Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả kinh doanh tại công ty xăng dầu khu vực III dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Xăng dầu là một mặt hàng thiết yếu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, kinh doanh xăng dầu được coi là một ngành kinh tế trọng yếu, có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội. Ở nước ta kinh doanh xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh không chỉ có ý nghĩa đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn thực sự thúc đẩy sản xuất, góp phần ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, hướng dẫn và thay đổi cơ cấu tiêu dùng theo hướng văn minh, lợi ích hơn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của toàn bộ nền kinh tế. Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước là một vấn đề còn đang mới mẻ ở nước ta. Thực tế những năm qua, kinh doanh xăng dầu đã đạt được những kết quả nhất định. Song khó khăn tồn tại không phải là ít: sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh doanh xăng dầu tiến hành chưa mạnh mẽ so với một số lĩnh vực khác; môi trường kinh doanh xăng dầu ngày càng biến động và thay đổi; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế đất nước đang tăng nhanh nhu cầu xăng dầu. Nhiều vấn đề về kinh doanh xăng dầu trong tình hình mới đang đặt ra những yêu cầu mới hết sức bức xúc nếu không đổi mới tích cực sẽ không đáp ứng được tình hình đó.
Công ty xăng dầu khu vực III, là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng công ty xăng dầu Việt Nam, là đại diện của PETROLIMEX tại Hải Phòng, có nhiệm vụ tổ chức kinh doanh cung cấp xăng dầu cho các đơn vị kinh tế, quốc phòng và tiêu dùng xã hội trên địa bàn Hải Phòng và khu vực lân cận
Nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp nói chung và của công ty xăng dầu khu vực III nói riêng là phải đẩy mạnh bán hàng với mục đích cuối cùng là đem lại lợi nhuận cao. Do đó công tác kế toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả kinh doanh nhằm bảo toàn vốn và phát triển kinh doanh thực sự là một vấn đề có ý nghĩa lớn lao cả về lý luận và thực tiễn.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại công ty xăng dầu khu vực III Hải Phòng, tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài sau: “Kế toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả kinh doanh tại công ty xăng dầu khu vực III”
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được chia làm ba phần:
- Phần I: Những vấn đề lý luận chung về công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp
- Phần II: Thực trạng tổ chức hạch toán tiêu thụ, xác định và phân phối kết quả kinh doanh tại công ty xăng dầu khu vực III
- Phần III: Hướng hoàn thiện kế toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả kinh doanh tại công ty xăng dầu khu vực III.
Do thời gian có hạn, tài liệu nghiên cứu không nhiều chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những nhận xét và ý kiến đóng góp để đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Năm và các thầy cô giáo, sự tạo điều kiện giúp đỡ của lãnh đạo công ty Xăng dầu khu vực III, các nhân viên phòng kế toán, phòng kinh doanh…để tôi hoàn thành đề tài này.
PHẦN III HƯỚNG HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ, XÁC ĐỊNH VÀ PÂN PHỐI KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC III Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
3.1. Nhận xét chung về công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty xăng dầu khu vực III
3.1.1. Về ưu điểm
Cùng với sự phát triển của đất nước trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu giữ vững thị trường và tăng trưởng nhanh là trách nhiệm và mong muốn của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Với một lịch sử lâu đời hơn 50 năm trưởng thành và phát triển Công ty ngày nay đã trở thành một trong những doanh nghiệp lớn trong ngành xăng dầu Việt Nam với trang thiết bị hiện đại, trình độ kỹ thuật cao và đội ngũ cán bộ lành nghề có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm quản lý.
Hệ thống quản lý nói chung và bộ máy kế toán nói riêng của công ty Xăng dầu khu vực III đã không ngừng tìm tòi, hoàn thiện và nâng cao để đáp ứng nhu cầu kinh doanh ngày càng đa dạng của công ty. Ngày nay hệ thống kế toán của công ty được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, gọn nhẹ, nắm chắc chức năng của từng bộ phận mình quản lý.
