Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần nạo vét và xây dựng đường thủy dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến cùng nền kinh tế trong nước phải đối mặt với vấn đề lạm phát đã đặt ra nhiều thách thức với các doanh nghiệp.Thách thức đó là: Lạm phát nhiều khiến chi giá cả hàng hóa leo thang, khiến cho người tiêu dùng cũng thắt chặt chi tiêu hơn, cẩn thận hơn trong việc lựa chọn sản phẩm vì vậy doanh nghiệp muốn có chỗ đứng trên thị trường thì doanh nghiệp phải đảm bảo giá thành của sản phẩm mà vẫn phải giữ chất lượng sản phẩm tốt. Và việc giảm giá thành sản phẩm cùng với đảm bảo chất lượng tốt liên quan chặt chẽ tới công tác quản lý và kế toán nguyên vật liệu.

Như chúng ta đã biết, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, nó chiếm phần tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu còn là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp quan trọng phản ánh trình độ quản lý, sử dụng vật tư, trình độ tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm, là cơ sở kế toán tính đúng chi phí sản xuất cho từng đơn vị sản phẩm và tổng giá vốn hàng bán. Nhất là trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, việc sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả là một mục tiêu quan trọng để doanh nghiệp thu được lợi nhuận nhiều nhất. Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu một cách hợp lý, khoa học phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng mà doanh nghiệp nào cũng muốn thực hiện được.

Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần nạo vét và xây dựng đường thủy I, em đã đi sâu vào tìm hiểu phần hành kế toán nguyên vật liệu và chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần nạo vét và xây dựng đường thủy”.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài của em gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
  • Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP Nạo vét và xây dựng đường thủy
  • Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP nạo vét và xây dựng đường thủy.

Do thời gian và trình độ có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.

Chương I Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

1.1. Những vấn đề chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

1.1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

Nguyên vật liệu là một trong những nhân tố cấu thành nên sản phẩm.Sau quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị của nó chuyển hết vào giá trị sản phẩm.Nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong quá trình xuất kinh doanh. Để đạt được mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận thì mục tiêu trước mắt là giảm giá thành sản phẩm. Quản lý nguyên vật liệu chặt chẽ là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận.

Kế toán là công cụ phục vụ cho quản lý nguyên vật liệu. Nó góp phần kiểm soát, tránh thất thoát, lãng phí nguyên vật liệu ở tất cả các khâu dự trữ, sử dụng, thu hồi,…

Ngoài ra còn đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời và đồng bộ để những doanh nghiệp nắm được tình hình vật tư để chỉ đạo tiến độ sản xuất. Hạch toán nguyên vật liệu phải đảm bảo chính xác, kịp thời và đầy đủ tình hình thu mua, nhập xuất dự trữ vật liệu.

Vì vậy cần thiết phải tổ chức công tác hạch toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp và có làm tốt điều này mới tạo được tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu lợi nhuận.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu.

  • Khái niệm

Bất kỳ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành quá trình sản xuất, mà quá trình sản xuất muốn tiến hành được phải cần có ba yếu tố cơ bản: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Ba yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Nguyên vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hóa như sắt, thép,…trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng cơ bản; bông,…trong các doanh nghiệp dệt, kéo sợi; vải,…trong các doanh nghiệp may; sản phẩm cây trồng trong các doanh nghiệp chế biến. Khác với tư liệu lao động, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, giá trị của nó chuyển hết vào giá trị sản phẩm mới làm ra. Chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí sản xuất để tạo ra sản phẩm. Nguyên vật liệu có chất lượng cao, đúng quy cách, chủng loại thì sản phẩm sản xuất ra mới đạt yêu cầu, nguyên vật liệu mua về mới tận dụng được tối đa vì vậy chi phí nguyên vật liệu được hạ thấp, giá thành hạ làm cho doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận cao, tồn tại được trong cơ chế thị trường.

Nguyên vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho, là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản xuất sản phẩm.

