Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng và Thương Mại Sóc Sơn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, chính là thời điểm mà cả những thuận lợi và khó khăn đan xen. Vậy nên doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trên thị trường phải chấp nhận cạnh tranh và tìm cho mình một phương án kinh doanh đạt hiệu quả nhất. Đồng thời các doanh nghiệp cũng phải có chính sách đúng đắn và quản lý chặt chẽ mọi hoạt động kinh tế. Để thực hiện được điều đó doanh nghiệp phải thực hiện một cách đồng bộ các yếu tố cũng như các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm ngành xây dựng không chỉ đơn thuần là những công trình có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là những công trình có tính thẩm mỹ cao thể hiện phong cách, lối sống của dân tộc đồng thời có ý nghĩa quan trọng về văn hoá – xã hội.

Do đó vấn đề đặt ra là làm sao để quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả, khắc phục được tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất kinh doanh xây lắp phải trải qua nhiều giai đoạn (thiết kế, lập dự toán, thi công, nghiệm thu….) và thời gian kéo dài.

Chính vì thế, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những công việc hết sức quan trọng trong vấn đề quản lý kinh tế. Chi phí sản xuất được tập hợp một cách chính xác kết hợp với tính đầy đủ giá thành sản phẩm sẽ góp phần tích cực vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế.

Nhận thấy được điều đó, sau thời gian thực tập tại công ty CP Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn em lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn”. Nội dung bài khoá luận của em gồm ba phần:

  • Chương I: Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp.
  • Chương II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn.
  • Chương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty CP Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn.

Em xin chân thành cảm ơn ThS. Phạm Văn Tưởng đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành bài khoá luận này. Và em cũng xin cảm ơn các anh, chị trong phòng kế toán của công ty đã nhiệt tình chỉ bảo, cung cấp số liệu thực tế để em có thể có hoàn thành bài khoá luận tốt hơn và có thêm nhiều kinh nghiệm thực tế.

Do thời gian ngắn và trình độ bản thân còn nhiều hạn chế nên bài làm của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Chương I Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp

1.1 Những vấn đề chung về chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp

1.1.1 Đặc điểm của ngành xây lắp và sản phẩm xây lắp có ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm

Sau những năm thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh doanh mới, cũng như tất cả các ngành trong cả nước, ngành XDCB ngày một thích nghi và phát triển. Với mục tiêu hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều hơn. Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình (CT, HMCT), vật kiến trúc … có qui mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài và phân tán. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Vì vậy, trước khi tiến hành xây lắp, sản phẩm xây lắp đều phải qua khâu dự án rồi đến dự toán công trình, dự toán thiết kế, dự toán thi công phải lập cho từng phần của công việc. Trong suốt quá trình xây lắp phải lập giá dự toán làm thước đo về cả mặt giá trị và kỹ thuật.

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn tất cả các điều kiện sản xuất khác như lao động, vật tư…đều phải di chuyển theo đặc điểm công trình xây lắp. Mặt khác hoạt động xây lắp lại tiến hành ngoài trời thường chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên và môi trường: mưa, gió, nóng, ẩm… dễ dẫn đến tình trạng mất mát, hư hỏng vì công tác quản lý, sử dụng và hạch toán vật tư, tài sản gặp nhiều khó khăn và phức tạp.

Sản phẩm hoàn thành không nhập kho mà tiêu thụ ngay theo giá dự toán (giá thanh toán với chủ đầu tư bên A) hoặc giá thỏa thuận (cũng được xác định trên dự toán công trình). Do đó tính chất sản phẩm hàng hóa thể hiện không rõ.

Thời gian sử dụng sản phẩm lâu dài đòi hỏi việc quản lý, tổ chức sao cho chất lượng công trình phải đảm bảo và phải phản ánh đúng theo từng thời điểm phát sinh. Từ những đặc điểm trên của sản phẩm xây lắp mà công tác kế toán của các đơn vị kinh doanh xây lắp nói trên phải đảm bảo yêu cầu chung của một đơn vị sản xuất. Ghi chép tính toán đầy đủ chi phí và giá thành sản phẩm vừa phải thực hiện phù hợp với ngành nghề, đúng với chức năng kế toán của mình, nhằm cung cấp số liệu chính xác kịp thời, đánh giá đúng tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, cố vấn cho lãnh đạo trong việc tổ chức, quản lý để đạt mục đích kinh doanh của công ty.

1.1.2 Khái niệm chi phí xây lắp

Chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình xây lắp, thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá.

  • Chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố:

Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã chi ra trong một thời kỳ nhất định. Giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong sản xuất và tiền lương công nhân. Theo khái niệm trên thì chi phí xây lắp là biểu hiện bằng tiền của doanh nghiệp vào quá trình xây lắp. Nó bao gồm toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến quá trình xây lắp trong một chu kỳ nhất định của doanh nghiệp thường theo một tháng, quý, năm… Như vậy chỉ được tính vào chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến hoạt động xây lắp trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra đều được hạch toán vào chi phí xây lắp. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

1.1.3 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí.

1.1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (theo nội dung, tính chất kinh tế)

  • Yếu tố chi phí, nguyên vật liệu: Bao gồm nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, công cụ dụng cụ, phụ tùng thay thế được sử dụng trong kỳ sản xuất kinh doanh.
  • Yếu tố chi phí nhân công: Tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý sản xuất ở đội, xưởng sản xuất doanh nghiệp.
  • Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao máy thi công, nhà xưởng máy móc thiết bị quản lý….
  • Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Chi phí hội họp, tiếp khách
  • Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Như tiền điện, nước, tiền điện thoại…

Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế giúp nhà quản lý biết được kết cấu, tỉ trọng của từng yếu tố chi phí chi ra trong quá trình sản xuất lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán.

1.1.3.2 Phân loại chi phí xây lắp theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

  • Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh toán bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu…vào quá trình xây lắp.
  • Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương và các khoản phụ cấp (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp lưu động) của công nhân trực tiếp xây lắp.
  • Chi phí sử dụng máy móc thi công là các khoản chi phí cho máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy: chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, tiền lương của công nhân điều khiển máy và chi phí khác.
  • Chi phí sản xuất chung là các chi phí phát sinh trong phạm vi tổ đội xây lắp như là: tiền lương của nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý đội, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ.

Cách phân loại này có tác dụng phục vụ yêu cầu quản lý chi phí sản xuất xây lắp theo dự toán, bởi vì trong hoạt động xây dựng cơ bản, lập dự toán công trình hạng mục công trình xây lắp là khâu không thể thiếu.

  • Phân loại theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động.

Theo cách phân loại này, chi phí được chia thành:

  • Chi phí khả biến (biến phí): là các chi phí thay đổi tỷ lệ với mức hoạt động của đơn vị. Ví dụ: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.
  • Chi phí bất biến (định phí): là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi thay đổi về mặt khối lượng thực hiện. Ví dụ: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh…Song định phí tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
  • Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí.

Cách phân loại chi phí này có tác dụng rất lớn đối với nhà quản trị kinh doanh trong việc phân tích điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết đề hạ giá thành sản phẩm và tăng hiệu quả kinh doanh.

  • Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí.

Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí của doanh nghiệp được chia thành hai loại là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

  • Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí có quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định. Những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí như: chi phí nguyên vật liệu, tiền lương công nhân sản xuất.
  • Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất liên quan đến việc sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc. Do đó, với những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho những đối tượng liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp.

Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng liên quan một cách chính xác và hợp lý.

1.2 Những vấn đề chung về giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

1.2.1 Khái niệm và bản chất của giá thành sản phẩm

Trong sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp phải hạch toán để tính được giá bán đồng thời xác định được lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đồng thời bù đắp các chi phí đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm. Để xác định được các yếu tố trên doanh nghiệp phải tính được giá thành của sản phẩm hay nói cách khác là tính được chi phí phát sinh trong kỳ được tính cho các sản phẩm đã sản xuất.