Qua thực tế cho thấy, công tác kế toán nói chung và kế toán tiêu thụ nói riêng ở công ty đã đảm bảo được đúng yêu cầu thống nhất phạm vi tính toán chỉ tiêu kinh tế giữa kế toán và các bộ phận có liên quan cũng như nội dung của công tác kế toán, đồng thời đảm bảo cho số liệu kế toán phản ánh một cách chính xác, trung thực, hợp lý, rõ ràng, dễ hiểu tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý kinh doanh ở công ty. Trong quá trình hạch toán đã hạn chế ghi trùng lặp nhưng đảm bảo tính thống nhất các nguồn số liệu ban đầu. Do đó việc tổ chức công tác kế toán tại công ty là phù hợp với điều kiện thực tế tại công ty.
Với một mạng lưới kinh doanh lớn (nội và ngoại thành Hải phòng và một số tỉnh lân cận) công ty áo dụng hình thức kế toán vừa tập trung vừa phân tán là rất hợp lý. Việc bố trí tại các cửa hàng một kế toán để ghi chép và theo dõi việc tiêu thụ hàng hoá diến ra hàng ngày đã kịp thời phản ánh được các thông tin cần thiết cho nhà quản lý, giúp cho lãnh đạo công ty có quyết định chính xác, kịp thời khi có những vàn đề khó khăn trong kinh doanh , tránh được tình trạng tiêu cực trong quản lý.
Công ty luôn chấp hành đầy đủ các chính sách và chế độ tài chính kế toán của Nhà nước. Tổ chức mở các sổ kế toán hợp lý, phản ánh giám đốc tình hình tiêu thụ hàng hoá đầy đủ chính xác. Do đó, góp phần không nhỏ trong việc quản lý tài sản của công ty trong lĩnh vực lưu thông. Đặc biệt để phục vụ công tác quản lý kih tế kế toán công ty đã trang bị một hệ thống máy vi tính hiện đại công tác kế toán được thực hiện trên máy với một phần mềm thống nhất được hệ thống hoá cao, giúp cho việc cập nhật vào sổ sách kế toán đơn giản, gọn nhẹ. Hàng ngày, khi nhận được chứng từ kế toán, kế toán cập nhật vào máy khi cần sẽ in ra để đối chiếu so sánh, Cụ thể sơ đồ như sau:
Với việc áp dụng kế toán máy đã giúp được cho công tác quản lý dữ liệu được đảm bảo an toàn nhằm giảm bớt được khối lượng công việc phải ghi chép bằng tay cho kế toán viên. Đồng thời với việc đưa vào sử dụng mạng cục bộ trong toàn bộ công ty, kết nối các phòng ban chức năng, các bộ phận, các cửa hàng với nhau giúp cho kế toán nắm bắt được các thông tin cần xử lý một cách nhanh chóng, kịp thời. Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
Việc sử dụng các chứng từ kế toán trong nghiệp vụ tiêu thụ kinh doanh cũng như trong các nghiệp vụ kế toán khác trong công ty là hợp lý, tuân thủ đúng nguyên tắc ghi chép, luân chuyển chứng từ theo chế độ tài chính hiện hành.
Chứng từ kế toán được quản lý chặt chẽ mang tính pháp lý cao. Tại phòng nghiệp vụ của công ty khi phát sinh nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá thì các chứng từ đều được lập đầy đủ, các chứng từ đó được lập tức chuyển về phòng kinh doanh – phòng kế toán trong ngày hoặc đầu giờ ngày hôm sau như vậy chứng từ kế toán được theo dõi thường xuyên và chặt chẽ.
Các tài khoản kế toán được mở phù hợp với chế độ kế toán hiện hành đồng thời phù hợp với các đặc điểm của mô hình hạch toán kinh doanh ngành xăng dầu, việc sử dụng tài khoản 136, 336 để hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong nội bộ ngành trong thực tế tỏ ra rất có hiệu quả và đã được kiểm chứng qua nhiều năm áp dụng.
