Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang trực tiếp trong bệnh da bọng nước tự miễn tại bệnh viện Bạch Mai dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

Bệnh da bọng nước tự miễn (BDBNTM) là một nhóm bệnh gồm các rối loạn có cơ chế bệnh sinh liên quan đến quá trình tự miễn, có tổn thương cơ bản là bọng nước ở da và/ hoặc niêm mạc và có cơ chế bệnh thượng bì. Bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới. Tỷ lệ và tần suất bệnh thay đổi theo từng vùng, từng quốc gia, nhưng hầu như không khác biệt nhiều giữa các nước kinh tế phát triển và các nước đang phát triển. Tỷ lệ này thay đổi từ 0,5 – 4/100.000 dân.

Theo số liệu thống kê cho thấy số bệnh nhân (BN) được chẩn đoán BDBNTM tiếp tục có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Từ ngày 01/09/2019 đến 31/06/2021 tại Bộ môn Mô Phôi – Giải Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có 92 trường hợp được chẩn đoán xác định BDBNTM. Trong đó, 55 ca BDBNTM trong thượng bì gồm: pemphigus thông thường, pemphigus lá, pemphgus IgA với tỷ lệ lần lượt là 74,6%, 23,6% và 1,8%. 37 ca BDBNTM dưới thượng bì gồm: pemphigoid bọng nước, bệnh IgA dạng dải, lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước và viêm da dạng herpes với tỷ lệ lần lượt là 73%, 21,6%, 2,7% và 2,7%.

BDBNTM là nhóm bệnh da đa dạng với tiên lượng và điều trị khác biệt. Biểu hiện bệnh chủ yếu trên lâm sàng là các bọng nước và vết trợt loét diễn biến mạn tính. Không chỉ gây ảnh hưởng tới yếu tố thẩm mỹ, một số loại bệnh nhóm này có nguy cơ diễn biến nặng, gây biến chứng, thậm chí gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Tuy tỉ lệ BDBNTM không cao trong các bệnh da liễu, nhưng để chẩn đoán chính xác và điều trị cũng như tiên lượng còn gặp nhiều khó khăn.

Chẩn đoán bệnh da bọng nước tự miễn cần có sự phối hợp lâm sàng, mô bệnh hoc và miễn dịch học trong đó miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (MDHQTT) được xem là “tiêu chuẩn vàng”. Trước đây, công tác chẩn đoán xác định vị trí hình thành bọng nước và phân loại bệnh chủ yếu dựa trên đặc điểm lâm sàng của các hình thái và các xét nghiệm trên mô bệnh học (MBH). Sau khi kỹ thuật MDHQTT phát triển trong BDBNTM thì người ta đã phát hiện ra sự thay đổi miễn dịch khác nhau, cơ chế bệnh sinh trên từng loại bệnh cụ thể, đánh giá mức độ tiến triển cũng như hiệu quả điều trị lâm sàng.

Do tính khoa học và vai trò quan trọng trong chẩn đoán, ở nhiều nước trên thế giới đã kết hợp xét nghiệm mô bệnh học thường quy, miễn dịch huỳnh quang (MDHQ) giúp chẩn đoán chính xác từng thể bệnh, đánh giá mức độ tiến triển nhằm nâng cao chất lượng điều trị, cũng như giảm nguy cơ tái phát bệnh và tối ưu hóa phát hiện sớm bệnh, đặc biệt ở những bệnh nhân không có bọng nước.

Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ áp dụng kỹ thuật MDHQ trong vài năm trở lại đây và chỉ có ở một số bệnh viện lớn. Mặc dù giá trị của kỹ thuật trên ngày càng được khẳng định nhưng thực tế, các nghiên cứu về BDBNTM còn ít được đề cập và chưa phản ánh đẩy đủ. Vì thế, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang trực tiếp trong bệnh da bọng nước tự miễn tại bệnh viện Bạch Mai” được tiến hành nhằm mục tiêu sau:

  1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang trực tiếp của một số bệnh da bọng nước.
  2. Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nhuộm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp trong bệnh da bọng nước.

Chương 1 TỔNG QUAN Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

1.1. Các bệnh da bọng nước tự miễn

1.1.1 Khái niệm về bệnh da bọng nước tự miễn

Bệnh da bọng nước (Bullous disease) là bệnh có tổn thương cơ bản là bọng nước trên da được Guilaune Baillon phát hiện đầu tiên ở châu Âu vào thế kỷ XVI. Nhóm bệnh này có thể nguyên phát do di truyền khiếm khuyết gen hoặc mắc phải do rối loạn quá trình tự miễn hoặc do nhiễm virus, vi khuẩn.