Như vậy giá thành ta có thể hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm xây lắp đã hoàn thành.

Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm các chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị hiện thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống.

1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

  • Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính

Căn cứ vào số liệu để tính giá thành thì có 3 loại giá thành xây lắp:

Giá thành dự toán (Zdt): Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành một khối lượng sản phẩm xây lắp. Giá thành dự toán được lập trước khi tiến hành xây lắp trên cơ sở các định mức thiết kế được duyệt khung giá XDCB hiện hành.

  • Công thức tính:

Giá thành kế hoạch (Zkh): Được xây dựng từ những điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp trên cơ sở phấn đấu hạ giá thành so với giá thành dự toán bằng các biện pháp tăng cường quản lý kỹ thuật, vật tư thi công, các định mức và đơn giá áp dụng trong các Doanh nghiệp xây lắp.

  • Công thức tính: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Giá thành thực tế (Ztt): Là toàn bộ chi phí thực tế bỏ ra để hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp mà Doanh nghiệp đã nhận thầu. Nó bao gồm: chi phí theo định mức, chi phí vượt định mức, không định mức.

Ba loại giá thành trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và được thể hiện khái quát như sau:

Giá thành dự toán  Giá thành kế hoạch  Giá thành thực tế

  • Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí

Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp được chia làm 2 loại: giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ.

Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung tính cho công trình, hạng mục công trình hoặc lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp là căn cứ để tính giá vốn hàng bán và lợi nhuận gộp ở các doanh nghiệp xây lắp.

Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ) bao gồm giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm xây lắp là căn cứ để tính toán, xác định lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp.

  • Ngoài ra trong xây dựng cơ bản còn sử dụng chỉ tiêu giá thành sau:
  • Giá đấu thầu xây lắp (giá thành dự thầu công tác xây lắp): là một loại giá thành dự toán xây lắp do chủ đầu tư đưa ra để các doanh nghiệp căn cứ vào đó mà xây dựng giá thành của mình.
  • Giá hợp đồng công tác xây lắp: là loại giá thành dự toán xây lắp trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp sau khi thỏa thuận giao thầu, là giá thành của doanh nghiệp xây lắp thắng cuộc trong đấu thầu được chủ đầu tư thỏa thuận ký hợp đồng giao thầu.

1.3 Yêu cầu và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp vốn là phần hành căn bản của công tác hạch toán kế toán, lại càng có ý nghĩa quan trọng đối với xí nghiệp xây lắp nói riêng và xã hội nói chung.

Với các Công ty, thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là cơ sở để giám sát các hoạt động, tự khắc phục những tồn tại, phát huy những tiềm năng, mới đảm bảo cho Công ty tồn tại và phát triển trong cơ chế hạch toán kinh doanh của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Với nhà nước, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây lắp là cơ sở để nhà nước kiểm soát vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) và thu thuế. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Như vậy ta thấy công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu không thể thiếu được trong công tác hạch toán tại Công ty. Mặt khác, nhiệm vụ chủ yếu của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp, sao cho phù hợp với điều kiện hiện tại của Công ty, phương pháp kế toán theo trình tự logic chính để làm sao:

Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí xây lắp thực tế phát Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức vật tư, lao động, chi phí sử dụng máy thi công và các dự toán chi phí khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí ngoài dự toán trong thi công.

Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp.

Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và có hiệu quả.

Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây dựng đã hoàn thành, định kỳ kiểm kê, và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo một nguyên tắc nhất định.

Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

Vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho (kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ) mà doanh nghiệp lựa chọn.

Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, đội xây dựng…trong từng thời kỳ, phục vụ cho yêu cầu quản lý lãnh đạo của Công ty.

Chương 2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng & thương mại Sóc Sơn Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

2.1 Khái quát chung về Công ty Cổ Phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Sóc Sơn

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.

  • Tên công ty: Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Sóc Sơn Đia chỉ(Trụ sở chính): Tổ 4 –Thị trấn Sóc Sơn –H. Sóc Sơn – Hà Nội.
  • Quyết định thành lập số 383/QĐ-UBND ngày 16/01/2004 của UBND Thành phố Hà nội.
  • Giấy phép kinh doanh số 01030003712 ngày 17/02/2004 của Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hà nội.
  • Mã số thuế: 0101471333 ngày cấp 16/04/2004 của cục Thuế Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Nguyễn Lưu Tại Chức vụ: Giám đốc
  • Vốn điều lệ của công ty: 20.000.000.000

Công ty được phép hoạt động trong các lĩnh vực sau:

  • Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, các công trình kỹ thuật hạ tầng, các công trình cấp nước, thoát nước.
  • Đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà ở.

Ngày đầu thành lập, Công ty gặp nhiều khó khăn chồng chất, thiếu vốn, thiếu cán bộ quản lý. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Công ty đã từng bước tháo gỡ khó khăn, luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao, tạo được niềm tin đối với khách hàng về chất lượng sản phẩm cũng như tiến độ thi công. Đặc biệt trong những năm gần đây, Công ty đã trúng thầu những công trình lớn, nhỏ trị giá nhiều tỷ đồng như: nhà chung cư cao tầng, xây dựng đường giao thông, nhà văn hoá, thực hiện đầu tư các Dự án xây dựng khu đô thị mới Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và thương mại Sóc Sơn đã có những tiến bộ vượt bậc giá trị sản lượng năm 2013 đạt 60,6 tỷ đồng giá trị doanh thu đạt 56,1tỷ đồng thu nhập trung bình của người lao động đạt trung bình năm 2013 là 4,8 triệu đồng/người, tạo việc làm thường xuyên cho 250 cán bộ và công nhân lao động của công ty.

Đến nay tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty bao gồm 55 người có trình độ đại học bao gồm các ngành như kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, cử nhân kinh tế vv…30 người có trình độ trung cấp kỹ thuật và kinh tế còn lại là công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật và thợ phổ thông.

Đó là kết quả của sự phấn đấu và tự khẳng định mình của Ban lãnh đạo cũng như sự nỗ lực của từng thành viên trong Công ty. Chúng ta hy vọng rằng trong những năm tiếp theo, Công ty sẽ đạt được những thành tựu đáng kể trong việc tìm kiếm hợp đồng, mở rộng sản xuất và uy tín của công ty ngày càng được nâng cao.

2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ các phòng ban của Công ty và đặc điểm của ngành xây dựng, Công ty tổ chức bộ máy sản xuất theo mô hình trực tuyến chức năng. Bộ máy sản xuất, có hiệu lực cao, phù hợp với cơ chế thị trường.

Các tổ đội thi công trong công ty theo các dự án mà đơn vị đã trúng thầu, thực hiện dưới sự chỉ đạo của Giám đốc và các phòng ban.

2.1.2.1 Tìm hiểu các giai đoạn thực hiện công trình xây dựng

  • Nhận thầu thông qua đấu thầu hoặc giao thầu trực tiếp(Chỉ định thầu)
  • Ký hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư công trình
  • Lên cơ sở hồ sơ thiết kế và hợp đồng xây dựng đã được ký kết, công ty tổ chức quá trình sản xuất thi công để tạo ra công trình hoặc hạng mục công trình
  • Khoan sụt, khảo sát địa hình, địa chất để lấy mặt bằng thi công
  • Tổ chức lao động bố trí máy móc thi công .
  • Xây dựng, lắp ráp hoàn thiện công trình
  • Công trình được hoàn thành dưới sự giám sát của tư vấn giám sát, chủ đầu tư công trình về mặt ký thuật và tiến độ thi công.
  • Bàn giao công trình hoàn thành và quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư

Sơ đồ 2.2: Quy trình công nghệ xây lắp tại doanh nghiệp

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Công ty và đặc điểm của ngành xây dựng, Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng . Bộ máy Công ty tinh gọn, linh hoạt, có hiệu lực cao, phù hợp với cơ chế thị trường. Giám đốc Công ty là người trực tiếp chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý và các bộ phận khác.