Tiêu thụ hàng hoá là khâu quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty; nó liên quan đến việc xác định lợi nhuận và thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, phản ánh sự vận động tiền hàng trong lưu thông. Với chủng loại hàng hoá nhiều, đa dạng và phong phú công ty đã tổ chức công tác tiêu thụ một cách khoa học, rất nhạy bén, linh hoạt đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh doanh của công ty. Theo đó công tác kế toán tiêu thụ cũng rất nhạy bén trong việc vận dụng sổ sách kế toán thể hiện ở việc mở các bảng kê tổng hợp và chi tiết để theo dõi tình hình tiêu thụ. Trên mỗi bảng kê đã phản ánh được mỗi nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá phát sinh cả về giá vốn lẫn giá bán, đồng thời phản ánh được cả về số lượng hàng xuất theo từng loại, thể tích. Việc ghi chép sổ sách thuận lợi cho việc đối chiếu, kiểm tra các hệ thống sổ sách với bảng kê.
Để phản ánh kết quả tiêu thụ, kế toán tổng hợp còn lập phụ biểu báo cáo kết quả tiêu thụ hàng hoá trong tháng, phụ biểu này được cụ thể hoá trong từng phương thức tiêu thụ, từng mặt hàng tiêu thụ và xác định được khoản chiết khấu thừa, thiếu trong kỳ.
Ở công ty sử dụng phương pháp thẻ song song để hạch toán tồn kho. Tại các kho, thủ kho mở các thẻ kho để theo dõi về mặt số lượng hàng nhập, xuất, tồn các loại hàng hoá riêng biệt. Ở phòng kế toán công ty mở bảng kê để theo dõi cả về mặt số lượng và giá trị. Có thể nói việc mở sổ sách như vậy đã không trùng lặp, giúp kế toán nắm được giá trị hàng tồn kho của từng loại cũng như theo dõi được giá trị bên nhập xuất hàng hoá.
Đối với phương thức bán lẻ thu tiền trực tiếp đã tạo thuận lợi cho khách hàng trong việc thanh toán tiền hàng và thuận lợi cho công tác quản lý tiền hàng. Hàng ngày công ty có bộ phận kế toán thu hồi công nợ tại các cửa hàng hay các nhân viên cửa hàng phải kiểm tiền, nộp tiền và báo cáo bán hàng lên phòng kế toán công ty.
Công tác ghi chép sổ sách kế toán và phương thức tính toán tại công ty xăng dầu khu vực III Hải Phòng có rất nhiều ưu điểm như:
Hệ thống sổ sách sử dụng ghi chép hợp lý, đảm bảo đúng và đầy đủ theo quy định của Nhà nước.
Đáp ứng được yêu cầu về thông tin của lãnh đạo nhờ có hệ thống sổ sách ghi chép rất chi tiết về tưng loại hình, mặt hàng sản xuất kinh doanh trong công ty.
Công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung rất phù hợp đối với một công ty kinh doanh thương mại, khả năng của đội ngũ chuyên môn được khai thác triệt để giảm nhẹ khối lượng công việc ghi sổ kế toán, các nhân viên trong phòng kế toán được bố trí công tác phù hợp với trình độ và khả năng.
Nói tóm lại, công tác kế toán của công ty phản ánh khá đầy đủ chặt ché có hệ thống quá trình tiêu thụ hàng hoá góp phần to lớn cho việc ra các quyết định xử lý của các cấp lãnh đạo. Đặc biệt có thể khẳng định việc áp dụng mạng vi tính đã đem lại hiệu quả cao trong công tác kế toán.
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, công tác kế toán tiêu thụ hàng hóa ở công ty còn một số hạn chế.
3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
Về công nợ khách hàng: hiện nay TK 131 của công ty được chưa thành TK 1311: phải thu của khách hàng và TK 1312: phải thu của cửa hàng. Hai tài khoản này đều được mở theo dõi chi tiết theo từng khách hàng và cửa hàng theo bộ mã khách hàng thống nhất trên toàn công ty, thông qua bảng kê chi tiết công nợ (TK 1311, 1312, chi tiết theo mã khách hàng), TK 1311 đã chi tiết theo đúng mã của từng khách hàng, tuy nhiên TK 1312 lại chỉ thể hiện công nợ tổng hợp của một cửa hàng ( chỉ theo dõi chi tiết theo mã cửa hàng), do vậy khi lập báo cáo kế toán quản trị – báo cáo công nợ khách hàng, kế toán công nợ phải thu thập bằng tay số liệu chi tiết từng khách hàng nợ của từng cửa hàng (thông qua báo cáo các cửa hàng gửi lên), như vậy thông tin rất chậm và việc theo dõi tiến độ thanh toán của khách tại các cửa hàng là hoàn toàn bị động (kế toán chỉ nắm được tổng số cửa hàng cho các khách hàng nợ mà không biết chi tiết nợ của từng khách hàng tại cửa hàng đó).