BDBNTM là một nhóm bệnh da có biểu hiện lâm sàng là bọng nước trên da với có hoặc không kèm theo tổn thương niêm mạc, là bệnh mắc phải do rối loạn liên quan đến quá trình tự miễn. Người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại những thành phần cấu trúc của da và niêm mạc.

Theo nhiều nghiên cứu đã được công bố thì BDBNTM được chia thành 2 nhóm chính dựa vào vị trí hình thành bọng nước như sau:

  • Nhóm BDBNTM trong thượng bì gồm: pemphigus thông thường (PV), pemphigus sùi (PVe), pemphigus vảy lá (PF), pemphigus đỏ da (PE), pemphigus đặc hữu (EPF), pemphigus IgA (IAP), pemphigus á u (PNP), pemphigus dạng herpes (PH), pemphigus do thuốc (DIP).
  • Nhóm BDBNTM dưới thượng bì gồm: pemphigoid bọng nước (BP), pemphigoid niêm mạc (MMP), pemphigoid thai kỳ (GP), ly thượng bì bọng nước mắc phải (EBA), bệnh IgA dạng dải (LAD), lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước (BSLE) và viêm da dạng herpes (DH).

1.1.2. Phân loại các bệnh da bọng nước tự miễn Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

BDBNTM là một nhóm bệnh đa dạng trong các bệnh da liễu gồm các bệnh pemphigus, pemphigoid bọng nước, viêm da dạng herpes,… Tùy từng thể bệnh có đặc điểm lâm sàng, hình ảnh mô bệnh học và sự lắng đọng các tự kháng thể miễn dịch khác nhau, ở những vị trí khác nhau trong các lớp của da.

Có nhiều cách phân loại BDBNTM. Dựa vào vị trí hình thành bọng nước trong các lớp của da, bệnh này được chia thành 2 nhóm chính:

  • BDBNTM trong thượng bì hay nhóm bệnh
  • BDBNTM dưới thượng bì hay nhóm bệnh

Nhóm pemphigus

Ở nhóm này, cơ thể người bệnh sinh ra các tự khánh thể (KT) chống lại các cầu nối liên kết giữa các tế bào gai ở thượng bì, dẫn đến mất liên kết giữa các tế bào thượng bì, hình thành hiện tượng ly gai/tiêu gai và tạo ra các hốc chứa đầy dịch. Có nhiều yếu tố gây ra bệnh như nhiễm khuẩn, thuốc, hoá chất,… Phần lớn các trường hợp BN có KT IgG kháng lại các cầu nối liên kết giữa các tế bào gai ở thượng bì.

Dựa vào biểu hiện lâm sàng, thay đổi miễn dịch học, hình ảnh mô bệnh học và vị trí tổn thương, bệnh được chia thành hai nhóm chính:

  • Nhóm Pemphigus sâu bao gồm Pemphigus thể thông thường và Pemphigus sùi.
  • Nhóm Pemphigus nông bao gồm Pemphigus thể vảy lá và Pemphigus thể đỏ da.

Ngoài các hình thái chính trên, trong vài thập kỷ gần đây một số hình thái hiếm gặp của bệnh Pemphigus cũng được mô tả như Pemphigus dạng Herpes (Pemphigus herpetiteforme), Pemphigus IgA, Pemphigus thể á u (Pemphigus paraneoplastic)… Hiện nay, nhờ hiểu thêm cơ chế miễn dịch học, hình ảnh mô bệnh học và kết hợp lâm sàng, việc phân loại pemphigus ngày càng cụ thể và hoàn thiện. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

  • Nhóm pemphigoid

Pemphigoid là bệnh da bọng nước tự miễn dưới thượng bì lành tính tiến triển mạn tính, thường xuất hiện ở da, ít gặp ở niêm mạc. Bệnh có ở hầu hết các nước trên thế giới và thường gặp ở nhóm người lớn tuổi, chưa có sự xác định rõ ràng về tuổi, giới, chủng tộc.

Bệnh Pemphigoid đã được tách riêng ra thành một bệnh độc lập khác với những bệnh Pemphigus vào năm 1956 bởi Lever. Đến năm 1964, Jordon và Beutner chứng minh nhóm bệnh này có các tự KT tại mô và tự KT tuần hoàn chống lại các thành phần vùng màng đáy, làm lớp mô ở đây lỏng lẻo, hình thành bọng nước dưới thượng bì và dẫn đến các thể bệnh khác nhau. Bệnh có biểu hiện tương tự như pemphigus nhưng không có hiện tượng ly gai.