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức của công ty CPĐTXD & TM Sóc Sơn

  • Hội đồng quản trị: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Có nhiệm vụ quyết định chiến lược phát triển công ty, quyết định các phương án kinh doanh. Đầu tư giải pháp phát triển thị trường các hợp đồng quan trọng có gía trị lớn phải được HĐQT thông qua mới được thực hiện. Nói chung HĐQT đưa ra các đường lối các nghị quyết về phương hướng hoạt động kinh doanh của công ty, tổ chức bộ máy quản lý đồng thời đưa ra các quy chế quản lý nội bộ.

  • Ban giám đốc:

Có nhiệm vụ điều hành trực tiếp mọi hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty theo các nghị quyết của HĐQT và các phương án kinh doanh đã được phê duyệt, quản lý trực tiếp các phòng ban: phòng tài vụ kế toán, phòng tổ chức hành chính, kinh doanh thị trường, phòng kế hoạch và đầu tư.

  • Phòng tài vụ kế toán:

Có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán tài chính theo đúng chế độ kế toán tài chính của nhà nước, xử lý chứng từ, lập báo cáo tài chính, báo cáo quản trị cung cấp thông tin kịp thời về tình hình tài chính của công ty, tư vấn cho giám đốc trong việc ra quyết định kinh doanh.

  • Phòng tổ chức hành chính:

Có quyền tham mưu đầu mối chỉ đạo và thực hiện các lĩnh vực tổ chức quản lý cán bộ lao động nhân sự tiền lương, đào tạo, thi đua khen thưởng kỉ luật.

  • Phòng kế hoạch và đầu tư:

Có nhiệm vụ tổ chức và xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch về vật tư, kế hoạch quảng cáo xúc tiến mở rộng thị trường, tìm kiếm và tổng kết các hợp đồng kinh tế.

  • Phòng kinh doanh thị trường:

Thường xuyên nghiên cứu sưu tầm các thông tin liên quan đến giá cả thị trường, nguồn hàng và khai thác các khách hàng.

Phòng Kinh doanh phải tổ chức bộ máy bán hàng, hoạt động khoa học phát huy năng lực, đáp ứng nhu cầu gọn nhẹ hiệu quả và cử cán bộ trực tiếp theo dõi lượng hàng hoá mua vào bán ra cũng như tồn kho trên cơ sở có đánh giá tiềm năng hay hạn chế của từng mặt hàng; Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty

Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng và Thương Mại Sóc Sơn: Là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập. Được hạch toán toàn bộ đầu ra, đầu vào, lãi, lỗ. Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán. Phòng kế toán thực hiện công tác kế toán chung của Công ty, tại các đội xây lắp các nhân viên Kinh Tế đội có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp phát sinh nhưng không tính giá thành các công trình, hạng mục công trình ở đội mình, cuối mỗi tháng tập hợp tất cả các hoá đơn, chứng từ, hợp đồng lao động và bảng dự toán định mức lên phòng Tài vụ- Kế toán của Công ty. Kế toán Công ty tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành, xác định kết quả sản xuất kinh doanh, xác định nghĩa vụ với Nhà nước và báo cáo lên cấp trên có liên quan. Giữa Công ty và đơn vị trực thuộc hạch toán theo cơ chế báo sổ. Các nhân viên trong phòng kế toán được phân chia trách nhiệm rõ ràng.

  • Sơ đồ 2.4 Sơ đồ bộ máy kế toán

Kế toán trưởng: Là người lãnh đạo trực tiếp về mặt nghiệp vụ của toàn bộ kế toán Công ty, chỉ đạo, tổ chức các phần hành kế toán. Kiểm tra giám sát toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế tài chính tại Công ty, tham mưu cho Giám đốc để có thể đưa ra các quyết định hợp lý. Ngoài ra, kế toán trưởng còn giúp Giám đốc tập hợp số liệu kinh tế, tổ chức phân tích các hoạt động kinh doanh, phát hiện ra khả năng tiềm tàng, thúc đẩy việc thực hiện chế độ hạch toán trong công tác bảo đảm cho hoạt động của Công ty thu được hiệu quả cao.

Kế toán tổng hợp : Là người tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm nên có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra, đối chiếu và định kỳ phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí đối với chi phí trực tiếp, chi phí chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý và tiết kiệm chi phí sản xuất, lập báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh theo đúng chế độ và đúng thời hạn, tổ chức kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm. Phản ánh tổng hợp tình hình phát sinh ở các phần hành kế toán, xác định kết quả sản xuất kinh doanh và lập các báo cáo kế toán định kỳ theo qui định. Tổng hợp các báo cáo kế toán nộp Công ty và các ban ngành liên quan

Kế toán TSCĐ: Khi có biến động về TSCĐ, kế toán căn cứ vào các chứng từ hợp lệ tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời về số lượng, hiện trạng và giá trị tài sản hiện có tình hình tăng giảm và di chuyển tài sản cố định trong nội bộ Công ty nhằm giám sát chặt chẽ việc mua sắm, đầu tư, việc bảo quản và sử dụng tài sản cố định tại Công ty. Định kỳ căn cứ vào tỷ lệ khấu hao quy định cho từng loại tài sản kế toán phản ánh kịp thời giá trị hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng, tính toán, phân bổ hoặc kết chuyển chính xác số khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh và lập các bảng tính khấu hao TSCĐ. Cuối mỗi niên độ kế toán tham gia kiểm kê, kiểm tra định kỳ hay bất thường TSCĐ, tham gia đánh giá lại tài sản cố định khi cần thiết, tổ chức phân tích tình hình bảo quản và sử dụng TSCĐ ở Công ty

Kế toán chi phí: Căn cứ vào các bảng dự toán về nguyên vật liệu, các chứng từ thu mua, nhập, xuất NVL kế toán tổ chức ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác số lượng, chất lượng và giá cả vật liệu tăng giảm, tồn kho vật liệu tại các đội xây dựng và tại kho của Công ty. Chấp hành đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu (thủ tục nhập, xuất), kiểm tra chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu, phát hiện và ngăn ngừa các trường hợp sử dụng lãng phí, hư hao thất thoát vật liệu. Ngoài ra kế toán còn cung cấp tài liệu cho phân tích kinh tế về vật liệu. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Kế toán tiền lương: Kế toán tổ chức công tác ghi chép ban đầu, xử lý và ghi sổ kế toán các nghiệp vụ liên quan đến tiền lương, BHXH…; tổ chức cung cấp thông tin, báo cáo và phân tích chi phí tiền lương, BHXH… trong chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty. Kết hợp cùng với bộ phận lao động tiền lương của Công ty để vận dụng phương thức trả lương hợp lý. Tổ chức tính toán và xác định tiền lương phải trả, theo dõi tiền lương, phân bổ tiền lương hàng tháng cho cán bộ nhân viên trong Công ty, trích lập các quỹ: BHYT, BHXH, BHTN, KPCĐ.

Kế toán vốn bằng tiền: Phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời số hiện có, tình hình biến động và sử dụng tiền, kiểm tra chặt chẽ việc chấp hành chế độ thu chi và quản lý tiền, chế độ thanh toán không dùng tiền, đối chiếu với Ngân hàng các khoản tiền của Công ty ở Ngân hàng. Theo dõi, đối chiếu chi tiết từng khoản nợ phải thu, phải trả theo từng đối tượng, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, thanh toán kịp thời các khoản nợ phải thu và phải trả. Phân loại các khoản nợ phải thu, phải trả theo thời gian thanh toán và theo từng đối tượng để có kế hoạch và biện pháp thanh toán phù hợp.