Do toàn bộ doanh thu bán hàng được phản ánh qua tài khoản công nợ 131 ngay cả khi khách hàng trả tiền trực tiếp, sau đó kế toán bán hàng mới lên phiếu thu làm thủ tục nhập tiền vào quỹ, do đó không thể hiện được mối liên quan giữa hai dòng tiền và hàng, thực tế Kế toán công ty rất khó theo dõi việc thanh toán của khách hàng cho từng chuyến hàng đã mua.
Việc kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ là điều kiện không thể thiếu được trên mạng lưới pháp lý. Tại công ty việc này được thực hiện thường xuyên hàng ngày nhưng vẫn có trường hợp hoá đơn luân chuyển đến khâu cuối cùng còn bị thiếu chữ ký của người nhận hoặc chữ ký của thủ trưởng đơn vị (ở các cửa hàng bán lẻ).
Quy định của công ty về việc quản lý các cửa hàng bán lẻ phải nộp tiền bán hàng hàng ngày, 5 ngày gửi chứng từ xuất bán về Công ty một lần, nên trong 5 ngày đó công ty không giám sát được việc các cửa hàng có nộp tiền bán hàng vào ngân hàng hay không. Nếu các cửa hàng để tiền tồn nhiều tại quỹ sẽ không đảm bảo an toàn tài chính. Một số cửa hàng lớn như Quán Toan, Trạm vận chuyển kinh doanh xăng dầu đường thuỷ…được công ty giao cho thực hiện các hợp đồng bán buôn do công ty ký kết và định kỳ 10 ngày báo cáo tình hình công nợ khách hàng về công ty, tuy có ưu điểm là tạo sự chủ động cho các cửa hàng trong việc tiếp cận với khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc liên hệ mua và thanh toán tiền hàng nhưng có điểm chưa chặt chẽ là:
Công ty chưa giám sát được kịp thời diễn biến công nợ của khách hàng lớn mua tại các cửa hàng bán lẻ.
3.2. Những đề xuất và biện pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiêu thụ hàng hóa tại công ty xăng dầu khu vực III. Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
3.2.1. Hoàn thiện phương pháp hạch toán hàng tồn kho.
Hàng ngày theo kế hoạch đề nghị cấp hàng của các cửa hàng bán lẻ trực thuộc Công ty, Phòng kinh doanh lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ xuất di chuyển hàng xuống các cửa hàng , nhưng lượng hàng này chưa được hạch toán thể hiện việc xuất di chuyển nội bộ công ty.
Công ty cần mở sổ chi tiết theo dõi và hạch toán chi tiết theo từng kho như mẫu sau để kế toán kho hàng theo dõi kịp thời lượng hàng nhập xuất tại các cửa hàng, tránh tình trạng báo cáo sai lệch lượng hàng xuất bán trong ngày hoặc trong tháng, dẫn đến phản ánh không chính xác kết quả kinh doanh trong kỳ và đảm bảo an toàn tài chính.
Công ty không sử dụng tài khoản 157 phản ánh lượng hàng gửi đi bán, khi xuất hàng bán cho khách mà chưa đủ điều kiện để phát hành hoá đơn bán hàng, công ty chỉ làm phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ để tiến hành chuyển lượng hàng này qua một kho trung gian được gọi là kho thủ tục, tới khi đầy đủ thủ tục để xuất hoá đơn bán hàng cho khách, công ty mới tiến hành xuất bán lượng hàng này từ kho thủ tục . Thực chất đây là lượng hàng mà công ty đã xuất bán không còn tồn tại trong kho hàng, phản ánh như trên sẽ làm sai lệch lượng tồn kho, ảnh hưởng tới việc áp tính giá vốn hàng bán, tính toán các chỉ tiêu hao hụt hàng hoá, sai lệch tồn kho khi kiểm kê…Đề nghị công ty sử dụng TK 157 để theo dõi lượng hàng này , khi hàng được xuất tới kho của khách, chưa phát hành hoá đơn, kế toán căn cứ phiếu xuất kho hạch toán Nợ TK 157 ( với giá vốn tại thời điểm xuất hàng). Như vậy lượng hàng phản ánh trên TK 157 này sẽ không còn được thể hiện trên các báo cáo hàng tồn kho.