Dựa vào đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và cơ chế miễn dịch, nhóm này gồm các thể bệnh sau:

  • Bệnh pemphigoid bọng nước (BP).
  • Pemphigoid thai kì (Pemphigoid gestationis – PG)
  • Pemphigoid niêm mạc (mucous membrane pemphigoid –MMP)
  • Bệnh IgA dạng dải (LABD)
  • Bệnh viêm da dạng herpes (DH)
  • Ly thượng bì bọng nước mắc phải (EBA)
  • Lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước (BSLE)

Bảng 1. Phân loại các bệnh da bọng nước tự miễn

1.1.3. Đặc điểm lâm sàng một số BDBNTM

  • Nhóm pemphigus

Biểu hiện lâm sàng của nhóm pemphigus là các bọng nước nhăn nheo, xuất hiện đột ngột, rải rác toàn thân và dễ vỡ. Ngoài ra, bệnh nhân có thể có vết loét ở niêm mạc miệng. Bệnh tiến triển mãn tính. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là do các biến chứng nhiễm trùng, rối loạn nước điện giải và suy kiệt. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Nhóm này có nhiều thể bệnh, các bệnh thường gặp:

Pemphigus thông thường – Pemphigus vulgaris (PV)

  • Là thể lâm sàng hay gặp nhất, chiếm khoảng 60-70% trong tổng số các hình thái pemphigus. Bệnh hay gặp ở người 40-50 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là tương đương nhau.
  • Bọng nước xảy ra đột ngột trên toàn thân trong vài tuần hay vài tháng, rải rác khắp cơ thể, tập trung ở vùng tỳ đè. Bọng nước nằm rời rạc trên nền da bình thường, kích thước từ một đến vài centimet, nhăn nheo, lấp đầy bởi dịch trong và dịch huyết thanh, rất dễ vỡ.
  • Ngứa ít, thường bệnh nhân có đau rát.
  • Toàn trạng sớm bị ảnh hưởng, có thể sốt cao, kéo dài. Thể trạng suy sụp dần do những đợt phát bệnh liên tục, hoặc có thể có những đợt rối loạn tiêu hóa, tâm thần, tiết niệu.

Hình 1. Tổn thương của bệnh nhân pemphigus thông thường

Pemphigus sùi – Pemphigus vegetans (PVe)

  • Là một biến thể lâm sàng khu trú của pemphigus thể thông thường, bệnh rất hiếm gặp.
  • Bọng nước vỡ nhanh, sau đó sùi lên hình thành những vùng u nhú có mủ, đóng vảy tiết, bốc mùi hôi thối đặc biệt. Vị trí thường ở niêm mạc và các nếp gấp lớn như nách, bẹn, mông, nếp dưới vú.

Hình 2. Tổn thương của bệnh nhân pemphigus sùi

Pemphigus vảy lá – Pemphigus foliaces (PF) Gồm 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn bọng nước: Khởi đầu bằng những bọng nước nhỏ, mềm, nhăn nheo. Vị trí ở mặt, ngực, lưng. Tổn thương có thể xuất hiện trên nền da lành hay mảng đỏ Niêm mạc không bị tổn thương. Đây là tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán phân biệt với pemphigus thể thông thường.
  • Giai đoạn đỏ da: bọng nước biến mất nhanh, để lại những mảng ban đỏ, tróc vảy, rỉ dịch nhiều, chiếm toàn bộ cơ thể hình thành bệnh cạnh đỏ da toàn thân. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Hình 3. Tổn thương da của bệnh nhân pemphigus vảy lá

  • Nhóm pemphigoid

Là nhóm bệnh da bọng nước tiến triển cấp hoặc bán cấp, chủ yếu tổn thương ở da, ít gây tổn thương niêm mạc. Khởi phát là khi xuất hiện các tiều triệu như ngứa, hồng ban, mày đay, sẩn… Sau vài tuần đến vài tháng bắt đầu xuất hiện bọng nước lan khắp cơ thể. Bệnh có thể gặp ở bất kì vị trí nào nhưng hiếm gặp ở niêm mạc, ít nghiêm trọng và không dễ vỡ như pemphigus.

Thường gặp chủ yếu 2 thể bệnh sau:

  • Bệnh pemphigoid bọng nước – Bullous pemphigoid (BP)

Là BDBNTM dưới thượng bì lành tính, tiến triển mạn tính. Bệnh điển hình gặp ở người già, tuổi thường gặp 60-80 tuổi. Tỉ lệ mắc ở nam và nữ bằng nhau hoặc nam hơi nhiều hơn nữ.

Các bọng nước có kích thước lớn từ một đến vài centimet, hình tròn hay hình bầu dục trên nền da đỏ hay bình thường, rải rác từng cái hoặc tập trung thành hình đa cung. Bọng nước căng chắc, không vỡ, chứa dịch trong, có khi là máu, khi vỡ thành đám phủ vảy tiết. Ngoài bọng nước còn có thể thấy các loại tổn thương khác như dát đỏ, sẩn và mảng mày đay hình vằn vèo và có bọng nước xuất hiện trên đó.

