Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh mở cửa hòa nhập như hiện nay, làm thế nào để doanh nghiệp tồn tại và phát triển luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý doanh nghiệp. Có rất nhiều yếu tố cấu thành lên sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà chúng ta có thể kể đến như: Vốn, máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng, thị trường, đối thủ cạnh tranh…Nhưng có một yếu tố mà chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của nó chính là yếu tố con người hay yếu tố lao động. Lao động là điều kiện đầu tiên, cần thiết, là yếu tố cơ bản có tác dụng quyết định trong quá trình sản xuất.

Quá trình sản xuất nói chung và quá trình sản xuất ở doanh nghiệp nói riêng đã được diễn ra thường xuyên, liên tục thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động. Người lao động phải có vật phẩm tiêu dùng để tái sản xuất sức lao động. Vì vậy khi người lao động tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải trả thù lao lao động cho họ. Trong nền kinh tế thị trường, thù lao lao động biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp sử dụng tiền lương là đòn bẩy khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động. Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao động là bộ phận cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ cho doanh nghiệp sáng tạo ra. Do vậy các doanh nghiệp phải sử dụng, quản lý lao động tiền lương có hiệu quả để tiết kiệm chi phí trong giá thành sản phẩm.

Tổ chức hạch toán lao động và tiền lương giúp cho doanh nghiệp quản lý lao động, tính đúng, tính đủ vào chi phí sản xuất theo từng đối tượng, hạch toán giá thành từ đó thúc đẩy tăng năng suất lao động, chấp hành tốt kỷ luật lao động. Hạch toán tiền lương là căn cứ để xác định giá thành, giá bán, các khoản nghĩa vụ phải nộp ngân sách Nhà nước và trả công cho người lao động đúng chế độ.

Với mong muốn tìm hiểu nghiên cứu và đối chiếu giữa những kiến thức đã học tại trường với thực tiễn tại doanh nghiệp, em xin lựa chọn chuyên đề cho khóa luận tốt nghiệp của mình: “ Hoàn thiện tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng”.

Bài khóa luận gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng.

Với kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, thời gian thực tập ngắn nên em chưa tìm hiểu đựơc nhiều, bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy giáo, cô giáo và các cô chú, anh chị ở Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng để hoàn thiện hơn công tác sau này. Em xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị trong Công ty Cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng và cô giáo hướng dẫn TS. Trương Thị Thủy đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm, bản chất của tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.

Khái niệm: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp.

  • Bản chất của tiền lương:

Người lao động làm việc trong một khoảng thời gian nào đó sẽ nhận được số  tiền trả công nhất định.Tiền trả công đó gọi là tiền lương. Số lượng tiền lương nhiều hay ít được xác định theo thời gian lao động hay số lượng sản phảm sản xuất ra. Hiện tượng đó làm người ta lầm tưởng rằng, tiền lương là giá cả cả lao động. Sự thật thì tiền lương không phải là giá cả hay giá trị của lao động. Vì lao động không phải hàng hóa và không thể là đối tượng mua bán. Trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao động trở thành hàng hóa, một hàng hóa đặc biệt.

Bản chất tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá của yếu tố sức lao động, tiền lương tuân theo nguyên tắc cung cầu giá cả của thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. Tiền lương chính là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, là đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động..

Tiền lương là một phạm trù kinh tế, là kết quả của sự phân phối của cải trong xã hội ở mức cao. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phận dân cư khác do không có vốn chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho những người có vốn và đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương. Tuy nhiên, cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, quan niệm về tiền lương có những thay đổi:

Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mac chỉ rõ, tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như giá cả lao động.

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ cống hiến. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Trong nền kinh tế thị trường, Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thoả thuận (theo hợp đồng lao động).

Tại điều 55, chương VI “Tiền lương” của bộ luật lao động ban hành năm 1994 có ghi: “Tiền lương của người lao động do 2 bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu qủa công việc”.

Khi nghiên cứu tiền lương có ba vấn đề quan trọng đặt ra là: người trả, căn cứ trả và nguồn chi trả:

Về người trả: trong nền kinh tế thị trường, người sử dụng lao động là người trực tiếp trả lương cho người lao động chứ không phải Nhà nước.

  • Căn cứ trả: giá trị sức lao động hao phí.

Nguồn chi trả: về nguyên tắc, phải xuất phát từ giá trị sử dụng của sức lao động, nghĩa là người lao động phải có “bản năng” tạo được một một giá trị cao hơn giá trị sức lao động của bản thân anh ta.