Thủ quỹ: Quản lý tiền mặt, ngân phiếu của Công ty, căn cứ vào các phiếu thu, phiếu chi kèm theo các chứng từ hợp lệ để nhập, xuất và vào sổ quỹ kịp thời theo nguyên tắc cập nhật. Hằng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu với số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.

Nhân viên Kinh tế đội: Mỗi đội sản xuất đều có nhân viên kinh tế đội chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ, tập hợp hoá đơn các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh tại đội, tập hợp chi phí ở các đội và gửi lên phòng kế toán các chứng từ và báo cáo liên quan.

  • Hình thức sổ kế toán của Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây dựng & Thương Mại Sóc Sơn

Chế độ kế toán áp dụng đối với đơn vị vừa và nhỏ theo quyết định số 48/2006/QĐ/BTC ngày 14 tháng 9 năm 2006 của BTC

  • Đơn vị tiền tệ sử dụng trong năm kế toán: Đồng Việt Nam
  • Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
  • Phương pháp tính giá vốn hàng xuất kho: Thực tế đích danh
  • Phương pháp tính khấu hao TSCĐ: Khấu hao theo đường thẳng
  • Phương pháp tính thuế GTGT: Theo phương pháp khấu trừ.
  • Hình thức kế toán áp dụng: Nhật ký chung

Bao gồm các loại sổ chủ yếu sau: sổ nhật ký chung, sổ cái, sổ chi phí sản xuất kinh doanh, thẻ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết, bảng cân đối số phát sinh.

Theo hình thức này, mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh được tập hợp từ chứng từ gốc, sau đó kế toán tiến hành ghi vào các sổ kế toán chi tiết (nếu có) và sổ tổng hợp. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Phần hạch toán kế toán tổng hợp được thực hiện theo trình tự sau: từ chứng từ gốc kế toán ghi vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh các nghiệp vụ .Sau đó căn cứ vào số liệu đã ghi trên sổ nhật ký chung đế ghi vào sổ cái và các tài khoản có liên quan .Cuối tháng, quý, năm kế toán cộng số liệu trên sổ cái, từ sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh .

Phần hành kế toán chi tiết được thực hiện theo trình tự sau: từ chứng từ gốc kế toán ghi các nghiệp vụ phát sinh vào các sổ,thẻ kế toán chi tiết liên quan theo trình tự thời gian.Từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết lập bảng tổng hợp chi tiết.

Định kỳ kế toán kiểm tra và đối chiếu số liệu giữa sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết. Số liệu ghi trên sổ cái, bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng hợp chi tiết được dùng là cơ sở để kế toán lập báo cáo tài chính.

  • Sơ đồ 2.5 Trình tự ghi sổ chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo hình thức Nhật ký chung

2.1.4.1 Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ và tài khoản kế toán

Để tạo cơ sở pháp lý và hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, Công ty đã sử dụng một hệ thống chứng từ tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị.

  • Hệ thống chứng từ của Công ty gồm các loại sau:

Về kế toán lao động tiền lương: Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lương, Phiếu nghỉ hưởng BHXH, Bảng thanh toán BHXH, Bảng thanh toán tiền thưởng, Hợp đồng lao động, Biên bản thanh lý hợp đồng.

Về kế toán nguyên vật liệu: Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Biên bản kiểm nghiệm, thẻ kho…

Về kế toán tiền tệ: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề nghị tạm ứng, Giấy xin thanh toán, Giấy thanh toán tiền tạm ứng, Bảng kiểm kê quỹ, Uỷ nhiệm chi, Giấy lĩnh tiền mặt.

Về kế toán TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ, Thẻ TSCĐ, Biên bản thanh lý TSCĐ, Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, Biên bản đánh giá lại TSCĐ

Về kế toán mua hàng, thanh toán có: Hoá đơn bán hàng, Hoá đơn GTGT…

2.1.4.2 Tổ chức hệ thống báo cáo tài chính

Công ty sử dụng các báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp xây lắp bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo:

  • Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DNN)
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DNN)
  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DNN)
  • Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DNN)

2.2 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng và Thương Mại Sóc Sơn Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Công ty áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 14 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính với niên độ kế toán là năm dương lịch(bắt đầu từ 01/01 đến 31/12 hàng năm).

Tiếp đó đối với mỗi công trình và hạng mục công trình, kế toán tiếp tục mở các tài khoản chi tiết theo từng khoản mục chi phí như:

  • TK 1541: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
  • TK 1542: Chi phí nhân công trực tiếp
  • TK 1543: Chi phí sử dụng máy thi công
  • TK 1544: Chi phí sản xuất chung

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành được xác định là các công trình hạng mục công trình hoàn thành bàn giao hoặc khối lượng hoàn thành theo giai đoạn xây lắp hoặc theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý.

  • Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

Phương pháp tập hợp trực tiếp: phương pháp này sử dụng để tập hợp trực tiếp các khoản chi phí phát sinh liên quan đến công trình, hạng mục công trình bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công từng công trình và chi phí sản xuất chung của từng công trình.

Phương pháp tập hợp phân bổ gián tiếp: đối với chi phí sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến nhiều đối tượng chi phí (công trình, hạng mục công trình) thì được tập hợp chung cuối kỳ kế toán tiến hành phân bổ theo giá thành dự toán.

Trong bài khóa luận này em xin lấy ví dụ về xây dựng công trình Trường Cấp 2 Xuân Thu: 154- trường Cấp 2 Xuân Thu

2.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu là chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm nên việc quản lý và sử dụng vật liệu tiết kiệm hay lãng phí có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến động của giá thành sản phẩm và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Do đặc điểm của ngành xây dựng, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh Công ty phải sử dụng đến rất nhiều loại nguyên vật liệu với khối lượng lớn như: xi măng, sắt thép, gạch, cát, đá…và chủ yếu là mua ngoài theo giá thị trường. Vì vậy để thuận tiện cho công tác quản lý và theo dõi vật tư, Công ty đã tiến hành phân loại chi phí NVL như sau:

Nguyên vật liệu chính: Đây là đối tượng chủ yếu cấu thành thực thể sản phẩm của Công ty. Thuộc loại này gồm có xi măng, gạch, đá, sắt, thép… Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Nguyên vật liệu phụ: Gồm những NVL không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ làm thay đổi hình dáng bề ngoài sản phẩm. Thuộc loại này gồm có: sơn, ve, bột bả, sơn chống thấm…

Chi phí NVL trực tiếp được lập dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình. Công ty đã xây dựng định mức chi phí NVL trực tiếp và tổ chức quản lý chặt chẽ. Khối lượng công việc thi công xây lắp được giao khoán cho đội xây dựng đảm nhiệm theo định mức, dự toán đã lập. Đội trưởng(chủ hạng mục công trình) của mỗi đội xây dựng chủ động quản lý lao động và bảo quản NVL phục vụ thi công công trình. Định kỳ mang hoá đơn về phòng kế toán để thanh toán.

Chi phí NVL ở Công ty thường liên quan trực tiếp đến từng công trình, hạng mục công trình. Do đó về tập hợp chi phí NVL trực tiếp được thực hiện theo phương pháp ghi trực tiếp. Các chi phí NVL trực tiếp phát sinh ở công trình, hạng mục công trình nào được tập hợp trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó theo giá thực tế đích danh.

Tại các công trình do công ty quản lý tập trung, nguyên vật liệu trực tiếp phục vụ cho thi công do công ty xuất kho hoặc mua chuyển thẳng tới công trình xuất dùng trực tiếp không qua kho. Kho của công ty được đặt trực tiếp tại công trường đang tiến hành thi công để tạo thuận lợi cho việc xuất dùng nguyên vật liệu một cách nhanh chóng phù hợp với tiến độ thi công.