  • Đặc điểm

Nguyên vật liệu là đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mang những đặc điểm sau:

  • Tham gia vào một chu kỳ sản xuất để tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ.
  • Khi tham gia vào quá trình sản xuất, nguyên vật liệu thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu và giá trị được chuyển toàn bộ, một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh.

1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Xuất phát từ vị trí yêu cầu quản lý vật liệu cũng như vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng thì kế toán vật liệu trong doanh nghiệp cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:

Ghi chép, phản ảnh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của nguyên vật liệu về giá cả và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn (hoặc giá thành) thực tế của nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.

Kiểm tra tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về hạch toán nguyên vật liệu. Đồng thời hướng dẫn các bộ phận, các đơn vị trong Doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu, phải hạch toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy định để đảm bảo sự thống nhất trong kế toán nguyên vật liệu.

Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu. Từ đó phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất, giúp cho việc hạch toán xác định chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu thực tế đưa vào sản xuất. Phân bổ chính xác nguyên vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng để từ đó giúp cho việc tính giá thành được chính xác.

Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp thông tin cho việc báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh

1.1.4. Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu.

1.1.4.1. Phân loại

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sản xuất phải sử dụng nhiều loại vật liệu công cụ dụng cụ khác nhau. Mỗi loại có công dụng và tính năng lý hoá khác nhau, chính vì vậy muốn quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết từng loại, từng thứ nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành phân loại chúng. Việc phân loại vật liệu công cụ dụng cụ tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp sản xuất cụ thể thuộc từng nghành sản xuất, tuỳ thuộc vào chức năng kinh tế, chức năng của vật liệu, công cụ dụng cụ mà chúng được chia thành các loại sau:

Phân loại theo nội dung kinh tế và công dụng: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

  • Vật liệu chính: đối với doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm như sắt thép trong doanh nghiệp cơ khí, vải vóc trong doanh nghiệp may mặc.
  • Vật liệu phụ là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường.
  • Nhiên liệu: trong doanh nghiệp sản xuất thì nhiên liệu bao gồm các loại thể rắn, lỏng, khí dùng cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện vận tải, máy móc thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất.
  • Phụ tùng thay thế: bao gồm các phụ tùng chi tiết dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.
  • Thiết bị xây dựng cơ bản: gồm các thiết bị phương tiện lắp đặt các công trình xây dựng cơ bản của doanh nghiệp.
  • Vật liệu khác: là loại vật liệu thu đươc trong quá trính sản xuất, thanh lí tài sản, có thể sử dụng bán ra ngoài hoặc đưa vào sản xuất khác như phôi thép vụn, vải vụn,…

Phân loại theo nguồn hình thành thì NVL được chia thành:

  • Vật liệu nhập do mua ngoài.
  • Vật liệu nhập do tự gia công, chế biến, nhận vốn kinh doanh Nguyên vật liệu tự chế: Do doanh nghiệp tự sản xuất.

Cách phân loại này làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế hoạch sản xuất nguyên vật liệu, là cơ sở để xác định trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho.

  • Căn cứ vào mục đích sử dụng thì NVL được chia thành:
  • Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh:
  • Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
  • Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp.

1.1.4.2. Đánh giá nguyên vật liệu Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị vật liệu theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo yêu cầu chân thực, thống nhất. Về nguyên tắc nguyên vật liệu nằm trong giá thành sản phẩm đồng thời nó còn thuộc tài sản lưu động nằm trong bảng cân đối kế toán. Vì vậy phải đánh giá NVL chính xác để đảm bảo tính chính xác của giá thành và thông tin trên bảng cân đối kế toán, NVL được phản ánh trong sổ kế toán và báo cáo theo một nguyên tắc cơ bản đánh giá theo giá trị vốn thực tế. Nghĩa là khi nhập kho phải tính theo giá trị vật liệu thực tế nhập. Khi xuất kho cũng phải xác định trị giá thực tế xuất kho theo phương pháp quy định.