Một trong những vấn đề đang được đặt ra không chỉ là ai trả lương, mà quan trọng hơn là trả như thế nào và căn cứ để trả, trả trước hay sau trong quá trình lao động, trả theo kết quả lao động (phân phối theo lao động) hay trả theo giá trị sức lao động tiềm năng (theo đào tạo) hay trả theo giá trị sức lao động thực tế hao phí phù hợp với yêu cầu công việc (theo thị trường lao động hay theo giá trị vốn góp). Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (thời kì bao cấp) tiền lương thể hiện quy luật phân phối theo lao động- một quy luật đặc trưng riêng có của CNXH. Phân phối theo lao động chỉ thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hoá, theo đó Nhà nước đứng ra điều hành trực tiếp toàn bộ nền kinh tế xã hội, kể cả phân phối. Tuy nhiên, phân phối theo lao động tỏ ra không đủ và không hoàn toàn thích hợp trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh phân phối theo lao động còn có phân phối theo giá trị. Trong nền kinh tế thị trường, giá trị hàng hoá phải được xác định trước khi đem bán, và sức lao động là hàng hoá nên giá trị của nó phải được xác định trước như các hàng hoá khác, chứ không phải chỉ sau khi sử dụng xong. Hơn nữa, việc tham gia đóng góp tạo nên giá trị mới, đặc biệt là lợi nhuận có ý nghĩa sống còn đối với các hoạt động của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vì thế, sức lao động nào có "bản năng" tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó càng nhiều càng phải được trả lương cao hơn.. Tiền lương còn là sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Về nguyên tắc, người bán sức lao động ( người lao động) phải đưa ra giá trước và sau đó hai bên mặc cả và đi đến thoả thuận; sự thoả thuận đó phải được thể hiện trong hợp đồng lao động làm cơ sở pháp lý để trả lương cũng như giải quyết các tranh chấp lao động vốn rất dễ xảy ra do sự tách biệt giữa thoả thuận mua bán với sử dụng, thanh toán.

Tiền lương danh nghĩa: là khoản thu nhập mà người lao động nhận được sau khi làm việc dưới hình thức tiền tệ.

Tiền lương thực tế: là khối lượng tư liệu lao động sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể mua bằng tiền lương danh nghĩa. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Cái mà người lao động quan tâm là tiền lương thực tế vì nó phản ánh được nhu cầu mà người lao động cần để phục vụ cuộc sống từ việc ăn, ở, mua sắm…. Theo quy luật cung cầu thị trường, giá cả biến động nên thu nhập của người dân liên quan đến chỉ số giá cả tiêu dùng. Và tiền lương thực tế có quan hệ: LTT = LDN / LTD

Trong đó: LTT: Tiền lương thực tế, LDN: Tiền lương danh nghĩa, LTD: Chỉ số giá cả tiêu dùng.

Tiền lương cơ bản: còn được gọi là phần tiền lương cứng vì chúng thường cố định, ít thay đổi, còn tiền thưởng và các khoản tiền trả thêm khác thường được gọi là phần lương mềm vì chúng hay thay đổi và phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. tiền lương cơ bản = tiền lương cấp bậc + phụ cấp lương

Tiền lương cấp bậc: số lượng tiền được quy định phụ thuộc vào cấp bậc     (chức vụ) của người lao động theo bảng lương quy định, không bao gồm các khoản phải trả thêm khác.

Tiền lương cấp bậc = tiền lương tối thiểu x hệ số lương tương ứng .

Hiện nay mức lương tối thiểu chung (tính từ ngày 01/01/2010) là 880.000 đồng/tháng. Tùy theo từng ngành và các chức vụ nhất định có các hệ số lương tương ứng.

Phụ cấp lương: là những khoản tiền đc bổ sung ngoài tiền lương cấp bậc, nó đc quy định dưới dạng hệ số phụ cấp hoặc phần trăm tăng thêm so với tiền lương tối thiểu hoặc tiền lương cấp bậc.Đặc điểm:

Phụ cấp lương được trả khi một người nào đó phải hao phí sức lao động thêm do giữ một cương vị nào đó, làm việc trong điều kiện không bình thường, giá cả đắt đỏ hơn bình thường…khi các điều kiện trên thay đổi hay không còn sự chênh lệch trên thì phụ cấp cũng thay đổi hoặc không còn nữa.