  • Chứng từ sử dụng: Hóa đơn GTGT, Phiếu chi, Phiếu xuất kho, Phiếu nhập kho…
  • Tài khoản sử dụng: 1541- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
  • Sổ sách sử dụng: Sổ nhật ký chung, sổ cái TK 1541, sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541- CP NVLTT(chi tiết theo từng CT, HMCT).

Căn cứ vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và giá trị vật liệu sử dụng:

  • Nợ TK 1541: Chi phí NVLTT
  • Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
  • Có TK 152: Nguyên vật liệu (nếu xuất kho)
  • Có TK 111,112,33: Nếu mua sử dụng ngay cho công trình

Đối với vật tư qua kho: Khi tiến hành thi công công trình phòng kế hoạch phụ trách vật tư căn cứ tiến độ thi công và định mức sử dụng để lập dự toán lượng cung ứng vật tư cần thiết phục vụ công trình trong từng giai đoạn cụ thể. Khi có nhu cầu vật liệu, tổ trưởng hoặc đội trưởng lập Giấy yêu cầu cung cấp vật tư có xác nhận của ban chỉ huy công trường.

Căn cứ vào đó, bộ phận vật tư sẽ viết phiếu xuất kho gồm 3 liên, người lĩnh vật tư mang liên phiếu xuất đến thủ kho lĩnh vật tư. Thủ kho xuất kho theo đúng số lượng ghi trên phiếu xuất và cột thực xuất. Người nhận và thủ kho ký cả vào 3 liên , thủ kho đánh số hiệu xuất. Thủ kho giữ lại một liên để chuyển cho kế toán vật liệu hạch toán, 1 liên lưu, 1 liên người nhận đưa về nộp cho đội trưởng hoặc cán bộ kỹ thuật phụ trách công trường để kiểm tra số lượng và chất lượng vật liệu.

Cuối tháng nhân viên kinh tế đội công trình tập hợp các chứng từ trên về phòng kế toán của công ty. Tại đây, kế toán vật tư kiểm tra tính hợp pháp, đúng đắn của chứng từ và hạch toán. Kế toán căn cứ vào số dự toán và nhu cầu sử dụng để hạch toán, thông thường nhu cầu sử dụng không được vượt quá số dự toán. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Đối với vật tư xuất từ kho của Công ty thì giá trị thực tế vật liệu được tính theo phương pháp thực tế đích danh.

Ví dụ: Trong quý IV/2013, Công ty CP ĐTXD & TM Sóc Sơn nhận thi công công trình “xây Trường Cấp 2 Xuân Thu” thực hiện giao khoán cho Xí nghiệp xây lắp I thi công từ ngày 01/10/2013 và hoàn thành bàn giao ngày 31/12/2013.

Ngày 02/10/2013, Công ty xuất kho thép phục vụ công trình trị giá là 184.625.200 đồng. Căn cứ vào các chứng từ gốc: Phiếu xuất kho (biểu 2.1) kế toán tiến hành ghi đồng thời vào sổ Nhật ký chung và Sổ cái TK 154 toàn doanh nghiệp. Từ phiếu xuất kho (biểu 2.1) kế toán tiến hành ghi sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541- CPNVLTT (chi tiết cho từng CT, HMCT).

Khi xuất vật tư sử dụng kế toán định khoản:

  • Nợ TK 1541 (XT): 184.625.200
  • Có TK 152: 184.625.200

Dưới đây là phiếu xuất kho ở công ty biểu 2.1

  • Biểu 2.1 Phiếu xuất kho

Đối với vật tư không qua kho: Căn cứ vào giấy yêu cầu cung cấp vật tư, cán bộ vật tư tiến hành mua và chuyển thẳng tới nơi thi công không qua kho của công ty.

Các chứng từ có liên quan là các hoá đơn GTGT, chứng từ phản ánh chi phí thu mua, chi phí vận chuyển và biên bản giao nhận vật tư đối với bộ phận sử dụng.

Đối với vật tư Công ty mua xuất thẳng tới công trình thì giá thực tế vật tư xuất dùng được tính:

  • Giá thực tế của nguyên vật liệu = Giá mua trên hoá đơn + Chi phí vận chuyển.

Khi các tổ đội công trình sử dụng NVL phải có đầy đủ chứng từ hợp lý hợp lệ, kế toán căn cứ vào số dự toán và nhu cầu sử dụng để hạch toán, thông thường nhu cầu sử dụng không được vượt quá số dự toán. Qua đó ta có thể thấy NVL sử dụng tại Doanh nghiệp được quản lý chặt chẽ, nên ít khi xảy ra trường hợp sử dụng lãng phí. Vật liệu được đưa vào sử dụng đúng thời điểm không làm giảm tiến độ thi công các công trình. Phế liệu thu hồi của các công trình được tổ chức bán lại nhằm tạo thu nhập cho công ty tránh lãng phí và tăng giá thành sản phẩm.

Ví dụ: Ngày 10/10/2013 công ty mua gạch đinh đặc 150.000 viên và 1000 m3 đá viên của công ty TNHH Hoa Mai xuất thẳng phục vụ thi công công trình Trường Cấp 2 Xuân Thu không qua kho.

Căn cứ vào hoá đơn GTGT 0000324 (biểu 2.2) kế toán phản ánh nghiệp vụ vào sổ Nhật ký chung biểu 2.3, sau đó phản ánh trên sổ cái TK 154 biểu 2.4. Từ sổ nhật ký chung, hoá đơn GTGT kế toán phản ánh trên sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541-CPNVLTT(Chi tiết cho từng CT, HMCT) biểu 2.5. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Chương 3 Một số ý kiến nhận xét và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần đầu tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn

3.1 Đánh giá chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Đầu Tư Xây Dựng &Thương Mại Sóc Sơn

Hiện nay, khi bước sang nền kinh tế thị trường, các DN được giao quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính, đảm bảo hoạt động có hiệu quả, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Đây là cơ hội để các DN phát huy sự chủ động sáng tạo của mình nhưng đồng thời cũng là một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp nào không thích nghi được sẽ không thể tồn tại.

Công ty cổ phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn từ chỗ cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, nghèo nàn, lạc hậu với một đội ngũ cán bộ chuyên môn còn hạn chế. Giờ đây Công ty đã vươn lên cùng những biến động sâu sắc và chuyển mình của cơ chế quản lý kinh tế trên địa bàn Hà nội nói riêng và cả nước nói chung. Công ty đã và đang hoà mình vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.

Công ty đã xây dựng cho mình một bộ máy quản lý đơn giản và gọn nhẹ, nhưng đầy đủ các phòng ban chức năng, đảm nhận được mọi công việc cơ bản của một doanh nghiệp phải có, đồng thời thực hiện tốt các công việc đặc thù về lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty. Trên thực tế đã cho thấy việc tổ chức bộ máy quản lý của Công ty là khoa học và phù hợp. Trước những biến động của thị trường, bộ máy quản lý của Công ty luôn tỏ ra linh hoạt, thích ứng nhanh và luôn tìm cách đầu tư sao cho có hiệu quả nhất. Có thể nói những thành tựu mà Công ty có được như hiện nay, trước hết là bắt nguồn từ hiệu quả của việc sắp xếp, tổ chức bộ máy quản lý.

Công ty đã thực hiện tuân thủ chế độ chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước, khai thác sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, làm tròn nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước. Đồng thời không ngừng mở rộng thị trường, đáp ứng nhu cầu về công trình xây lắp của các địa phương, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Trong quá trình thi công xây lắp, Công ty luôn chú trọng tới các mục tiêu an toàn, chất lượng và bảo đảm tiến độ thi công…Đồng thời, Công ty tổ chức các hội thi tay nghề, thi an toàn lao động…nhằm làm cho công nhân nâng cao được trình độ tay nghề, tinh thần trách nhiệm với công việc. Chính vì vậy Công ty đã có nhiều khách hàng với những công trình có giá trị lớn, đảm bảo đủ việc làm và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên.