Tổn thương khi lành không để lại sẹo, có thể là những mảng tăng hoặc giảm sắc tố, hiếm hơn là những hạt kê. Vị trí tổn thương đối xứng, thường gặp ở bụng dưới, mặt trong đùi, bẹn, nách, mặt gấp cẳng tay, phần dưới cẳng chân. Ít gặp tổn thương niêm mạc, nếu có thường ở niêm mạc miệng, bọng nước nhỏ, khó vỡ. khi vỡ lành nhanh để lại sẹo.

  • Ngứa thay đổi từ không ngứa đến ngứa rất nhiều, có thể xuất hiện trước tổn thương da một thời gian.
  • Toàn thân chỉ bị ảnh hưởng nếu tổn thương da lan rộng.

Hình 4. Tổn thương da của bệnh nhân pemphigoid bọng nước

  • Viêm da dạng herpes – Dermatitis herpetiformis (DH)

Tổn thương thường xuất hiện từ từ. Bệnh nhân sốt nhẹ hoặc không sốt, mệt mỏi, sút cân, kém ăn không đáng kể. Thường có dấu tiền triệu là ngứa, rát bỏng và đau. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Vị trí tổn thương chủ yếu là da, đối xứng, ở khuỷu, mặt gấp cẳng chân, cẳng tay, kế tiếp là ở mông, kẽ mông, đùi, mắt cá chân sau đó là lưng và bụng. Tổn thương niêm mạc chiếm 4,6% trường hợp, chủ yếu ở họng.

Tổn thương khởi phát là các ban đỏ, mụn nước, sẩn, mảng mề đay, sau dần trở thành bọng nước, xuất hiện lẻ tẻ hoặc chụm lại giống trong bệnh Herpes.

Bọng nước to bằng hạt ngô căng, chứa dịch màu vàng chanh, hiếm có bọng nước xuất huyết, tồn tại 5-7 ngày sau đó làm mủ và vỡ ra, đóng vảy tiết, vảy mủ.

Hình 5. Tổn thương da của bệnh nhân pemphigoid bọng nước

Lupus Ban đỏ hệ thống thể bọng nước – Bullous Systemic Lupus Erythematosus (BSLE)

  • Tổn thương giống trong bệnh Viêm da dạng
  • Bọng nước căng trên da bình thường hoặc ban đỏ, chủ yếu khu trú trên thân, cánh tay, đầu và cổ. Ít gặp tổn thương niêm mạc miệng.
  • Ngứa thay đổi từ không ngứa đến ngứa rất nhiều.

Hình 6. Tổn thương của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước

1.1.4 Đặc điểm mô bệnh học các bệnh da bọng nước tự miễn Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

  • Nhóm pemphigus

Các thể bệnh pemphigus có đặc điểm chung là:

Mô bệnh học : Bọng nước nằm ở nông, ở thượng bì. Đặc trưng bởi hiện tượng ly gai/tiêu gai ở thượng bì. Đây là hậu quả của sự mất liên kết giữa các tế bào thượng bì do cơ thể sinh ra các tự KT kháng thành phần của các cầu nối liên kết giữa các tế bào gai. Vị trí xảy ra ly gai phụ thuộc vào từng thể bệnh.

  • Pemphigus thông thường – Pemphigus vulgaris (PV)

Bọng nước đặc trưng hình thành trên lớp tế bào đáy, hoặc ở phần thấp lớp tế bào gai thượng bì. Hiện tượng tiêu gai xảy ra ở phần sâu trên màng đáy.

Trong bọng nước thường thấy các tế bào ly gai, dịch chứa bạch cầu đa nhân trung tính (BCĐNTT) và lympho bào. Các tế bào ly gai tập trung thành đám hoặc riêng lẻ, hình tròn, bào tương ưa toan, hạt nhân to, tăng sắc.

  • Pemphigus sùi – Pemphigus vegetans (PVe)

Đặc điểm mô bệnh học của pemphigus sùi gồm dày sừng, hiện tượng tiêu gai xảy ra ở phần sâu trên màng đáy kèm tăng sản thượng bì và tạo nhú thượng bì. Dịch bọng nước chứa BCĐNTT và bạch cầu đa nhân ái toan (BCĐNAT)

  • Pemphigus vảy lá – Pemphigus foliaces (PF)

Bọng nước dưới lớp sừng hoặc trong lớp gai, chứa dịch huyết thanh, tế bào ly gai và một vài BCĐNTT, đôi khi xuất hiện số lượng nhỏ BCĐNAT.