Phụ cấp lương không phải là trợ cấp và cũng không phải là tiền thưởng vì nó là khoản tiền ổn định tương đối và không phải ai cũng được hưởng như nhau. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Phụ cấp lương có tính linh hoạt cao, không cố định, thường biến đổi khi người lao động thay đổi vị trí công tác và điều kiện lao động và chỉ chiếm một phần nhỏ so với lương cơ bản.

Khi cần khuyến khích động viên những người có trình độ, có mức lương cao vào những nơi cần thu hút người ta tính phụ cấp trên mức lương cấp bậc, còn khi ảnh hưởng của các yếu tố cần phụ cấp tác động như nhau đến mọi người tham gia thì phụ cấp tính theo lương tối thiểu.

  • Phân loại:

Phụ cấp khu vực: áp dụng đối với người làm việc ở vùng xa xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu.

Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc có điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm, đặc biệt độc hại, nguy hiểm mà chưa đc xác định trong mức lương.

Phụ cấp trách nhiệm công việc: áp dụng đối với thành viên không chuyên trách hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát ( không kể trưởng ban kiểm soát) và những người làm một số công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hoặc phải đảm nhiệm công tác quản lý không phụ thuộc chức danh lãnh đạo.

Phụ cấp lưu động: áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở.

Phụ cấp thu hút: áp dụng đối với người đến làm việc ở vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn.

1.1.2 Chức năng, ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

  • Chức năng, ý nghĩa của tiền lương:

Thước đo giá trị:Tiền lương là giá cả sức lao động, khoản tiền chúng ta nhận được sau quá trình lao động, vì thế tiền lương là biểu hiện bằng tiền của sức lao dộng. Nên tiền lương phải là thước đo giá trị sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động.Đây là một chức năng quan trọng của tiền lương.Sức lao động là khả năng làm việc của con người thể hiện qua thể lực và trí lực. Do giá trị của sức lao động có xu hương tăng qua các thời kì nên tiền lương co xu hướng tăng qua các thời kì.

Tái SX sức lao động:Tiền lương thực hiện chức năng tái SX sức lao động chính là khôi phục lại sức lao động dã mất trong quá trình SX. Nếu không thực hiện được chức năng này thì sức lao động sẽ không được phục hồi hoàn toàn, khả năng làm việc của con người bị giảm sút. Sức khỏe bị suy sụp, gây giảm hiệu quả SX ảnh hưởng xấu đến quá trình SX.

Chức năng kích thích sản  xuất: Chức năng này  đòi hỏi người quản lý phải sử dụng tiền lương như là đòn bấy kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Mỗi đồng lương trả cho công nhân phải được tính toán, phải gắn với kết quả lao động của họ, gắn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Tiền lương có hai mặt đối lập nhau, mặt tích cực và mặt tiêu cực. Khi mặt tích cực của tiền lương (kích thích sản xuất) bị hạn chế thì mặt tiêu cực lập tức nổi lên và tiền lương trở thành yếu tố kìm hãm sản xuất phát triển.

Chức năng tích luỹ (để dành): Tích luỹ là sự cần thiết khách quan đối với mọi người lao động. Trên thực tế thì tiền lương của người lao động nói chung không đủ chi dùng, vì thế, không có điều kiện để dành. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn buộc người lao động phải để dành thông qua đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc . Việc tiền lương không thực hiện được chức năng tích luỹ một cách chủ động đã gây nhiều khó khăn cho nhưng người không may gặp bất trắc cũng như những người hưu trí, vì thế, dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động đã tìm cách tự tích luỹ, kể cả các biện pháp tiêu cực.

  • Ý nghĩa, vai trò của các khoản trích theo lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Ngoài tiền lương (tiền công), để đảm bảo tái sản xuất sức lao động và cuộc sống lâu dài, bảo vệ sức khỏe và đời sống tinh thần của người lao động, theo chế độ tài chính hiện hành, doanh nghiệp còn phải trích vào chi phí sản xuất kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản trích: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.

BHXH: nhằm mở rộng và nâng cao việc đảm bảo vật chất góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, tử tuất, gặp rủi ro… BHXH đã tạo lập mạng lưới an toàn xã hội nhằm bảo vệ người lao động.

BHYT: nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe cho người lao động kể cả khi họ hết tuổi lao động. BHYT đã tạo lập mạng lưới bảo vệ sức khỏe cho toàn dân bất kể địa vị xã hội, mức thu nhập cao hay thấp.