3.1.1 Ưu điểm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Góp phần vào những thành tích chung của Công ty phải kể đến những thành công trong công tác kế toán, đặc biệt là kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại Công ty. Điều đó được thể hiện qua những mặt sau:

Về bộ máy kế toán: Phòng kế toán của Công ty cũng được bố trí gọn nhẹ, hợp lý, phân công công việc cụ thể rõ ràng. Với số lượng nhân viên như vậy bộ máy kế toán đã phối hợp hoạt động có hiệu quả và Công ty có điều kiện chuyên môn hoá lao động kế toán theo các phần hành.

Đội ngũ cán bộ kế toán của Công ty đều có trình độ đại học, có kinh nghiệm lâu năm và sự nhiệt tình, luôn luôn cố gắng trau dồi, bổ sung kiến thức cho phù hợp với công tác. Cũng như sự nhạy bén trong việc xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tổng hợp thông tin kế toán.

Công ty luôn tạo điều kiện tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho các bộ nhân viên kế toán để phù hợp với tình hình mới. Bên cạnh đó, trong quá trình công tác, dựa vào những vấn đề thực tiễn nẩy sinh các cán bộ kế toán luôn mạnh dạn đề xuất ý kiến của mình. Đưa ra trao đổi, bàn bạc nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán ở Công ty.

Về hình thức kế toán: Công ty đã áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung rất gọn nhẹ, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu quản lý của Công ty.

Công ty chấp hành đầy đủ các chế độ chính sách do Nhà nước quy định, ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên hệ thống sổ sách. Nhờ đó công tác kế toán ở Công ty đã góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Hệ thống chứng từ kế toán: được lập theo đúng mẫu qui định của Bộ Tài Chính và phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Việc tập hợp, bảo quản, lưu trữ được tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp lý và đúng theo quy định. Nhìn chung, hệ thống chứng từ ban đầu của Công ty được kiểm tra khá chặt chẽ, hợp lý, đảm bảo đúng đắn của số liệu.

Về hệ thống báo cáo tài chính: Công ty luôn lập đủ và đúng thời hạn các Báo cáo tài chính theo quy định bắt buộc của Bộ Tài Chính và các báo cáo quản trị theo yêu cầu nội bộ. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

  • Về phương pháp tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm

Công tác này đã được Công ty phản ánh đúng thực trạng, đáp ứng được yêu cầu quản lý mà Công ty đặt ra, đảm bảo được sự thống nhất về phạm vi và phương pháp tính toán các chỉ tiêu kế toán và các bộ phận có liên quan. Công ty đã vận dụng phương pháp trực tiếp để tính giá thành sản phẩm. Đây là phương pháp tính giá thành tương đối dễ dàng, chính xác. Với phương pháp này kế toán chỉ phải tập hợp đầy đủ chi phí cho từng công việc, từng hạng mục công trình. Bên cạnh các chi phí trực tiếp được tập hợp ngay, các chi phí gián tiếp (chi phí chung) được phân bổ theo một tiêu thức nhất định.

3.1.2 Nhược điểm

Bên cạnh những mặt tích cực trong công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm, tại Công ty vẫn còn những mặt hạn chế cần phải khắc phục để đi đến hoàn thiện.

Qua tìm hiểu thực tập tại phòng kế toán tài vụ của công ty cổ phần Đầu tư xây dựng & Thương mại Sóc Sơn và đi sâu về phần hành kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại công ty em nhận thấy công tác kế toán này còn có một số những hạn chế cụ thể sau:

  • Quản lý chi phí nguyên vật liệu

Tại công ty vật tư chủ yếu là mua ngoài ở thị trường và mua theo từng đợt theo yêu cầu sử dụng và tiến độ thi công nên nguồn cung cấp, giá cả không ổn định. Công ty vẫn chưa có được những nhà cung cấp uy tín, đảm bảo chất lượng về mặt giá cả Do đó nó đã gây khó khăn cho công tác quản lý chi phí nguyên vật liệu vì công trình xây dựng thường kéo dài nên có nhiều biến động kèm theo sự biến động cung cầu trên thị trường làm ảnh hưởng đến CPSX và giá thành sản phẩm.

  • Về trích các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN)

Đối với số công nhân trực tiếp sản xuất và công nhân trực tiếp vận hành máy thi công trong danh sách biên chế của công ty thì Công ty không tiến hành trích các khoản trích theo lương cho người lao động nên chưa bảo đảm được quyền lợi cho người lao động cũng như chưa khuyến khích được người lao động hăng say tích cực hơn trong công việc. Vì vậy, hiệu quả sản xuất chưa cao.

  • Về sổ sách tài khoản áp dụng khi tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm

Khi tập hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm kế toán tập hợp chi phí qua các sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541- CPNVLTT, 1542-CPNCTT, 1543-CPSDMTC, 1544-CPSXC chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình sau đó tiến hành lập bảng tính giá thành cho CT, HMCT. Việc sử dụng nhiều sổ sách như vậy khiến cho việc tập hợp chi phí trở nên phức tạp, mất nhiều thời gian và khá dườm dà. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

  • Hạch toán chi phí thiệt hại trong sản xuất:

Trong ngành xây lắp thường có các khoản thiệt hại trong sản xuất. Các khoản thiệt hại này bao gồm: Thiệt hại phá đi làm lại và thiệt hại về ngừng sản xuất. Đây là những khoản chi phí không ghi trong kế hoạch và dự toán, là một trong những nhân tố làm tăng giá thành công tác xây lắp. Chính vì vậy, kế toán phải phản ánh đầy đủ, chính xác cho từng trường hợp thiệt hại. Khi phát sinh thiệt hại các đội không tiến hành lập các biên bản xác định thiệt hại để xác định rõ nguyên nhân, người chịu trách nhiệm làm sai lệch thông tin kế toán. Như vậy, công ty cũng không thể đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đội để có thể đưa ra biện pháp xử lý kịp thời.

  • Về việc trích lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp:

Hiện tại công ty không tiến hành trích lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp. Do đó khi các khoản chi phí này phát sinh sẽ làm tăng chi phí bất thường và giảm lợi nhuận trong kỳ của Công ty.Việc hạch toán giá thành của từng công trình sẽ không chính xác.

  • Về việc luân chuyển chứng từ:

Để có thể hạch toán, tập hợp được chi phí thì kế toán cần phải có những chứng từ hoá đơn được gửi về phòng kế toán.Chỉ khi nhân viên kinh tế đội gửi chứng từ về lúc đó phòng kế toán mới tập hợp được chi phí phát sinh trong tháng.

Cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác công ty có địa bàn hoạt động rộng nên việc gửi chứng từ của các đội về công ty thường bị chậm chễ, làm cho việc hạch toán không kịp thời, hơn nữa khối lượng công việc bị dồn vào một thời điểm có thể dẫn tới sai sót không đáng có như bỏ sót nghiệp vụ, ghi nhầm số liệu. Những điều này làm sai lệch thông tin kế toán cung cấp cho quản lý.

Vì vậy, công ty nên quy định thời điểm nộp chứng từ cho các đội để có thể đẩy nhanh việc luân chuyển chứng từ giữa các đội và phòng kế toán của công ty.

  • Về việc ứng dụng phần mềm kế toán trong công tác kế toán:

Đối với các doanh nghiệp xây lắp, khối lượng công việc lớn, thời gian thi công dài, công trình nằm rải rác việc áp dụng kế toán thủ công gây ra không ít khó khăn cho công việc hạch toán, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Công ty đã trang bị hệ thống máy tính hiện đại tuy nhiên máy tính chỉ dùng để soạn thảo văn bản, in mẫu sổ sách và ứng dụng Excel tính lương trong bảng thanh toán lương, khấu hao hàng tháng cho TSCĐ…Công việc kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dồn vào cuối tháng nên ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin kế toán.