Tiêu gai rất nông ở phần cao của lớp gai hay ngay dưới lớp sừng.

  • Nhóm pemphigoid

Đặc điểm chung MBH nhóm này là bọng nước nằm ở sâu, dưới thượng bì và không có hiện tượng tiêu gai.

  • Bệnh pemphigoid – Bullous pemphigoid (BP)

Trong bệnh bọng nước pempigoid, bọng nước hình thành dưới thượng bì với xâm nhập chủ yếu BCĐNAT ở trung bì và trong bọng nước. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Sinh thiết tổn thương bọng nước trên nền da lành cho thấy xâm nhập rải rác tế bào viêm. Nhưng các tổn thương bọng nước trên nền da đỏ cho thấy xâm nhập nhiều tế bào viêm ở phần nông trung bì. Ngoài ra, hiện tượng ly gai có BCĐNAT cũng có thể quan sát thấy ở vùng da đỏ ở rìa các bọng nước này.

Viêm da dạng herpes – Dermatitis herpetiformis (DH)

  • Thượng bì hoàn toàn bình thường, bị đẩy lên cùng màng đáy, không có hiện tượng tiêu gai.
  • Ở dưới thượng bì nông thâm nhiễm nhiều tế bào lympho, BCĐNTT, BCĐNAT [2]
  • Lupus Ban đỏ hệ thống thể bọng nước – Bullous Systemic Lupus Erythematosus (BSLE)
  • Tương tự như

1.1.5. Đặc điểm xét nghiệm MDHQTT các BDBNTM

Nhóm pemphigus

  • Pemphigus thông thường – Pemphigus vulgaris (PV)

MDHQTT: Ở da cạnh bọng nước, có lắng đọng tự kháng thể IgG ở gian bào các tế bào thượng bì giống hình ảnh mạng lưới. Có khi gặp nhóm phụ IgG1 và IgG4, bổ thể C3 ít gặp hơn.

  • Pemphigus sùi – Pemphigus vegetans (PVe)

MDHQTT giống với PV

  • Pemphigus vảy lá – Pemphigus foliaces (PF)

MDHQTT: lắng đọng IgG dạng dải hoặc hạt ở bề mặt tế bào thượng bì nông hoặc toàn bộ gian bào thượng bì

Nhóm pemphigoid

  • Bệnh pemphigoid – Bullous pemphigoid (BP)

MDHQTT: 90% BN có lắng đọng IgG, gần 100% thấy có Lắng đọng IgG và C3 dọc theo màng đáy thành đường vạch mảnh, nhỏ, liên tục.

  • Viêm da dạng herpes – Dermatitis herpetiformis (DH)

MDHQTT: là xét nghiệm có giá trị nhất trong chẩn đoán DH. Vị trí lý tưởng là vùng da quanh tổn thương. 80 – 90% trường hợp lắng đọng IgA dạng hạt. Lắng đọng IgA có thể mất đi khi chế độ ăn không gluten nghiêm ngắt và kéo dài.

  • Lupus Ban đỏ hệ thống thể bọng nước – Bullous Systemic Lupus Erythematosus (BSLE)

MDHQTT: chủ yếu là lắng đọng IgG dạng dải, C3 và IgM cũng được thấy dưới dạng hạt tại vùng màng đáy

1.2. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng của MDHQTT trong BDBNTM Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

1.2.1. Lịch sử nghiên cứu, nguyên tắc và ứng dụng của MDHQTT trong BDBNTM

  • Lịch sử nghiên cứu và khái niệm MDHQ

Vào năm 1941, Coons, Creech và Jones đã phát minh ra kỹ thuật MDHQ – một kỹ thuật đánh dấu miễn dịch tin cậy để phát hiện những KN khác nhau tại mô, trong dịch cơ thể… Từ những năm 60, kỹ thuật được áp dụng trong chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng nhiều bệnh da, trong đó có bệnh da bọng nước.

Miễn dịch huỳnh quang (Immunofluorescence) là một kỹ thuật hóa mô để phát hiện kháng nguyên (KN) hoặc kháng thể (KT) và vị trí khu trú của các KN hoặc KT đó.