Áp dụng phương pháp bán hàng giao tay ba: qua kho khảo sát thấy công ty xăng dầu khu vực III có nhiều trường hợp bán hàng thẳng từ kho B12 (kho đầu mối nhập hàng của công ty), tàu của công ty cập cảng B12 để nhập hàng rồi giao thẳng tới kho khách hàng hoặc sang mạn tàu khách mà không trở về nhập tại kho Thượng Lý. Trường hợp như vậy công ty vẫn hạch toán vào hàng tồn kho Nợ TK 156 – kho thủ tục và tiến hành viết phiếu xuất kho. Như vậy cũng làm cho TK 156 bị phản ánh sai, Công ty cần áp dụng phương pháp hạch toán bán hàng giao tay 3 cho trường hợp này : ghi thẳng Nợ TK 632/ Có TK 336 với giá vốn là giá đích danh.
3.2.2. Hoàn thiện phương pháp hạch toán chi phí bán hàng. Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý là hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc phát sinh vì bản chất như đã trình bày ở phần thứ nhất. Song công ty đã hợp nhất hai loại chi phí này vào thành chi phí bán hàng và được kế toán trên tài khoản 641 là không hợp lý. Làm như vậy sẽ gây khó khăn trong công ty trong việc quản lý khi muốn chú trọng đến các khoản chi phí quản lý. Đồng thời việc tập trung hai loại chi phí này sẽ không đảm bảo việc giám đốc các khoản chi về mục đích cũng như hiệu quả. Chi phí quản lý tập hợp trong chi phí bán hàng khiến cho việc phân bổ chi phí cho hàng tiêu thụ trong công ty không được chính xác vì chi phí quản lý có thể xác định cho nhiều kỳ kinh doanh. Mặc dù về tính toán thì kết quả không thay đổi song về mặt quản lý sẽ khó khăn trong việc xác định ảnh hưởng của từng nhân tố tới kết quả kinh doanh.
Để giải quyết những hạn chế trên kế toán nên sử dụng tài khoản 641 “chi phí bán hàng” và tài khoản 642 “chi phí quản lý doanh nghiệp”. Trong đó những khoản chi phí trực tiếp cho quá trình tiêu thụ hàng hoá nên đưa thẳng vào tài khoản 641, những khoản chi phí cho công tác quản lý nên đưa vào tài khoản 642.
Để chi tiết hơn có thể dùng các tài khoản chi tiết cho mỗi loại chi phí phát sinh. Việc làm này là cần thiết vì nó giúp kế toán chi phí xác định được kết quả cụ thể, chính xác, kiểm soát và hạn chế đối với những khoản chi không hợp lý và không đúng mục đích đồng thời nó cũng giúp cho việc phân tích đánh giá nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá được dễ dàng thông qua việc phản ánh đúng đắn chi phí bán hàng.
Ví dụ: Ngày 5/04/2010 phòng hành chính công ty thánh toán tiền điện, tiền điện thoại, dịch vụ Internet với tổng số tiền thanh toán là 150.000.000 (chưa thuế) trong đó tại các cửa hàng là 120.000.000, tại văn phòng công ty là 30.000.000, kế toán hạch toán ghi:
- Nợ TK 641: 150.000.000
- Có TK 112: 150.000.000
Khi mở thêm tài khoản 642, kế toán ghi:
- Nợ TK 641: 120.000.000
- Nợ TK 642: 30.000.000
- Có TK 112: 150.000.000
Đối với hoạt động sản xuất và dịch vụ: sửa chữa, bảo dưỡng xe cơ giới, lắp đặt các thiết bị chưa nhiên liệu…công ty cũng chỉ dùng tài khoản 641 để phản ánh chung cho cả giá vốn và chi phí kinh doanh đến cuối kỳ báo cáo khi tổng hợp lên báo cáo sản xuất kinh doanh và dịch vụ kế toán tổng hợp căn cứ vào doanh thu để phân bổ tổng chi phí thành giá vốn và chi phí kinh doanh cho loại hình này, như vậy việc phản ánh giá vốn và chi phí kinh doanh là chưa đúng. Công ty nên mở thêm các tài khoản 621, 622 để hạch toán giá vốn – chi phí kinh doanh cho hoạt động sản xuất và dịch vụ. Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