KPCĐ: phục vụ  cho  các hoạt động của công đoàn  nhằm chăm lo  và bảo vệ quyền lợi của người lao động.

BHTN: Ngày 12/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Theo đó, từ ngày 1/1/2009 người lao động và các doanh nghiệp, các đơn vị phải bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Theo đó ít nhất đến năm 2010 người lao động bị thất nghiệp sẽ được nhận trợ cấp thất nghiệp. Đây là chính sách có tác động tực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động và an sinh xã hội nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ mất việc. Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng BHTN của người lao động; cụ thể là 3 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 6 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 9 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng, nếu có từ đủ 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

Việc tăng cường quản lý lao động, cải tiến và hoàn thiện việc phân bổ, sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, cải tiến và hoàn thiện chế độ tiền lương, chế độ sử dụng quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ được xem là phương tiện hữu hiệu để kích thích người lao động gắn bó với hoạt động sản xuất kinh doanh, rèn luyện tay nghề nâng cao năng suất lao động.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG TÀU BIỂN HẢI PHÒNG Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG TÀU BIỂN HẢI PHÒNG

  • Tên doanh nghiệp:Công ty cổ phần cung ứng tàu biển Hải Phòng
  • Tên giao dịch tiếng anh:Haiphong Shipchanco
  • Loại hình doanh nghiệp:Doanh nghiệp Nhà Nước
  • Loại hình kinh doanh:Thương mại và Dịch vụ
  • Năm thành lập:30/09/1961
  • Địa chỉ:Số 30 – Trần Phú – Ngô Quyền – Hải Phòng
  • Điện thoại:031.3920752
  • Mã số thuế:0200118111

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.

Sau ngày Hải Phòng giải phóng (13.5.1955) , 6 năm sau, ngày 30/9/1961, Công ty cung ứng tàu biển Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 624/BNT-QĐ-TCCB của Bộ ngoại thương. Là đơn vị đầu tiên và duy nhất được Nhà nước giao nhiệm vụ làm công tác kinh tế đối ngoại ở cảng biển Hải Phòng – một cửa ngõ quan trọng của miền Bắc và cả nước, với chức năng xuất khẩu tại chỗ: Cung ứng những nhu cầu tối thiểu cho tàu biển nước ngoài như lương thực, thực phẩm, dầu mỡ, nước ngọt, sửa chữa tàu biển. Tổ chức đưa đón sĩ quan thuyền viên đến cảng và người nước ngoài làm việc tại các cơ quan nước ngoài trên địa bàn thành phố và khu vực phía Bắc , giai đoạn (1961-1975 ) Công ty đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nhà nước giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khoảng thời gian từ năm 1961-1975, đã phục vụ  gần 40.000 lượt tàu biển của hơn 70 quốc tịch khác nhau từ khắp nơi trên thế giới cập cảng Hải phòng và cũng khoảng thời gian này, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 180 triệu USD, 40 triệu đola Hongkong.

Sau giải phóng miền Nam năm 1975, đất nước thống nhất, hầu như toàn bộ khung lãnh đạo của Công ty vào nắm giữ các vị trí cán bộ chủ chốt của các Công ty Công ty cung ứng tàu biển ở phía Nam.

Từ năm 1990, khi chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty gặp không ít khó khăn do biến động của thị trường. Tuy nhiên với truyền thống sẵn có cùng với sự đồng tâm hiệp lực, đoàn kết nhất trí của toàn thể CBCNV, công ty dần từng bước tháo gỡ từng khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Nhà nước giao bằng cách không ngừng củng cố về mọi mặt như: đầu tư nâng cấp khách sạn, cửa hàng, …ổn định tổ chức, đổi mới phương thức kinh doanh, phong cách phục vụ, nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh doanh, mở mang thêm các chức năng mà Nhà nước cho phép, tăng cường hợp tác kinh doanh với các bạn hàng trong nước và quốc tế như  Singapore, Hongkong , Inđo …các loại hình liên doanh liên kết với nước ngoài thời kỳ này đã mang lại những hiệu quả . Tuy nhiên nghề dịch vụ CUTB của công ty đã không duy trì phát triển là mũi nhọn như những năm trước đây, đây cũng là tồn tại cơ bản nhất làm cho thương hiệu SHIPCHANCO mờ nhạt dần với các bạn hàng trong nước và quốc tế .