Tuy nhiên do đặc điểm của loại hình sản xuất kinh doanh, quy mô sản xuất của các doanh nghiệp giảm bớt khối lượng ghi chép tính toán hàng ngày có thể sử dụng giá hạch toán.

Nguyên tắc chung để hạch toán nguyên vật liệu nhập – xuất – tồn kho phải theo giá thực tế của các loại vật liệu. Giá thực tế sẽ bằng giá hạch toán trên hóa đơn công với chi phí vận chuyển bốc dỡ và thuế (nếu có).

  • Đánh giá nguyên vật liệu phải tuân thủ những nguyên tắc:

Nguyên tắc giá gốc: Giá gốc hay được gọi là trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu, là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được nguyên vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Nguyên tắc thận trọng: Nguyên vật liệu được đánh giá theo giá gốc, nhưng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.

a) Tính giá nguyên vật liệu theo giá thực tế

  • Đối với nguyên vật liệu nhập kho

Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập

  • Đối với nguyên vật liệu nhập kho mua ngoài :

Trong đó:

  • Giá mua ghi trên hóa đơn :

Trường hợp giá thực tế NVL mua vào để sử dụng cho đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua là giá chưa thuế GTGT Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Trường hợp NVL mua vào sử dụng cho các đối tượng không chịu thuế GTGT hoặc sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, các dự án thì giá mua là giá bao gồm cả thuế (tổng giá thanh toán)

  • Các loại thuế không hoàn lại như: thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,…
  • Chi phí liên quan trực tiếp gồm: chi phí vẫn chuyển, bốc dỡ…đối với chi phí vận chuyển thì chi phí vận chuyển được cộng vào giá trị thực tế của NVL.
  • Các khoản chiết khấu, giảm giá gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thanh toán

Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công, chế biến:

  • Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
  • Đối với nguyên vật liệu được cấp:
  • Đối với nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh, cổ phần :
  • Đối với nguyên vật liệu do được tặng thưởng, biếu tặng, tài trợ
  • Đối với nguyên vật liệu xuất kho

Nguyên vật liệu được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau ở nhiều thời điểm khác nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó khi xuất kho NVL tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động yêu cầu trình độ quản lý và điều kiện phương tiện trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn một trong 4 phương pháp sau:

  • Phương pháp bình quân gia quyền
  • Phương pháp nhập trước xuất trước
  • Phương pháp nhập sau xuất trước
  • Phương pháp thực tế đích danh

Nội dung cụ thể của các phương pháp:

  • Phương pháp bình quân gia quyền

Theo phương pháp này, trị giá xuất của nguyên vật liệu bằng số lượng vật liệu xuất nhân với giá bình quân. Đơn giá bình quân có thể xác định theo 1 trong 3 phương pháp sau: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

  • Phương pháp bình quân cuối kỳ trước

Ưu điểm : Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế toán vì giá vật liệu xuất kho tính khá đơn giản, cung cấp thông tin kịp thời tình hình biến động của vật liệu trong kỳ.

Nhược điểm: Độ chính xác của việc tính giá phụ thuộc tình hình biến động giá cả vật liệu. Trường hợp giá cả thị trường nguyên vật liệu có sự biến động lớn thì việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác.

  • Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính giá trị vốn của nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá mua, giá nhập, lượng nguyên vật liệu đầu kỳ và nhập trong kỳ.

Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết nguyên vật liệu, không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm nguyên vật liệu.

Nhược điểm: Dồn công việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác.

Phạm vi áp dụng: Thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm nguyên vật liệu và số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.

  • Phương pháp bình quân liên hoàn ( bình quân sau mỗi lần nhập )

Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập NVL, kế toán tính đơn giá bình quân sau đó căn cứ vào đơn giá bình quân và lượng NVL để tính giá NVL xuất.

Ưu điểm: Phương pháp này cho giá NVL xuất kho chính xác, phản ánh kịp thời sự biến động giá cả, công việc tính giá được tiến hành đều đặn. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Nhược điểm: Công việc tính toán phức tạp và nhiều, chỉ thích hợp với những doanh nghiệp sử dụng kế toán máy

Phạm vi áp dụng: phương pháp này nên áp dụng ở những doanh nghiệp có ít doanh điểm nguyên vật liệu và số lần nhập của mỗi loại không nhiều.