3.2.3. Hoàn thiện phương pháp hạch toán chi phí mua hàng.
Thực tế công ty không hạch toán các khoản chi phí thu mua, chi phí liên quan đến hàng mua vào tài khoản 1562 “chi phí mua hàng” mà đưa vào tài khoản 641 “chi phí bán hàng”. Như vậy là sai đối với chế độ kế toán hiện hành. Bản chất của chi phí mua hàng là gắn liền với giá trị của hàng hoá mua vào, chi phí này được phân bổ tỷ lệ với lượng hàng bán, việc đưa chi phí mua hàng vào tài khoản 641 đã không phản ánh đúng đắn chi phí bán hàng trong kỳ. Hàng hoá mua về trong kỳ không chỉ liên quan tới một kỳ hạch toán mà nó có thể còn tồn lại trong kỳ tiếp theo. Do đó toàn bộ chi phí mua hàng trong kỳ không thể đưa hết vào chi phí của kỳ đó mà còn phải được phân bổ sang cả kỳ tiếp theo nếu hàng còn tồn. Việc hạch toán khoản chi phí này tại công ty sẽ làm cho việc xác định kết quả kinh doanh trong kỳ thiếu chính xác gây khó khăn trong việc phân tích đánh giá công tác tiêu thụ hàng hoá giữa các kỳ hạch toán.
Từ những hạn chế trên việc sử dụng tài khoản 1562 “chi phí mua hàng” để hạch toán chi phí thu mua hàng hoá là cần thiết. Với đặc điểm là hàng hoá nhập khẩu giá trị cao, chi phí thu mua lớn thì việc tổng hợp, phản ánh, phân bổ chính xác chi phí mua hàng là rất quan trọng và thiết thực trong công tác kế toán tại công ty. Chi phí mua hàng hoá bao gồm thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, tiền thuê kho bãi, hao hụt định mức trong quá trình thu mua…
Việc hạch toán chi phí mua hàng nên được tiến hành theo đúng như chế độ kế toán hiện hành.
3.2.4. Hoàn thiện hình thức nhật ký chung sử dụng hạch toán tiêu thụ hàng hoá tại công ty.
Hàng ngày kế toán theo dõi giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng trên các sổ chi tiết đến cuối tháng tổng hợp số phát sinh trong tháng và lấy số liệu này để ghi thẳng vào sổ cái tài khoản 632 và tài khoản 641.
Cách ghi sổ như trên là không đúng với hình thức kế toán nhật ký chung (chế độ kế toán hiện hành) điều này không đảm bảo việc kiểm tra đối chiếu số liệu vào cuối tháng.
Để khắc phục hạn chế này, kế toán tiêu thụ nên mở sổ nhật ký chung để theo dõi hàng ngày. Hàng ngày khi có các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá phát sinh kế toán có thể vào sổ nhật ký phụ. Cuối tháng cộng các nhật ký phụ này lấy số liệu để ghi vào nhật ký chung. Mỗi bút toán phản ánh trong sổ nhật ký được chuyển vào sổ cái ít nhất cho hai tài khoản có liên quan.
Việc mở sổ cái như trên giúp cho kế toán tổng hợp vừa nắm được tình hình giá vốn, chi phí, doanh thu, lãi của quá trình tiêu thụ trong tháng nhằm thuận lợi trong việc đối chiếu với các sổ chi tiết và sổ tổng hợp khác.