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, theo tiến trình sắp xếp đổi mới doanh nghiệp, tháng 4/2004 – UBND thành phố HP có quyết định tiến hành cổ phần hoá Công ty. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Tháng 1/2005 – UBND thành phố thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá Công ty nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình để đảm bảo đúng tiến độ theo quy định..

Được sự chỉ đạo trực tiếp của thành phố, việc thực hiện cổ phần hoá của Công ty được tiến hành khẩn trương và đạt kết quả:

  • Xác định được lực lượng lao động dôi dư (130 người), làm thủ tục và hoàn thành việc chi trả chế độ theo NĐ 41 của Chính phủ.
  • Xác định được giá trị doanh nghiệp.
  • Tiến hành bán đấu giá cổ phần ra ngoài và bán cổ phần ưu đãi cho người lao
  • động trong doanh nghiệp.
  • Ngày 15.9.2005 –  Đại hội đồng cổ đông thành lập Công ty cổ phần cung ứng tàu biển HP được tổ chức và thành công tốt đẹp.
  • Ngày 1.1.2006 –  Công ty cổ phần cung ứng tàu biển HP chính thức đi vào hoạt động theo mô hình mới.

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.

Công ty cổ phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh như :

  • Dịch vụ cung ứng tàu biển: Cung cấp hàng hoá, lương thực, thực phẩm, nước ngọt sinh hoạt, xăng dầu và sửa chữa nhỏ tại chỗ cho tàu biển.
  • Kinh doanh bán hàng miễn thuế cho thủy thủ tại Cảng.
  • Kinh doanh xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư.
  • Kinh doanh khách sạn, nhà hàng, vật lý trị liệu, vui chơi giải trí và các loại hình dịch vụ khác được Nhà nước cho phép.
  • Dịch vụ du lịch lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế.
  • Tổ chức Hội chợ thương mại quốc tế (EXPO) vùng duyên hải và cảng biển Việt nam tại Hải Phòng.
  • Đại lý vận tải thủy, bộ và giao nhận hàng hoá.
  • Dịch vụ đưa người lao động và chuyên gia Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
  • Đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng

Với lĩnh vực chủ yếu là Kinh doanh bán hàng miễn thuế, khách sạn, nhà hàng (Khách sạn Cát Bi,Cửa hàng miễn thuế…).

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG TÀU BIỂN HẢI PHÒNG

3.1. NHẬN XÉT CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CUNG ỨNG TÀU BIỂN HẢI PHÒNG.

3.1.1 Nhận xét về công tác kế toán nói chung. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Việc tổ chức công tác kế toán tại công ty Cổ Phần Cung ứng tàu biển Hải Phòng là tương đối tốt.Bộ máy kế toán được tổ chức chuyên sâu, nhân viên đều là những người có năng lực đã có nhiều kinh nghiệm trong ngành.

Công ty áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ, là một hình thức dễ áp dụng đối với mọi loại hình doanh nghiệp. Sổ sách Kế toán tổng hợp như các: Sổ, thẻ Kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết, chứng từ ghi sổ, sổ cái được Công ty thiết kế đúng với chế độ Kế toán quy định.Hơn nữa kết hợp với việc sử dụng kế toán máy, mỗi nhân viên được trang bị 1 máy vi tính, khiến cho điều kiện làm việc luôn trong tình trạng tốt nhất.Việc nhập chứng từ, tính toán kết chuyển được trở lên đơn giản hơn.

Mỗi tháng bộ phận kế toán của doanh nghiệp đều tiến hành làm 1 bản báo cáo hiệu quả kinh doanh nhanh của tháng để trình Ban Giám Đốc.Điều này hết sức hữu ích cho việc đưa ra các quyết định, điều chỉnh kịp thời.

Bộ máy kế toán tương đối gọn nhẹ chỉ bao gồm 4 nhân viên: Kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán thu chi và thủ quỹ.

Công ty xây dựng hệ thống sổ sách, tổ chức ghi chép, hạch toán và bảo quản tương đối khoa học, phù hợp với mục đích, yêu cầu của chế độ kế toán.

3.1.2 Về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

  • Ưu điểm:

Việc tính toán lương và các khoản trích theo lương được thực hiển bởi kế toán tổng hợp cùng với sự phối hợp nhịp nhàng với các nhân viên còn lại.Việc này giúp việc tổng hợp chứng từ, nghiệp vụ được đầy đủ không có sự thiếu sót.

Hình thức trả lương được áp dụng là hình thức trả lương theo thời gian, đây là hình thức trả lương tương đối đơn giản và dễ tính và phù hợp với doanh nghiệp thương mại và dịch vụ.

