiều hình thức, trong đó đặc biệt đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao nguồn nhân lực hiện có theo yêu cầu mới, kết hợp đào tạo kỹ năng nghiệp vụ với việc nâng cao đạo đức phẩm chất nghề nghiệp của cán bộ nhân viên ngân hàng, kết hợp đào tạo với sàng lọc và cơ cấu lại bộ máy, mạng lưới giao dịch. Đào tạo kiến thức quản trị ngân hàng đáp ứng yêu cầu quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế thông qua các chương trình, dự án đào tạo quốc tế kết hợp cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài.

Xây dựng thương hiệu Ngân hàng Thương Mại cổ phần Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Ngân hàng cần lựa chọn phạm vi xây dựng thương hiệu trên chiến lược phát triển thị trường của mình: ngân hàng nên tận dụng thế mạnh của mình để phát triển trên các phân đoạn thị trường mình lựa chọn như: phát triển trên thị trường thẻ tín dụng quốc tế và thanh toán quốc tế…

NHNT cần xây dựng các biểu tượng bề ngoài của ngân hàng mình: Văn hóa ngân hàng còn thể hiện qua các biểu tượng của ngân hàng như: trang phục của nhân viên, cách bài trí trụ sở, hình thức cụ thể của sản phẩm như: logo…Hiện nay logo của Vietcombank là 3 chữ VCB màu xanh lá cây biểu tượng sức sống hồi sinh.

5.2.2. Kiến nghị đối với nhà nước Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Ngân hàng nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân hàng bao bồm Luật NHNN, luật các tổ chức tín dụng, đồng thời tiếp tục triển khai áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong kinh doanh ngân hàng phù hợp với quy định và cam kết hội nhập, nâng cao độ an toàn, khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và Vietcombank nói riêng.

Cần soạn thảo các chính sách, văn bản hướng dẫn cụ thể về hoạt động ngân hàng để các ngân hàng dễ dàng tuân thủ và hoạt động theo hướng dẫn của ngân hàng nhà nước, đặc biệt khi ngân hàng nhà nước áp dụng chính sách mới

Áp dụng các quy phạm quốc tế để các doanh nghiệp trong và ngoài nước đều bình đẳng trong thực hiện và công bằng khi áp dụng chuẩn mực đánh giá.

Xây dựng hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô đồng bộ và ổn định, đáng tin cậy tạo môi trường hoạt động ngân hàng có hiệu quả và an toàn. Khóa luận: KQNC năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank.

Đổi mới cơ chế chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng; tách bạch hoàn toàn tín dụng chính sách và tín dụng thương mại.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Phân tích năng lực cạnh tranh ngân hàng Vietcombank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x