  • Phương pháp nhập trước- xuất trước (FIFO)

Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở giả định vật liệu nào nhập trước thì xuất trước. Vì vậy lượng nguyên vật liệu xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính giá thực tế theo lần nhập đó.

Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ làm, tương đối hợp lý và chính xác.

Nhược điểm: Các chi phí phát sinh hiện hành không phù hợp với doanh thu hiện hành. Doanh thu hiện hành có được là do chi phí NVL nói riêng và hàng tồn kho nói chung vào kho từ trước. Như vậy,chi phí kinh doanh của doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL.

Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hay có xu hướng giảm xuống.

  • Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO)

Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho được tính trên cơ sở giả định vật liệu nào nhập kho sau thì xuất trước. Chi phí sản xuất luôn gắn chặt với giá cả thị trường nên lợi nhuận mang tính chất an toàn hơn khi giá cả có xu hướng tăng lên.

Ưu điểm: Đảm bảo nguyên tắc doanh thu hiện tại phù hợp với chi phí hiện tại. Chi phí của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của nguyên vật liệu, làm cho thông tin về thu nhập và chi phí của doanh nghiệp có lợi về thuế nếu giá cả vật tư có xu hướng giảm, khi đó giá xuất sẽ lớn, chi phí lớn dẫn đến lợi nhuận nhỏ và tránh được thuế.

Nhược điểm: Phương pháp này làm thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong kỳ lạm phát và giá trị vật liệu có thể bị đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán so với giá trị thực của nó.

Phạm vi áp dụng: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp lạm phát.

  • Phương pháp thực tế đích danh

Theo phương pháp này, nguyên vật liệu được xác định theo giá đơn chiếc hay từng lô, khi xuất nguyên vật liệu nào sẽ tính theo giá nhập thực tế của nguyên vật liệu đó. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Ưu điểm: Xác định được chính xác giá của nguyên vật liệu xuất, làm cho chi phí hiện tại phù hợp với doanh thu hiện tại.

Nhược điểm: Trong trường hợp đơn vị có nhiều mặt hàng, nhập xuất thường xuyên thì khó theo dõi, công việc của kế toán chi tiết nguyên vật liệu sẽ rất phức tạp.

Phạm vi áp dụng: Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có chủng loại nguyên vật liệu ít và nhận diện được từng lô hàng.

  • b) Tính giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán

Đối với những doanh nghiệp có nhiều loại nguyên vật liệu, nghiệp vụ nhập – xuất vật liệu diễn ra thường xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức. Do đó việc hạch toán hàng ngày doanh nghiệp nên sử dụng giá hạch toán. Giá hạch toán là giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng giá thực tế cuối kỳ trước hoặc giá kỳ này để làm giá hạch toán. Cuối kỳ kế toán phải tính chuyển giá hạch toán của nguyên vật liệu xuất và tồn kho theo giá thực tế như sau:

Hệ số giá vật liệu có thể tính cho từng loại hay từng thứ vật liệu chủ yếu tùy thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý:

1.2. Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

1.2.1 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu

1.2.1.1. Phương pháp thẻ song song

Theo phương pháp này, để hạch toán chi tiết nghiệp vụ nhập – xuất – tồn kho vật liệu tại kho, thủ kho mở thẻ kho để ghi chép về mặt số lượng và phòng kế toán phải mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép về mặt số lượng lẫn giá trị. Cụ thể:

  1. Tại kho: Thủ kho sử dụng “Thẻ kho” để ghi chép hàng ngày tình hình nhập xuất tồn kho của từng thứ vật liệu theo chỉ tiêu số lượng. Khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho, thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép các số thực nhập, thực xuất vào chứng từ và thẻ kho, cuối ngày tính ra số tồn kho trên thẻ kho.
  2. Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng các sổ chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình nhập xuất tồn kho của từng thứ vật liệu. Khi nhận được các chứng từ nhập, xuất, tồn kho do thủ kho gửi lên, kế toán tiến hành kiểm tra, hoàn chỉnh chứng từ và căn cứ vào các chứng từ đó để ghi vào sổ chi tiết vật liệu.