  • Nguyên lý của MDHQ

Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể được gắn chất màu huỳnh quang (Fluochromes). Fluochromes là hợp chất chứa electron, khi được chiếu sáng dưới bước sóng cụ thể sẽ nhanh chóng đạt trạng thái năng lượng mới không ổn định, do đó ngay lập tức trở về trạng thái cơ bản và phát ra ánh sáng có bước sóng dài hơn. Một chất màu huỳnh quang lý tưởng cần tạo liên kết bền với phân tử protein, đảm bảo không bị mất đi trong quá trình rửa, phát ra bước sóng ánh sáng có thể quan sát được bằng tia tử ngoại và đồng thời không làm thay đổi các phản ứng miễn dịch khi gắn vào KT đặc hiệu. Hiện nay có hai loại chất màu huỳnh quang thường được sử dụng là Fluorescine isothiocyannate-FITC và Tetramethylrhodamin isothiocyanate-TRITC.

Phức hợp kháng thể huỳnh quang được tạo ra sẽ gắn chặt vào KN, sẽ tạo nên một phức hợp miễn dịch bền vững. Không một kháng thể nào bị mất trong quá trình rửa. Phức hợp kháng nguyên – kháng thể – chất màu phát ra ánh sáng màu xanh (FITC) hoặc đỏ (TRITC) và được quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang.

Bộ điều hoà của kính hiển vi chứa nguồn ánh sáng có cường độ lớn, kích thích kính lọc để tạo ra bước sóng có khả năng gây hoạt hoá huỳnh quang, tấm chắn của kính lọc có tác dụng loại bỏ các bước sóng gây nhiễu của ánh sáng. Quan sát bằng kính hiển vi huỳnh quang dưới với nền tối, kháng nguyên gắn đặc hiệu với kháng thể huỳnh quang có thể được phát hiện bởi màu xanh (FITC) hoặc đỏ (TRITC). Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Nhờ đó, người nghiên cứu nhận định được sự lắng đọng miễn dịch, vị trí lắng đọng cũng như kiểu lắng đọng. MDHQ là một xét nghiệm quan trọng trong chẩn đoán các bệnh da bọng nước, bệnh tự miễn và các bệnh mô liên kết.

Có 3 loại kỹ thuật MDHQ cơ bản được sử dụng:

  • MDHQ trực tiếp (Direct Immunofluorescein: DIF)
  • MDHQ gián tiếp (Indirect Immunofluorescein: IIF)
  • MDHQ gián tiếp bổ thể (Complement Indirect immunofluorescein: CIIF)

MDHQ trực tiếp là kỹ thuật xét nghiệm để phát hiện KT ở da người bệnh. MDHQ gián tiếp là kỹ thuật xác định KT ở trong huyết thanh, huyết tương, dịch bọng nước hoặc trong các dịch khác.

MDHQ gián tiếp bổ thể là sự biến đổi của kỹ thuật MDHQ gián tiếp để xác định KT gắn bổ thể ở trong dịch của người bệnh.

  • Ứng dụng của MDHQ trong BDBNTM

Trong 3 kỹ thuật trên, hiện nay Trung tâm Giải phẫu bệnh – Tế bào học, Bệnh viện Bạch Mai đang sử dụng 2 kỹ thuật MDHQTT và MDHQGT. Trong đó, MDHQTT là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán các BDBNTM.

Ưu điểm của MDHQTT là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, đơn giản hơn các phương pháp khác. Tuy nhiên, cường độ phát quang không mạnh, chỉ phát hiện được những KN có nồng độ cao, việc lấy bệnh phẩm khó khăn ở những bệnh nhân tổn thương niêm mạc miệng đơn thuần và ở mắt dẫn đến kết quả không được chính xác. MDHQTT để xác định sự lắng đọng các globulin miễn dịch (IgG, IgM, IgA), bổ thể (C3) và Fibrin ở da người bệnh.

Trong khi đó, MDHQGT có ưu điểm cường độ huỳnh quang rõ, tiện lợi và kinh tế hơn phương pháp trực tiếp bởi chỉ dùng lượng ít kháng huyết thanh và chỉ cần dùng một KT huỳnh quang đặc hiệu loài là có thể nghiên cứu được nhiều loại KN khác. Tuy nhiên, kỹ thuật này còn nhiều hạn chế như: có thể bị ngưng kết không đặc hiệu trong quá trình tiến hành hai phản ứng liên tiếp, một số tự KT khác có thể có phản ứng với cơ chất thực quản như KT kháng cơ trơn, KT kháng cơ xương, không phải là tiêu chuẩn duy nhất trong chẩn đoán xác định.

1.2.2. Ứng dụng MDHQTT trong BDBNTM Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

  • Nguyên tắc

KT hoặc KN đã được gắn chất màu huỳnh quang phản ứng trực tiếp với KN hoặc KT đặc hiệu trên mẫu sinh thiết. Muốn phát hiện mỗi KN lại cần có một KT huỳnh quang tương ứng. Mảnh cắt lạnh được ủ với các chất phát huỳnh quang gắn KT. Để thu được tín hiệu huỳnh quang đặc hiệu tốt nhất cần pha thật chính xác các phức hợp huỳnh quang và nên nhuộm tiêu bản chứng.