3.2.5. Một số kiến nghị khác Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
Về tài khoản 1312 “phải thu tại cửa hàng”: thông qua khảo sát quy trình luân chuyển chứng từ và hạch toán từ cửa hàng lên tới phòng kế toán, tôi xin kiến nghị công ty xây dựng lại mô hình theo dõi công nợ khách hàng tại cửa hàng như sau: tài khoản 1312 được theo dõi bằng hai đối tượng liên quan: theo mã cửa hàng và theo mã khách hàng, như vậy công ty vừa có thể theo dõi tổng thể tiến độ bán hàng, thanh toán nợ tại một cửa hàng, vừa theo dõi được tình hình thanh toán của từng khách hàng tại cửa hàng đó. Hơn nữa với phương án này , phòng kế toán có thể lập tức tổng hợp được công nợ của một khách hàng mua hàng và nợ tại đồng thời nhiều cửa hàng ngay trên chương trình máy vi tính (hiện nay kế toán phải thu tập hợp công nợ của khách mua nợ tại nhiều điểm bán thông qua báo cáo của kế toán bán hàng).
Hiện nay, việc tích cực giảm thiểu công nợ khách hàng đang được lãnh đạo công ty đặt lên hàng đầu trong công tác quản lý kinh doanh, do vậy các chỉ tiêu: doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, công nợ bán buôn, công nợ bán lẻ luôn luôn là yêu cầu báo cáo hàng ngày mà kế toán doanh thu phải lập, vấn đề này chương trình kế toán máy chưa phục vụ được mà hoàn toàn phải thu thập số liệu thông qua phân tích thủ công (so sánh mã khách hàng trên báo cáo chi tiết công nợ với danh mục hợp đồng khách hàng mua hàng trả chậm do phòng kinh doanh cung cấp). Điều này làm giảm tiến độ báo cáo cũng như tính chính xác của báo cáo, không phục vụ được các bài toán phân tích kinh tế nhiều chiều: phân tích công nợ/doanh thu, phân tích tiến độ thanh toán thực tế so với định mức: thời hạn nợ – số dư nợ bình quân.
Về mặt quản lý công tác hạch toán kế toán công ty cần phải có các biện pháp kiểm sát chặt chẽ và thường xuyên hơn, thường xuyên tiến hành kiểm tra đột xuất tất cả các khâu trong quá trình hạch toán tiêu thụ cũng như đối với các nghiệp vụ khác, đặc biệt trong khâu kiểm tra các chứng từ ban đầu đảm bảo các chứng từ đó phải có đầy đủ cơ sở pháp lý.
Công tác quản lý tài chính cần có quy định chặt chẽ hơn nữa. Đối với tất cả các cửa hàng bán lẻ công ty đã được trang bị đầy đủ máy vi tính nối mạng với công ty, do đó yêu cầu hàng ngày cửa hàng phải báo cáo tình hình nhập xuất hàng và công nợ khách hàng để cán bộ theo dõi cửa hàng có thể nắm kịp thời tình hình bán hàng, nộp tiền hàng và công nợ của từng khách hàng đặc biệt là khách hàng mua lô lớn. Cán bộ kế toán ngoài kiểm tra định kỳ hàng năm nên kiểm tra đột xuất các cửa hàng về tình hình công nợ và thu nộp tiền hàng để đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính.
Đối với các đại lý bán hàng cho công ty cần kiểm tra chặt chẽ hơn: Lượng hàng tồn kho thực tế và tồn kho trên sổ sách, lượng hàng xuất bán thực tế với lượng hàng xuất bán trên báo cáo. Kiểm tra đột xuất các đại lý về tình hình thu nộp tiền hàng về công ty để tránh tình trạng các đại lý bán được nhiều hàng nhưng báo cáo ít đi và không chuyển nộp tiền hàng về công ty ngay theo như quy định.
Việc hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá ngoài hiệu quả mang lại đối với nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá nó còn góp phần nâng cao công tác tổ chức kế toán nói riêng và công tác tổ chức sản xuất kinh doanh nói chung của toàn công ty. Đối với các cấp quản lý việc hoàn thiện quá trình hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá tạo cho họ những số liệu thống kê chính xác, phản ánh đúng tình hình tiêu thụ nói chung của công ty và tình hình tiêu thụ của từng hình thức bán hàng, tạo ra sự thuận lợi trong kiểm tra và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Khóa luận: Kế toán tiêu thụ hàng hoá kinh doanh tại Cty xăng dầu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Xi măng