Cuối tháng, căn cứ vào các sổ chi tiết vật liệu để làm Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn nguyên vật liệu và tiến hành so sánh số liệu giữa:

  • Sổ kế toán chi tiết vật liệu với thẻ kho của thủ kho
  • Đối chiếu số liệu dòng tổng cộng trên Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn nguyên vật liệu với sổ kế toán tổng hợp.
  • Đối chiếu số liệu trên Sổ kế toán chi tiết với số liệu kiểm kê thực tế.
  • Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu, phát hiện sai sót trong việc ghi chép. Quản lý chặt chẽ tình hình biến động về số lượng hiện có của từng vật liệu và giá trị của chúng.
  • Nhược điểm: Việc ghi chép giữa thủ kho và kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng công việc ghi chép quá lớn nếu chủng loại vật tư nhiều và tình hình nhập, xuất diễn ra thường xuyên, hằng ngày.

Điều kiện áp dụng: Thích hợp với doanh nghiệp có ít chủng loại nguyên vật liệu, việc nhập xuất diễn ra không thường xuyên. Phương pháp này có khuynh hướng ngày càng được áp dụng rộng rãi bởi tính thuận tiện của nó cũng như việc áp dụng kế toán máy ngày càng được phổ biến trong các doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

  • Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song

1.2.1.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển

  1. Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho mở cho từng danh điểm vật liệu. Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập xuất, thủ kho ghi số lượng vật liệu thực nhập và thực xuất vào thẻ kho, mỗi chứng từ ghi một dòng.
  2. Tại phòng kế toán: Để theo dõi tình hình nhập xuất vật liệu cả về mặt lượng và mặt giá trị, kế toán sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển. Sổ đối chiếu luân chuyển được mở cho cả năm và được ghi chép 1 lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp những chứng từ nhập, xuất trong tháng, mỗi danh điểm vật liệu được ghi vào một dòng trên sổ.

Hàng ngày, khi nhận được các chứng từ nhập xuất kho, kế toán sẽ tiến hành kiểm tra hoàn chỉnh chứng từ, tiến hành phân loại theo từng vật liệu riêng hoặc có thể lập “Bảng kê nhập” và “Bảng kế xuất”.

  • Cuối tháng, tập hợp số liệu từ các chứng từ hoặc bảng kê ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển và tính ra số tồn cuối tháng. Tiến hành đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
  • Ưu điểm: Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt do chỉ ghi vào 1 lần cuối tháng.
  • Nhược điểm: Vẫn còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng giữa thủ kho và phòng kế toán, công việc dồn vào cuối tháng sẽ gây chậm số liệu, hạn chế chức năng kiểm tra thường xuyên của phòng kế toán.
  • Điều kiện áp dụng: Phù hợp với những doanh nghiệp có ít chủng loại nguyên vật liệu, không có điều kiện ghi chép tình hình nhập xuất hàng ngày. Phương pháp này ít được sử dụng trong thực tế.

Sơ đồ 1.2 :Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.

1.2.1.3. Phương pháp sổ số dư

Tại kho: Thủ kho vẫn sử dụng thẻ kho ghi chép tình hình nhập xuất tồn kho theo chỉ tiêu số lượng của từng loại vật liệu. Định kỳ, sau khi ghi thẻ kho, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng loại vật liệu, dụng cụ, sản phẩm. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu, dụng cu, sản phẩm tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.