Trong BDBNTM, MDHQTT được thực hiện ở vùng da gần tổn thương, là vùng da qua quan sát không thấy bất thường nằm kề sát vị trí tổn thương (mụn nước, bọng nước, mảng mày đay hay dát hồng ban).

  • Một số lưu ý trong kỹ thuật MDHQTT

Để tránh cho mảnh sinh thiết bị khô, nên gói bệnh phẩm trong gạc tẩm ướt bằng nước muối 0,9% và để ngay bệnh phẩm vào Ni-tơ lỏng càng sớm càng tốt. Trong trường hợp không có Ni-tơ lỏng, thì nên giữ bệnh phẩm trong môi trường vận chuyển Michel ở nhiệt độ 4°C và chuyển đến phòng xét nghiệm trước 24 giờ.

Khi vận chuyển bệnh phẩm cần để bệnh phẩm trong môi trường Michel, môi trường này tránh cho mảnh mô không bị thoái hoá, không ức chế các men của phản ứng miễn dịch. Khi lấy bệnh phẩm ra khỏi môi trường vận chuyển, cần rửa mảnh mô trong dung dịch Buffer 30 phút và giữ mô ở nhiệt độ – 70 °C cho đến khi làm phản ứng.

Mảnh sinh thiết dùng để làm phản ứng MDHQ không nên cố định bằng bất kỳ một loại hoá chất nào. Đặc biệt không được cố định trong formalin, vì cơ chế của formalin là giết các mô tế bào, sẽ làm biến đổi protein và làm giảm đáng kể độ chính xác của kết quả.

Tất cả các loại hóa chất phải đảm bảo chất lượng trước khi sử dụng. Hóa chất phải được pha đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất, bảo quản đúng cách và thường xuyên kiểm tra chất lượng của chúng. Tốt nhất nên dùng các loại hóa chất đồng bộ với nhau, pha sẵn và được cung cấp bởi nhà sản xuất. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

Không để các phiến kính khô trong xuyên suốt quá trình thực hiện. Để tránh làm khô và phai màu huỳnh quang, thực hiện thao tác ủ kháng thể huỳnh quang ở nhiệt độ phòng, trong hộp kín, ẩm và tối màu và tránh ánh sáng trực tiếp chiếu vào.

Để đạt kết quả phản ứng MDHQTT, thì chọn vị trí tổn thương thích hợp để sinh thiết là cực kỳ quan trọng. Mảnh sinh thiết cần lấy ở rìa tổn thương, là vùng da nhìn bình thường nằm sát tổn thương mới, bởi ở những tổn thương cũ, màng đáy có thể bị phá hủy hoàn toàn dẫn đến âm tính giả. Ngoài ra, âm tính giả có thể xảy ra khi sinh thiết được lấy ở vùng da tổn thương, do các kháng thể liên kết ở đây bị tiêu biến bởi các tế bào viêm. Tốt nhất nên sinh thiết được cả vùng tổn thương để quan sát được vị trí hình thành tổn thương đó. Đối với tổn thương ở niêm mạc cũng yêu cầu sinh thiết ở rìa tổn thương mới, bởi ở các tổn thương cũ thường biểu mô bị trợt nhiều, dẫn đến không thể lắng đọng được huỳnh quang.

  • Áp dụng MDHQTT trong chẩn đoán BDBNTM

MDHQTT để xác định sự lắng đọng của các globulin miễn dịch (IgG, IgM, IgA ), bổ thể (C3, C4, C1q) và Fibrinogen ở tổn thương của người bệnh. Trong BDBNTM, KN đích là các globulin miễn dịch (IgG, IgM, IgA), bổ thể (C3) và Fibrinogen. Trong phương pháp MDHQTT, muốn phát hiện mỗi KN lại cần có một kháng thể huỳnh quang tương ứng.

Trong BDBNTM, MDHQTT (+) có 2 kiểu lắng đọng KT: gian bào và màng đáy. Tùy từng bệnh sẽ có vị trí, kiểu lắng đọng và các tự KT lắng đọng khác nhau:

  • Lắng đọng IgG ở khoảng gian bào đặc trưng cho tất cả các thể của nhóm bệnh Pemphigus trừ thể Pemphigus IgA.
  • Lắng đọng IgG ở khoảng gian bào và vùng màng đáy đặc trưng cho Pemphigus đỏ da, Pemphigus á u và Pemphigus do thuốc.
  • Lắng đọng IgA ở gian bào là đặc trưng cho thể Pemphigus IgA
  • Lắng đọng vùng màng đáy đặc trưng cho nhóm Pemphigoid
  • Lắng đọng IgG và/hoặc C3 ở vùng màng đáy gặp trong pemphigoid bọng nước, pemphigoid niêm mạc, lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước, pemphigoid thai kỳ, ly thượng bì bọng nước mắc phải
  • Lắng đọng IgA vùng màng đáy là đặc trưng của bệnh IgA dạng dải.
  • Lắng đọng ở nhú bì: lắng đọng dạng hạt của IgA và C3 ở nhú bì và dọc vùng màng đáy là đặc trưng của viêm da dạng herpes.