Về hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. Trong công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương, công ty đã áp dụng hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán và Báo cáo kế toán theo đúng quy định của Nhà nước. Việc ghi sổ được kế toán tiền lương thực hiện đúng theo trình tự quy định, nghiêm chỉnh thực hiện những quy định chủ yếu trong luật lao động về tiền lương, khen thưởng, BHXH, BHYT, KPCĐ, thời gian nghỉ ngơi và kỷ luật của Bộ tài chính.

Việc được trang bị máy vi tính và phần mềm kế toán giúp việc tính toán trở lên dễ giàng hơn.

Mọi chỉ thị của Bộ tài chính về kế toán nói chung và kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương đều được kế toán viên nắm bắt kịp thời, giám sát được sai sót trong công tác hạch toán.

  • Hạn chế:

Việc trả lương theo hình thức thời gian bên cạnh ưu điểm, nó cũng bộc lộ những khuyết điểm của nó khi công ty chưa kết hợp được với việc khen, thưởng cho công nhân viên do đó thiếu đi sự kích thích cần thiết cho tinh thần làm việc của CNV.

Về thời gian thanh toán lương: Việc áp dụng hình thức trả lương theo thời gian lên tổng quỹ lương trả cho người lao động được tính toán ra là khá ổn định, ít biển đổi. Tuy nhiên công ty lại chỉ thanh toán lương 1 lần vào cuối tháng, điều này có thể không đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt cho công nhân viên, làm họ có thể thiếu tiền tiêu dùng trong khi thời hạn lĩnh lương chưa tới.

Về điều kiện, trang thiết bị: Việc trang bị máy tính, phần mềm kế toán là khá hữu ích. Tuy nhiên công ty mới áp dụng phần mềm quản trị doanh nghiệp, chưa áp dụng phần mềm kế toán chuyên sâu về tính lương, các khoản trích. Điều này chỉ thuận lợi cho việc kết chuyển chứ chưa đáp ứng được nhu cầu tính toán nhanh, chính xác.

Hiện nay ở công ty chưa có sự phân tích quỹ lương. So sánh lương kế hoạch với lương thực tế. Điều đó làm cho nhà quản lý không thể xác định đựơc việc thực hiện lương trong kỳ có đảm bảo đúng chỉ tiêu đặt ra hay không.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là một phần quan trọng góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy việc hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Việc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại mỗi doanh nghiệp không phải là vấn đề khó khăn, tuy nhiên việc hoàn thiện nó lại bao gồm tổng hợp rất nhiều yếu tố.

Thực tế tại công ty cổ phần cung ứng tàu biển Hải Phòng cho thấy, công việc hoàn thiện kế toán tiền lương đòi hỏi phải có một quá trình lâu dài và thấu đáo. Công ty đã và đang vận dụng chính sách tiền lương hiện hành của Nhà nước có bổ sung, chuyển đổi theo thực tế cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh theo từng giai đoạn phát triển của công ty khá hiệu quả. Điều này thể hiện trong công tác kế toán tiền lương của công ty, thu nhập của người lao động, tinh thần trách nhiệm của cán bộ công nhân viên và kết quả lao động của họ.Tuy có những điều chưa thực sự hoàn hảo, song vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp em tin công tác kế toán sẽ được hoàn thiện trong thời gian tới.

Trong quá trình học tập, do thời gian tìm hiểu không nhiều, kinh nghiệm thực tế cũng như trình độ của bản thân còn có nhiều hạn chế nên em chưa có cái nhìn tổng quát, bài viết chưa thể hiện đầy đủ, rõ rang, tỷ mỷ các vấn đề liên quan đến công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. Chuyên đề đi sâu vào việc nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của công tác hạch toán tiền lương  và các khoản trích theo lương của Công ty Cổ phần cung ứng tàu biển Hải Phòng và từ đó đưa ra một số phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương với mục đích góp phần phản ánh và tính toán chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty, đồng thời phát huy hơn nữa tác dụng tích cực chế độ hạch toán kinh tế trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường giúp công ty không ngừng lớn mạnh.

Sau cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS.Trương Thị Thủy – giảng viên hướng đẫn, ban giám đốc công ty và các bác, các cô phòng ban chức năng của Công ty cung ứng tàu biển Hải Phòng, đặc biệt là phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để hoàn thành chuyên đề khóa luận này. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty tàu biển.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty cơ điện

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x