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

3.2.1 Tính tất yếu phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn

Ngày nay, xu hướng hội nhập cùng với toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong tất cả lĩnh vực. Trong đó lĩnh vực kế toán là một công cụ quan trọng trong công tác quản lý kinh tế giúp các doanh nghiệp phát triển và thành đạt. Chính vì vậy Nhà nước ta vẫn đang tiếp tục xây dựng luật, chuẩn mực và ban hành các thông tư hướng dẫn kế toán để có xu hướng phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế. Đứng trước những thay đổi đó Công ty cần phải có những biện pháp kế toán sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị mình, cập nhật các chuẩn mực kế toán mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác kế toán. Do vậy tính tất yếu của Công ty là phải hoàn thiện công tác kế toán để phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, hòa nhập với sự phát triển của thế giới và có khả năng cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước.

3.3. Nội dung và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn

3.3.1. Yêu cầu của công tác hoàn thiện

Việc tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý chính là điều kiện quan trọng để thực hiện tốt chức năng và phát huy vai trò kế toán trong công tác quản lý. Vì vậy, việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp cần tôn trọng các nguyên tắc, yêu cầu sau:

  • Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp phải phù hợp với luật kế toán Việt Nam, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước.
  • Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp phải phù hợp với chế độ chính sách, thể lệ, văn bản pháp quy về kế toán do Nhà nước ban hành.
  • Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp phải phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp xây lắp.
  • Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp phải phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý của doanh nghiệp xây lắp.
  • Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp phải gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả.

Theo đó để công tác hoàn thiện là thực sự có chất lượng và có thể đi vào thực tiễn, công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo đúng chuẩn mực kế toán mà Nhà nước quy định.

3.3.2. Một số giải pháp

3.3.2.1 Ý kiến thứ nhất: Về chi phí nguyên vật liệu Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Chi phí NVL chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm nên việc kiểm soát chặt chẽ chi phí này là rất quan trọng. Tại công ty vật tư chủ yếu là mua ngoài ở thị trường và mua theo từng đợt theo yêu cầu sử dụng và tiến độ thi công nên nguồn cung cấp, giá cả không ổn định. Do đó, việc mua vật tư cần phải được lập kế hoạch chặt chẽ, được cung cấp cho đội sản xuất kịp thời, tránh bị thiếu hụt gây gián đoạn thi công, hay dư thừa gây lãng phí. Công ty nên tìm những nhà cung cấp vật tư có uy tín, là khách hàng thường xuyên, cung cấp đầy đủ, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thi công, hạn chế chi phí vận chuyển, đảm bảo ổn định giá cả góp phần ổn định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không có quá nhiều biến động do cung cầu trên thị trường.

3.3.2.2 Ý kiến thứ hai: Về việc tiến hành trích các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) đối với công nhân trực tiếp xây lắp

Trong Công ty hiện nay không tiến hành trích các khoản trích theo lương (BHYT, BHXH, KPCĐ, BHTN) cho công nhân trực tiếp sản xuất và công nhân trực tiếp vận hành máy thi công (đều là công nhân trong biên chế). Do đó để khuyến khích người lao động tích cực, hăng say hơn trong công việc góp phần tăng năng suất lao động và chất lượng công trình, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người lao động theo đúng luật lao động và tạo mối quan hệ gắn bó lâu dài giữa họ và doanh nghiệp, công ty nên tiến hành trích các khoản trích theo lương cho số công nhân trực tiếp sản xuất nằm trong danh sách biên chế của công ty, số công nhân hợp đồng có thời gian làm việc từ 3 tháng trở lên và công nhân vận hành máy thi công theo chế độ quy định.

  • Năm 2014 tỉ lệ trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN được quy định như sau:

Đối với lực lượng công nhân thuê ngoài (thường là số lượng rất lớn), Doanh nghiệp nên có những khoản khen thưởng, trợ cấp cho những cá nhân, tổ, đội sản xuất có kết quả lao động tốt, tiến độ thi công nhanh, sử dụng tiết kiệm tránh lãng phí vật tư, thiết bị nhằm khuyến khích người lao động làm việc tốt hơn, có trách nhiệm hơn đối với công việc từ đó góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

3.3.2.3 Ý kiến thứ 3: Về việc sử dụng tài khoản 154 cấp 2 và sổ sách sử dụng để hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Trong quá trình hạch toán, doanh nghiệp thường sử dụng sổ chi phí sản xuất kinh doanh tài khoản 154 cấp hai như: 1541- CPNVLTT,1542-CPNCTT, 1543-CPSDMTC,1544-CPSXC để theo dõi cho từng công trình, hạng mục công trình. Sau đó đến cuối kỳ tính giá tập hợp chi phí tính giá thành sản phẩm, có thể nói quá trình hạch toán này của doanh nghiệp khá là dài dòng làm cho các nghiệp vụ được phản ánh lặp đi lặp lại ở các sổ sách, khiến cho công việc tập hợp chi phí trở nên mất nhiều thời gian hơn với người kế toán và chưa phù hợp với quyết định 48. Do đó theo em doanh nghiệp chỉ nên mở một sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 154- Tên công trình để tiện theo dõi và tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành cho CT, HMCT đó. Làm như vậy doanh nghiệp vẫn có thể theo dõi kiểm soát một cách chặt chẽ các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm mà không cần phải chi tiết đến từng khoản mục chi phí. Hơn nữa, việc làm này cũng phù hợp chế độ theo quyết định 48.

  • Ví dụ: Đối với công trình trường Cấp 2 Xuân Thu

Doanh nghiệp chỉ cần mở sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541-Cấp 2 Xuân Thu để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành và sẽ không cần phải mở các sổ chi phí SXKD theo các khoản mục chi phí NVLTT, NCTT, SDMTC, SXC. Tương tự, với các công trình khác thì doanh nghiệp cũng chỉ nên mở một sổ chi phí sản xuất kinh doanh để theo dõi như:

  • TK 1542- nhà VH Đông Xuân TK 1543- Đường 16
  • TK 1544- Nhà Phù Lỗ
  • Dưới đây là sổ chi phí sản xuất kinh doanh TK 1541- Cấp 2 Xuân Thu

3.3.2.4 Ý kiến 4: Hoàn thiện hạch toán chi phí thiệt hại trong sản xuất

Khi phát sinh các khoản thiệt hại thì chi phí vật tư, nhân công, máy thi công sẽ tăng lên. Tuy nhiên các khoản chi phí này lại không được tính vào giá thành công trình. Do đó không phản ánh đúng được giá thành công trình.