1.3. Tình hình nghiên cứu trong BDBNTM tại Việt Nam và nước ngoài Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

1.3.1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trần Ngọc Ánh (2010) nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và tự kháng thể trong mô da bằng xét nghiệm MDHQTT trên 120 bệnh nhân bị BDBNTM điều trị nội trú bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: MDHQTT có độ nhạy 84,2%. Nhóm pemphigus có độ nhạy MDHQTT là 90,6% với hình ảnh lắng đọng phức hợp MD ở gian bào thượng bì có hình mạng lưới màu xanh lá. Nhóm pemphigoid có độ nhạy MDHQTT là 68,6% với dạng lắng đọng MD dạng dải dọc màng đáy màu xanh lá, dạng hạt liên tục hay đứt khúc. Tuy nhiên chưa xác định được các thể bệnh pemphigus và pemphigoid. Hiệu giá kháng thể không liên quan đến mức độ bệnh.

Nguyễn Thị Linh (2013) nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học và MDHQTT của một số BDBNTM trên 42 bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu Trung ương cho thấy: tỷ lệ mô bệnh học đưa ra được chẩn đoán là 71,3%, trong đó 95,6% nhóm pemphigus có bọng nước nằm ở thượng bì, 100% nhóm pemphigoid có bọng nước ở dưới thượng bì.

Nguyễn Tiến Thành (2015) nghiên cứu đặc điểm phát hiện tự kháng thể lưu hành trong máu bệnh nhân pemphigus và pemphigoid bằng MDHQGT trên 88 bệnh nhân pemphigus, pemphigoid tại Bệnh viện Da liễu Trung ương cho thấy: Tỷ lệ dương tính, độ nhạy và độ đặc hiệu của 2 phương pháp MDHQTT và MDHQGT là tương đương nhau trong chẩn đoán bệnh pemphigus và pemphigoid. Độ đăc hiệu của 2 phương pháp đều là 100%.

Lý Thị Huyền Trang (2021) đối chiếu mô bệnh học, miễn dịch huỳnh quang với một số đặc điểm lâm sàng của bệnh Pemphigus và Pemphigoid trên 49 bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu Trung ương cho thấy: tỷ lệ trường hợp Pemphigus thông thường có cùng chẩn đoán lâm sàng, MBH và MDHQTT là 89,3%; Tất cả trường hợp nghi ngờ pemphigus vảy lá và trường hợp nghi ngờ pemphigoid trên lâm sàng có cùng chẩn đoán MBH và MDHQTT. Lâm sàng và MBH/MDHQTT có chẩn đoán gần như tương đồng.

1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài

Hübner Franziska và các cộng sự nghiên cứu tỷ lệ mắc và phân bố độ tuổi của bệnh Pemghigus và Pemphigoid ở Đức cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh pemphigus và pemphigoid vào năm 2014 là 0,05%, tương đương khoảng 40.400 bệnh nhân trên tổng dân số 80,925 triệu người ở Đức. Pemphigoid bọng nước có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, tiếp theo là pemphigus thông thường.

Katherine Brick và các cộng sự nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở bệnh nhân mắc pemphigoid bọng nước ở quận Olmsted, tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ từ năm 1960 đến 2009. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc BP ở Hoa Kỳ tương đương với ở Châu Âu và Châu Á. Tỷ lệ bệnh nhân tử vong của Hoa Kỳ của thấp hơn so với châu Âu, nhưng cao hơn ước tính trước đó.

Nima Milani và cộng sự nghiên cứu xác định sự liên quan giữa bệnh pemphigoid bọng nước và các bệnh lý thần kinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân mắc bệnh pemphigoid có nguy cơ đột quỵ. Bệnh lý thần kinh xuất hiện trước bệnh pemphigoid trong phần lớn các ca bệnh. Tỷ lệ tử vong trong một năm tăng lên ở những bệnh nhân mắc đồng thời BP và đột quỵ. Khóa luận: Huỳnh quang trực tiếp bệnh da bọng nước tự miễn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Ủy thác cho vay hộ nghèo giữa NH chính sách xã hội

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x