Tại phòng kế toán: Kế toán dựa vào số lượng nhập, xuất của từng danh điểm nguyên vật liệu tổng hợp từ các chứng từ nhập xuất mà kế toán nhận được khi kiểm tra định kỳ 3,5 hoặc 10 ngày một lần kèm theo “Phiếu giao nhận chứng từ” và giá hạch toán để tính trị giá thành tiền nguyên vật liệu nhập, xuất theo từng danh điểm, từ đó ghi vào “ Bảng lũy kế nhập, xuất, tồn” (Bảng này được mở theo từng kho). Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

  • Cuối tháng, tiến hành tính tiền trên “Sổ số dư” do thủ kho chuyển đến và đối chiếu tồn kho trên “Bảng lũy kế nhập, xuất, tồn”.
  • Ưu điểm: Giảm nhẹ khối lượng ghi chép hàng ngày, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên của kế toán với việc nhập, xuất nguyên vật liệu hàng ngày.
  • Nhược điểm: Nếu có sai sót khó phát hiện, khó kiểm tra và đòi hỏi yêu cầu trình độ quản lý của thủ kho và kế toán phải khá nếu không sẽ dẫn đến sai sót.

Điều kiện áp dụng: Vật tư có nhiều chủng loại, các nghiệp vụ phát sinh thường xuyên, doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống đơn giá hạch toán và danh điểm vật tư , kế toán viên có trình độ cao, thủ kho có chuyên môn tốt. Trình tự ghi sổ kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư được khái quát bằng sơ đồ sau:

  • Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư

1.2.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

Nguyên vật liệu là tài sản lưu động của doanh nghiệp và được nhập xuất kho thường xuyên, tuy nhiên theo đặc điểm nguyên vật liệu của từng doanh nghiệp mà có phương thức kê khai khác nhau. Có doanh nghiệp thực hiện kê khai theo từng nghiệp vụ xuất nhập nhưng có những doanh nghiệp chỉ kê khai một lần vào thời điểm cuối kỳ. Tương ứng với hai phương thức kê khai trên, trong hạch toán nguyên vật liệu nói riêng và hạch toán hàng tồn kho nói chung có hai phương pháp là: kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ.

1.2.2.1 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên.

Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu trên sổ kế toán. Trong trường hợp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên các tài khoản kế toán nguyên vật liệu được dùng để phản ánh số hiện có tình hình biến động làm tăng giảm nguyên vật liệu. Vì vậy giá trị nguyên vật liệu trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán. Cuối kỳ kế toán căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế, nguyên vật liệu so sánh và đối chiếu với số liệu trên sổ kế toán. Nếu có chênh lệch phải truy tìm nguyên nhân và giải pháp xử lý kịp thời. Phương pháp kê khai thường xuyên áp dụng cho các đơn vị sản xuất (công nghiệp, xây lắp,…) và các đơn vị thương nghiệp kinh doanh các mặt hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, hàng chất lượng cao.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

Có thể nói ở các doanh nghiệp như Công ty cổ phần nạo vét và xây dựng đường thủy, kế toán vật liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý. Vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất tạo nên chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Quản lý tốt, sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu là một biện pháp tích cực để tiết kiệm chi phí. Đồng thời thông qua công tác kế toán nguyên vật liệu, các doanh nghiệp có thể ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, lãng phí vật liệu, ứ đọng vốn sản xuất kinh doanh. Đó là những kiến thức em được học trong nhà trường và nay được thực tế khẳng định.

Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần nạo vét và xây dựng đường thủy đã giúp em nắm vững hơn về công tác kế toán nói chung và công tác kế toán nguyên vật liệu nói riêng. Em nhận thấy rằng lý thuyết nhận thức trong nhà trường cần phải đi đôi với việc nắm bắt thực tế trong đời sống kinh tế. Điều quan trọng là phải biết vận dụng những kiến thức đã học để hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán trong thực tế một cách sinh động và chính xác nhất.

Do thời gian không nhiều và trình độ nhận thức có hạn nên khóa luận của em không thể tránh được những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ và những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Văn Thụ, các nhân viên kế toán trong phòng kế toán của Công ty đã giúp em hoàn thiện khóa luận này. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty nạo vét đường thủy.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD Cty Thịnh Phát

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x