Đối với những thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân chủ quan, chẳng hạn do lỗi trực tiếp của cá nhân, Công ty cần yêu cầu cá nhân sai phạm phải bồi thường bằng tiền mặt hoặc trừ vào lương để nâng cao ý thức trách nhiệm cho đội ngũ lãnh đạo và cán bộ công nhân của Công ty

  • Nợ TK 1381: Xử lý giá trị thiệt hại Có TK 154:

Sau đó tùy nguyên nhân có thể sử lý như sau:

  • Nợ TK 131: Nếu nhà đầu tư chịu
  • Nợ TK 1388: Nếu người đầu tư chịu Có TK 1381:

Đối với những thiệt hại phát sinh từ nguyên nhân khách quan không thể tránh được, công ty nên tính vào chi phí khác

  • Nợ TK 811
  • Có TK 111, 334,152…

3.3.2.5 Ý kiến thứ 5: Tiến hành trích lập dự phòng chi phí bảo hành công trình xây lắp:

Nội dung bảo hành công trình bao gồm: khắc phục, sửa chữa, thay thế thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết hoặc khi công trình vận hành, sử dụng không bình thường do lỗi của nhà thầu gây ra. Xuất phát từ các đặc điểm của ngành xây lắp là sản phẩm mang tính đơn chiếc, khối lượng lớn, giá trị sử dụng lâu dài, chỉ có thể nhận biết được chất lượng của công trình sau khi bàn giao và đưa vào sử dụng, thời hạn bảo hành dài thường là 12 tháng, 24 tháng hoặc dài hơn(tùy từng công trình). Vì vậy, việc lập dự phòng về bảo hành công trình xây lắp phải được tính toán một cách chặt chẽ (lập dự toán chi phí trích trước). Thực tế, Công ty không trích lập dự phòng các khoản chi phí này do đó khi các khoản chi phí này phát sinh sẽ làm tăng chi phí bất thường và giảm lợi nhuận trong kỳ của Công ty. Nhằm giảm bớt và loại bỏ sự bất ổn của chi phí các kỳ sản xuất kinh doanh, kế toán nên tiến hành trích lập dự phòng bảo hành công trình xây lắp. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Khi trích lập dự phòng chi phí bảo hành công trình ghi:

  • Nợ TK 154:
  • Có TK 352:

Khi phát sinh chi phí bảo hành công trình:

  • Nợ TK 154:
  • Nợ TK 133:
  • Có TK 111, 112, 152:

Cuối kỳ kết chuyển:

  • Nợ TK 632:
  • Có TK 154:

Khi công việc bảo hành hoàn thành, bàn giao:

  • Nợ TK 352:
  • Có TK 632:

Nếu số trích lập dự phòng lớn hơn chi phí bảo hành thực tế và công trình đã hết thời hạn bảo hành thì phải hoàn nhập số dự phòng đã lập:

  • Nợ TK 352:
  • Có TK 711:

3.3.2.6 Ý kiến thứ 6: Việc luân chuyển chứng từ

Nhằm khắc phục tình trạng luân chuyển chứng từ chậm trễ dẫn đến hậu quả là công việc dồn ép vào cuối kỳ,dễ mắc phải sai lầm thiếu sót trong tính toán ,không cập nhật sổ sách theo đúng quy định thì doanh nghiệp nên đôn đốc nhân viên kinh tế đội công trình nộp chứng từ theo đúng thời gian quy định chậm nhất là cuối tháng để tránh trường hợp chi phí phát sinh tháng này lại chuyển sang tháng sau mới được hạch toán. Đồng thời khi bàn giao chứng từ cần có sổ giao nhận chứng từ để làm căn cứ xác định trách nhiệm trong việc bàn giao, bảo quản chứng từ. Đưa ra hình thức khiển trách và kỷ luật đối với các trường hợp không tuân thủ đúng, đồng thời khuyến khích cán bộ nhân viên nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực lao động sáng tạo bằng các hình thức khen thưởng phù hợp.Ngoài ra công ty nên cử nhân viên thường xuyên xuống các công trình để giám sát kiểm tra việc ghi chép cập nhật chứng từ nhằm ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra như tránh tiếp nhận những chứng từ không hợp lệ.

3.3.2.7 Ý kiến thứ 7: Vấn đề ứng dụng phần mềm kế toán ở Công ty

Do công việc của phòng kế toán rất nhiều đặc biệt là vào cuối kỳ kế toán mà công ty mới chỉ sử dụng máy vi tính với các phần mềm tin học văn phòng đơn giản như Word, Excel để thay thế cho việc ghi chép thủ công nên vẫn có thể xảy ra sai sót trong việc hạch toán. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Theo em Công ty nên trang bị phần mềm kế toán để giảm thiểu công việc kế toán viên, đồng thời phần mềm kế toán cũng tạo hiệu quả công việc cao hơn, tránh sai sót mà lại nhanh chóng tiện lợi.

  • Phần mềm kế toán SAS INNOVA của công ty cổ phần SIS Việt Nam
  • Phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING của Công ty CP FAST Việt
  • Phần mềm kế toán MISA của Công ty cổ phần MISA
  • Phần mềm kế toán SMART
  • Phần mềm kế toán GAMA

Phần mềm kế toán máy CicAccount

Công ty nên lựa chọn phần mềm kế toán phù hợp với lĩnh vực hoạt động và tổ chức lớp đào tạo bồi dưỡng cách sử dụng phần mềm kế toán cũng như là trình độ tin học văn phòng của nhân viên phòng kế toán để nâng cao hiệu quả làm việc,và giảm nhẹ số lượng công việc cho cán bộ công nhân viên phòng kế toán.

3.3.4. Điều kiện thực hiện các giải pháp

Về phía Nhà nước: Cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản pháp luật kế toán phù hợp hơn cho các đối tượng doanh nghiệp.

Về phía Công ty: Cần quan tâm đến việc hoàn thiện công tác kế toán nói chung, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng. Kế toán trưởng cần phải thường xuyên đôn đốc kiểm tra, đồng thời chỉ đạo các nhân viên thực hiện đúng chế độ kế toán mà Công ty áp dụng. Công ty nên thiết lập bộ phận kế toán quản trị để kết hợp với phòng kỹ thuật lập kế hoạch thi công, theo dõi thực hiện thi công các công trình nhằm lên kế hoạch mua vật tư chính xác, chặt chẽ hơn. Công ty cần tìm kiếm cho mình những khách hàng uy tín phù hợp với khả năng sản xuất của Công ty.

Trên đây là một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng & TM Sóc Sơn. Em mong rằng những ý kiến đóng góp đó sẽ có tác dụng tích cực đối công tác kế toán tại Công ty.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

Hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm là một phần hành kế toán phức tạp song lại rất quan trọng trong toàn bộ công tác hạch toán ở các doanh nghiệp xây dựng. Và đó cũng là điều kiện giúp các doanh nghiệp xây dựng tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Trong doanh nghiệp xây dựng, việc tính giá thành được tốt thì đòi hỏi việc tập hợp chi phí phải có độ chính xác cao. Các chi phí đó phát sinh liên tục và rất đa dạng. Do đó, việc tính giá thành thực tế để xác định ngược lại các khoản chi phí đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm, tiết kiệm hay lãng phí, có hiệu quả hay không mà từ đó đặt ra được các chỉ tiêu phấn đấu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.

Xuất phát từ quan điểm trên, vì vậy trong thời gian thực tập ở Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng & Thương mại Sóc Sơn trên cơ sở lý luận đã được học và tình hình thực tế của Công ty, em đã đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu công tác hạch toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Với đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng & Thương mại Sóc Sơn “bài khoá luận tốt nghiệp” của em đã trình bày thực tế kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty. Bên cạnh đó, chuyên đề còn đề cập tới những ý kiến đóng góp của em nhằm hoàn thiện tổ chức công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng & Thương mại Sóc Sơn thời gian thực tập ở Công ty là cơ hội để em nắm bắt và xâm nhập vào thực tế, củng cố những kiến thức lý luận đã được lĩnh hội ở nhà trường, từ đó có sự so sánh với thực tế. Là một sinh viên sắp tốt nghiệp kiến thức về thực tiễn và lý luận còn non nớt,với thời gian thực tập không nhiều nên trình độ lý luận của em còn hạn chế cho nên dù nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn cùng với sự chỉ bảo giúp đỡ của các cô chú và anh chị trong phòng kế toán tài chính của Công ty cổ phần Đầu Tư Xây Dựng & Thương Mại Sóc Sơn, song bài viết của em cũng không tránh được những sai sót. Vì vậy em rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến thêm của các thầy cô để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn.

Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn Th.S Phạm Văn Tưởng và các cô chú, anh chị trong phòng Kế toán – Tài vụ của Công ty CP ĐTXD & TM Sóc Sơn đã giúp em hoàn thành bài đề tài này. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty Sóc Sơn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD ở Cty Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x